1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận án cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông hồng hiện nay

188 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận án cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông hồng hiện nay
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Xã hội học
Thể loại Luận án
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 188
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về đặc trưng các mối quan hệ trong làng nghề: Trong bài viết Phong trào khôi ph ục tập quán - tín ngưỡng cổ truyền ở một số làng xã vùng châu th ổ sông Hồng của Lê Mạnh Năm [trích theo

Trang 1

1

1.1 Hướng nghiên cứu về cấu trúc xã hội - dân số làng nghề 14 1.2 Hướng nghiên cứu về cấu trúc xã hội - gia đình làng nghề 18 1.3 Hướng nghiên cứu về cấu trúc xã hội - nghề nghiệp làng nghề 22 1.4 Hướng nghiên cứu về cấu trúc xã hội - dân số làng nghề 26

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC XÃ HỘI CỦA CƯ

3.5 Phân tích mô hình công ty nghề và mô hình gia đình nghề của làng

nghề gỗ Vạn điểm và làng nghề sơn mài Hạ thái 107

Chương 4: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CẤU TRÚC XÃ HỘI

4.1 Một số yếu tố tác động đến cấu trúc xã hội cư dân làng nghề 125 4.2 Một số vấn đề đặt ra và gợi ý một số giải pháp 144

Trang 2

THPT: Trung học phổ thông

Trang 3

Bảng 3.1: Cấu trúc kinh tế - ngành theo giá trị và tỉ trọng sản lượng của

xã Vạn Điểm, năm 2013

77

Bảng 3.2: Cấu trúc kinh tế - ngành theo giá trị và tỉ trọng sản lượng của

xã Duyên Thái, năm 2013

Trang 4

Bảng 4.4: Thu nhập của hộ gia đình theo số năm làm nghề 129 Bảng 4.5: Quy mô gia đình, theo số lao động làm nghề truyền thống 131 Bảng 4.6: Số thế hệ trong gia đình, theo độ tuổi của chủ hộ gia đình 132 Bảng 4.7: Giới tính của chủ hộ gia đình với loại nghề của hộ gia đình 133 Bảng 4.8: Độ tuổi của chủ hộ gia đình với loại nghề của hộ gia đình 135 Bảng 4.9: Yếu tố chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội với thu nhập

theo địa bàn khảo sát

137

Bảng 4.10: Yếu tố chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội với loại nghề của hộ

gia đình, theo địa bàn khảo sát

139

Bảng 4.11: Chủ trương, chính sách với thu nhập và loại nghề

của hộ gia đình theo đại bàn khảo sát

142

Trang 5

Biểu 3.1: Cấu trúc xã hội - độ tuổi của người dân trong làng 82

Biểu 3.3: Cư dân làng nghề phân nhóm theo nghề nghiệp của hộ gia đình 99 Biểu 3.4: Biểu đồ các nguồn lực của công ty nghề 122

Trang 6

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Tính cấp thiết về mặt thực tiễn

Các làng nghề ở Việt Nam có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế -

xã hội đất nước nói chung và đối với nền kinh tế - xã hội nông thôn nói riêng Trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng,

đề cập: “Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ và làng nghề gắn với bảo vệ môi trường Triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn; giữ gìn và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của nông thôn Việt Nam” [14, tr.197]

Các làng nghề phát triển đã thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nông nghiệp - nông thôn theo hướng “ly nông bất ly hương” Sự lan tỏa của các làng nghề đã mở rộng quy mô và địa bàn sản xuất, thu hút nhiều lao động, kéo theo sự phát triển của nhiều ngành nghề khác, góp phần làm tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ

Đồng bằng sông Hồng có lịch sử phát triển lâu đời, nơi diễn ra sự phát triển mạnh mẽ của văn minh lúa nước - nền nông nghiệp truyền thống của dân tộc Việt Nam Do vậy, làng nghề ở đồng bằng sông Hồng có điều kiện khách quan để hình thành và phát triển Các làng nghề ở đồng bằng sông Hồng từ xa xưa đã có vai trò quan trọng trong việc sản xuất hàng hóa phục vụ đời sống của nhân dân Với những lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và văn hóa, nhiều làng nghề đồng bằng sông Hồng được khôi phục và phát triển khá nhanh so với các địa phương khác

Thành phố Hà Nội là vùng đất địa linh nhân kiệt, có bề dày văn hóa lâu đời trong lịch sử dân tộc Hà Nội tập trung nhiều làng nghề như: làng gốm Bát Tràng; làng lụa Vạn Phúc; làng gỗ mỹ nghệ Sơn Đồng; làng nghề Chàng Sơn Hà Nội trở thành đất “trăm nghề” và vẫn đang trong xu thế phát triển

Trang 7

sách kinh tế - xã hội của Nhà nước

Huyện Thường Tín có nhiều làng nghề truyền thống, với những sản phẩm nổi tiếng như: Tiện gỗ ở xã Nhị Khê, sơn mài ở xã Duyên Thái, thêu ở

xã Quất Động, mây tre đan ở xã Ninh Sở, ngoài ra còn có một số nghề mới phát triển mấy chục năm như: làm xương sừng ở Thụy Ứng xã Hòa Bình, đồ

gỗ ở xã Vạn Điểm, bông len ở Trát Cầu xã Tiền Phong, Đến nay, huyện có

46 làng trên tổng số 126 làng có nghề được UBND thành phố Hà Nội công nhận là làng nghề

Thường Tín hội tụ khá đầy đủ các đặc điểm của làng nghề nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng, bởi vì làng nghề ở đồng bằng sông Hồng nói chung và huyện Thường Tín nói riêng đang bị tác động mạnh mẽ bởi quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa Mặt khác, huyện Thường Tín mới sát nhập vào thành phố Hà Nội, nên quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn của huyện chịu tác động mạnh từ sự phát triển kinh tế - xã hội của thủ đô Hà Nội Do vậy, làng nghề ở huyện Thường Tín chứa đựng nhiều đặc điểm, tính chất của cấu trúc xã hội làng nghề truyền thống, nhưng đang có những đặc điểm mới của quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa

1.2 Tính cấp thiết về mặt lý luận

Để duy trì và phát huy các thế mạnh của các làng nghề, cũng như đáp ứng yêu cầu trong quá trình hội nhập quốc tế, đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao hơn và phát triển làng nghề theo hướng bền vững, thì cần có những nghiên cứu xã hội học về cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề

Cấu trúc xã hội là một nội dung cơ bản được nghiên cứu xuyên suốt trong lịch sử xã hội học Từ năm 1840 đến cuối những năm 1880, K.Marx đã chú trọng phân tích cấu trúc xã hội và xem xét cấu trúc xã hội trên nền tảng của cấu trúc kinh tế Đầu thế kỷ XX, nhà xã hội học người Đức là M.Weber

Trang 8

xã hội trong sự phân chia xã hội thành giai tầng trên dưới, cao thấp khác nhau Trên thế giới, nhiều nhà xã hội học quan tâm nghiên cứu nguyên nhân

và các biểu hiện của cấu trúc xã hội Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu có giá trị quan trọng về lý luận và thực tiễn vấn đề cấu trúc xã hội, phân tầng xã hội trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Cấu trúc xã hội không chỉ được xem xét như một cấu trúc ít thành phần gồm hai giai cấp, một tầng lớp và dường như đồng đều nhau, ngang bằng nhau hoặc chỉ đơn tuyến phát triển theo hướng tiến dần đến sự thuần nhất, đồng nhất xã hội như quan niệm thời kỳ trước đổi mới, mà đang diễn ra một quá trình phân tầng xã hội mạnh mẽ trên cơ sở của nền kinh tế nhiều thành phần

Theo cách nhìn nhận này, cấu trúc xã hội nước ta vừa có cấu trúc

"ngang", vừa có cấu trúc "dọc" [trích theo 77] Cấu trúc “ngang”, đó là một tập hợp các giai cấp, tầng lớp, các nhóm nghề nghiệp, các tổ chức trong xã hội mà trong đó khó có thể chỉ rõ giai cấp nào, tầng lớp nào có vị thế ở trên giai cấp, hay tầng lớp nào Trong đó bao hàm các giai cấp công nhân, nông dân, tiểu thương, doanh nhân, trí thức Cấu trúc "dọc", cấu trúc phân tầng xã hội, tức là cấu trúc tầng bậc cao thấp trong xã hội, được xem xét và biểu hiện

ở ba dấu hiệu cơ bản khác nhau: Địa vị kinh tế (tài sản, thu nhập), địa vị chính trị (quyền lực), địa vị xã hội (uy tín) Dưới hai lát cắt cấu trúc "ngang" và

"dọc" này đan kết vào nhau rất phức tạp tạo thành cấu trúc xã hội của cả một

hệ thống xã hội, cộng đồng xã hội hay “giai tầng xã hội” [trích theo, 77] Tuy nhiên, các nghiên cứu cấu trúc xã hội làng nghề chưa nhiều, nhất là nghiên cứu cấu trúc xã hội với tư cách là một hệ thống các quan hệ xã hội của các thành phần xã hội trong cư dân làng nghề Một cách tiếp cận nữa trong nghiên cứu cấu trúc xã hội là xem xét cấu trúc xã hội trong từng lĩnh vực của đời sống xã hội Khi đó cấu trúc xã hội có thể được xem xét dưới các hình thức

Trang 9

trúc xã hội - nghề nghiệp và các phân hệ cấu trúc xã hội khác

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và trước sức ép của tốc độ đô thị hóa, nhiều làng nghề ở đồng bằng sông Hồng phải đối mặt với những thách thức như: mặt bằng sản xuất rất hạn chế, các cơ sở sản xuất chủ yếu sử dụng ngay nơi ở làm nơi sản xuất dẫn đến môi trường sống bị ô nhiễm, mật độ dân cư trong các làng nghề đông, số lao động ở một số làng nghề giảm Tuy nhiên, một số làng nghề vẫn đứng vững, là do chính các cơ sở sản xuất ở làng nghề

đã biết liên kết lại với nhau để thành những mạng lưới hộ gia đình, những công ty, doanh nghiệp sản xuất thành lập ở ngay trong làng nghề Mạng lưới

xã hội làng nghề, quan hệ xã hội làng nghề như thế nào thì cần phải nghiên cứu về cấu trúc xã hội của làng nghề Nói cách khác làng nghề hoạt động, biến đổi và phát triển ra sao, phụ thuộc rất nhiều vào cấu trúc xã hội của nó

Đã có nhiều nghiên cứu về làng nghề từ góc độ kinh tế học và văn hóa học Tuy nhiên, rất ít nghiên cứu chuyên sâu từ góc độ xã hội học về làng nghề và nhất là cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề ở Việt Nam

Với những lý do đã nêu ra ở trên, tác giả lựa chọn đề tài Cấu trúc xã

hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông Hồng hiện nay (Nghiên cứu

tr ường hợp hai làng nghề ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội) làm luận

án tiến sĩ xã hội học

2 Mục đích nghiên cứu

Từ góc độ xã hội học, luận án tìm hiểu những vấn đề lý luận và đánh giá thực trạng các phân hệ của cấu trúc xã hội cư dân làng nghề; phân tích những yếu tố tác động đến cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề Trên cơ sở

đó, nhận định một số vấn đề đặt ra và gợi ý một số giải pháp nhằm phát huy những thế mạnh của cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ đổi mới đất nước

Trang 10

Để thực hiện mục đích nghiên cứu, đề tài tập trung vào các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:

Th ứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận, các khái niệm nghiên cứu cấu trúc xã

hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông Hồng hiện nay

Th ứ hai, khảo sát thực địa, phân tích thực trạng các phân hệ của cấu

trúc xã hội cư dân làng nghề đồ gỗ Vạn Điểm xã Vạn Điểm và làng nghề sơn mài Hạ Thái xã Duyên Thái ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội

Th ứ ba, phân tích các yếu tố tác động đến các phân hệ cấu trúc xã hội

cư dân làng nghề

Th ứ tư, nhận định một số vấn đề đặt ra và gợi ý một số giải pháp nhằm

hoàn thiện cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông Hồng

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Các phân hệ cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông

Ph ạm vi thời gian: Từ năm 2012 đến năm 2014

Ph ạm vi không gian: Làng Vạn Điểm, xã Vạn Điểm (làng nghề đồ gỗ

Vạn Điểm) và làng Hạ Thái, xã Duyên Thái (làng nghề sơn mài Hạ Thái) huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội

Đề tài lựa chọn nghiên cứu trường hợp làng nghề đồ gỗ Vạn Điểm và làng nghề sơn mài Hạ Thái ở huyện Thường Tín, trong số các làng nghề ở đồng bằng sông Hồng với những tiêu chí sau:

Trang 11

tập trung nhiều làng nghề tiêu biểu trong Đồng bằng sông Hồng Tác giả lựa chọn làng nghề đồ gỗ Vạn Điểm ở cuối huyện Thường Tín và làng nghề sơn mài Hạ Thái ở đầu huyện Thường Tín (giáp Trung tâm thành phố Hà Nội)

V ề lịch sử: Làng nghề đồ gỗ Vạn Điểm xuất hiện gần 50 năm và phát

triển mạnh trong thời kỳ đổi mới; làng nghề sơn mài Hà Thái đã có từ trước thời kỳ đổi mới với lịch sử hơn 200 năm Như vậy, có thể so sánh được cấu trúc xã hội của hai làng nghề này

V ề kinh tế - xã hội: Cả hai làng nghề này thuộc hai xã trong cùng một

huyện, do vậy nghiên cứu để xem xét sự khác nhau về nghề nghiệp có thể tạo

ra những sự khác nhau trong cấu trúc xã hội; đồng thời có thể xem xét mối tương quan giữa các phân hệ cấu trúc xã hội, cấu trúc xã hội - nghề nghiệp của hai làng nghề này

5 Cơ sở lý luận, mẫu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Nghiên cứu này dựa trên quan điểm lý luận, phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển làng nghề

Là một đề tài thuộc chuyên ngành xã hội học, nghiên cứu này vận dụng

lý thuyết hệ thống xã hội của Talcott Parsons và lý thuyết cấu trúc hóa của Anthony Giddens làm cơ sở lý luận cho việc xem xét, đánh giá thực trạng cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồ gỗ Vạn Điểm (xã Vạn Điểm) và làng nghề sơn mài Hạ Thái (xã Duyên Thái) ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phân tích tài li ệu: Thu thập, phân tích số liệu, các nghiên cứu đã có về

cấu trúc xã hội và cấu trúc xã hội làng nghề Việt Nam Thu thập, phân tích các báo cáo về tình hình phát triển kinh tế xã hội, về cấu trúc xã hội làng nghề

Trang 12

+ Phương pháp quan sát thực địa tại một số cơ sở sản xuất - kinh doanh

và hộ gia đình Tác giả luận án nhiều lần đến thăm, nghiên cứu, quan sát tham

dự đời sống của cư dân làng nghề đồ gỗ Vạn Điểm và làng nghề sơn mài Hạ Thái, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội

+ Ph ương pháp định lượng: Tác giả thu thập thông tin về cấu trúc xã

hội của cư dân làng nghề qua phiếu thu thập thông tin, do chính chủ hộ gia đình trả lời bằng cách trực tiếp ghi, điền vào bảng hỏi điều tra Chủ hộ gia đình trong nghiên cứu này là người đại diện hộ gia đình, có vai trò quyết định

về kinh tế của gia đình, được các thành viên trong gia đình thừa nhận

+ Ph ương pháp phân tích số liệu

Số liệu của cuộc điều tra được xử lý bằng chương trình SPSS và được phân tích tần suất, tương quan hai chiều

Phân tích t ần suất, phân tích thực trạng các phân hệ cấu trúc xã hội của

cư dân làng nghề hiện nay (thống kê mô tả: tần suất, trung bình, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất)

Phân tích t ương quan hai chiều, kiểm nghiệm mối quan hệ giữa từng

yếu tố xác định là biến độc lập với các phân hệ cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề thông qua công cụ thống kê Chi-Square Tests được sử dụng để xem xét ý nghĩa thống kê mối quan hệ giữa các biến số đó

Trang 14

Từ 530 phiếu điều tra được phát ra, kết quả thu được 515 phiếu đưa vào

xử lý Trong 515 hộ gia đình, gồm 425 hộ gia đình, cơ sở sản xuất làm nghề truyền thống và 90 hộ không làm nghề truyền thống

Trang 15

6.1 Câu hỏi nghiên cứu

- Cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông Hồng hiện nay biểu hiện như thế nào qua các phân hệ cấu trúc xã hội?

- Phân hệ cấu trúc xã hội nào là nổi bật nhất trong cấu trúc xã hội của

cư dân làng nghề đồng bằng sông Hồng hiện nay?

- Cấu trúc xã hội với các phân hệ của nó chịu tác động như thế nào từ các yếu tố nào ở làng nghề đồng bằng sông Hồng?

6.2 Giả thuyết nghiên cứu

Gi ả thuyết thứ nhất: Cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng

sông Hồng hiện nay gồm các phân hệ cơ bản cấu trúc xã hội - dân số, cấu trúc

xã hội - gia đình, cấu trúc xã hội - nghề nghiệp, cấu trúc xã hội - mức sống

Gi ả thuyết thứ hai: Cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông Hồng hiện nay nổi bật nhất là phân hệ cấu trúc xã hội - nghề nghiệp theo

mô hình gia đình nghề và mô hình công ty nghề

Gi ả thuyết thứ ba: Các phân hệ cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông Hồng chịu tác động chủ yếu từ đặc điểm nhân khẩu - xã hội của chủ hộ gia đình và loại nghề của hộ gia đình

Trang 16

Đặc điểm nhân khẩu -

xã hội của chủ hộ gia đình

MÔI TRƯỜNG KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, VĂN HÓA, XÃ HỘI

CỦA LÀNG-XÃ

Cấu trúc xã hội - gia đình

Cấu trúc xã hội - nghề nghiệp

Cấu trúc xã hội - mức sống

Cấu trúc xã hội - dân số

ĐƯỜNG LỐI, CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG, CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ

Trang 17

+ Cấu trúc xã hội - mức sống: thu nhập, chi tiêu

- Các y ếu tố môi trường kinh tế - xã hội

+ Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà

nước về phát triển làng nghề;

+ Môi trường: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của làng-xã

7 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án

7.1 Ý nghĩa lý luận

Nghiên cứu và vận dụng lý thuyết hệ thống xã hội của Talcott Parsons

và lý thuyết cấu trúc hóa của Anthony Giddens vào việc tìm hiểu cấu trúc xã hội

cư dân hai làng nghề đồng bằng sông Hồng, để làm rõ các đặc trưng của các phân hệ cấu trúc xã hội làng nghề

Luận án vận dụng và góp phần phát triển thêm một số khái niệm như cấu trúc xã hội, các phân hệ cấu trúc xã hội, cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề, gia đình nghề, công ty nghề

Trang 18

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Luận án phát hiện cấu trúc xã hội - nghề nghiệp của cư dân làng nghề gồm: Mô hình gia đình nghề và mô hình công ty nghề đang được cấu trúc hóa thông qua hành động ở các thành phần của cấu trúc xã hội cư dân làng nghề trong quá trình đổi mới kinh tế xã hội ở Việt Nam hiện nay

- Luận án góp phần bổ sung thêm thông tin cần thiết trong nghiên cứu cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông Hồng nói riêng và nghiên cứu về làng nghề nói chung ở Việt Nam

- Luận án gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo cho chủ đề này, cung cấp

số liệu, cứ liệu phong phú, đa dạng khi nghiên cứu cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông Hồng hiện nay

- Luận án có thể gợi ra những suy nghĩ cho việc đề xuất những giải pháp đối với những vấn đề đặt ra, nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội

- Luận án có thể sử dụng làm tài liệu trong nghiên cứu, giảng dạy về cấu trúc xã hội

8 Kết cấu luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án gồm 4 chương, 14 tiết

Trang 19

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 HƯỚNG NGHIÊN CỨU VỀ CẤU TRÚC XÃ HỘI - DÂN SỐ LÀNG NGHỀ

Nghiên cứu về cấu trúc giới tính, cấu trúc tuổi trong lao động và tổ

chức sản xuất làng nghề, tác giả Bùi Xuân Đính trong công trình Làng nghề

th ủ công huyện Thanh Oai (Hà Nội) truyền thống và biến đổi đã mô tả khung

tổ chức lao động trong làng nghề, với mô hình “gia đình” Thành phần lao động bao gồm tất cả các thành viên trong gia đình từ lớn tuổi nhất đến nhỏ tuổi nhất và nam giới vẫn giữ vị trí quan trọng trong các công việc chủ chốt, còn nữ giới giữ vị trí quan trọng trong các công việc đòi hỏi sự tinh xảo, khéo léo Trong sản xuất nghề làm quạt “khâu đơn giản là xếp các nan đã được chẻ thành bộ, trẻ em từ 12 tuổi đã có thể làm được Trẻ 14 tuổi chốt đinh đầu (chốt nhài), 16 tuổi phất quạt (song việc này phụ nữ làm là chính, chính vì sự nhẹ nhàng, nếu làm mạnh tay, giấy sẽ bị rách) Các công đoạn còn lại chủ yếu

là do nam giới” [24, tr.176] Trong phân công lao động theo giới ở làng nghề thì phần lớn nam giới ở độ tuổi thanh niên hoặc trung niên tham gia gián tiếp, tập trung ở công đoạn: liên hệ mua nguyên vật liệu, tìm thị trường tiêu thụ và thực hiện các giao dịch mua bán [24, tr.175-177] Nghiên cứu này của tác giả

là gợi ý thú vị cho luận án tìm hiểu nhóm xã hội theo độ tuổi, theo giới tính trong cấu trúc xã hội - dân số làng nghề

Báo cáo của Bộ Tài nguyên và môi trường về môi trường làng nghề Việt Nam, năm 2008 đã đưa ra thống kê cụ thể về các biểu hiện thay đổi số lượng lao động thủ công và các hiệp hội làng nghề cho thấy sự thay đổi tích cực về số lượng cũng như thành phần tham gia sản xuất, thúc đẩy mô hình sản xuất làng nghề với quy mô lớn hơn về nhân công Báo cáo cho biết làng nghề

đã thu hút nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia, trong đó kinh tế tập thể chiếm 18%, doanh nghiệp tư nhân chiếm 10% và kinh tế cá thể chiếm 72%;

Trang 20

không chỉ thu hút nhiều thành phần tham gia mà ngành thủ công mỹ nghệ còn thu hút số lượng lao động cũng đã tăng lên tới 11 triệu lao động chiếm 30% lao động nông thôn Tỷ lệ thời gian làm việc sử dụng lao động trong độ tuổi của khu vực nông thôn năm 2005 chiếm 80% Các làng nghề cũng đã dần xuất hiện chuyên môn hóa với các hội như: hội nghề nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành nghề nông thôn hoặc các trung tâm giao lưu buôn bán, cụm dân cư [trích theo 9, tr.11-12]

Về trình độ kỹ thuật ở các làng nghề hiện nay cho thấy trong cấu trúc lao động về mặt chuyên môn kỹ thuật phần lớn là lao động chân tay, thủ công Theo kết quả điều tra của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn “chất lượng lao động và trình độ chuyên môn kỹ thuật ở các làng nghề nhìn chung còn thấp, chủ yếu là lao động phổ thông, số lao động chỉ tốt nghiệp cấp I, II chiếm trên 60%” [9, tr15] Điều này gợi ý tác giả luận án tiếp tục nghiên cứu về nguồn nhân lực của làng nghề

Qua cấu trúc lao động về chuyên môn kỹ thuật như vậy có thể thấy phần lớn công nghệ và kỹ thuật áp dụng cho sản xuất trong các làng nghề nông thôn còn lạc hậu, tính cổ truyền chưa được chọn lọc và đầu tư khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm còn thấp, do đó chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường và khó có thể nâng cao sức cạnh tranh

Nghiên cứu về chất lượng lao động làng nghề, tác giả Trần Minh Yến

với nghiên cứu về Làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam đã đưa ra

bức tranh tổng quan về chất lượng lao động ở làng nghề Trong đó số người

có trình độ học vấn cao chiếm một tỉ trọng thấp, còn đa số lao động có trình

độ học vấn trung học cơ sở trở xuống Cụ thể nghiên cứu này cho thấy cần có

sự quan tâm hơn về trình độ học vấn của lao động làng nghề, bởi tính chất làng nghề nên trình độ học vấn chưa được coi trọng không chỉ trong đối tượng thợ, mà ngay cả đối tượng là các chủ doanh nghiệp thì trình độ và kiến thức

Trang 21

quản lý vẫn còn hạn chế [109] Cấu trúc lao động về trình độ học vấn là một trong những điểm yếu có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sản xuất, chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường trong hoạt động của các làng nghề

Về đặc trưng các mối quan hệ trong làng nghề: Trong bài viết Phong trào khôi ph ục tập quán - tín ngưỡng cổ truyền ở một số làng xã vùng châu

th ổ sông Hồng của Lê Mạnh Năm [trích theo 69, tr.60-66], và bài viết Người nông dân đồng bằng sông Hồng và quan hệ cộng đồng trong thời kỳ đổi mới

của Nguyễn Đức Truyến [trích theo 96, tr.45-51] đều cùng nhấn mạnh mối quan hệ làng - xã chủ yếu dựa trên truyền thống, vận hành theo những nguyên tắc tổ chức, các nhóm xã hội khác nhau, các tác giả đã phân tích làm rõ thêm

mô hình họ hàng, thôn xóm như một đơn vị kinh tế, với các hoạt động nghi lễ thờ cúng tổ tiên, các sự kiện quan trọng trong hộ gia đình, sự giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau, tương tự các vị trí quan trọng, chủ chốt trong làng cũng sẽ được phân chia theo dòng họ nào có đông người hơn trong làng, xóm Các nghiên cứu này giúp tác giả hình dung ra những hoạt động của các nhóm xã hội trong nông thôn đồng bằng sông Hồng

Tương tự, nhóm tác giả Mai Văn Hai và cộng sự viết về Bản sắc làng

vi ệt trình bày tính cộng đồng làng xã với chế độ công điền, công thổ đã hình

thành tâm lý bám làng, tập trung quần tụ và chia sẻ công việc cho tất cả mọi người [31]

Cùng nghiên cứu về vấn đề này, tác giả Nguyễn Thị Phương Châm

trong tác phẩm Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay với trường hợp làng

Đồng Kỵ, Trang Liệt và Đình Bảng thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đã đưa ra những đặc trưng biến đổi văn hóa làng trong sự phát triển kinh tế hiện nay Cụ thể là “quan hệ làng xóm trong các làng vẫn giữ được tính chất của làng quê xưa: đoàn kết, tình nghĩa Đặc biệt, trong điều kiện kinh tế thị trường phát triển hiện nay sự đoàn kết, nghĩa tình này còn được củng cố hơn trước”

Trang 22

[12, tr.305-306] Song “cũng không quá khó để nhận ra một số những mâu thuẫn đã nảy sinh trong quan hệ làng xóm và đã xuất hiện những cạnh tranh mang tính chất thể diện trong cộng đồng” Đặc biệt những làng buôn, làng nghề tiểu thủ công nghiệp có tốc độ sản xuất và phát triển không ngừng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường trong và ngoài nước [12] Công trình này, giúp tác giả nhận diện và có ý tưởng nghiên cứu sự kết nối cấu trúc xã hội giữa truyền thống và hiện đại ở các làng nghề đồng bằng sông Hồng hiện nay

Trong quá trình chuyển đổi về cấu trúc xã hội - dân số của làng nghề tại nông thôn đã xuất hiện sự phân tầng xã hội trên tất cả các mặt, đặc biệt phân tầng trong các yếu tố của dân số như lao động, mức sống, trình độ, v.v, theo như Talcott Parsons, sự phân tầng chính là kết quả trực tiếp của sự phân công lao động xã hội và sự phân hóa giữa các nhóm xã hội khác nhau [120, tr 841-

843] Nghiên cứu về vấn đề này, tác giả Tô Duy Hợp khi bàn về Thực trạng

và xu h ướng chuyển đổi cơ cấu xã hội nông thôn đồng bằng Bắc Bộ hiện nay

đã trình bày các mô hình phân tầng trong làng - xã, như xuất hiện các tầng gia đình giàu, khá giả, trung bình và nghèo Trong đó có sự phân tầng của những làng nghề truyền thống, sự phân hóa rõ rệt của từng làng về mức thu nhập tạo

ra đặc trưng thu nhập cho các hộ tại từng làng, góp phần hTnh thành nên các cấu trúc xã hội kiểu mới [42, tr 20-26]

Tóm l ại, các nghiên cứu về cấu trúc xã hội - dân số có ý nghĩa về mặt

thực tiễn hết sức to lớn đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa công nghiệp nông thôn Việt Nam Thông qua quá trình nghiên cứu tài liệu của các tác giả như Bùi Xuân Đính, Trần Minh Yến, Lê Mạnh Năm, Mai Văn Hai và cộng sự, Nguyễn Thị Phương Châm, Tô Duy Hợp và báo cáo của Bộ Tài nguyên và môi trường về Môi trường làng nghề Việt Nam đã giải quyết được nhiều vấn đề về dân số đang tồn đọng tại các làng nghề của nông thôn Việt

Trang 23

Nam như thất nghiệp, tệ nạn, nghèo đói, đào tạo Tuy nhiên, bên cạnh đó, các làng nghề vẫn không tránh khỏi những biến đổi tiêu cực trong quá trình biến đổi cấu trúc xã hội - dân số, điều đó đòi hỏi cần có sự nghiên cứu khoa học và lâu dài đối với các đối tượng của cấu trúc xã hội - dân số làng nghề nhằm phát triển làng nghề nói chung và phát triển cấu trúc xã hội - dân số bền vững trong các làng nghề nói riêng

1.2 HƯỚNG NGHIÊN CỨU VỀ CẤU TRÚC XÃ HỘI - GIA ĐÌNH LÀNG NGHỀ

Sự phân tầng xã hội ở nông thôn nói chung đã dẫn đến sự phân tầng trong từng đơn vị của làng - xã, trong đó có các gia đình Về điều này, tác giả

Trương Xuân Trường với Một số biến đổi kinh tế - xã hội ở nông thôn vùng châu th ổ sông Hồng hiện nay đã đưa ra các chỉ số sinh hoạt gia đình dưới tác

động của nền kinh tế thị trường, từ đó dẫn đến sự biến đổi trong cấu trúc gia đình về quy mô, vai trò gia đình, vị thế chủ hộ và các mối quan hệ thứ bậc - trên dưới, quan hệ giới trong gia đình Điều đó thể hiện rõ trong quan điểm về việc lập gia đình Nghiên cứu này chỉ rõ rằng quan điểm lập gia đình giờ đã thay đổi so với trước Thành viên trong gia đình lập gia đình là tự bản thân quyết định, khác với truyền thống chủ yếu là do sự sắp xếp của cha mẹ Ngoài

ra kinh tế hộ gia đình đã được coi trọng, cấu trúc gia đình hạt nhân hai thế hệ dần thay thế gia đình nhiều thế hệ; quy mô trung bình có từ 4 - 5 nhân khẩu Đặc biệt, quan điểm về chủ hộ đã dần thay đổi với vai trò chính là người chỉ huy và điều phối thực sự trong gia đình, với đầu óc tổ chức sản xuất - kinh doanh và mang lại thu nhập nhiều nhất cho gia đình sẽ được coi là chủ hộ Đó

là những biểu hiện đặc trưng cho sự biến đổi của cấu trúc gia đình trong làng, xóm hiện nay [93, tr.28-41] Bài viết này giúp tác giả có hướng nghiên cứu quy mô gia đình, vị thế, vai trò của từng thành viên trong gia đình làng nghề

Tác giả Nguyễn Đức Truyến với bài viết Lịch sử hình thành và phát tri ển của làng ở đồng bằng Sông Hồng nhìn từ kinh tế hộ gia đình đã đưa ra

Trang 24

những dấu hiệu nhằm cảnh báo về tính cấu kết cộng đồng dưới tác động của nền kinh tế thị trường qua các mối quan hệ gia đình, họ hàng, làng xóm, mối quan hệ giữa nam giới và nữ giới, giữa vợ và chồng “Tổ chức kinh tế hộ đòi hỏi tăng cường sự cấu kết giữa các thành viên trong hộ gia đình, tôn trọng vai trò điều hành của người chủ gia đình, sự phối hợp giữa các thành viên trong phân công lao động và sản xuất và sự nhất quán trong tiêu dùng và sử dụng sản phẩm trong gia đình” [94, tr.23] Tuy nhiên, “vẫn là mô hình dân chủ và bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình, giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ

và con cái”[94, tr.23]

Trong cuốn Làng nghề thủ công huyện Thanh Oai (Hà Nội) truyền

th ống và biến đổi, tác giả Bùi Xuân Đính đã phân tích những đặc trưng về cấu

trúc xã hội - gia đình thông qua sự chuyên môn hóa nghề, tính chất truyền nghiệp và quy định truyền nghề trong các gia đình làng nghề Điều đó, cho thấy rằng, cấu trúc xã hội - gia đình đã tạo nền tảng vững chắc, kết nối bản sắc và duy trì các đặc trưng truyền thống của làng nghề Tác giả đã trình bày

về mô hình làng nghề, với cách nhìn hoàn toàn khác biệt về mô hình làng nghề mới với mô hình nền công nghiệp gia đình luôn khởi đầu từ cấu trúc xã hội của gia đình, với nghĩa là chủ hộ luôn là người khởi nghiệp và các thành viên của gia đình như vợ của chủ hộ, con trai, con gái của chủ hộ luôn được thu hút vào làm việc và trở thành những người có vị trí quan trọng, then chốt trong nền công nghiệp gia đình [24, tr.58-65], hoặc có thể tìm thấy mô hình

của Phan Gia Bền trong nghiên cứu về Sơ khảo lịch sử phát triển thủ công

Vi ệt Nam, cũng đã trình bày tính chất “thủ công gia đình” trong các làng nghề

và sự phân công vai trò của nam giới và nữ giới, sự phân công giữa các lứa tuổi trong làng nghề [101, tr.42-45]

Cùng bàn về tính cấu kết trong cộng đồng, tác giả Lê Hồng Lý trong

nghiên cứu Nghề thủ công mỹ nghệ đồng bằng Sông Hồng, tiềm năng, thực

Trang 25

tr ạng và một số khuyến nghị đã đưa ra những hình ảnh chân thực và đáng

quan tâm về thực trạng của thế hệ nghệ nhân tương lai Đó là, trong các làng nghề tình trạng trẻ em đi học trung học phổ thông, đại học, sau đại học còn ít,

có xu hướng giảm và có sự gia tăng về tệ nạn xã hội như nghiện hút, trộm cắp, đánh bài … [105, tr.168-170]

Trong một nghiên cứu của tác giả Mai Văn Hai và cộng sự trong tác

phẩm Bản sắc làng Việt trong tiến trình toàn câu hóa hiện nay, có thể tìm

hiểu rõ hơn về tính cấu kết cộng đồng thông qua các quy định nghiêm ngặt trong cấu trúc xã hội - gia đình của làng nghề thông qua chế độ “nội hôn” và

“bí mật nhà nghề” như mỗi một làng nghề đều phải giữ bí mật về nghề của mình, con gái lấy chồng nơi khác không được làm nghề ở nguyên quán của mình hoặc có nơi cấm con gái lấy chồng ngoài mà phải lấy chồng trong làng

và cùng làm nghề, hoặc chỉ dạy, truyền nghề cho đàn ông, đàn bà có con chứ không truyền và dạy nghề cho con gái [31, tr 95-100]

Sự biến đổi của kinh tế thị trường đã khiến cho cấu trúc xã hội - gia đình bị biến đổi theo, đặc biệt là về vị thế và vai trò của từng thành viên trong gia đình Khi được cho phép sản xuất, kinh doanh những gì mà Nhà nước không cấm, nhiều hộ gia đình đã mạnh dạn mở rộng hoạt động sản xuất - kinh doanh nghề những mặt hàng nghề truyền thống với sự tham gia của các thành viên gia đình tùy theo sức khỏe và năng lực Nhiều phụ nữ vừa làm vợ, vừa làm nội tướng trong gia đình và vừa cùng chồng tham gia quản lý cơ sở sản xuất của hộ gia đình Sự biến đổi đó được phát triển theo quy luật mà Marx đã từng nói khi bàn về cấu trúc xã hội, với sự kiểm soát về quyền lực kinh tế sẽ kiểm soát được quyền lực chính trị và chi phối về mặt tư tưởng, tinh thần Ngoài ra, có thể thêm một số tác phẩm viết về nông thôn Việt Nam trong quá trình chuyển đổi cơ cấu xã hội tác động đến vị thế và vai trò trong gia đình,

trong làng - xã như Sự chuyển đổi cơ cấu xã hội ở nông thôn đồng bằng Bắc

Trang 26

B ộ trong điều kiện kinh tế mới của Viện Xã hội học Nghiên cứu này đã đưa

ra cái nhìn tổng quan về sự biến đổi của nông thôn Việt Nam từ sau “khoán sản” và “khoán hộ” [trích theo 103, tr.1-14], từ hệ thống kinh tế hợp tác xã chuyển sang hệ thống kinh tế hộ gia đình xã viên, quy mô diễn ra không chỉ trong hộ gia đình mà còn họ mạc và làng, tạo ra sự thay đổi về cấu trúc xã hội trong tất cả các lĩnh vực như dân số, nghề nghiệp, việc làm, lao động, cho đến các thiết chế, quy phạm điều chỉnh quan hệ và vai trò xã hội của người dân ở nông thôn Sự biến đổi cấu trúc xã hội nông thôn, tác giả Tô Duy Hợp trong

nghiên cứu Về thực trạng và xu hướng chuyển đổi cơ cấu xã hội nông thôn đồng bằng Bắc Bộ hiện nay cho rằng sự chuyển đổi cơ cấu xã hội nông thôn

đang ngày càng ăn nhập và thích nghi với sự chuyển đổi của nền kinh tế thị trường, để thấy rõ sự biến đổi tác giả đã đưa ra sự phân loại các hộ gia đình như hộ gia đình vượt trội, chủ động giàu có, hộ gia đình trung bình và hộ gia đình yếu kém, thụ động hoặc có làng - xã vượt trội, chủ động giàu có; làng -

xã trung bình và làng - xã yếu kém, thụ động Tác giả cũng trình bày về sự xuất hiện của nhóm hộ gia đình chuyển sang kinh doanh theo hướng chuyên môn hóa hơn và quy mô hơn như các “hộ chuyên doanh” [42, tr 21-30] Ngoài ra, có thể tìm hiểu những biến đổi cấu trúc xã hội trong các bài viết của

các tác giả như: Vũ Tuấn Anh Về sự chuyển biến cơ cấu xã hội và định hướng giá tr ị ở nông thôn trong quá trình đổi mới kinh tế [3], Phí Văn Ba Sự biến đổi của các truyền thống gia đình nông thôn trong quá trình hiện đại hóa: phác th ảo theo kết quả điều tra xã hội học gần đây [6], Đỗ Thái Đồng với bài viết Những vấn đề cơ cấu xã hội và sự phát triển ở một xã nông thôn Nam Bộ [26], hay phân tích cơ cấu nội tại, chức năng trong các loại hộ gia đình của Mai Huy Bích với nội dung Một đặc trưng về cơ cấu và chức năng, gia đình

Vi ệt Nam ở đồng bằng sông Hồng [7],

Trang 27

Tóm l ại, các kết quả nghiên cứu khoa học này đã cung cấp nhiều thông

tin, nhiều dữ liệu về các mô hình cấu trúc xã hội - gia đình trong chiều dài lịch sử phát triển của các làng nghề truyền thống ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định nguồn gốc và đặc trưng của các phân hệ cấu trúc xã hội - gia đình, từ đó góp phần làm rõ những tác động của các chính sách, thể chế, hệ thống giá trị văn hóa, phong tục tập quán cổ truyền của các làng nghề qua từng giai đoạn phát triển khác nhau

1.3 HƯỚNG NGHIÊN CỨU VỀ CẤU TRÚC XÃ HỘI - NGHỀ NGHIỆP LÀNG NGHỀ

Tại các làng nghề, cấu trúc xã hội - nghề nghiệp có thể được nhìn nhận thông qua các hình ảnh về giá trị văn hóa trong làng nghề ở nông thôn Cấu trúc xã hội gắn liền với văn hóa, cấu trúc văn hóa của cộng đồng xã hội nhất định Thuật ngữ Kultur trong thuật ngữ cổ điển Đức ngụ ý về văn hóa mang nghĩa “tình anh em” [113, tr.41-42] và trong tiếng Anh, khái niệm văn hóa đề cập thường xuyên để đại diện cho tính nghệ thuật tinh túy và cách cư xử của giới tinh hoa giáo dục [trích theo 119, tr.241-258] Do đó, trong một nền văn hóa, ý nghĩa đơn giản nhất cấu trúc xã hội đặc trưng sẽ được thể hiện thông qua các hoạt động của con người Tương tự, đối với cấu trúc xã hội của làng nghề tại các cộng đồng luôn hình thành các hình thức khác nhau để tạo ra công việc, quy định thông qua một loạt nguồn lực có sẵn và với các chỉ tiêu

có sẵn như truyền thống gia đình, dòng họ, phong tục, kiến thức truyền thống, các yếu tố tôn giáo và tinh thần sáng tạo để đáp ứng mục tiêu sinh kế hằng ngày và áp dụng đối với các thành viên tham gia [trích theo 113, tr.1082-1087] Faulkner mô tả nền văn hóa làng nghề như là một “cấu trúc” với các tiêu chí đặc trưng bao gồm niềm tin, chuẩn mực, phong tục, nghi lễ, thái độ, hành vi, các kỹ năng, kiến thức, biểu tượng, ngôn ngữ, tôn giáo [trích theo

114, tr.27-52] Các cấu trúc xã hội làng nghề thể hiện cách sống của người

Trang 28

dân làng nghề, giống như một thiết chế cho cuộc sống đảm bảo sự gắn kết của

cả hệ thống

Khi nghiên cứu về cấu trúc xã hội làng nghề, các tác giả thường gắn với các nghiên cứu về cấu trúc xã hội của nông thôn như: tác giả Tô Duy Hợp trình bày về sự chuyển đổi cấu trúc xã hội thông qua các mô hình hoạt động sản xuất của các hộ [42, 20-26], tác giả Trương Xuân Trường cũng bàn về biến đổi kinh tế - xã hội ở nông thôn châu thổ sông Hồng thông qua các tiêu chí như đời sống sinh hoạt, thu nhập, chuyển đổi lao động nghề nghiệp và sự phân tầng xã hội trong làng [93, tr.30 - 39]

Làng nghề là một trong những hình ảnh biểu trưng gắn liền với nông

thôn Việt Nam trong các công trình nghiên cứu như Làng xã An Nam ở Bắc

k ỳ của P Ory, đặc biệt trong tác phẩm Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ của

P.Gourou, P.Gourou cho rằng ngành công nghiệp Việt Nam, cụ thể là các hoạt động của làng nghề giống như một ngành “phụ”, “kiếm thêm” lúc nông nghiệp nhàn rỗi của người nông dân Việt Nam với quy mô nhỏ, máy móc thủ công và làm theo phương pháp truyền thống, hầu như không có sự hỗ trợ của

kỹ thuật P.Gourou viết: “Người thợ thủ công không có vốn để trả công và

kh ấu hao, họ chỉ mong mỗi ngày lao động kiếm được vài hào bạc” [74, tr

465-466] Tương tự, tác giả Mai Văn Hai, Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Đức

Chiện, Ngô Thị Thanh Quý trong cuốn Bản sắc làng việt đã trình bày về tính

bảo mật trong nghề của người làng nghề trong quan hệ với người ngoài làng, người khác Quy định bất thành văn của một số làng nghề là chỉ truyền nghề cho con trai hoặc con dâu chứ không truyền nghề cho con gái vì lo ngại con gái đi lấy chồng, theo chồng sẽ mang bí mật nghề nghiệp cho người khác, làng khác [trích theo 31, tr.98]

Tác giả Hoàng Kim Giao trong tác phẩm Làng nghề truyền thống, mô hình làng ngh ề và phát triển nông thôn và tác giả Nguyễn Kế Tuấn trong

Trang 29

công trình nghiên cứu Một số vấn đề tổ chức sản xuất ở các làng nghề thủ công đã đưa ra các loại mô hình làng nghề theo từng giai đoạn phát triển nhằm khắc phục được những hạn chế của mô hình truyền thống, phát triển mô hình hiện đại và năng suất cao bằng sự chuyên môn hóa thay máy móc vào các công đoạn sản xuất tay chân, chuyên môn hóa về vai trò của từng người trong hộ gia đình trong các công đoạn hoặc sự phát triển cao độ của mô hình công ty chuyên sản xuất - kinh doanh ở làng nghề, đặc trưng cho sự phát triển làng nghề chuyên nghiệp hơn [105, tr.54-67] Nghiên cứu này gợi cho tác giả luận án ý tưởng tìm hiểu mô hình “công ty nghề” trong cấu trúc xã hội nghề nghiệp của làng nghề hoặc sự xuất hiện của “phố nghề” trong nghiên cứu của

tác giả Vũ Quốc Tuấn với công trình nghiên cứu Làng nghề, phố nghề Thăng Long - Hà N ội trên đường phát triển đã đại diện cho sự phát triển của thành

thị, phố xá sầm uất [105, tr.481-490]

Ngoài ra, có thể nghiên cứu các công trình khoa học đã đề cập khá sâu sắc về các vấn đề chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp và phân tầng xã hội tại các

vùng nông thôn Việt Nam như: tác giả Đỗ Thiên Kính với nghiên cứu Tìm

hi ểu phân tầng xã hội trong lịch sử và áp dụng vào nghiên cứu phân hóa giàu nghèo ở nước ta hiện nay [49], tác giả Mai Huy Bích với nghiên cứu Lý thuy ết phân tầng xã hội và những phát triển gần đây [8], Trịnh Duy Luân và Bùi Thế Cường với nghiên cứu về Phân tầng xã hội và công bằng xã hội ở

n ước ta hiện nay [55], v.v Các tác giả đã phân tích những xu hướng biến đổi

của nông thôn Việt Nam thông qua sự chuyển dịch về cơ cấu lao động và sự phân tầng xã hội trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường Các nhóm lao động được phân chia rõ ràng hơn thông qua các mức thu nhập, sự khác biệt về dụng cụ sinh hoạt trong gia đình và phương tiện đi lại, v.v

Có thể thấy, mặc dù bị tác động bởi nền kinh tế thị trường, lợi nhuận kinh tế đến từng cá nhân khiến cho cấu trúc xã hội - nghề nghiệp thay đổi

Trang 30

Tuy nhiên theo Max Weber đã phân tích, kinh tế không phải là yếu tố duy nhất giải thích cấu trúc xã hội là động lực cho sự thay đổi, bởi nó còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như địa vị chính trị, hay quyền lực, địa vị xã hội hay uy tín [116, tr.15 - 25] Chính vì vậy, mặc dù các làng nghề phát triển và biến đổi sâu sắc có thể bắt nguồn từ yếu tố kinh tế nhưng để duy trì, phát triển

và có mối liên kết khăng khít với môi trường làng nghề, thì đòi hỏi cần có sự kết hợp giữa các yếu tố khác ngoài yếu tố kinh tế như yếu tố dân số, truyền thống và văn hóa nghề nghiệp, yếu tố đổi mới tư duy và chính sách phát triển nghề

Có thể thêm một số công trình khác nữa nhằm có cái nhìn tổng quan về cấu trúc tổ chức của các làng xã nông thôn Việt Nam nói chung, để từ đó phản ánh những tác động của cấu trúc làng xã trong các cấu trúc nghề nhiệp

của làng, như tác giả Bùi Quang Dũng với nghiên cứu Nghiên cứu làng Việt: các v ấn đề và triển vọng [27], Trần Từ với nghiên cứu Cơ cấu tổ chức của làng Vi ệt cổ truyền ở Bắc bộ [97], Công trình nghiên cứu Sự biến đổi của làng - xã Vi ệt Nam ngày nay (ở đồng bằng sông Hồng) đã chỉ ra sự biến

chuyển về cơ cấu kinh tế trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường Đó là, sự biến đổi của xã hội nông thôn cổ truyền, trong đó có cấu trúc xã hội như là: các quan hệ sở hữu, quan hệ huyết thống và những quan hệ xã hội khác, đời sống văn hóa, xã hội, phong tục, tập quán, v.v, đồng thời diện mạo của đời sống văn hóa xã hội ở nông thôn nước

ta hiện nay được phác họa tương đối toàn diện [38] Đặc biệt cuốn sách do tác

giả Tạ Ngọc Tấn (chủ biên), (2010), “Một số vấn đề về biến đổi cơ cấu xã hội

Vi ệt Nam hiện nay”, (kết quả nghiên cứu thuộc đề tài khoa học trọng điểm cấp Nhà nước KX.04.14/06-10 “Biến đổi cơ cấu xã hội ở Việt Nam”) Công trình

này nêu tổng thể về biến đổi cơ cấu xã hội Việt Nam trong giai đoạn đổi mới, thể hiện trên năm phân hệ cơ bản nhất, đó là cơ cấu xã hội - giai cấp, cơ cấu xã hội -

Trang 31

nghề nghiệp, cơ cấu xã hội - dân số, cơ cấu xã hội - dân tộc và cơ cấu xã hội - tôn giáo [89] Đây thực sự là công trình có giá trị lý luận và thực tiễn, giúp cho tác giả luận án học hỏi để nghiên cứu các phân hệ của cấu trúc xã hội cư dân làng nghề

Tóm lại, các kết quả nghiên cứu của nhóm công trình khoa học này giúp

ích cho tác giả luận án tiếp cận, học hỏi, kế thừa nhất là về phương pháp nghiên cứu xã hội học nông thôn, đồng thời đã cung cấp một hệ thống các lý luận và bằng chứng thực tiễn về sự hình thành, phát triển làng nghề truyền thống Việt Nam, tạo điều kiện cho việc hình thành tư duy và nhận thức về làng nghề, đặc biệt là quá trình hình thành và phát triển các mô hình sản xuất của làng nghề với các cấu trúc xã hội - nghề nghiệp mang đặc trưng cho từng giai đoạn, từng mô hình Đây sẽ là cơ sở lý luận khoa học cho các nhà nghiên cứu khi xem xét vấn

đề làng nghề truyền thống ở Việt Nam phát triển qua các thời kỳ

1.4 HƯỚNG NGHIÊN CỨU VỀ CẤU TRÚC XÃ HỘI - MỨC SỐNG LÀNG NGHỀ

Liên quan tới cấu trúc mức sống làng nghề, có thể tìm hiểu sự hình thành và phát triển cấu trúc này thông qua các mô hình phân tầng về mức sống tại nông thôn Việt Nam nói chung và làng nghề tại nông thôn nói riêng Mức sống luôn là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá sự biến đổi cấu trúc thông qua sự phân tầng giữa các nhóm thu nhập Nghiên cứu về phân

tầng mức sống của tác giả Lưu Hồng Minh với nghiên cứu Tính năng động

c ủa người dân nông thôn đồng bằng Bắc Bộ với phân tầng xã hội, đã xét tính

năng động của người dân thông qua sự chuyển đổi lao động nghề nghiệp tại chỗ và di dân để đánh giá về chất lượng cuộc sống Từ đó phân chia nhóm lao động tại nông thôn theo các mức thu nhập khác nhau và theo tính chất nghề nghiệp khác nhau Tác giả cũng chỉ ra rằng các ngành nghề trong nông nghiệp ngày càng đa dạng, chiếm phần lớn thời gian và nhân công tại các vùng nông thôn, trong đó có các ngành nghề thủ công truyền thống Tuy nhiên, vẫn chưa

Trang 32

có dấu ấn rõ nét bởi còn bị ảnh hưởng nặng nề từ tư duy truyền thống đối với

nông nghiệp [60, tr 84-90] Tác giả Đỗ Thiên Kính với nghiên cứu Tìm hiểu phân t ầng xã hội trong lịch sử và áp dụng vào nghiên cứu phân hóa giàu nghèo ở nước ta hiện nay, đã trình bày các hệ thống phần tầng xã hội khác

nhau và đặc trưng về các giai cấp tại các nước trên thế giới và ở Việt Nam qua các thời kỳ [49, tr.51-58] Cùng nghiên cứu về nội dung phân tầng, tác giả

Mai Huy Bích với nghiên cứu Lý thuyết phân tầng xã hội và những phát triển

g ần đây [8] cũng bổ sung sự đa dạng về lý thuyết phân tầng và sự phát triển

của lý thuyết phân tầng trong thời gian gần đây, thông qua các quan điểm của các nhà xã hội học như E Duirkheim, Erik Olin Wright, Coleman Bài viết

của Trịnh Duy Luân và Bùi Thế Cường Về phân tầng xã hội và công bằng xã

h ội ở nước ta hiện nay, các tác giả đã trình bày những đặc trưng cơ bản về thực trạng phân tầng xã hội và thực hiện công bằng xã hội của Việt Nam, tìm

ra nguyên nhân và đưa ra những giải pháp hạn chế các tác động tiêu cực của phân tầng xã hội đang diễn ra tại Việt Nam [55, tr.3-11] Các tác giả phân chia mức sống của làng, xã thành các nhóm đặc trưng, thể hiện những biến đổi rõ ràng của các cấu trúc trong làng - xã Một phát hiện nổi bật trong các nghiên cứu trên là sự phân tầng xã hội thành các tầng lớp gia đình giàu, khá giả, trung bình và nghèo luôn gắn liền với hoạt động nghề nghiệp Trong đó, những gia đình có mức sống khá giả trở lên thường dựa vào nghề phi nông nghiệp và những gia đình có mức sống nghèo thường dựa vào nghề nông nghiệp với diện tích đất nhỏ hẹp

Tác giả Trịnh Xuân Thắng trong nghiên cứu Bảo tồn và phát triển làng ngh ề truyền thống một cách bền vững đã phản ánh sự thay đổi về mức thu

nhập của người lao động làng nghề và những tác động tích cực trong các hoạt động xuất nhập đạt năng suất cao [90], có thể thấy rằng việc phát triển làng nghề đúng hướng sẽ tạo ra hiệu quả to lớn trong việc nâng cao thu nhập cho

Trang 33

người dân làng nghề về mọi mặt Tương tự, trong tác phẩm Làng nghề thủ công truy ền thống Việt Nam của Bùi Văn Vượng, tác giả đã tập trung trình bày các loại hình làng nghề truyền thống trong quá trình hình thành, phát triển

và thích ứng với nền kinh tế thị trường như: đúc đồng, kim hoàn, rèn, gốm, trạm khắc đá, dệt, thêu ren, giấy dó, tranh dân gian, dệt chiếu, quạt giấy, mây tre đan, ngọc trai [108]

Với khởi nguồn từ học thuyết Marx coi cấu trúc xã hội là cấu trúc giai cấp với mối quan hệ chủ yếu là đấu tranh giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị, với sự quyết định bởi phương thức sản xuất và trao đổi, Anthony Giddens

đã tiếp tục phát triển với học thuyết về cấu trúc hóa Theo học thuyết của Giddens cấu trúc xã hội được tạo ra và liên tục được tái tạo bởi các hành động của con người và cấu trúc xã hội biến đổi kéo theo chức năng biến đổi với tính hai mặt tốt hoặc xấu Từ đó để thấy rằng sự biến đổi trong cấu trúc - mức sống làng nghề là kết quả hoạt động nghề nghiệp của người dân và các chủ thể hoạt động nghề nghiệp nhằm đáp ứng chức năng của môi trường kinh tế của làng nghề sao cho tương thích với các yêu cầu đặt ra từ đổi mới kinh tế sang cơ chế thị trường [43, tr 82-91]

Ngoài ra, có thể thêm đề tài như đề tài Nghiên cứu về quy hoạch phát tri ển làng nghề thủ công theo hướng công nghiệp hoá, nông thôn ở nước Cộng hòa xã h ội chủ nghĩa Việt Nam của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn hợp

tác cùng với tổ chức JICA của Nhật, đã điều tra nghiên cứu tổng thể các vấn đề

có liên quan đến làng nghề thủ công nước ta về tình hình phân bố, điều kiện kinh

tế - xã hội của làng nghề, nghiên cứu đánh giá 12 mặt hàng thủ công của làng

nghề Việt Nam Đặc biệt chú ý tới đề tài Góp phần tìm hiểu biến đổi xã hội ở

Vi ệt Nam hiện nay: Kết quả nghiên cứu của đề tài KX.02.10 của tác giả Bùi Thế

Cường Có thể tìm thấy trong nghiên cứu này cơ sở lý luận và phương pháp luận

về biến đổi cơ sở xã hội, khung phân tích về thực trạng xã hội Việt Nam, những

Trang 34

biến đổi về xã hội, dân số, văn hóa và bất bình đẳng xã hội, phúc lợi xã hội cùng các mô hình xã hội và quản lý xã hội với yếu tố xuyên suốt đó là công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại Việt Nam Từ đó có thể phân tích trên cơ sở khoa học về thực trạng mức sống của người dân làng nghề, nguyên nhân của sự thay đổi và

dự báo sự thay đổi tiếp tục trong tương lai [13]

Một nghiên cứu của Bùi Xuân Đính về Làng nghề thủ công huyện Thanh Oai (Hà N ội) truyền thống và biến đổi đã phân chia mức sống của người dân

làng nghề theo tổ chức của làng nghề thủ công theo đặc trưng chuyên và không chuyên để từ đó thấy rõ được tầm quan trọng của sự phát triển một làng nghề chuyên sâu dưới tác động của thị trường nhất là thị trường đầu ra của sản phẩm

[24, tr 65 - 69] Giống như P Gourou đã nhận định: “Với nền kinh tế tiểu nông,

n ền đại công nghiệp không có chỗ đứng trong xứ này vì không có thị trường tiêu

thụ” [ 74, tr.487]

Tác giả Nguyễn Thu Minh, Trần Văn Lạng trong tác phẩm Khái quát

m ột số nét về làng nghề truyền thống tỉnh Bắc Giang đã đưa ra những dấu

hiệu căn bản thể hiện sự thay đổi tích cực đối với cuộc sống của các làng nghề dưới tác động của các cơ sở vật chất trong từng gia đình và các điều kiện của thị trường, cụ thể là chợ của từng làng nghề [105, tr 411-417]

Các tác giả đã đưa ra cái nhìn khách quan về cấu trúc xã hội - mức sống trong các làng nghề, cho thấy cấu trúc mức sống chịu tác động của các yếu tố khác nhau và cả các phân hệ cấu trúc xã hội khác của làng nghề

Có thể thấy nhóm các công trình khoa học vừa nêu ở trên đã tập trung phân tích thực trạng và những biến đổi của cấu trúc xã hội trong làng nghề ở Việt Nam Các nghiên cứu về cấu trúc xã hội - mức sống cho thấy các hệ thống của phân tầng xã hội về mức sống gắn liền với hoạt động nghề nghiệp của các cá nhân và gia đình Các nghiên cứu cũng chỉ ra tác động của các yếu

tố như điều kiện vật chất, đặc điểm gia đình, yếu tố văn hóa, truyền thống

Trang 35

nghề nghiệp, yếu tố kinh tế thị trường và cả yếu tố chính sách đối với cấu trúc

xã hội - mức sống của cư dân làng nghề Các nghiên cứu này gợi mở nhiều ý tưởng cho việc tiếp tục tìm hiểu quá trình phát triển cấu trúc xã hội làng nghề tại Việt Nam Từ sự thay đổi cấu trúc xã hội qua từng thời kỳ có thể nắm bắt được quy luật và xu hướng phát triển của nó Từ đó có những định hướng chính sách sao cho phù hợp và có tác động thúc đẩy các hoạt động, sản xuất

và các yếu tố của cấu trúc xã hội trong làng nghề truyền thống tại Việt Nam

Tóm l ại, kết quả tổng quan các nghiên cứu ở trên tác giải rút ra một số

nhận xét về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án như sau:

V ề mặt lý luận, một số khái niệm về làng nghề đã được nêu ra và làm rõ

từ các góc độ khoa học khác nhau như khái niệm cấu trúc xã hội với các phân

hệ của nó Chẳng hạn khái niệm cấu trúc xã hội - dân số với quy mô, mật độ, tuổi, giới tính và trình độ học vấn, cấu trúc xã hội - gia đình thông qua quy

mô gia đình, các thế hệ và các mối quan hệ trong gia đình, cấu trúc xã hội - nghề nghiệp thông qua đặc trưng quy mô của các mô hình làng nghề như mô hình gia đình, tổ sản xuất, hợp tác xã Một số khái niệm có thể là mới đã được đưa ra phân tích như công ty nghề, phố nghề Một số yếu tố tác động đến cấu trúc xã hội đã được chỉ ra và đánh giá như yếu tố truyền thống văn hóa, yếu tố

cơ chế thị trường, yếu tố chính sách của Đảng và Nhà nước giành cho các làng nghề Tuy nhiên, các khái niệm nghiên cứu này cần được xem xét, phân tích từ nhiều góc độ tiếp cận khoa học khác nhau Do vậy, điều này đặt ra sự cần thiết phải xem xét các khái niệm về cấu trúc xã hội một cách khoa học chuyên ngành từ góc độ tiếp cận lý thuyết nhất định mà luận án này muốn thể hiện rõ, đó là cách tiếp cận lý thuyết xã hội học

V ề mặt phương pháp, đa số các nghiên cứu đều triển khai thu thập các

dữ liệu từ thực tiễn, qua khảo sát từng địa phương cụ thể, nhưng có thể thiếu tính hệ thống và tập trung nghiên cứu từ cách tiếp cận xã hội học Mặc dù vậy,

Trang 36

các nghiên cứu chưa nói nhiều đến di động xã hội hoặc chưa nghiên cứu về sự nối tiếp giữa các thế hệ trong làng nghề, hoặc sự biến đổi cấu trúc trong làng nghề cũng như sự tương tác giữa các phân hệ cấu trúc xã hội trong làng nghề

Về nội dung nghiên cứu, tất cả những công trình nêu trên đã tiến hành nghiên cứu làng nghề, làng nghề truyền thống tập trung ở các lĩnh vực chính sau:

M ột là, nghiên cứu tổng quan về tình hình hoạt động của công nghiệp

nông thôn; thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn;

Hai là, nghiên cứu về tình hình phát triển tiểu thủ công nghiệp và những vấn đề môi trường tác động đến làng nghề;

Ba là, nghiên cứu về tình hình sản xuất kinh doanh của làng nghề, làng nghề truyền thống từ lao động, công nghệ, vốn, thị trường tiêu thụ sản phẩm… trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về thực trạng và giải pháp phát triển nghề, làng nghề và làng nghề truyền thống không đặt ra vấn đề nghiên cứu về các phân hệ của cấu trúc xã hội làng nghề Một vài nghiên cứu có thể

đã đặt ra vấn đề phân tích một số phân hệ cấu trúc xã hội nhưng chưa đầy đủ

và nhất là chưa được tiếp cận chuyên sâu từ góc độ xã hội học

Các nghiên cứu đã phân tích một số yếu tố tác động khác nhau đến cấu trúc xã hội làng nghề nhưng thiếu những nghiên cứu xem xét toàn bộ các yếu

tố đó theo cách tiếp cận liên cấp từ đặc điểm cá nhân đến đặc điểm gia đình

và đặc điểm của cộng đồng làng - xã đến đặc điểm của kinh tế thị trường và chính sách phát triển kinh tế xã hội

Một hạn chế có thể cần nhấn mạnh từ góc độ xã hội học là các nghiên cứu vừa trình bày ở trên mặc dù đã phân tích khái niệm cấu trúc xã hội ở nông thôn và làng nghề Nhưng rất ít nghiên cứu xem xét kỹ cấu trúc xã hội từ góc

độ lý thuyết xã hội học nhất định Do vậy, luận án này đặt ra nhiệm vụ tìm

Trang 37

hiểu và áp dụng lý thuyết hệ thống xã hội của Talcott Parsons và lý thuyết cấu trúc hóa của Anthony Giddens để xem xét các phân hệ cấu trúc xã hội trong mối quan hệ với các đặc điểm xã hội từ vi mô đến vĩ mô của làng nghề Luận

án sử dụng quan niệm: cấu trúc xã hội là kiểu quan hệ tương đối ổn định, bền vững của các thành phần tạo nên hệ thống xã hội nhất định để tìm hiểu các phân hệ của nó Áp dụng cách tiếp cận lý thuyết hệ thống xã hội của Talcott Parsons, luận án xem xét cấu trúc xã hội với tính cách là kiểu quan hệ của các thành phần tạo nên các hệ thống xã hội từ vi mô đến vĩ mô Hệ thống xã hội

vi mô là hệ thống bao gồm các cá nhân do đó cấu trúc xã hội của hệ thống xã hội vi mô là kiểu quan hệ tương đối bền vững của các cá nhân tạo nên gia đình, hộ gia đình, cơ sở sản xuất kinh doanh nghề, tổ chức nghề nghiệp

Các nghiên cứu hiện có về cấu trúc xã hội ở Việt Nam thường tập trung vào cấu trúc xã hội - mức sống thể hiện ở phân tầng xã hội theo mức sống Trên cấp độ vi mô, luận án này sẽ tìm hiểu cấu trúc xã hội - dân số, cấu trúc

xã hội - gia đình, cấu trúc xã hội - nghề nghiệp, cấu trúc xã hội - mức sống của làng nghề Đồng thời, luận án này cũng sẽ tập trung nghiên cứu cấu trúc

xã hội - nghề nghiệp: mô hình gia đình nghề và mô hình công ty nghề

Cùng với cách tiếp cận lý thuyết hệ thống xã hội, luận án áp dụng cách tiếp cận lý thuyết cấu trúc hóa của Anthony Giddens để xem xét và đánh giá

sự hình thành, vận động, biến đổi và phát triển, tức là quá trình tái cấu trúc, quá trình cấu trúc hóa của từng loại cấu trúc xã hội Như đã trình bày ở trên,

lý thuyết cấu trúc hóa của Anthony Giddens cho rằng một cấu trúc xã hội được hình thành, vận động và liên tục được “cấu trúc hóa” thông qua quá trình huy động, sử dụng các nguồn lực của các chủ thể hành động theo các quy tắc nhất định của hệ thống xã hội Do vậy, việc áp dụng lý thuyết cấu trúc hóa của Anthony Giddens sẽ giúp phân tích các nguồn lực cùng các quy tắc pháp quy dưới hình thức các quy định pháp luật và các quy tắc phi chính thức

Trang 38

dưới hình thức các quy ước, thói quen của các cá nhân, gia đình mà các thành phần của cấu trúc xã hội huy động, chia sẻ, sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh, sinh hoạt và đó cũng chính là quá trình mà cấu trúc xã hội được cấu trúc hóa

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Tổng quan tình hình nghiên cứu cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề được phân tích tập trung vào bốn hướng nghiên cứu chính là: hướng nghiên cứu về cấu trúc xã hội - dân số làng nghề; hướng nghiên cứu về cấu trúc xã hội - gia đình làng nghề; hướng nghiên cứu về cấu trúc xã hội - nghề nghiệp làng nghề; hướng nghiên cứu về cấu trúc xã hội - mức sống làng nghề Tuy nhiên, các hướng nghiên cứu về thực trạng và giải pháp phát triển làng nghề chưa đi sâu phân tích hoặc phân tích chưa đầy đủ các phân hệ của cấu trúc xã hội làng nghề và rất ít nghiên cứu chuyên sâu từ góc độ xã hội học Các nghiên cứu hiện có về cấu trúc xã hội, làng nghề như đã phân tích trong chương 1, đã giúp tác giả luận án có cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu

và gợi ra nhiều ý tưởng nghiên cứu về thực trạng cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông Hồng hiện nay

Trang 39

Theo quan điểm của Marx, cấu trúc xã hội chủ yếu là cấu trúc xã hội - giai cấp với mối quan hệ đấu tranh diễn ra giữa giai cấp thống trị và giai cấp

bị trị, trong đó phương thức sản xuất sẽ quyết định cấu trúc - giai cấp, vì vậy yếu tố cấu thành nên phương thức sản xuất và sự biến đổi ở phương thức sản xuất tạo ra sự biến đổi trong cấu trúc xã hội [118, tr.1-7] Marx nhấn mạnh:

Trong sự sản xuất ra đời sống của mình, con người có những quan

hệ nhất định, tất yếu, không phụ thuộc vào ý muốn của họ - tức là những quan hệ sản xuất Những quan hệ này phù hợp với một trình

độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất của họ Toàn

bộ những quan hệ ấy hợp thành cơ cấu kinh tế - xã hội, tức là cái cơ

sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với

cơ sở hiện thực đó [11, tr15]

V.L.Lênin, trong tác phẩm Sáng kiến vĩ đại đã xác định cơ cấu giai cấp

trong xã hội do những quan hệ sản xuất cơ bản quy định và những quan hệ này tương ứng với trình độ của sự phát triển lực lượng sản xuất:

Người ta gọi là giai cấp, những tập đoàn to lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thông thường thì

Trang 40

những quan hệ này được pháp luật quy định và thừa nhận), đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội; và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng Giai cấp là những tập đoàn người mà tập đoàn này thì có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác, do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định [103, tr17-18]

Như vậy, Marx và Lênin quan niệm cấu trúc xã hội chủ yếu gắn với cấu trúc xã hội - giai cấp, giải thích các quan hệ xã hội dựa trên mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất Điều này có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng cho nghiên cứu giai cấp nông dân và cư dân nông thôn, tức là cần xuất phát từ hoạt động sản xuất, cấu trúc nghề nghiệp để xem xét cấu trúc xã hội

Cũng đề cập đến giai cấp trong quan niệm về cấu trúc xã hội, trong

cuốn sách Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội (Qua khảo sát một số tỉnh, thành ph ố ở Việt nam), các tác giả viết:

Cơ cấu xã hội là hệ thống chỉnh thể các mối quan hệ xã hội có tác động qua lại lẫn nhau biểu hiện ra là hệ thống các mối quan hệ tương đối bền vững giữa các giai cấp, các tầng lớp, các cộng đồng

xã hội, các tổ chức, các nhóm xã hội có khả năng xác định hành vi, hoạt động, vị thế, vai trò của bộ phận cấu thành nên hệ thống xã hội đó [71, tr31-32]

Ngoài ra, còn có quan niệm cấu trúc xã hội nhấn mạnh đến các kiểu quan hệ giữa con người với xã hội trong hệ thống xã hội, như quan niệm của

Lê Ngọc Hùng và Lưu Hồng Minh: “Cấu trúc xã hội là hệ thống các mối quan

hệ giữa con người và xã hội, có khả năng xác định các hành vi, hoạt động, vị thế, vai trò của các cá nhân, các nhóm người tạo nên hệ thống đó” [45,

Ngày đăng: 21/02/2023, 14:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1994, t13, tr 14-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn t"ậ"p
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
12. Nguyễn Phương Châm (2009), Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay, Nxb. Văn hóa -Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bi"ế"n "đổ"i v"ă"n hóa "ở" các làng quê hi"ệ"n nay
Tác giả: Nguyễn Phương Châm
Nhà XB: Nxb. Văn hóa -Thông tin
Năm: 2009
13. Bùi Thế Cường (2010), Góp phần tìm hiểu biến đổi xã hội ở Việt Nam hiện nay - Kết quả nghiên cứu của đề tài KX.02.10 (2001 - 2005), Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp ph"ầ"n tìm hi"ể"u bi"ế"n "đổ"i xã h"ộ"i "ở" Vi"ệ"t Nam hi"ệ"n nay - K"ế"t qu"ả" nghiên c"ứ"u c"ủ"a "đề" tài KX.02.10
Tác giả: Bùi Thế Cường
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2010
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n ki"ệ"n "Đạ"i "đạ"i bi"ể"u toàn qu"ố"c l"ầ"n th"ứ" XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
15. Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng: Phương hướng, mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế, xã hội trong 5 năm 1986-1990. Nguồn www.cpv.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngu"ồ
16. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 05-NQ/TW của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về "Tiếp tục đổi mới và phát triển KT-XH nông thôn". Nguồn www.cpv.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục đổi mới và phát triển KT-XH nông thôn
18. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết 15/NQ/TW ngày 15/12/2000 của Bộ Chính trị khóa VIII về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô trong thời kỳ 2001-2010. Nguồn www.cpv.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngh"ị" quy"ế"t 15/NQ/TW ngày 15/12/2000 c"ủ"a B"ộ" Chính tr"ị" khóa VIII v"ề" ph"ươ"ng h"ướ"ng, nhi"ệ"m v"ụ" phát tri"ể"n Th"ủ đ"ô trong th"ờ"i k"ỳ" 2001-2010. Ngu"ồ
19. Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng. Nguồn www.cpv.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính tr"ị" c"ủ"a Ban Ch"ấ"p hành Trung "ươ"ng "Đả"ng khóa VIII t"ạ"i "Đạ"i h"ộ"i "đạ"i bi"ể"u toàn qu"ố"c l"ầ"n th"ứ" IX c"ủ"a "Đả"ng. Ngu"ồ
20. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX số 15-NQ/TW, ngày 18/3/2002 về đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010. Nguồn www.cpv.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngh"ị" quy"ế"t H"ộ"i ngh"ị" l"ầ"n th"ứ" n"ă"m Ban Ch"ấ"p hành Trung "ươ"ng "Đả"ng khóa IX s"ố" 15-NQ/TW, ngày 18/3/2002 v"ề đẩ"y nhanh CNH, H"Đ"H nông nghi"ệ"p, nông thôn th"ờ"i k"ỳ" 2001-2010. Ngu"ồ
21. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 41-NQ/TW, ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nguồn www.cpv.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngh"ị" quy"ế"t s"ố" 41-NQ/TW, ngày 15/11/2004 c"ủ"a B"ộ" Chính tr"ị" v"ề" b"ả"o v"ệ" môi tr"ườ"ng trong th"ờ"i k"ỳ đẩ"y m"ạ"nh công nghi"ệ"p hóa, hi"ệ"n "đạ"i hóa "đấ"t n"ướ"c. Ngu"ồ
22. Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng.Nguồn www.cpv.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính tr"ị" c"ủ"a Ban Ch"ấ"p hành Trung "ươ"ng "Đả"ng khóa X t"ạ"i "Đạ"i h"ộ"i "đạ"i bi"ể"u toàn qu"ố"c l"ầ"n th"ứ" XI c"ủ"a "Đả"ng. Ngu"ồ
23. Đảng Cộng sản Việt Nam, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011- 2020. Nguồn www.cpv.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chi"ế"n l"ượ"c phát tri"ể"n kinh t"ế" - xã h"ộ"i 2011-2020. Ngu"ồ
24. Bùi Xuân Đính (2009), Làng nghề thủ công huyện Thanh Oai (Hà Nội) - truyền thống và biến đổi. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng ngh"ề" th"ủ" công huy"ệ"n Thanh Oai (Hà N"ộ"i) - truy"ề"n th"ố"ng và bi"ế"n
Tác giả: Bùi Xuân Đính
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2009
25. Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (chủ biên) (2001), Xã hội học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã h"ộ"i h"ọ"c
Tác giả: Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
26. Đỗ Thái Đồng (1989), “Những vấn đề cơ cấu xã hội và sự phát triển ở một xã nông thôn Nam Bộ”, Tạp chí Xã hội học, (số 3), tr.49-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ cấu xã hội và sự phát triển ở một xã nông thôn Nam Bộ”," T"ạ"p chí Xã h"ộ"i h"ọ"c
Tác giả: Đỗ Thái Đồng
Năm: 1989
27. Bùi Quang Dũng (2001) “Nghiên cứu làng Việt: các vấn đề và triển vọng”, Tạp chí Xã hội học, (số 1), tr.15-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: N"ghiên c"ứ"u làng Vi"ệ"t: các v"ấ"n "đề" và tri"ể"n v"ọ"ng”
28. G.Endruweit và G.Trommsdorff (2002), Từ điển Xã hội học, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: T"ừ đ"i"ể"n Xã h"ộ"i h"ọ"c
Tác giả: G.Endruweit và G.Trommsdorff
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2002
31. Mai Văn Hai, Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Đức Chiện, Ngô Thị Thanh Quý (2013), Bản sắc làng việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: B"ả"n s"ắ"c làng vi"ệ"t
Tác giả: Mai Văn Hai, Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Đức Chiện, Ngô Thị Thanh Quý
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2013
32. Phạm Xuân Hảo, (2000), “Thực trạng phân hóa giàu nghèo ở nước ta hiện nay và những vấn đề đặt ra”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, (số 9), tr. 44-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng phân hóa giàu nghèo ở nước ta hiện nay và những vấn đề đặt ra”, "T"ạ"p chí Qu"ố"c phòng toàn dân, (s"ố" 9)
Tác giả: Phạm Xuân Hảo
Năm: 2000
33. Phạm Xuân Hảo, (2004), “Đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo - Một yêu cầu quan trọng đối với sự nghiệp bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Khoa học chính trị, (số 2), tr 35-36, 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo - Một yêu cầu quan trọng đối với sự nghiệp bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay”, "T"ạ"p chí Khoa h"ọ"c chính tr
Tác giả: Phạm Xuân Hảo
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w