1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trang phục truyền thống của phụ nữ Một số nước Đông Nam Á

21 3,7K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trang phục truyền thống của phụ nữ một số nước Đông Nam Á
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Văn Hóa
Thể loại bài viết
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo thực tập: Trang phục truyền thống của phụ nữ Một số nước Đông Nam Á

Trang 1

Lời nói đầuTrang phục là một thành tố quan trọng của văn hoá tộc ngời, là biểuhiện bên ngoài của bản sắc văn hoá dân tộc Mỗi dân tộc trên thế giới đềumang theo sắc thái văn hoá độc đáo của mình qua trang phục Cùng vớingôn ngữ, trang phục là dấu hiệu thông tin quan trọng để chúng ta dễ dàngnhận biết tộc ngời này với tộc ngời khác Ngời ta có thể nhận biết đợc đâu

là phụ nữ Nhật Bản, phụ nữ Mexico hay phụ nữ các nớc theo Hồi giáo qua

bộ Kimônô của Nhật Bản hay chiếc váy xoè cùng với mũ rộng vành củaphụ nữ miền Trung Mĩ và chiếc mạng che mặt của phụ nữ Hồi giáo.Trang phục gắn bó mật thiết và tồn tại trong sự vận hành của đời sốngtộc ngời “ Trang phục ra đời trớc hết mang ý nghĩa bảo vệ cơ thể rồi sau

đó trong quá trình phát triển trang phục trở thành nhu cầu thẩm mỹ, nhucầu làm đẹp cho con ngời’’(8) Trang phục quan hệ đến rất nhiều lĩnh vựctrong xã hội nh địa lý, lịch sử, kinh tế, tôn giáo , đẳng cấp, nghề nghiệp,phong tục, tập quán nhất là ở lĩnh vực văn hoá tinh thần Nó thể hiện cụthể, rõ nét trình độ và thị hiếu thẩm mỹ của mỗi con ngời, mỗi dân tộc vàmỗi thời đại

Nằm trong bối cảnh văn hoá của toàn khu vực, phong tục mặc của cdân Đông Nam á đặc biệt là của phụ nữ có nhiều nét tơng đồng phù hợphợp với điều kiện tự nhiên (Vị trí địa lý, thời tiết ) và nền văn minh nôngnghiệp lúa nớc có nguồn gốc từ lâu đời ( khoảng 2000 năm trớc đây) hayngời ta thờng gọi là nền văn minh nông nghiệp thực vât Tuy có nhiều đặc

điểm chung nhng mỗi dân tộc ở khu vực Đông Nam á vẫn bảo lu, giữ gìn

và phát huy đợc những nét đặc sắc trong trang phục truyền thống đặc biệt

là trang phục của phụ nữ

Mối quan hệ giữa trang phục truyền thống và thời trang hiện đại cũng

là một vấn đề đợc xem xét trong việc tìm hiểu trang phục.Do đó điều quantrọng hiện nay là làm sao gìn giữ đợc những tinh hoa và bản sắc cổ truyềncủa thẩm mỹ trang phục trong cách phục scs của thời hiện đại.để thờitrang vừa phù hợp với thời đại vừa mang nét đặc thù của các dấu ấn truyềnthống tạo ra một phong cách mặc riêng biệt và độc đáo của từng dân tộc Khi trình bày đề tài này chúng tôi mong muốn đợc góp một phần nhỏ bévào việc gìn giữ và phát huy bản sắc truyền thống trong trang phục mặccủa các dân tộc Đông Nam á

Trang 2

Trong giới hạn của một bài viết, cộng với việc hạn chế của tài liệutham khảo,chúng tôi chỉ xin trình bày một khía cạnh nhỏ trong phong tục

mặc đó là “Trang phục truyền thống của phụ nữ một số nớc Đông Nam

á”.

Bài viết đợc trình bày theo nội dung sau:

Chơng I : Địa lý - môi trờng văn hoá và ảnh hởng của nó đối với trang phục

1 Địa lý - môi trờng văn hoá

2 Những đặc điểm chung trong trang phục truyền thống của phụ nữ một số nớc Đông Nam á.

3 Nét đặc sắc trong chất liệu trang phục

ChơngII: Trang phục truyền thống và ảnh hởng của nó trong xã hội hiện đại: Trang phục của phụ nữ Thái Lan, Malaysia, Việt Nam.

Kết luận:

Ch ơng I

Địa lý- môi trờng văn hoá và ảnh hởng

của nó đối với trang phục

1 Địa lý- môi trờng văn hoá

“Đông Nam á là một khu vực khá rộng, diện tích khoảng trên 4 triệu

km2 trải ra trên một phần trái đất từ khoảng 920 đến 140 0 kinh Đông và từkhoảng 280 vĩ Bắc chạy qua xích đạo đến khoảng 150 vĩ Nam Về mặt địa

lý, hành chính Đông Nam á hiện nay gồm 10 nớc: Việt Nam, Lào,Campuchia,TháiLan, Myanma, Malaysia, Singapore, Indonesia,Philippines, Brunei”(10), với số dân khoảng 600 triệu ngời (theo số liệu năm1999)

Trang 3

Do điều kiện địa lý nằm trên bán đảo (Đông nam á ) và hệ thống cácquần đảo (Đông Nam á hải đảo) , tiếp giáp với biển Đông , biển Jawa, eoMalacca nên đặc điểm nổi bật nhất của khí hậu Đông Nam á là tính chấtgió mùa tạo nên hai mùa tơng đối rõ rệt : mùa khô, lạnh, mát và mùa ma t-

ơng đối nóng và ẩm Vì thế Đông Nam á còn đợc gọi là khu vực “ Châu ágió mùa” Về mùa hạ có gió mùa từ biển vào nên lợng ma rất cao, từ 2000

đến 4000 mm Mùa đông có gió mùa đông bắc từ lục địa thổi ra, thời tiếtkhô ráo ( trừ vùng Malaya nằm trong đới khí hậu xích đạo nóng và ẩm ớtquanh năm )

Mạng lới sông ngòi dày đặc với một số hệ thống sông lớn nh sông

Mê Công, sông Hồng, sông Mênam, sông Iraoadi cung cấp nớc cho các

đồng bằng châu thổ

Khí hậu biển cũng là một đặc điểm quan trọng đối với tuyệt đại đa sốcác quốc gia Đông Nam á Chính gió mùa và khí hậu biển làm cho khíhậu vùng Đông Nam á đáng lẽ trở nên khô cằn ( nh một số lục địa khác

có vùng vĩ độ ) nhng nó đã biến Đông Nam á thành “Thiên đờng của thếgiới thực vật, xanh tốt và trù phú vơí những đô thị đông đúc và thịnh vợng

nh Kuala-Lumpur, Singapore, Jacacta ”

Điều kiện tự nhiên nóng ẩm, ma nhiều và có gió mùa đã góp phầntạo nên đặc trng của Đông Nam á : nền văn minh thực vật hay nền vănminh lúa nớc Đông Nam á đợc coi là “cái nôi” của cây lúa nớc và là mộttrong , năm trung tâm cây trồng lớn của thế giới Vì thế nông nghiệp trồnglúa nớc đã trở thành cội nguồn, thành mẫu số chung của nền văn minh khuvực “ Đó là nền văn minh có đủ sắc thái đồng bằng, biển, nửa đồi núi, nửarừng với đủ các dạng kết cấu đan xen phức tạp nhng mẫu số chung làvăn minh nông nghiệp trồng lúa, văn hoá xóm làng” (Trần Quốc Vợng,Cao Xuân Phổ: Đông Nam á một nền văn hoá cổ xa,Báo nhân dân,số rangày 1-10-1978)

Chính hai nhân tố của môi trờng tự nhiên hoặc có nguồn gốc từ tựnhiên là khí hậu nóng bức của vùng nhiệt đới và công việc lao động trồnglúa nớc đã có nhiều ảnh hởng và chi phối tới cách thức trang phục của cdân Đông Nam á, đặc biệt là trang phục của phụ nữ Điều kiện tự nhiên,văn hoá đó đã thúc đẩy sự phát triển, tính đa dạng của từng vùng, từng khuvực của trang phục để con ngời thích nghi và tồn tại Đồng thời thiên

Trang 4

nhiên ấy, khí hậu ấy chính là điều kiện ban đầu cho việc hình thành và xử

lý trang phục có thể nói trang phục của phụ nữ Đông Nam á đã ra đời dựatrên bối cảnh của nền “văn minh thc vật” với môi trờng sông nớc, khí hậunhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, tất cả tồn tại hoà quyện với nhau một cáchhài hoà, uyển chuyểnvà rất gần gũi với thiên nhiên “Chẳng hạn về màusắc trang phục, hầu hết là có nguồn gốc từ tự nhiên : mnàu nâu non vốngần gũi với màu phù xa của bùn đất, màu lam, màu chàm vốn gần gũi vớimầu của núi non, các sắc màu tơi sáng dờng nh bắt đầu từ sắc mầu của cácloài hoa, quả (hoa đào, hoa lý, vàng mơ )”(8) Sự mềm mại, tha thớt củanhững đờng nét trang phục trong tà áo dài Việt Nam, trong bộ Kain củaphụ nữ Indônêsia hay bộ Phá xin của phụ nữ Thái Lan “dờng nh cũng đ-

ợc bắt đầu từ vẻ uốn lợn của những dòng sông, con suối trong vắt” Dờng

nh môi trờng văn hoá sông nớc có ảnh hởng không phải là nhỏ tới cáchthức trang phục của phụ nữ Đông Nam á Chiếc váy của phụ nữ là mộtdẫn chứng cụ thể chứng tỏ điều kiện địa lý - môi trờng văn hoá có ảnh h-ởng nhiều tới trang phục Với hệ thống sông ngòi dày đặc, lợng ma lớn,khí hậu nóng ẩm thì chiếc váy là một trang phục hết sức thuận lợi của phụnữ Đông Nam á, có thể mặc trong bất kỳ trờng hợp nào Có phải vì thế

mà hiện nay váy vẫn là một trang phục đợc phụ nữ nhiều nớc Đông Nam

á sử dụng, mặc dù kiểu cách và chất liệu có nhiều thay đổi để phù hợp vớilối sống hiện đại ngày nay

Bên cạnh việc chịu ảnh hởng của điệu kiện khí hậu nhiệt đới nóng

ẩm, ma nhiều, mang đặc trng của nền nông nghiệp lúa nớc thì trang phụccủa phụ nữ Đông Nam á cũng chịu ảnh hởng của văn hoá du nhập tùa bênngoài vào, chủ yếu là chịu ảnh hởng của văn hoá ấn Độ và Trung Quốc

Sở dĩ nói nh vậy là vì Đông Nam á có một vị trí đặc biệt, nó “nằm trọn”giữa hai đại dơng lớn là Thái Bình Dơng và ấn Độ Dơng và nằm giữa hainền văn minh lớn của nhân loại đó là văn minh Trung Hoa và văn minh ấn

Độ Sự tiếp xúc, giao lu với hai nền văn minh này đã có từ rất sớm, khoảngthế kỷ I – II trCN ảnh hởng của văn hoá Trung Hoa và ấn Độ tới khuvực Đông Nam á khá toàn diện và sâu sắc trên tất cả mọi lĩnh vực, trong

đó có một phần ảnh hởng tới trang phục ảnh hởng đó đợc thể hiện qua cáchoa văn trên trang phục mang đậm màu sắc ấn Độ nh hình chim công, rắnNaga, hoa sen ,các hoa văn hình học với những đờng nét dệt rất kì công

và tỉ mẩn đến từng chi tiết Hình ảnh chiếc áo dài của Việt Nam cũng chịu

ảnh hởng nhiều từ chiếc áo dài Thợng Hải của Trung Hoa

Trang 5

2 Những đặc điểm chung trong trang phục truyền thống của phụ nữ một số nớc Đông Nam á

2.1 Trang phục chính

Trang phục chính gồm có đồ mặc phía trên và đồ mặc phía dới

2.1.1 Đồ mặc phía dới.

Đồ mặc phía dới tiêu biểu và ổn định hơn cả của phụ nữ Đông Nam

á qua các thời đại là cái váy “Váy là đồ mặc đặc trng của phụ nữ ở hầuhết các dân tộc Đông Nam á (nếu nh không nói là tất cả) ở mọi nơi, từnhững vùng xa xôi thuộc các quốc gia hải đảo nh Malaysia, Indosia,Philippin, Brunei đến các vùng núi của nhiều quốc gia lục địa Đông Nam

á nh: Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Mianma, Lào thậm chí ngay cả

ở các thủ đô nh Phnômpênh, Kuala Lumur, Jakarta phụ nữ hiện này vẫnmặc váy”(1) Qua đó ta thấy váy là trang phục mặc hết sức phổ biến rộngrãi của phụ nữ các nớc trong khu vực Đông Nam á

Sở dĩ nó là trang phục đặc trng và phổ biến của phụ nữ Đông Nam ávì “mặc váy không chỉ thoáng, mát, gây cảm giác dễ chịu, đối phó đợcmột cách có hiệu quả với khí hậu nóng, bức mà còn phù hợp với công việc

đồng áng Khi làm việc hoặc khi đi lại, váy đợc kéo cao tới đầu gối, gặpsông, suối, trớc khi lội xuống nớc ngời ta cởi váy ra, quấn lên đầu, sang bờbên kia lại mặc vào Khi ở nhà hoặc nghỉ ngơi váy đợc thả dài đến tận gótchân, thật là tiện lợi”(5) Do những đặc thù phù hợp với môi trờng, khí hậunóng bức của khu vực Đông Nam á và chiếc váy khác hẳn với chiếc quần

có nguồn gốc du mục Trung á là nơi có khí hậu giá lạnh và công việc chủyếu là chăn nuôi cỡi ngựa

Váy có hai loại: váy khâu và váy quấn Váy quấn là tấm vải hình chữnhật đợc quấn cho hai mép chạy về một phía chân, đầu mảnh vải đợc thắtlại Váy khâu là loại váy hai mép vải đợc khâu thành hình ống

ở Đông Nam á, váy đợc gọi theo một từ quen thuộc khác là sarông.Sarông của ngời Malaysia, Indonesia, Brunei gọi là Kain nó là một loạiváy đơn giản, chỉ là một tấm vải quấn quanh mình Ngày này, sarông vẫn

đợc hầu hết các dân tộc Đông Nam á, đặc biệt là các dân tộc ít ngời sửdụng Chỉ lấy riêng Philippines làmví dụ cũng đủ thấy sự phổ biến rộng rãicủa nó “Phụ nữ dân tộc Tagan, Visaia, Ilacano, Bicon và hàng loạt dân tộc

Trang 6

khác nh Ifugao, Bonter, Tinjian, Kaling, Gatan, Ivatan đều mặcsarông.”(1) “Váy của phụ nữ Thái Lan đợc gọi là Phá xin, là một loại váykhâu liền (váy ống), gấp ở eo Tuỳ từng địa phơng mà Phá xin có nhữngkiểu dáng, màu sắc khác biệt nhau Thờng ngày chiếc Phá xin đợc mặc kếthợp với chiếc áo lót cộc tay bó sát ngời”(7) Còn Kain của phụ nữ Indonesia

là một tấm vải nhiều màu sắc đợc quấn hai vòng quanh ngời từ thắt lng

đến đầu gối hoặc chấm mắt cá chân “Kain thờng dài 2,5m và rộng từ0,5m đến 1m Kain ngắn (Kain pendek) để mặc khi làm việc nặng, cònbình thờng thì phụ nữ Indonesia mặc Kain dài (Kain panjnang)”(3) Tuycùng là một chiếc váy nhng ở mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, phụ nữ lại mặcnhững chiếc váy có những nét đặc sắc riêng để khi nhìn vào sẽ biết đợc đó

là dân tộc nào hay quốc giao nào?

Đi liền với váy, thờng có cạp váy (hay còn gọi là dải thắt lng), đợclàm bằng vải với mục đích giữ cho váy khỏi tuột Cạp váy là một mảnh vảirộng khoảng một gang tay có thể khâu liền cùng với váy hoặc là một tấmvải dài tách rời, khi mặc váy sẽ thắt lại Tấm vải đó đợc gọi là dải thắt lng

có chiều dài hơn 2m Cạp váy thờng khâu bằng dải vải khác màu nh màu

đỏ, trắng, xanh miễn không đợc đồng màu với thân váy Dải cạp là đểgập mép sao cho váy bó sát thân eo, làm đờng thắt lng nổi cộm rõ đờngnét thắt đáy lng ong Trên dải cạp thờng trang trí các hoa văn, hoạ tiết mộtcách chi tiết tỉ mỉ Nh trên cạp váy của phụ nữ Mờng (cạp váy đợc dệtbằng vải thổ cẩm) trang trí những hoa văn hình học và đợc dệt một cáchcông phu, tỉ mẩn đến từng chi tiết

Váy là y phục vừa cổ xa nhất, vừa chung nhất trong nhiều dân tộc vàtộc ngời ỏ Đông Nam á Qua thời gian và theo thời đại tuy có nhiều thay

đổi cho phù hợp nhng chiếc váy vẫn giữ đợc những nét đặc thù để ta dễdàng nhận biết và phân biệt đợc trang phục truyền thống của phụ nữ các n-

ớc Đông Nam á so với các nớc khu vực khác

2.1.2 Đồ mặc phía trên:

ở khắp Đông Nam á, y phục bên trên của phụ nữ là chiếc áo ngắn

đợc làm từ vải bông hay vải gai và thờng không có ống tay áo đợc cấuthành từ hai mảnh vải khâu lại với nhau ở phía lng, phía trớc để mở và códây để thắt khi mặc Nhng kiểu áo đó cũng biến dạng ít nhiều ở các dântộc và các tộc ngời khác nhau

Trang 7

“Đối với phụ nữ Kachin (Mianma) áo mặc ngoài không có tay nhng

áo mặc trong lại có ống tay dài Trong khi đó ngời Chin (Mianma) lại chỉmặc một kiểu áo không có ống tay Cũng vẫn là kiểu áo hai mảnh, nhng

áo của ngời Lisu và Lahu (Mianam) lại có tà dài tới đầu gối và ống tayngắn”(5) Điều khác biệt là áo dài của ngời Lahu đợc xẻ ở bên sờn từ thắt l-

ng và có chiếc móc cài bằng đồng hoặc cổ áo cũng là y phục phổ biến ởcác nhóm Karen (Mianam và Thái Lan), ở ngời Kaia (Mianma) Y phụccủa hai dân tộc này là đối tợng lý thú cho các nhà nghiên cứu, vì nhiều vấn

đề cha đợc lý giải rõ ràng VD: Ngời Karen mặc áo ngắn, không ống taycòn ngời Kaia, ngoài áo ngắn còn có tấm áo kháo bên ngoài mỗi khi trờilạnh Tục mặc tấm khoác hiện nay vòn rất phổ biến ở các dân tộc miền núiViệt Nam và Campuchia Ngời Xtiêng (Việt Nam), phụ nữ mặc tấm khoáckhi dự lễ hội Cách đây không lâu, tấm khoác còn là một bộ phận y phụccủa phụ nữ Thái Lan, đặc biệt là ở miền Trung và miền Đông Bắc TháiLan Một chi tiết rất đặc trng của y phục các nhóm tộc ngời Karen là ốngtay áo rời, khi cần thiết (khi nóng bức hay khi làm việc) ngời ta có thểtháo bỏ hai ống tay áo Kiểu tay áo “cơ động” này cũng phổ biến ở ngờiTauntu Kiểu may áo của vài dân tộc khác ở Myanmar cho thấy xa kia họ

có dùng loại ống tay áo “cơ động” Ví dụ: ngời Akha, ống tay áo đợc khâukhông phải trực tiếp vào áo mà là một mảnh vải trắng trung gian nối giữa

áo và ống tay

ở Đông Nam á, đặc biệt là vùng lục địa, còn có kiểu áo cũng khôngkém phần đặc săc, đó là áo chui Hai khu vực phổ biến kiểu áo này, một ởMyanma và Thái Lan (ngời Karen), một ở Đông Dơng áo chui của ngờiKaren không có ống tay hoặc chỉ có ống tay ngắn Những chiếc áo chuithờng rất rộng nên vẫn gây ấn tợng nh là có ống tay Phụ nữ cha chồngKaren trắng ở Thái Lan thờng mặc áo chui dài chấm gót chân Phụ nữGiaien Karen mặc áo chui ngắn và váy Phụ nữ Taunta mặc áo chui đen.Phụ nữ Taunyo mặc áo chui đỏ Gần đây áo chui của các tộc ngời Karendần dần bị thu ngắn lại và trở thành một kiểu áo cánh ở Đông Dơng, áochui phổ biến hơn cả là ở ngời Chăm (Việt Nam), ngoài ra còn có ở ngời

Êđê, M’nông, Mạ và ở cả Campuchia áo chui của phụ nữ Chăm màuxanh thẫm, ống tay dài, bó nên họ chỉ mặc khi hội lễ hoặc khi trời lạnh.Con gái và phụ nữ trẻ mặc áo chui, qua tuổi 30 họ mặc váy sarông

Trang 8

C dân Đông Nam á lục địa còn có một loại y phục khá đặc trng, đó

là chiếc yếm “Yếm là một miếng vải vuông đặt chéo trên ngực ngời mặc

ở góc phía trên khoét hình trong làm cổ yếm (loại yếm này có tên là yếm

cổ xây) hay khoét hình chữ V (gọi là yếm cổ xẻ hay yếm con nhạn) ởgóc nhọn cổ yếm (cổ xẻ) có ba đờng khâu nổi nh hình chân chim có tácdụng trang trí, đồng thời giữ cho cổ yếm lâu bị rách”(13) Hai đầu cổ yếm

có hai dải nhỏ hình tam giác dài vắt chéo ngang ở sau lng rồi lại buộc raphía trớc Có hai kiểu mặc yếm: mặc bên trong và không cần áo ngoài,kiểu thứ hai là mặc yếm bên trong mặc áo bên ngoài “Yếm đợc mặc phổbiến ở các dân tộc thiểu số ở Đông Nam á nhng đó là đồ mặc mang tínhchất thuần tuý Việt Nam”(11), thờng do phụ nữ tự cắt may, nhuộm lấy vớinhiều kiểu cổ, nhiều màu phong phú; yếm nâu để đi làm thờng ngày ởnông thôn, yếm trắng thờng ở thành thị, yếm hồng, yếm đào, yếm thắm dùng vào những ngày lễ hội Yếm dùng để che ngực cho nên nó trở thànhbiệu tợng của nữ tính và có sức quến rũ mãnh liệt:

“Ba cô đội gạo lên chùa

Một cô yếm thắm bỏ bùa cho s

S về s ốm tơng t

ốm lăn ốm lóc cho s trọc đầu”

Yếm và những bộ phận của yếm trở thành biểu tợng của tình yêu:

“Ước gì sông rộng một gang,Bắc cầu giải yếm cho chàng sang chơi”

Ngời ta đã nói rất nhiều về cái yếm Nó vừa là vật che chắn vừa là vậttrang điểm đầy sức quến rũ không kém gì hoa tai, nhẫn, xuyến hay sonphấn Có ý kiến cho rằng, “yếm có nguồn gốc ở phía Bắc, đợc các tộc ngờiTạng – Miến và Mèo – Dao đa vào Đông Nam á”(5)

2.2 Trang phục phụ

Bên cạnh trang phục chính bao gồm đồ mặc trên và dới, trang phụccủa phụ nữ các nớc Đông Nam á còn có những bộ phận khác không kémphần điển hình, nó thể hiện những nét đặc sắc trong trang phục truyềnthống của phụ nữ các nớc Đông Nam á

2.2.1 Khăn và mũ.

Phụ nữ Đông Nam á, cũng nh phụ nữ các nơi khác trên thế giới ờng dùng khăn và mũ Khăn vừa có tác dụng che ma, che nắng vừa làm

Trang 9

th-gọn tóc, do đó nó giúp con ngời lao động dễ dàng “các cô gái Thái (miềnTây Bắc Việt Nam) trở nên duyên dáng hơn với chiếc khăn Piêu (khănthêu) đội đầu vào những ngày hội lễ Khăn Piêu của phụ nữ thái đen ( ViệtNam) có màu đen, hai đầu có thêu những hoa hình kỷ hà bằng chỉ nhiềumàu sắc Chi tiết đặc chng của khăn Piêu là những hoa cuộn và thêu chỉmàu gọi là cút, đính thành chùm ở mép dới đờng viền hai đầu”(2) Khăntrong trang phục của phụ nữ Indonesia đợc gọi là slen -dang Đó là mộtcái khăn dài vắt qua vai để trang sức Khăn này cũng có thể dùng đội đầu,

địu trẻ con, đôi khi còn là túi Phụ nữ thờng chải tóc lật ra phía sau, phíatrớc cài một chiếc lợc để giữ tóc và khăn Phụ nữ đảo MinangKabau quấnkhăn theo kiểu mái nhà của họ Phụ nữ miền Bắc Việt Nam trớc đây đểtóc dài và vấn tóc bằng một mảnh vải dài cuộn lại để trên đầu, đuôi tóc đểchừa ra ngoài một ít gọi là tóc đuôi gà Phủ ra ngoài cái vấn tóc là chiếckhăn vuông chít hình mỏ quạ (có mỏ nhọn phía trớc, hai đầu buộc ra đằngsau) Ngoài đội khăn, một số phụ nữ dân tộc thiểu số ở Mianma, Thái Lan,Lào, Việt Nam còn đội mũ Vào những dịp lễ hội lớn, hầu nh tất cả cácphụ nữ Akha (Mianma) đều đội một chiếc mũ vừa rất cầu kỳ, vừa rất đẹp

Ta thấy ngoài tác dụng che ma, che nắng, khăn, mũ còn đợc coi nh mộtsản phẩm nghệ thuật “Vì thế không phải ngẫu nhiêu mà khăn, mũ củaphụ nữ các dân tộc Đông Nam á không bao giờ vằng mặt trong các việnbảo tàng mỹ thuật hay dân tộc của nhiều nớc Đông Nam á và phơngTây”6) Ngày nay cùng với nghề dệt vải để may trang phục thì kỹ thuật

đan, dệt khăn, mũ cũng đợc phụ nữ coi trọng

Ngoài khăn và mũ thì một trong những trang phục khá độc đáo xuấthiện ở nhiều nơi thuộc khu vực Đông Nam á là chiếc mũ lông chim Cảnam giới và phụ nữ đều đội mũ lông chim (đặc biệt là trong các lễ hội)

“Xét dới góc độ dân tộc học lịch sử, kiểu đồ đội làm bằng lông chim ở

Đông Nam á là một trong những vấn để khoa học vô cùng lý thú Lý thúkhông chỉ ở hình thức kỳ lạ của cái mũ lông chim mà còn ở khía cạnhkhác Những kiểu đồ đội đó thờng mang một chức năng nghi thức nào

đó”(6) Theo một số tác giả, kiểu mũ này xuất hiệt từ thời đại đồ đồng và

nó xuất hiện ở cả lục địa và hải đảo Ngời Đaiac, ngời Laga trên đảo Timo,ngời Batắc trên đảo Sumatơra (tất cả đều thuộc Indonesia) đến ngời Katu,Bana ( Việt Nam) đều đội mũ lông chim Cho đến đầu thế kỷ XX, nhữngthầy tế ngời Kachin (Mianma) vẫn đội những chiếc mũ lông chim khihành lễ Đàn ông dân tộc Katu (Việt Nam) khi ra trận đội mũ làm bằng

Trang 10

chiếc lông chim dài Không chỉ đội mũ lông chim, ngời Đaiac, ngờiToratgia, ngời Manahasa và ngời Naga (đều thuộc Indonesia) còn vẽ hìnhcon chim trên chiếc mũ chiến của minh “Các nhà nghiên cứu cho rằnghình những ngời đội mũ lông chim đứng trên các chiến thuyền, trên cáctrống đồng và đồ đồng Đông Sơn là các chiến binh trên đờng đi săn đầungời Mà săn đầu ngời là một nghi thức để trở thành ngời lớn vốn rất phổbiến ở một số dân tộc Đông (6) Không chỉ ở Đông Nam á mà còn ở nhữngnơi khác đặc biệt là ở Bắc Mỹ (vùng ngời da đỏ châu Mỹ) đồ đội bằnglông chim cũng rất phổ biến Những chiếc mũ lông chim của các thầycúng ngời Kachin, việc thờ phụng lông chim trong các nghi thức mangtính phù thuỷ của các dân tộc ở Indonesia có cái gì đó gần gũi với tín ng-ỡng phù thuỷ (hay Saman giáo) ở Bắc á và Bắc Mỹ Vì thế mà có ý kiếncho rằng mũ lông chim ở Đông Nam á có nguồn gốc từ Bắc á và đợc dunhập tới theo con đờng Saman giáo

đồ trang sức Phổ biến nhất ở Đông Nam á là loại vòng đeo tai (hoa tai)

và loại vòng đeo cổ Đối với ngời H’mông ( Việt Nam ) những chiếc vòngbạc không chỉ là đồ trang sức đơn thuần mà còn là những vật báu riêngcủa từng ngời, từng gia đình Qua vòng bạc một số ngời đeo có thể biết đ-

ợc mức độ giàu có của ngời đó, của gia đình đó Hầu nh tất cả ngờiH’mông từ đàn ông đến đàn bà, từ già tới trẻ đều đeo vòng cổ bằng bạcvào dịp lễ hội đặc biệt là vào dịp Tết Ngoài vòng cổ, vòng tay phụ nữ

Đông Nam á còn đeo hoa tai Phụ nữ H’mông ( Việt Nam ) thờng đeo bakiểu hoa tai: kiểu hình mũi tên có vòng tròn bao quanh, kiểu hình chữ S,kiểu hình chiếc móc câu có nhiều vòng nhỏ đính vào nhau Theo quanniệm của họ vòng bạc không chỉ là tài sản mà còn là biểu trng cho cuộcsống tốt lành Cũng nh ngời H’mông vào những dịp hội hè, phụ nữ và trẻ

em Miến thờng đeo những vòng bạc thành nhiều lớp quanh cổ Phụ nữMiến còn đính vào móc phía sau những chiếc vòng cổ hàng loạt dây xíchbạc mang theo chuông bạc, lục lạc bạc, hình chim cá bằng bạc Tất cả

Ngày đăng: 17/12/2012, 15:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w