Do vậy, để nghiên cứu phát triển du lịch nói chung, DLSTDVCĐ nói riêng cần phải dựa vào các điều kiện địa lý điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và các điều kiện về kinh tế - văn
Trang 12 Mục tiêu của luận án 2
3 Nhiệm vụ của luận án 2
4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 3
5 Những luận điểm bảo vệ 4
6 Những điểm mới của luận án 4
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 5
8 Cơ sở tài liệu của luận án 5
9 Cấu trúc của luận án 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
1.1 Tổng quan các vấn đề liên quan đến luận án 6
1.1.1 Trên thế giới 6
1.1.2 Tại Việt Nam 8
1.1.3 Các nghiên cứu trên lãnh thổ vùng Đông Bắc 11
1.2 Một số vấn đề chung liên quan đến luận án 15
1.2.1 Các khái niệm cơ bản 15
1.2.2 Tính tất yếu về sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động DLST 19
1.2.3 Mục tiêu phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng 20
1.2.4 Điều kiện hình thành và phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng 21
1.2.5 Nguyên tắc phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng 24
1.3 Tiếp cận địa lý học trong phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng 25
1.3.1 Sự cần thiết phải sử dụng hướng tiếp cận địa lý học cho phát triển du lịch 25
1.3.2 Cơ sở địa lý học phục vụ phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng 26
1.4 Các bước tiến hành nghiên cứu luận án 41
Tiểu kết chương 1 43
Trang 2Chương 2 CÁC NGUỒN LỰC ĐỊA LÝ PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN 44
DU LỊCH SINH THÁI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT NAM 44
2.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch sinh thái tự nhiên 44
2.1.1 Vị trí địa lý 44
2.1.2 Đặc điểm địa chất và địa hình 44
2.1.3 Sinh khí hậu 47
2.1.4 Thủy văn 49
2.1.5 Các giá trị sinh thái 50
2.1.6 Cảnh quan tự nhiên 51
2.1.7 Hệ thống hang động 51
2.1.8 Khu vực tập trung thắng cảnh 52
2.2 Điều kiện kinh tế -văn hóa - xã hội và tài nguyên du lịch sinh thái nhân văn 54
2.2.1 Dân tộc 54
2.2.2 Phong tục, tập quán của cộng đồng các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc 55
2.2.3 Các di tích lịch sử, văn hóa nghệ thuật, khảo cổ và kiến trúc 57
2.3 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 58
2.3.3 Hệ thống thông tin liên lạc 60
2.4 Các tour du lịch đang khai thác tại vùng Đông Bắc 61
2.5 Trình độ lao động của cộng đồng các dân tộc thiểu số 62
2.6 Kết quả kinh doanh từ hoạt động du lịch vùng Đông Bắc 65
2.6.1 Khách du lịch 65
2.7 Phân vùng địa lý tự nhiên vùng Đông Bắc phục vụ phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng 69
2.7.1 Thành lập bản đồ phân vùng địa lý tự nhiên vùng Đông Bắc 69
2.7.2 Kết quả phân vùng địa lý tự nhiên vùng Đông Bắc 70
Tiểu kết chương 2 73
Trang 33.1 Đánh giá tổng hợp các nguồn lực phát triển du lịch sinh thái dựa vào
cộng đồng vùng Đông Bắc 75
3.1.1 Mục đích đánh giá 75
3.1.2 Thành lập hệ thống chỉ tiêu đánh giá 75
3.1.3 Tiến hành đánh giá 83
3.1.4 Kết quả đánh giá 86
3.2 Đề xuất định hướng phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng vùng Đông Bắc Việt Nam 88
3.2.1 Căn cứ đề xuất 88
3.2.2 Các định hướng phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng 93
3.3 Các giải pháp nhằm phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng vùng Đông Bắc 103
3.3.1 Thu hút sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương trong việc lập kế hoạch và quản lý du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng 103
3.3.2 Đào tạo nâng cao năng lực cho các bên liên quan đến du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng 104
3.3.3 Phát triển các sản phẩm du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng và dịch vụ độc đáo đề cao giá trị văn hóa truyền thống của địa phương nhưng thích ứng với điều kiện của khách du lịch 106
3.3.4 Gắn kế hoạch phát triển du lịch cộng đồng của địa phương vào chính sách phát triển du lịch chung của từng tỉnh 106
3.3.5 Giải pháp hỗ trợ cộng đồng địa phương 107
3.3.6 Phát triển cơ sở hạ tầng 108
3.3.7 Xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược với các công ty du lịch để phát triển DLSTDVCĐ ở địa phương 108
Trang 43.3.8 Đảm bảo tối đa sự công bằng về phân chia lợi nhuận giữa các thành
viên CĐ 109
3.3.9 Lựa chọn thị trường mục tiêu và xúc tiến thương mại 110
Chương 4 THÍ ĐIỂM ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP VÀ ĐỊNH HƯỚNG 114
PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 114
TẠI VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ VÀ HUYỆN ĐẢO VÂN ĐỒN 114
4.1 Các nguồn lực địa lý phục vụ phát triển DLSTDVCĐ tại Vườn quốc gia Ba Bể và huyện Đảo Vân Đồn 114
4.1.1 Vườn quốc gia Ba Bể 114
4.1.2 Huyện đảo Vân Đồn 126
4.2 Các định hướng phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại Vườn quốc gia Ba Bể và huyện đảo Vân Đồn 135
4.2.1 Tại Vườn quốc gia Ba Bể 135
4.2.2 Tại huyện đảo Vân Đồn 138
4.3 Các giải pháp cụ thể 142
4.3.1 Đối với Vườn quốc gia Ba Bể 142
4.3.2 Đối với huyện đảo Vân Đồn 145
Tiểu kết chương 4 146
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 147
Trang 5Bảng 3.1 Chỉ tiêu đánh giá mức độ thuận lợi của tiêu chí sinh vật cho phát triển
DLSTDVCĐ 77 Bảng 3.2 Chỉ tiêu đánh giá mức độ thuận lợi của tiêu chí văn hóa bản địa cho
phát triển DLSTDVCĐ 78 Bảng 3.3 Chỉ tiêu đánh giá mức độ thuận lợi của tiêu chí địa hình cho phát triển
DLSTDVCĐ 78 Bảng 3.4 Chỉ tiêu đánh giá mức độ thuận lợi của tiêu chí sinh khí hậu cho phát
triển DLSTDVCĐ 79 Bảng 3.5 Chỉ tiêu đánh giá mức độ thuận lợi của tiêu chí vị trí và khả năng tiếp
cận cho phát triển DLSTDVCĐ 80 Bảng 3.6 Chỉ tiêu đánh giá mức độ thuận lợi của tiêu chí về thời gian hoạt động
cho phát triển DLSTDVCĐ 81 Bảng 3.7 Chỉ tiêu đánh giá mức độ thuận lợi của tiêu chí về khả năng kết hợp với tuyến, điểm DL cho phát triển DLSTDVCĐ 82 Bảng 3.8 Chỉ tiêu đánh giá mức độ thuận lợi của tiêu chí CSHT cho phát triển
DLSTDVCĐ 82 Bảng 3.9 Đánh giá mức độ thuận lợi về vị trí và khả năng tiếp cận cho phát triển
DLSTDVCĐ 83 Bảng 3.10 Đánh giá mức độ thuận lợi về thời gian hoạt động du lịch cho phát
triển DLSTDVCĐ 84 Bảng 3.11 Đánh giá mức độ thuận lợi về khả năng kết hợp với tuyến, điểm DL
cho phát triển DLSTDVCĐ 85 Bảng 3.12 Đánh giá mức độ thuận lợi về CSHT cho phát triển DLSTDVCĐ 85 Bảng 3.13 Tổng hợp kết quả đánh giá mức độ thuận lợi cho phát triển
DLSTDVCĐ vùng Đông Bắc 85
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1.1 Sơ đồ các cấp phân vị phân vùng địa lý tự nhiên 31 Hình 1.2 Sơ đồ quy trình các bước thực hiện luận án 42 Hình 2.1 Bản đồ hành chính vùng Đông Bắc Việt Nam sau trang 44 Hình 2.2 Bản đồ địa hình theo đai cao vùng Đông Bắc Việt Nam sau trang 47 Hình 2.3 Bản đồ sinh khí hậu vùng Đông Bắc Việt Nam sau trang 48 Hình 2.4 Bản đồ tài nguyên DLST tự nhiên vùng Đông Bắc Việt Nam sau trang 53 Hình 2.5 Bản đồ tài nguyên DLST nhân văn vùng Đông Bắc Việt Nam sau trang 57 Hình 2.6 Biểu đồ so sánh tăng trưởng lượng khách du lịch đến Đông Bắc với cả
nước giai đoạn 2010 - 2014 65 Hình 2.7 Biểu đồ so sánh doanh thu từ du lịch đến Đông Bắc với cả nước giai
đoạn 2010 - 2014 65 Hình 2.8 Bản đồ phân vùng tự nhiên phục vụ phát triển DLSTDVCĐ
vùng Đông Bắc Việt Nam sau trang 72 Hình 3.1 Bản đồ đánh giá mức độ thuận lợi để phát triển DLSTDVCĐ
vùng Đông Bắc Việt Nam sau trang 87 Hình 3.2 Bản đồ định hướng không gian du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
vùng Đông Bắc Việt Nam sau trang 102 Hình 4.1 Bản đồ các nguồn lực địa lý cho phát triển DLSTDVCĐ tại Vườn quốc
gia Ba Bể sau trang 119 Hình 4.2 Biểu đồ tăng trưởng lượng khách du lịch của VQG Ba Bể 123 Hình 4.3 Biểu đồ tăng trưởng về doanh thu từ du lịch của VQG Ba Bể 125 Hình 4.4 Bản đồ các nguồn lực địa lý cho phát triển DLSTDVCĐ tại huyện đảo
Vân Đồn sau trang 129 Hình 4.5 Biểu đồ tăng trưởng lượng khách du lịch tới huyện đảo Vân Đồn 132 Hình 4.6 Biểu đồ tăng trưởng về doanh thu từ du lịch của huyện đảo Vân Đồn 134
Trang 7MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO, 2015) mặc dù trong những năm vừa qua nền kinh tế thế giới của Liên hợp quốc đang trong giai đoạn khó khăn, nhiều nước lâm vào cảnh vỡ nợ công, nhiều ngành kinh tế bị suy giảm do chiến tranh, khủng bố v.v…, song lượng khách du lịch và thu nhập từ du lịch vẫn gia tăng Nếu như năm 1950, toàn thế giới mới có 25 triệu khách du lịch quốc tế, mang lại doanh thu 25 tỷ đô la Mỹ thì đến năm 2015, con số này đã tương ứng là 1.133 triệu và 1.245
tỷ đô la Mỹ Trung bình cứ 11 việc làm thì có 1 việc làm trong ngành du lịch Ở nhiều quốc gia, du lịch được coi là cứu cánh của nền kinh tế đất nước, nhất là những nước, những vùng kinh tế chậm phát triển
Với xu thế phát triển du lịch trên thế giới hiện nay là hướng tới những khu vực có tiềm năng đặc sắc về mặt thiên nhiên và văn hóa, du khách thích đi du lịch tới những bản, làng xa xôi, nơi có đồng bào các dân tộc sinh sống vì cảnh quan ở đây còn hoang sơ, những phong tục tập quán được lưu truyền, chưa mai một trong cuộc sống hiện đại Chính vì thế, những chương trình du lịch sinh thái có sự tham gia của cộng đồng đã và đang được nhiều du khách trong và ngoài nước ưa chuộng
Pirojnik L.L - một trong những chuyên gia địa lý du lịch đã cho rằng: “Du
lịch là một ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt” [62] Theo nguồn gốc phát sinh
có thể chia tài nguyên du lịch thành hai loại, đó là tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa Tài nguyên du lịch tự nhiên như địa hình, khí hậu, thủy văn
và động thực vật đều có sự phân bố, phân hóa và biến động tuân theo các quy luật địa lý chung như nhà địa lý nổi tiếng Liên Xô Kalesnik đã trình bày trong cuốn
“Những quy luật địa lý chung của Trái đất” [38] Ngay cả sự phân bố các quần cư,
các cộng đồng dân cư cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của các quy luật này Do vậy, để nghiên cứu phát triển du lịch nói chung, DLSTDVCĐ nói riêng cần phải dựa vào các điều kiện địa lý (điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và các điều kiện về kinh tế - văn hóa và xã hội) đồng thời phải xem xét chúng trong một thể thống nhất
và toàn diện trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội theo hướng tiếp cận địa lý
học Bởi “Địa lý học là một hệ thống các khoa học tự nhiên và xã hội nghiên cứu
Trang 82
các thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên và các thành phần của chúng” [78] Hơn nữa, do
hướng nghiên cứu toàn diện và tổng hợp nên “chỉ có cơ sở địa lý học mới có đủ khả
năng để chuyển sự phân tích riêng rẽ từng mặt sang sự phân tích hệ thống, sự phân tích tổng hợp - động lực”
Vùng Đông Bắc Việt Nam là khu vực có địa hình đa dạng, bị chia cắt bởi nhiều khối núi và dãy núi đá vôi tạo nên những cung đường uốn lượn cùng nhiều cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, hoang sơ; nhiều giá trị đa dạng sinh học cao tập trung tại 06 Vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên Bên cạnh đó, đây còn là nơi tập trung sinh sống của nhiều đồng bào dân tộc thiểu số với những phong tục tập quán độc đáo và đa dạng, mang đậm bản sắc văn hóa vùng miền, là điều kiện thuận lợi để phát triển nhiều loại hình du lịch trong đó tiêu biểu là là du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
Nhằm góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng, đồng thời khai thác hiệu quả các nguồn lực sẵn có của vùng Đông Bắc, góp phần nâng cao đời sống người dân (xóa đói giảm nghèo) NCS đã lựa chọn đề
tài nghiên cứu “Cơ sở địa lý học phục vụ phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng vùng Đông Bắc Việt Nam Kết quả nghiên cứu này là cơ sở khoa học giúp
các địa phương định hướng phát triển du lịch bền vững, sử dụng hợp lý tài nguyên, tạo đà cho sự phát triển kinh tế chung của vùng Đông Bắc
2 Mục tiêu của luận án
- Xác lập được hệ thống lý luận về cơ sở địa lý học phục vụ phát triển Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
- Đề xuất các định hướng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại khu vực nghiên cứu
3 Nhiệm vụ của luận án
Để làm sáng tỏ mục tiêu của luận án, 6 nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra là:
1 Tổng quan các công trình, các hướng nghiên cứu về du lịch sinh thái và du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng; về đánh giá tổng hợp lãnh thổ phục vụ phát triển kinh tế xã hội; Tổ chức lãnh thổ và Phát triển bền vững
2 Thu thập và phân tích số liệu, tài liệu, công trình nghiên cứu trước đây tại khu vực nghiên cứu Khảo sát thực địa, điều tra xã hội học và thu thập các thông tin
Trang 9sơ cấp về những nguồn lực cơ bản nhằm phát triển du lịch tại vùng Đông Bắc Việt Nam
3 Phân tích, đánh giá và làm rõ các nguồn lực (tự nhiên, kinh tế - xã hội và chính sách) cho phát triển du lịch nói chung và du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng nói riêng tại vùng du lịch Đông Bắc trong bối cảnh phát triển kinh tế của các vùng
và cả nước
4 Thành lập bản đồ phân vùng địa lý tự nhiên phục vụ định hướng phát triển
du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng vùng Đông Bắc Việt Nam
5 Đề xuất định hướng và giải pháp khai thác hiệu quả các nguồn lực phát triển
du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững; góp phần xoá đói giảm nghèo; nâng cao dân trí và cải thiện môi trường… đối với vùng Đông Bắc Việt Nam
6 Phân tích, đánh giá và đưa ra mô hình phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại hai điểm nghiên cứu lựa chọn là khu vực VQG Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
và huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Khu vực nghiên cứu được giới hạn trong lãnh thổ vùng
Đông Bắc Việt Nam Về mặt tự nhiên, vùng Đông Bắc có giới hạn từ chân núi Hoàng Liên Sơn đến hết vùng biển đảo Quảng Ninh Tuy nhiên, do đề tài liên quan đến các vấn đề về kinh tế xã hội nên phạm vi của vùng sẽ được lấy theo ranh giới hành chính tỉnh Như vậy, Đông Bắc gồm 11 tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang, Quảng Ninh
Hình 0.1 Giới hạn lãnh thổ vùng Đông Bắc Việt Nam
Trang 104
- Phạm vi khoa học: Các nguồn lực phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng
đồng ở Đông Bắc Việt Nam (đó là sự phân bố về các yếu tố tự nhiên và kinh tế - vă hóa – xã hội vùng Đông Bắc) đặc biệt tại 02 điểm lựa chọn là VQG Ba Bể tỉnh Bắc Kạn và huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
- Phạm vi thời gian
+ Số liệu kinh tế xã hội và du lịch cập nhật tới năm 2015
+ Định hướng việc khai thác có hiệu quả các nguồn lực nhằm phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng để phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Bắc Việt Nam đến năm 2030
5 Những luận điểm bảo vệ
- Luận điểm 1: Sự phân bố, phân hóa cùng những nét đặc trưng về điều kiện
tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và văn hóa cộng đồng các dân tộc thiểu số trong không gian vùng Đông Bắc là điều kiện thuận lợi để phát triển DLSTCĐ
- Luận điểm 2: Việc đánh giá tổng hợp các ĐKTN, TNTN và các điều kiện
kinh tế - xã hội cho phát triển DLSTDVCĐ cũng như các định hướng phát triển DLSTDVCĐ heo hướng tiếp cận địa lý học chính là cơ sở khoa học và thực tiễn giúp vùng Đông Bắc nhận diện đầy đủ và phát huy giá trị các nguồn lực DLSTDVCĐ nhằm phát triển kinh tế - xã hội vùng theo hướng hiệu quả và bền vững nhất
6 Những điểm mới của luận án
1 Phát triển loại hình DLST theo hướng mới trong đó nhấn mạnh vai trò, quyền lợi của cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch
2 Làm rõ được cơ sở địa lý học trong việc phát triển DLSTDVCĐ ở vùng Đông Bắc Việt Nam Đó là các phương pháp phân vùng địa lý tự nhiên, đánh giá tổng hợp tài nguyên, tổ chức lãnh thổ và sử dụng hợp lý tài nguyên và phát triển bền vững
3 Đánh giá khách quan tiềm năng tổng hợp của các nhân tố trên cho phát triển DLSTDVCĐ vùng Đông Bắc (trên cơ sở phân vùng địa lý, xác định trọng số đánh giá bằng ma trận tam giác)
4 Đề xuất định hướng phát triển DLSTDVCĐ trên cơ sở kết quả đánh giá có phân tích so sánh với quan hệ phát triển du lịch vùng
Trang 117 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
7.1 Ý nghĩa lý luận
Tiếp cận địa lý tổng hợp xác lập được cơ sở khoa học về các nguồn lực để phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại một vùng/địa phương nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội của Vùng/địa phương đó
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Nghiên cứu, bổ sung nhằm nhận diện và xác định các nguồn lực phát triển
du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại vùng Đông Bắc Việt Nam
- Phát huy có hiệu quả các nguồn lực để góp phần phát triển du lịch sinh thái nhằm xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống của cộng đồng, đặc biệt đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng Đông Bắc Việt Nam
8 Cơ sở tài liệu của luận án
Luận án được thực hiện dựa trên những nguồn tài liệu cơ bản sau:
- Tài liệu thực địa liên quan đến đề tài được thu thập từ 2010 đến 2015
- Tài liệu, số liệu thống kê, báo cáo du lịch của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch các tỉnh vùng Đông Bắc; Niên gián thống kê các tỉnh Đông Bắc năm 2015 Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu, quy hoạch du lịch Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn năm 2030
9 Cấu trúc của luận án
Luận án được trình bày 150 trang, gồm 10 bản đồ, 13 bảng, 12 hình, 125 tài liệu khảo và 10 phụ lục Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính được kết cấu thành 4 chương
Chương 1 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 Các nguồn lực địa lý phục vụ phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng vùng Đông Bắc Việt Nam
Chương 3 Đánh giá tổng hợp và đề xuất các định hướng, giải pháp phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng vùng Đông Bắc Việt Nam
Chương 4 Thí điểm đánh giá và định hướng phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng Vườn quốc gia Ba Bể và huyện đảo Vân Đồn
Trang 126
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan các vấn đề liên quan đến luận án
1.1.1 Trên thế giới
1.1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về du lịch sinh thái và du lịch sinh thái
dưạ vào cộng
Du lịch sinh thái (DLST) là một loại hình có lịch sử khá lâu đời, song hành
với các dạng thức du lịch khác Hình thức sơ khai của DLST là những hoạt động du
lịch gắn liền với thiên nhiên, được miêu tả qua các chuyến đi của Herodorus,
Aristotle, Marco Polo, Ibn Batuta [95, tr.22] Trải qua một giai đoạn dài bị sao lãng trong thời kỳ trung cổ, du lịch và các hình thức du lịch gắn với thiên nhiên được quan tâm trở lại nhờ những tiền đề thuận lợi cho phát triển du lịch trong thời
kỳ Cách mạng Công nghiệp Du lịch biển và du lịch núi là những trào lưu du lịch chính, gắn với thiên nhiên trong giai đoạn này Song, những đặc trưng của DLST với ý nghĩa là công cụ “kỳ diệu” trong mục tiêu bảo vệ môi trường bền vững [116, tr.71] gần như chưa được xác lập
Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng - một hình thức rất cụ thể của du lịch sinh thái - đã đi về phía trước như một công cụ có giá trị cho xóa đói giảm nghèo, bảo tồn đa dạng sinh học và cung cấp các dịch vụ du lịch có trách nhiệm và bền vững Chính vì vậy khi nghiên cứu về DLSTDVCĐ cần phải lấy hoạt động DLST làm cốt lõi
Thuật ngữ “DLST” được Hector Ceballos - Lascurain (1996) chính thức đưa
ra vào năm 1987 ngay lập tức đã phát triển nhanh chóng và rộng khắp: Du lịch sinh
thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị thay đổi với những mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, trân trọng và thưởng ngoạn phong cảnh và thế giới động vật hoang dã, cũng như những biểu thị văn hóa (cả quá khứ và hiện tại) được khám phá trong những khu vực này” Sự ra đời của Hiệp hội DLST quốc tế (TIES) ba năm
sau đó (1990) bước đầu khẳng định vị thế của DLST với tư cách là một hệ thống lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững trong du lịch
Song, vai trò của DLST trong việc bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học được tác giả Blangy S and Mehta H đề cập đến những báo động về những tác động của du lịch đến môi trường trong đó có sự tổn thương của các hệ sinh thái [99]
Trang 13Những đóng góp của các học giả nổi tiếng về việc xác định những hành vi
mà khách du lịch tuân thủ trong quá trình tham gia vào hoạt động du lịch sinh thái, đặc biệt khi tiếp xúc với các loài nguy cấp được James Higham (2007) đề cập trong
cuốn sách Critical Issues in Ecotourism: Understanding a complex tourism
phenomenon
Đề cập đến lợi ích của DLST đến CĐĐP: tạo công ăn việc làm; cải thiện môi trường sống, môi trường chính trị và tăng thêm thu nhập cho CĐĐP: Samantha Jones [118] và Elizabeth Boo [104] Các tác giả đã phân tích vai trò, năng lực cộng đồng trong phát triển du lịch sinh thái: nhận thức của cộng đồng, nguồn vốn của cộng đồng , khả năng tham gia phục vụ du lịch của cộng đồng và các mối quan hệ các nguồn lực đó
Đây là những công trình khoa học bổ ích cho việc vận dụng vào nghiên cứu
và áp dụng để phát triển DLST Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu thấu đáo về DLSTDVCĐ
1.1.1.2 Những nghiên cứu về đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên
để phục vụ mục đích phát triển du lịch
Cho đến nay, đã có nhiều công trình đánh giá điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên cho PTDL với nhiều hướng tiếp cận đánh giá: đánh giá thích nghi sinh thái, đánh giá ảnh hưởng môi trường, đánh giá kinh tế Trong đó, hướng đánh giá thích nghi sinh thái cảnh quan là hướng được sử dụng nhiều
Thập kỉ 60 và 70 của thế kỷ XX, ở Nga và các nước Đông Âu đã có nhiều công trình nghiên cứu, đánh giá TNDL Công trình tiêu biểu của I.A Vedenhin và N.N Misônhitrencô (1969) đã đánh giá toàn bộ các tiêu chí tự nhiên làm tiền đề cho việc tổ chức các vùng du lịch; L.I.Mukhina (1973), trong công trình đánh giá phục vụ
du lịch vùng hồ Xelighe đã sử dụng đơn vị cơ sở là “đất đai nghỉ ngơi” - hệ thống tự nhiên trên đất liền hay dưới nước thuận lợi cho một dạng hay nhóm dạng nghỉ ngơi nào
đó Việc xác định những yếu tố tự nhiên như tính chất trầm tích, yếu tố địa hình (độ cao, dốc, tần suất khúc ngoặt ), kiểu đất, thực vật (kiểu thực bì, độ cao cây cỏ, độ chiếu tán, loài cây đang tái sinh ) làm cơ sở phân hóa không gian của lãnh thổ vùng hồ cho các dạng nghỉ ngơi [trích 35]
E.E.Phêrôrốp là người đã đề xuất phương pháp đánh giá khí hậu tổng hợp và đã được các tác giả Subukốp, I.X.Kanđôrốp, D.N Đêmina hoàn thiện Phương pháp này dựa trên cơ sở phân loại thời tiết trong sinh khí hậu, qua đó xây dựng tổ hợp các kiểu thời
Trang 148
tiết đặc trưng trong ngày với các mức độ khác nhau đến sức khỏe con người cũng như đến các hoạt động du lịch Đây là công trình nghiên cứu về sinh khí hậu con người có giá trị sử dụng của các nhà khí hậu trên thế giới; A.G.Ixatsenko (1985), căn cứ vào sự đa dạng của môi trường, mức độ thích hợp của các điều kiện khí hậu, môi trường địa lý, điều kiện vệ sinh và các thuộc tính tự nhiên khác đặc trưng để xác định mức độ thích hợp cho mỗi loại hình du lịch đồng thời đánh giá ảnh hưởng của ĐKTN và TNTN đến các công trình du lịch; I.I.Pirôjnhic (1985) đã tiến hành đánh giá tổng hợp thành phần của hệ thống lãnh thổ du lịch như TNDL, cấu trúc các luồng khách và cơ sở vật chất phục vụ du lịch theo các vùng và các đới DL Công trình này đã đề cập rất nhiều đến hoạt động khai thác lãnh thổ du lịch-không gian du lịch; B.N.Likhainốp Z (1973) xác định tài nguyên phục vụ việc nghỉ ngơi, giải trí là một dạng đặc biệt của TNDL, việc nghiên cứu chúng là một nhiệm vụ quan trọng của địa lý giải trí; Một số tác giả phương Tây như P.David, H.Robinson đã tiến hành đánh giá và sử dụng TNTN phục vụ mục đích giải trí Nhà địa lý Ce Cápar đã xác định TNDL là một thành hệ quan trọng trong hệ thống lãnh thổ
du lịch cần phải được quan tâm nghiên cứu; Bôniface và Cooper (1993) đều cho rằng nghiên cứu và đánh giá TNDL là bước căn bản trong quy hoạch PTDL [trích 56]
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu trên là những định hướng hữu ích cho việc đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên phục vụ trên toàn thể vùng lãnh thổ nói chung Tuy nhiên, hầu hết các công trình lại chưa có những đánh giá, chỉ rõ được những không gian thuận lợi cho phát triển du lịch nói chung và theo từng loại hình du lịch nói riêng
1.1.2 Tại Việt Nam
1.1.2.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về du lịch sinh thái và du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
Giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX, nghiên cứu về DLST mới xuất hiện trên các bài báo và tạp chí khoa học Đến cuối những năm 1990, DLST đã bước đầu gây được chú ý ở cấp độ quốc gia với sự tham gia của Tổng cục Du lịch Việt Nam cùng nhiều tổ chức quốc tế tại Việt Nam như UNDP, UN-ESCAP, WWF, IUCN Việc tổ
chức những hội thảo xoay quanh các vấn đề phát triển DLST như Hội thảo về DLST
với phát triển du lịch bền vững (DLBV) ở Việt Nam (1998); Hội thảo “Xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển DLST ở Việt Nam” (8-1999), Hội thảo khoa học:
“Phát triển du lịch sinh thái trong khu dự trữ sinh quyển: cơ hội và thách thức”
Trang 15(2004) là những dấu hiệu bước đầu cho thấy sự quan tâm rộng rãi hơn của giới học giả Qua đó, hệ thống cơ sở lý luận về DLST đã phần nào được định hình
Hệ thống cơ sở lý luận về DLST đã được các tổ chức và các học giả đưa ra như: Lê Văn Lanh (1998), Hội các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam (2001); Phạm Trung Lương (2002), Lê Huy Bá (2009) Hầu hết các công trình nghiên cứu đều thống nhất khái niệm về DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường và đóng góp cho các
nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương
Về cơ sở thực tiễn, năm 2004, dựa trên sự hợp tác của Cục Kiểm Lâm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, tổ chức phát triển bền vững
Fundeso và Cơ quan hợp tác quốc tế Tây Ban Nha đã xuất bản cuốn “Cẩm nang
quản lý phát triển du lịch sinh thái ở các khu bảo tồn Việt Nam” Cuốn sách này
được coi là nền tảng cho công tác quản lý, tổ chức DLST và DLSTDVCĐ tại Việt Nam
Ngoài ra, còn nhiều nghiên cứu khác đã và đang được hình thành xoay quanh vấn đề nhận thức và áp dụng thực tiễn DLST ở Việt Nam như: Đặng Duy Lợi (1992), Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (1998), Nguyễn Thị Sơn (2000), Phạm Trung Lương (2002), Hoàng Hoa Quân, Nguyễn Ngọc Khánh, Nguyễn Văn Lanh,
Đỗ Quốc Thông (2002), Nguyễn Quyết Thắng (2005), Nguyễn Thị Hải (2007), Lê Huy Bá (2008), Nguyễn Xuân Hoà (2009), Trần Đức Thanh.(2003, 2009), Đỗ Trọng Dũng (2011), Trần Đức Thanh và cộng sự (2014) Hầu hết những công trình này đều đưa ra những định hướng phát triển DLST theo hướng phát triển bền vững cho khu vực nghiên cứu mà chưa nghiên cứu thấu đáo các nguồn lực bên trong để giúp các địa phương/khu vực nhận diện những thế mạnh trong phát triển DLST và hướng tới phát triển bền vững khu vực
1.1.2.2 Những nghiên cứu về đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên để phục vụ phát triển du lịch
Ở Việt Nam, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về TNDL, đánh giá ĐKTN và TNTN phục vụ mục đích du lịch Trên phạm vi toàn quốc đã có một số công trình tiêu biểu trong lĩnh vực này được Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch
thực hiện như: “Quy hoạch tổng thể PTDL Việt Nam đến năm 2010”, “Quy hoạch
tổng thể PTDL tổng thể Đồng bằng Sông Cửu Long”, “Quy hoạch tổng thể PTDL
Trang 1610
vùng du lịch Bắc Bộ” (2000), “Quy hoạch tổng thể vùng Bắc Trung Bộ” (2002),
“Quy hoạch tổng thể PTDL vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ” (2002) và đặc
biệt là “Quy hoạch tổng thể PTDL Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn năm 2030 Trong công trình “Tài nguyên môi trường du lịch Việt Nam”của Phạm Trung
Lương (2000) đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn trong đánh giá TNDL; khả năng ứng dụng của GIS trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu du lịch và đánh giá tài nguyên theo phương pháp phân tích không gian
Còn trong công trình “Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam”của Vũ Tuấn Cảnh,
Đặng Duy Lợi, Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ (1991) đã xác định nội dung đánh giá dựa vào tính chất của TNDL như tính nguyên vẹn, tính hấp dẫn, tính dung lượng, tính ổn định của môi trường tự nhiên
Trong lĩnh vực nghiên cứu chung về điều kiện PTDL, giáo trình “Địa lý du
lịch” của Nguyễn Minh Tuệ và nhiều người khác (1996) đã hệ thống hóa những
khái niệm cơ bản về du lịch, tài nguyên du lịch và bước đầu định hướng khai thác tiềm năng du lịch một số tiểu vùng du lịch Việt Nam Bùi Thị Hải Yến, Phạm Hồng
Long (2007), trong giáo trình “Tài nguyên du lịch”, “Quy hoạch du lịch” đã đề cập
đến đánh giá TNDL, tuy việc đánh giá còn sơ lược
Trong đề tài “Cơ sở khoa học của PTDL sinh thái Việt Nam” và hội thảo
“DLST với phát triển bền vững ở Việt Nam” (1998), hoặc công trình “Đặc trưng của
hệ sinh thái, cơ sở của PTDL sinh thái Việt Nam” Phạm Trung Lương, Nguyễn Tài
Cung đã tập hợp nhiều báo cáo, tham luận và một số nghiên cứu đánh giá về tiềm năng DLST ở Việt Nam Những đề tài này đều tập trung đánh giá tiềm năng TNDL theo từng thành phần hoặc tổng hợp trên phạm vi cả nước nhằm phục vụ công tác quy hoạch, tổ chức lãnh thổ và phân vùng du lịch Phạm vi đánh giá thường ở bản đồ tỉ lệ nhỏ nên kết quả đánh giá chỉ dừng ở mức độ định tính, khái quát
Theo Phạm Trung Lương (2007) trong đề tài “Cơ sở khoa học để phát triển
các sản phẩm thể thao mạo hiểm vùng núi phía Bắc” đã đánh giá địa hình cho du
lịch Các tiêu chí về đặc điểm hình thái, trắc lượng hình thái của dạng địa hình, độ dốc, hang động được xem xét, phân cấp cho một số LHDL
Còn theo Nguyễn Khanh Vân, Đặng Kim Nhung (1994) đã xây dựng tổng hợp thời tiết chính trong ngày dựa trên các tiêu chí: nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió, hiện tượng sương mù đưa ra chỉ tiêu trong điều kiện thời tiết đối với nghỉ dưỡng
Nguyễn Thị Sơn (2000) trong luận án “Cơ sở khoa học cho việc định hướng
phát triển DLST VQG Cúc Phương” đã đánh giá mức độ ĐDSH của VQG Cúc
Trang 17Phương, Ninh Bình cho DLST; đã xác định một số tuyến tham quan trong rừng đến một số đối tượng sinh vật đặc hữu, quý hiếm
Các công trình “Cơ sở khoa học của việc xác định các tuyến, điểm du lịch
Nghệ An” của Nguyễn Thế Chinh (1995), “Tổ chức lãnh thổ du lịch thành phố Hải Phòng”, Nguyễn Thanh Sơn (1997), công trình “Đánh giá TNTN tỉnh Thừa Thiên - Huế phục vụ du lịch, Lê Văn Tín (1999), công trình “Cơ sở khoa học của việc tổ chức không gian du lịch dải ven biển Thừa Thiên Huế - Quảng Nam – Đà Nẵng,
Nguyễn Tưởng (1999) đã tiến hành đánh giá mức độ thuận lợi các điều kiện và tài nguyên trong khu vực cho việc PTDL bằng phương pháp đánh giá tổng hợp hoặc cho điểm theo phương pháp trung bình cộng của các điểm thành phần
Đánh giá ĐKTN, TNTN cho PTDL trên phạm vi hẹp (tỉnh, huyện) mới chỉ tiến hành chủ yếu ở các đề tài luận án tiến sĩ, Đặng Duy Lợi (1992), với công trình
“Đánh giá và khai thác các ĐKTN và TNTN huyện Ba Vì (Hà Tây) phục vụ mục đích du lịch” đã đề cập đánh giá tổng hợp ĐKTN cho PTDL trên cơ sở các chỉ tiêu
định tính và bước đầu định lượng, qua đó xác định mức độ thuận lợi cho PTDL và bước đầu đề xuất hướng khai thác tài nguyên cho một số LHDL như tham quan,
nghỉ dưỡng cuối tuần Nguyễn Hữu Xuân (1999), trong luận văn “Bước đầu đánh
giá TNTN tự nhiên huyện Lạc Dương, Lâm Đồng phục vụ phát triển một số LHDL”,
cũng đã đề cập đến việc đánh giá tổng hợp ĐKTN và TNTN cho PTDL ở mức LHDL
Như vậy, có thể thấy tại Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu đã đi sâu đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên cho phát triển kinh tế-xã hội và
du lịch nói chung, một số loại hình du lịch nói riêng Tuy nhiên, cho đến nay chưa
có công trình nào đi sâu nghiên cứu đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên cho mục đích phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
1.1.3 Các nghiên cứu trên lãnh thổ vùng Đông Bắc
Vùng Đông Bắc Việt Nam có tiềm năng du lịch phong phú, đa dạng và có sức hấp dẫn không những với du khách trong nước mà còn cả với khách du lịch quốc tế Nơi đây có khả năng đón nhận số lượng lớn khách du lịch với nhiều loại hình khác nhau Song, những lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên của Đông Bắc chưa được nhận diện và khai thác có hiệu quả; môi trường ở các vùng núi, vùng biển đang bị xuống cấp, tài nguyên thiên nhiên đang bị phá hoại nghiêm trọng Chính vì vậy, thời gian qua đã có một số công trình của một số nhà nghiên cứu nhằm giúp cho vùng Đông Bắc Việt Nam phát huy thế mạnh sẵn có của mình nhằm phát triển
Trang 1812
kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường theo hướng bền vững, Phạm Chí Cường (2011):
“Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học và đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế - xã
hội bền vững, bảo vệ môi trường khu vực lãnh thổ vùng núi Đông Bắc Việt Nam”;
Đỗ Thị Vân Hương (2014), Nghiên cứu, đánh giá tài nguyên sinh khí hậu vùng
Đông Bắc Việt Nam cho phát triển một số cây trồng nông, lâm nghiệp có giá trị kinh tế, Luận án Tiến sĩ; Trần Viết Khanh (2011), Đánh giá một số nguồn lực tự nhiên phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Bắc Việt Nam; Phạm Trung
Lương (2007), Cơ sở khoa học để phát triển các sản phẩm TTMH vùng núi phía
Bắc, Đề tài NCKH cấp ngành, Tổng cục Du lịch Việt Nam; Lê Đức Tố và cộng sự
(2005), Đề tài khoa học thuộc Chương trình biển cấp Nhà nước KC – 09:“Luận
chứng khoa học về một mô hình phát triển kinh tế sinh thái trên một số đảo, cụm đảo lựa chọn vùng biển ven bờ Việt Nam”
Hầu hết các công trình kể trên đều có nội dung nghiên cứu đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế - xã hội nhằm đưa ra các luận
cứ khoa học cho việc đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường bền vững địa bàn nghiên cứu Đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu
cụ thể về du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng trên toàn bộ lãnh thổ vùng Đông Bắc Việt Nam
1.1.4 Những nghiên cứu về Du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng tại VQG Ba
Bể (Bắc Kạn) và huyện đảo Vân Đồn (Quảng Ninh)
1.1.4.1 Tại Vườn Quốc Gia Ba Bể
VQG Ba Bể là khu vực có sự tập trung đa dạng sinh học và các giá trị văn hóa bản địa của cộng đồng các dân tộc thiểu số như Tày, Nùng, Mông, Dao Đây là những nguồn lực có thể phát triển du lịch nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung Thời gian qua nhiều tổ chức khoa học đã công bố các kết quả nghiên cứu về tiềm năng phát triển DLST cũng như cách thức bảo vệ tài nguyên và phát triển bền
vững cho khu vực như: Báo cáo tổng hợp quy hoạch chung khu du lịch sinh thái hồ
Ba Bể - Bắc Kạn [52]; Báo cáo tổng hợp xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái hồ Ba Bể và các vùng tiềm năng tỉnh Bắc Kạn; Các vườn quốc gia Việt Nam
[64]; Chiến lược tài chính bền vững VQG Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn [87], Nghiên cứu tài
chính dự án PARC, Hà Nội
Trong dự án Quan hệ đối tác vì người nghèo trong Phát triển Nông lâm nghiệp
tỉnh Bắc Kạn (3PAD), năm 2012, cuốn Cẩm nang du lich sinh thái cộng đồng đã
làm nổi bật tính nguyên vẹn và đặc trưng của Hồ Ba Bể, quan tâm đến yếu tố môi
Trang 19trường, điều phối các dự án khác về du lịch trong khu vực và nâng cao năng lực cho cộng đồng địa phương trong phát triển DLST
Như vậy, có thể thấy các công trình nghiên cứu về VQG Ba Bể hiện mới dừng lại ở mức độ nhận diện tiềm năng phát triển DLST nói chung, chứ chưa đưa ra được những mô hình DLST hay DLSTDVCĐ nhằm giúp cho cộng đồng địa phương tại khu vực có thể triển khai các hoạt động phát triển DL một cách hiệu quả nhất
1.1.4.2 Đối với huyện đảo Vân Đồn – Quảng Ninh
Huyện đảo Vân Đồn hiện đang được Nhà nước và tỉnh Quảng Ninh quy hoạch
và định hướng phát triển thành 1 trong 4 trung tâm du lịch hiện đại tại Quảng Ninh
Để phát huy giá trị các nguồn lực nhằm phát triển du lịch nói riêng và kinh tế - xã hội nói chung, đã có nhiều công trình nghiên cứu về khu vực này Cụ thể:
Đề tài khoa học thuộc Chương trình biển cấp nhà nước: “Tổng quan về hệ thống
đảo Việt Nam” (48B – 12d) [1] đã đưa ra được những đặc trưng cơ bản cho các đảo
của Việt Nam Đề tài là cơ sở lý luận quan trọng cho việc nghiên cứu và ứng dụng phát triển kinh tế xã hội vùng biển đảo
Dự án “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 1995 - 2010”
[Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch, 1994], đã nghiên cứu đưa ra được những định hướng phát triển vùng du lịch Bắc Bộ trong đó có đề cập đến tiềm năng du lịch vùng ven biển và hải đảo của tỉnh Quảng Ninh
Dự án “Quy hoạch phát triển du lịch Quảng Ninh thời kỳ 2001 - 2010” của Sở
Du lịch Quảng Ninh thực hiện năm 2001 đã thống kê nguồn tài nguyên du lịch, đánh giá hiện trạng và đưa ra được những định hướng và các giải pháp cơ bản cho phát triển
du lịch của tỉnh
Đề tài khoa học thuộc Chương trình biển cấp Nhà nước KC – 09: “Luận
chứng khoa học về một mô hình phát triển kinh tế sinh thái trên một số đảo, cụm đảo lựa chọn vùng biển ven bờ Việt Nam” [81] chủ trì đã tiến hành phân tích tiềm
năng du lịch sinh thái ở một số đảo, cụm đảo ven bờ trong đó có một số đảo của Quảng Ninh
Đề tài khoa học “Đánh giá tổng hợp tiềm năng tự nhiên, kinh tế xã hội; thiết
lập cơ sở khoa học và các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội bền vững cho một số huyện đảo” [20] đã tiến hành đánh giá điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
nhằm phát triển một cách bền vững các ngành kinh tế bao gồm cả du lịch tại một số huyện đảo trong đó có Cô Tô và Vân Đồn của Quảng Ninh
Trang 20Từ lịch sử nghiên cứu đề tài, có thể rút ra một số nhận xét:
a) Đối với vấn đề phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
- Lý luận thực tiễn và phát triển du lịch sinh thái được nhiều nhà khoa học và các
tổ chức trong nước cũng như quốc tế quan tâm nghiên cứu Đây là những công trình khoa học bổ ích cho việc vận dụng vào nghiên cứu về phát triển DLSTDVCĐ
- Ở trong nước, những đề tài nghiên cứu về du lịch DLSTDVCĐ còn ít, chủ yếu dưới dạng các báo cáo khoa học
- Đặc biệt, đến nay chưa có những đề tài khảo cứu một cách thấu đáo, toàn diện về các nguồn lực để phát triển DLSTDVCĐ nói chung cũng như việc nghiên cứu đánh giá các nguồn lực đó dựa trên cơ sở của địa lý học nói riêng tại khu vực Đông Bắc Việt Nam
b) Đối với vấn đề đánh giá tổng hợp tự nhiên và tài nguyên phục vụ phát triển du lịch
Từ một số công trình nghiên cứu trên có thể nhận thấy, du lịch là một hoạt động kinh tế có những nét đặc trưng riêng, do đó đánh giá lãnh thổ cho du lịch cũng mang nhiều nét riêng, đó là:
- Đánh giá TNDL đã được thể hiện ở nhiều khía cạnh, lãnh thổ đánh giá từ rất rộng lớn đến rất hẹp Phần lớn các đề tài nghiên cứu chỉ tập trung đánh giá tiềm năng PTDL
- Đánh giá TNDL là một công việc khá phức tạp, hiện tại chưa có sự thống nhất về quan niệm, phương pháp, chỉ tiêu đánh giá Đánh giá TNDL có đặc trưng định tính rất cao Một số chỉ tiêu được xây dựng thường dựa trên những cảm nhận định tính hoặc của người quản lý du lịch, hoặc của người đi du lịch, do đó mang yếu
tố chủ quan cao
Trang 21- Hầu hết những đánh giá cho du lịch đều dừng ở mức độ đánh giá chung trên toàn bộ lãnh thổ nghiên cứu, chưa chỉ rõ được không gian thuận lợi cho phát triển
du lịch, chưa xây dựng được bản đồ phân hóa mức độ thuận lợi cho du lịch Đánh giá TNDL cho phát triển LHDL ít được quan tâm
Một số công trình đánh giá một cách riêng lẻ các thành phần tự nhiên như địa hình, khí hậu, thảm thực vật rừng mà xem nhẹ đánh giá tổng hợp tự nhiên Ngược lại, có công trình đánh giá tổng hợp tự nhiên nhưng lại ít quan tâm đến đánh giá các thành phần riêng biệt của tự nhiên
- Sử dụng GIS trong đánh giá tài nguyên phục vụ du lịch bước đầu đã được đề cập nhưng mức độ đánh giá còn sơ lược
Cho đến nay, phương pháp đánh giá bằng cách cho điểm số từng yếu tố đánh giá, tính điểm tổng hay điểm tích vẫn là phương pháp phù hợp với đánh giá cho du lịch
c) Đối với Khu vực Đông Bắc Việt Nam và hai điểm nghiên cứu lựa chọn
Các công trình cũng chưa đưa ra được những định hướng cụ thể về phát triển không gian, phát triển sản phẩm cũng như những mô hình DLST hoặc DLSTDVCĐ nhằm giúp cộng đồng địa phương các khu vực này có thể hiểu và tham gia vào hoạt động
du lịch một cách chủ động nhằm phát triển kinh tế - xã hội một cách hiệu quả nhất
Qua đó, việc nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng vùng Đông Bắc Việt Nam dựa trên cơ sở địa lý học là một hướng nghiên cứu mới và cần thiết nhằm giúp vùng Đông Bắc nhận diện được những thế mạnh của vùng để phát triển DLSTDVCĐ từ đó phát triển kinh tế -xã hội theo hướng bền vững
1.2 Một số vấn đề chung liên quan đến luận án
1.2.1 Các khái niệm cơ bản
Theo Mathieson và Wall “Du lịch là sự di chuyển tạm thời của người dân
đến những nơi người ngoài khu vực cư trú và làm việc thường xuyên của họ, các
Trang 2216
hoạt động được thực hiện trong thời gian lưu trú tại những nơi đó và các tiện nghi được sinh ra nhằm thỏa mãn nhu cầu họ” [Trích 72]
Theo Liên hiệp quốc (1963) định nghĩa về du lịch như sau: "Du lịch là tổng
hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của
họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ"
Theo luật du lịch Việt Nam(2005):”Du lịch là hoạt động của con người
ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí,nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [67]
Từ các quan điểm, định nghĩa trên cho thấy khái niệm du lịch hàm chứa những nội dung cơ bản sau:
- Là sự di chuyển và cư trú tạm thời ngoài nơi thường trú thường xuyên trong thời gian rỗi của khách du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của họ
- Cùng với mục đích du lịch là việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên,kinh tế,văn hóa và dịch vụ ở nơi đến của du khách
- Là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế có liên quan đến khách du lịch
Như vậy, HĐDL có liên quan đến nhiều thành phần tự nhiên và KTXH
1.2.1.2 Du lịch sinh thái
Theo Luật du Lịch Việt Nam (2005), DLST được quan niệm: “DLST là hình
thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững”
Các hoạt động đặc trưng chủ yếu của DLST bao gồm: Đi bộ (trên cạn), lặn (dưới nước) tiếp cận quan sát các hệ sinh thái đặc thù; Quan sát, chụp ảnh các loài động thực vật quý hiến, đặc hữu, các cảnh quan đặc sắc, các sinh hoạt văn hóa bản địa; Nghe thuyết minh, Trao đổi với hướng dẫn viên, cộng đồng về các giá trị tự nhiên, văn hóa bản địa; Lưu trú
Có thể thấy DLST được coi là du lịch lựa chọn những mặt tích cực của một
số loại hình du lịch, đó là sự kết hợp của cả du lịch tự nhiên và du lịch mạo hiểm và bao hàm cả các yếu tố trong du lịch bền vững như: mang tính giáo dục cao, hỗ trợ bảo tồn và quan tâm tới cộng đồng, có sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương
Trang 231.2.1.3 Cộng đồng trong du lịch
Theo luật du lịch Việt Nam (2005): Cộng đồng là những nhóm người được
tập hợp dưới nhiều hình thức khác nhau như theo lứa tuổi, nghề nghiệp, huyết thống, khu vực địa lý, tổ chức đoàn thể, sở thích, v.v [67]
Sự hình thành một cộng đồng thường dựa vào các yếu tố: lãnh thổ, kinh tế và văn hóa Khái niệm cộng đồng bao gồm các yếu tố: tương quan cá nhân mật thiết với những người khác; có sự liên hệ tình cảm; có sự tự nguyện hy sinh đối với những giá trị được tập thể coi là cao cả; có ý thức đoàn kết mọi thành viên trong tập thể
Cộng đồng là một tập thể người định cư trên một lãnh thổ nhất định Họ có hoạt động kinh tế để đảm bảo về mặt vật chất và tạo nên sự cố kết cộng đồng Đây
là nhân tố quan trọng giúp cho một cộng đồng phát triển vững mạnh
Mỗi cộng đồng có những nét văn hóa đặc trưng riêng, được hình thành trong quá trình phát triển của cộng đồng đó Đó là các phong tục tập quán, các quy ước, tín ngưỡng tôn giáo, được lưu truyền từ đời này sang đời khác
Trong du lịch, cộng đồng thường được xác định theo phân bố địa lý Theo
Sproule (1996) cộng đồng là một nhóm người, thường sống trên cùng một khu vực
địa lý, nhận biết bản thân họ thuộc cùng một nhóm Các thành viên trong một cộng đồng thường có quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân Tất cả họ có thể thuộc
về cùng một nhóm tôn giáo, chính trị, tầng lớp hoặc đẳng cấp Ngoài những đặc
điểm chung, cộng đồng là một thực thể phức tạp và không đồng nhất Trong cùng một cộng đồng, có người giàu và người nghèo, người mới nhập cư và những cư dân bản địa, người có nhiều đất đai và người không có đất Sự phân hóa trong cộng đồng dẫn đến mức độ tham gia và hưởng lợi khác nhau của các thành viên trong một cộng đồng trong các chương trình, dự án phát triển cộng đồng, do đó ẩn chứa những xung đột trong cộng đồng [120, tr.29.]
1.2.1.4 Du lịch cộng đồng
Khái niệm Du lịch cộng đồng (CBT) xuất hiện từ đầu thế kỷ 20 và có rất nhiều cách nhìn nhận và hiểu biết khác nhau về khái niệm này Các khái niệm, định nghĩa khác nhau tùy thuộc vào các tác giả, khu vực địa lý, hoặc nghiên cứu dự án cụ thể Tuy nhiên vẫn có một số nguyên tắc chung như tính bền vững, sự tham gia và lợi ích của cộng đồng địa phương Định nghĩa phổ biến về DLCĐ là:
Trang 2418
Nicole Hausle và Wolfgang Strasdas (2009) cho rằng “DLCĐ là một loại
hình du lịch trong đó chủ yếu người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương” Trong định
nghĩa này, Nicole và Wolfgang chú trọng đến vai trò và lợi ích kinh tế mà DLCĐ đem lại cho CĐĐP
Theo tổ chức ESRT (2013): Du lịch cộng đồng mang lại cho du khách những
trải nghiệm về cuộc sống địa phương trong đó các cộng đồng địa phương tham gia trực tiếp vào du lịch; thu được các lợi ích kinh tế - xã hội từ hoạt động du lịch và chịu trách nhiệm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường và văn hóa địa phương
1.2.1.4 Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
DLST dựa vào cộng đồng (Community - Based Ecotuorism) không những là
một bậc cao hơn của DLST mà còn là sự phát triển theo hướng bền vững sinh thái của du lịch dựa vào cộng đồng DLST dựa vào cộng đồng cũng là du lịch dựa vào cộng đồng nhưng tập trung vào việc đi tới những khu vực có sức hút về mặt tự nhiên, đóng góp vào bảo tồn môi trường và đời sống của người dân địa phương [120, tr
29]
Theo nhà nghiên cứu Nicole Hausle và Wollfgang Strasdas (2009): "Du lịch
sinh thái dựa vào cộng đồng là một hình thái du lịch trong đó chủ yếu là người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương"
Theo tổ chức Respondsible Ecological Social Tours (1997) thì du lịch sinh
thái dựa vào cộng đồng là "phương thức tổ chức du lịch đề cao về môi trường, văn
hóa xã hội Du lịch sinh thái cộng đồng do cộng đồng sở hữu và quản lý, vì cộng đồng và cho phép khách du lịch nâng cao nhận thức và học hỏi về cộng đồng, về cuộc sống đời thường của họ"
Ý tưởng đằng sau vế "dựa vào cộng đồng" của chiến lược môi trường là tạo cơ hội trao quyền cho cộng đồng, tăng cường sự tham gia của họ trong việc ra quyết
Trang 25định, nhưng cũng chỉ đơn giản là những điều này sẽ khuyến khích sự tham gia từ bản thân cộng đồng
Tóm lại: Du lịch sinh thái cộng đồng (DLSTDVCĐ) là hình thái du lịch do cộng đồng tổ chức, dựa vào thiên nhiên và văn hoá địa phương với mục tiêu bảo vệ môi trường DLSTDVCĐ đề cao quyền làm chủ, chú ý phân bổ lợi ích rộng rãi và nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng Với khách du lịch, DLSTDVCĐ tạo
cơ hội tìm hiểu, nâng cao nhận thức về môi trường và giao lưu văn hoá, trải nghiệm cuộc sống hàng ngày của cộng đồng
Như vậy, du lịch sinh thái cộng đồng chính là nét tinh túy của du lịch sinh thái và du lịch bền vững Du lịch sinh thái cộng đồng nhấn mạnh vào cả ba yếu tố là môi trường, du lịch và cộng đồng
1.2.2 Tính tất yếu về sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động DLST
Sự trải nghiệm của du khách tại điểm đến nhìn chung thường chịu ảnh hưởng của thái độ của người dân địa phương đối với hoạt động DLST và khách du lịch Sự tiếp xúc ngắn ngủi giữa du khách và người dân bản địa có thể góp phần làm cho trải nghiệm DLST trở nên hoàn hảo hoặc ngược lại Sự tham gia của cộng đồng là một trong những đặc điểm quan trọng nhất trong quá trình phát triển DLST Điều này được xem là thách thức và cũng là cơ hội lớn cho cả cộng đồng địa phương và các bên tham gia Do đó, cần xây dựng những định hướng phát triển phù hợp cùng với những hành động kịp thời nhằm nâng cao năng lực của cộng đồng địa phương và thúc đẩy sự tham gia của họ vào phát triển DLST
Trang 2620
Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động DLST rất cần thiết do:
- Cộng đồng địa phương chính là người đầu tiên tiếp xúc khai thác sử dụng và
có kinh nghiệm quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa ở địa phương qua nhiều thế hệ Do đó, nếu họ nhận được những lợi ích thiết thực từ việc tham gia trong hoạt động DLST thì có thể họ sẽ cam kết mạnh mẽ hơn nữa đối với quản lý bền vững các nguồn tài nguyên này
- Nếu cộng đồng địa phương được tham gia vào phát triển DLST thì họ sẽ càng
có thiện cảm với hoạt động DLST và những kết quả đạt được từ hoạt động này cũng sẽ cao hơn
- Kinh nghiệm và những hiểu biết về các nguồn tài nguyên bản địa của người dân địa phương sẽ góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm DLST
- Cộng đồng địa phương là những người trực tiếp tiếp xúc với du khách hàng ngày, do đó nếu người dân có thái độ tích cực với đối với hoạt động DLST thông qua việc cùng tham gia, hưởng lợi và cùng quyết định thì điều này sẽ mang lại những nguồn lợi đáng kể cho chính họ, cũng như thỏa mãn được nhu cầu du khách
1.2.3 Mục tiêu phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
DLSTDVCĐ không những là một bậc cao hơn của DLST mà còn là sự phát triển theo hướng bền vững sinh thái của du lịch dựa vào cộng đồng DLSTDVCĐ cũng là du lịch dựa vào cộng đồng nhưng tập trung vào việc đi tới những khu vực có sức hút về mặt tự nhiên, đóng góp vào bảo tồn môi trường và đời sống của người dân địa phương Chính vì vậy mục tiêu phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng sẽ bao hàm cả mục tiêu của cả hai hình thức phát triển du lịch là du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững Cụ thể đó là các mục tiêu sau:
a) Góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và văn hóa: DLST là loại hình
Du lịch nhằm mục đích giáo dục con người nâng cao hiểu biết về môi trường tự nhiên, qua đó tạo ý thức tham gia vào các nỗ lực bảo tồn Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của DLST trong sự khác biệt rõ ràng giữa DLST với các hình thức DL tự nhiên khác Du khách nghỉ ngơi thăm thú thắng cảnh với tầm hiểu biết được nâng lên về những đặc tính sinh thái khu vực và văn hóa cộng đồng địa phương Chính sự hiểu biết đó sẽ giúp khách có thái độ cư xử, thể hiện bằng những
nỗ lực tích cực trong việc bảo tồn và phát triển những giá trị về tự nhiên sinh thái và văn hóa khu vực
Trang 27b) DLSTDVCĐ đóng góp vào phát triển kinh tế địa phương: vấn đề này
vừa là nguyên tắc vừa là mục tiêu của DLST Nếu như lợi nhuận từ các loại hình du lịch khác thuộc về công ty quản lý thì ngược lại, DLSTDVCĐ sẽ giành phần lớn lợi nhuận vào cải thiện môi trường sống và nâng cao an sinh xã hội cho CĐ ĐP
c) Có sự tham gia ngày càng tăng của cộng đồng địa phương thông qua
các vai trò: hướng dẫn viên, đáp ứng chỗ nghỉ cho khách qua đó sẽ tạo thêm việc làm tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương Kết quả là cuộc sống của người dân
sẽ ít bị phụ thuộc hơn vào việc khai thác tự nhiên, đồng thời sẽ nhận thấy lợi ích của việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phát triển DLST Sức ép của cộng đồng đối với môi trường vốn đã tồn tại từ bao đời nay sẽ giảm đi và chính cộng đồng địa phương sẽ là người chủ thực sự, những người bảo vệ trung thành các giá trị tự nhiên và văn hóa bản địa nơi diễn ra hoạt động DLST
d) Mang đến cho khách một sản phẩm có trách nhiệm đối với môi trường
và xã hội: Do đặc thù của DLST là dựa vào thiên nhiên, đó là loại hình tổ chức
ngoài thiên nhiên và trong các vùng tự nhiên hoang dã để tạo ra sản phẩm DL
1.2.4 Điều kiện hình thành và phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
Mọi hoạt động phát triển du lịch nói chung và DLSTDVCĐ nói riêng đều được thực hiện trên cơ sở khai thác những giá trị của tài nguyên du lịch tự nhiên, văn hóa, lịch sử kèm theo các điều kiện về cơ sở hạ tầng và dịch vụ Kết quả của quá trình khai thác đó là việc hình thành những sản phẩm du lịch từ các tiềm năng
về tài nguyên, đem lại nhiều lợi ích cho xã hội Trước tiên đó là những lợi ích về kinh tế - xã hội, tạo ra nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm, nâng cao đời sống kinh tế cho cộng đồng địa phương thông qua các dịch vụ du lịch, tạo điều kiện cho việc bảo tồn các giá trị văn hóa, lịch sử và sự đa dạng của thiên nhiên nơi có những hoạt động phát triển du lịch Sau nữa là những lợi ích đem lại cho khách du lịch trong việc hưởng thụ các cảnh quan thiên nhiên mới lạ và độc đáo, các truyền thống văn hóa lịch sử, những đặc thù dân tộc mà trước đó họ chưa biết tới và từ đó xác lập một
ý thức mới về trách nhiệm bảo tồn sự toàn vẹn của các giá trị thiên nhiên, văn hóa lịch sử của nơi họ đến nói riêng và của hành tinh nói chung
Mặt khác, DLSTDVCĐ dù là một hình thức du lịch hướng tới sự phát triển bền vững nhưng cũng không thể phủ nhận vai trò cốt lõi trong nó chính là loại hình
du lịch sinh thái - loại hình du lịch phát triển dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa Do đó, vai trò của tài nguyên du lịch sinh thái đối với sự phát triển du lịch sinh
Trang 2822
thái dựa vào cộng đồng là rất quan trọng Đó là các giá trị tự nhiên thể hiện trong một hệ sinh thái cụ thể và các giá trị văn hóa bản địa tồn tại và phát triển không tách rời hệ sinh thái tự nhiên đó
Theo Phạm Trung Lương (2002), không phải mọi giá trị tự nhiên và văn hóa
bản địa đều được coi là tài nguyên DLST mà chỉ có các thành phần và các thể tổng
hợp tự nhiên, các giá trị văn hóa bản địa gắn với một hệ sinh thái cụ thể được khai thác sử dụng để tạo ra các sản phẩm DLST, phục vụ cho mục đích phát triển du lịch nói chung, DLST nói riêng mới được xem là tài nguyên du lịch Bao gồm:
- Các hệ sinh thái tự nhiên đặc thù, đặc biệt nơi có tính đa dạng sinh học cao
với nhiều loài sinh vật đặc hữu, quý hiếm (các VQG, KBTTN, các sân chim )
- Các hệ sinh thái nông nghiệp (vườn cây ăn trái, trang trại, làng hoa cây cảnh )
- Các giá trị văn hóa bản địa hình thành và phát triển gắn liền với sự tồn tại
của hệ sinh thái tự nhiên như các phương thức canh tác, các lễ hội, sinh hoạt truyền thống gắn với các truyền thuyết của cộng đồng)
Do đặc thù của DLST là dựa vào thiên nhiên, đó là loại hình tổ chức ngoài thiên nhiên và trong các vùng tự nhiên hoang dã để tạo ra sản phẩm DL Chính vì vậy, những khu vực được lựa chọn phát triển DLSTDVCĐ cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Là nơi tiến hành các hoạt động DL mà cách ứng xử với môi trường tự nhiên chỉ có mức độ thỏa mãn theo các quy định pháp luật hiện hành với những dự án nằm ngoài giới hạn của DLST
- Những nơi được thiết kế, xây dựng, gắn liền với thiên nhiên môi trường hơn,
thể hiên qua “tính nhạy cảm của các điểm, các cụm có mật độ thấp ít sử dụng thiết
kế và các vật liệu hạn chế tầm quan sát, gây ảnh hưởng đến môi trường Tuy nhiên vẫn cung cấp đầy đủ các tiện nghi dịch vụ và hoạt động của một cuộc DL truyền thống” Loại này chấp nhận tầm quan trọng của môi trường hơn là thực tiễn của
DLST
- Nơi du khách có cơ hội tham quan môi trường còn hoang sơ, nguyên vẹn Các cơ sở lưu trú, tiện nghi với sự hạn chế tối đa tác động tới môi trường được xem
là tiêu chuẩn của du khách
- Là những nơi “tự nhiên” được coi trọng hàng đầu để nghỉ ngơi và giáo dục với nỗ lực tăng cường trực tiếp ý thức bảo tồn và giữ gìn môi trường Các chuyến thám hiểm trong ngày, các trung tâm tham quan và phiên dịch viên là chìa khóa
Trang 29- Là loại dành cho khách “thám hiểm” đến các vùng xa xôi, hoang dã, các chương trình DL được thiết kế nhằm hướng tới việc nâng cao nhận thức về bảo tồn môi trường tự nhiên và văn hóa
Ngoài ra, phát triển DLST hướng con người đến các vùng tự nhiên hoang sơ,
có giá trị cao, điều này đặt ra một yêu cầu cấp bách đặt ra đối với DLSTDVCĐ là cần phải có sự tham gia của cộng đồng địa phương tại khu vực đó bởi vì hơn ai hết chính những người dân địa phương tại đây hiểu rõ nhất về các nguồn tài nguyên của mình, sự tham gia của cộng đồng địa phương có tác dụng to lớn trong việc giáo dục
du khách bảo vệ các nguồn tài nguyên và môi trường tại đó đồng thời cũng góp phần nâng cao hơn nữa nhận thức cho cộng đồng, tăng các nguồn thu nhập cho cộng đồng Ngoài ra, CĐĐP còn có các vai trò cụ thể như sau:
- CĐĐP là người cung cấp các dịch vụ phục vụ du lịch ban đầu của DSLT
Có thể nói DL về với thiên nhiên chủ yếu diễn ra tại nơi có thiên nhiên hoang sơ Trong khi đó, những khu vực này thường có địa hình hiểm trở, gây khó khăn và tốn kém cho công tác xây dựng cơ sở hạ tầng và giao thông cũng như các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch Vì vậy khách du lịch và các nhà kinh doanh thường dựa vào động đồng dân cư tại các làng, bản, thôn
- CĐĐP và đời sống của họ cung cấp nguồn tài nguyên du lịch hữu hình và
vô hình phong phú Các phong tục tập quán, lễ hội, lối sống, kiến trúc nhà ở độc đáo của các cộng đồng có sức thu hút đối với khách du lịch
- CĐĐP là những người am hiểu các điều kiện cũng như tài nguyên của mình nhất
nên nếu được đào tạo, họ sẽ là nguồn nhân lực tích cực và hiệu quả cho hoạt động du
lịch
- Đời sống của CĐĐP gắn liền với điểm du lịch được khai thác nên nếu nhận
thức được vai trò của DLST đối với cộng đồng, họ sẽ là lực lượng bảo vệ tốt nhất nguồn tài nguyên du lịch địa phương một cách bền vững Đồng thời, họ cũng sẽ
có phản ứng nhanh nhất với những biến đổi tiêu cực của môi trường
Như vậy, đối với việc người dân tham gia vào hoạt động phát triển DL, các phương thức tham gia này của CĐ sẽ là một quá trình để xác định và củng cố vai trò của CĐ trong công tác quy hoạch, trong quá trình thực hiện, giám sát và đánh giá các hoạt động có ảnh hưởng đến đời sống của CĐ
Trang 3024
1.2.5 Nguyên tắc phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
Khác với nhiều loại tài nguyên khác, sau khi được khai thác có thể vận chuyển
đi nơi khác để chế biến tạo ra sản phẩm rồi lại được đưa đến tận nơi tiêu thụ, tài nguyên du lịch nói chung, tài nguyên DLST nói riêng thường được khai thác tại chỗ
để tao ra các sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của du khách Trong một số trường hợp thực tế có thể tạo ra những vườn thực vật, các công viên với nhiều loài sinh vật đặc hữu trong môi trường nhân tạo để du khách tham quan Tuy nhiên các sản phẩm này chưa phải là sản phẩm DLST đích thực, được tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu của du lịch đại chúng, đặc biệt ở các đô thị lớn, ít có điều kiện đến các khu tự nhiên Chính
vì vậy, hoạt động DLSTDVCĐ cần tuân theo một số nguyên tắc sau:
- Có hoạt động giáo dục và diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường, qua đó tạo ý thức tham gia vào các nỗ lực bảo tồn: Đây là một trong những nguyên
tắc cơ bản của hoạt động DLSTDVCĐ với các loại hình dựa vào tự nhiên khác Du khách khi rời khỏi nơi mình đến tham quan sẽ phải có được sự hiểu biết cao hơn về các giá trị của môi trường tự nhiên, về những đặc điểm sinh thái khu vực và văn hóa bản địa Với những hiểu biết đó thái độ cư xử của du khách sẽ thay đổi được thể hiện bằng những nỗ lực tích cực hơn trong hoạt động bảo tồn và phát triển sinh thái
và văn hóa khu vực
- Bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái: Cũng như hoạt động của các loại
hình du lịch khác, hoạt động DLST tiềm ẩn những tác động tiêu cực đối với môi trường tự nhiên Nếu như đối với những loại hình du lịch khác thì vấn đề bảo vệ môi trường, duy trì hệ sinh thái chưa phải là những ưu tiên hàng đầu thì ngược lại, DLST coi đây là một trong những nguyên tắc cơ bản quan trọng cần tuân thủ Bởi: việc bảo vệ môi trường và duy trì các hệ sinh thái chính là mục tiêu hoạt động của DLST; Sự tồn tại của DLST gắn liền với môi trường tự nhiên và các hệ sinh thái điển hình Sự xuống cấp của môi trường, sự suy thoái các hệ sinh thái đồng nghĩa với sự đi xuống của hoạt động DLST Với nguyên tắc này mọi hoạt động DLST sẽ phải được quản lý chặt chẽ để giảm thiểu tác động môi trường, đồng thời một phần thu nhập từ hoạt động DLST sẽ được đầu tư thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường và duy trì phát triển các hệ sinh thái
- Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng: Đây được xem là một trong
những nguyên tắc quan trọng đối với hoạt động DLST bởi các giá trị văn hóa bản địa
là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời các giá trị môi trường hệ sinh thái ở một khu vực cụ thể Sự xuống cấp hoặc thay đổi tập tục, sinh hoạt văn hóa truyền thống
Trang 31của cộng đồng địa phương dưới tác động của hoạt động nào đó sẽ trực tiếp làm mất đi
sự cân bằng sinh thái tự nhiên vốn có của khu vực và vì vậy sẽ làm thay đổi hệ sinh thái đó Hậu quả của quá trình này sẽ tác động trực tiếp đến DLST Chính vì vậy, việc bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng địa phương có ý nghĩa quan trọng và
là nguyêm tắc hoạt động của DLST
- Tạo cơ hội việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương: Đây vừa
là nguyên tắc vừa là mục tiêu hướng tới của DLST Nếu như các loại hình du lịch thiên nhiên khác ít quan tâm đến vấn đề này và phần lớn lợi nhuận từ các hoạt động
du lịch đều thuộc về các công ty điều hành thì ngược lại, DLST sẽ dành một phần đáng kể lợi nhuận từ hoạt động của mình đóng góp cải thiện môi trường sống của cộng đồng địa phương
Ngoài ra, DLST luôn hướng tới việc huy động tối đa sự tham gia của người dân địa phương vào hoạt động của mình như đảm nhiệm vai trò hướng dẫn viên, đáp ứng chỗ nghỉ cho khách, cung ứng các nhu cầu về thực phẩm, hàng lưu niệm cho khách thông qua đo sẽ tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương Kết quả là cuộc sống của người dân sẽ ít bị phụ thuộc hơn vào việc khai thác tự nhiên, đồng thời sẽ nhận thấy lợi ích của việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phát triển DLST Sức ép của cộng đồng đối với môi trường vốn đã tồn tại từ bao đời nay sẽ giảm đi và chính cộng đồng địa phương sẽ là những người chủ thực sự, những người bảo vệ trung thành các giá trị tự nhiên và văn hóa bản địa nơi diễn ra hoạt động DLST
1.3 Tiếp cận địa lý học trong phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
1.3.1 Sự cần thiết phải sử dụng hướng tiếp cận địa lý học cho phát triển du lịch
Trong hoạt động nghiên cứu và phát triển du lịch, tổ chức lãnh thổ du lịch là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu Bởi, không thể tổ chức và quản lý
có hiệu quả hoạt động này nếu không xem xét khía cạnh không gian (lãnh thổ) của
nó Hệ thống lãnh thổ du lịch được tạo thành bởi nhiều thành tố có quan hệ qua lại mật thiết với nhau, trong đó phân hệ tài nguyên có vai trò đặc biệt quan trọng Cũng chính vì thế, các nhiệm vụ đặt ra cho các nhà nghiên cứu du lịch bao gồm:
- Nghiên cứu tổng hợp mọi loại tài nguyên du lịch, sự kết hợp của chúng theo lãnh thổ và xác định hướng khai thác có hiệu quả các loại tài nguyên này Tuy
nhiên, khi nghiên cứu chúng, ngoài việc xem xét một cách riêng lẻ (theo từng loại), cần phải tìm hiểu sự kết hợp tài nguyên theo lãnh thổ Sau đó là việc đánh giá tài
Trang 3226
nguyên trên những quan điểm nhất định (kinh tế, sinh thái…) Trên cơ sở đánh giá từng loại và sự kết hợp tài nguyên trên một lãnh thổ, lúc ấy mới có căn cứ để xác định phương thức khai thác
- Xác định cơ cấu lãnh thổ tối ưu của các vùng du lịch: cấu trúc sản xuất –
kỹ thuật của các vùng du lịch sao cho phù hợp với nhu cầu và tài nguyên du lịch; các mối liên hệ ngoại vùng, nội vùng và liên vùng (quốc gia); hệ thống tổ chức quản
lý các vùng du lịch nhằm khai thác hiệu quả những khác biệt theo lãnh thổ về nhu cầu, tài nguyên và sự phân công lao động trong lĩnh vực nghỉ ngơi du lịch
Tất cả các nhiệm vụ trên chỉ có thể được giải quyết thấu đáo theo hướng tiếp
cận địa lý Bởi, địa lý học là khoa học nghiên cứu các hợp phần tự nhiên, các quy luật và hiện tượng tự nhiên diễn ra trên bề mặt Trái Đất, mối tương tác giữa xã hội loài người và môi trường tự nhiên đây cũng chính là các yếu tố tạo thành tài
nguyên du lịch, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ, đến việc hình thành chuyên môn hóa và hiệu quả kinh tế của hoạt động du lịch
1.3.2 Cơ sở địa lý học phục vụ phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
1.3.2.1 Quan điểm nghiên cứu
a) Quan điểm hệ thống: Mặc dù giới hạn lãnh thổ nghiên cứu là vùng Đông
Bắc và VQG Ba Bể, huyện đảo Vân Đồn là hai địa bàn cụ thể để nghiên cứu điểm, song không có nghĩa là các lãnh thổ này được nghiên cứu như những lãnh thổ biệt lập, độc lập Việc nghiên cứu DLSTDVCĐ Đông Bắc phải được đặt trong một hệ thống chung đó là bối cảnh chung của du lịch Việt Nam Các giải pháp đưa ra cho vùng này không thể đối lập với các định hướng trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam Cũng như vậy, việc nghiên cứu du lịch nói chung, DLDVCĐ nói riêng ở VQG Ba Bể phải được đặt trong định hướng, quy hoạch du lịch tỉnh Bắc Kạn, du lịch dựa vào cộng đồng ở Vân Đồn phải được đặt trong định hướng, quy hoạch du lịch tỉnh Quảng Ninh Các giải pháp đưa ra cho 2 địa bàn này phải được đặt trong định hướng chung của du lịch tỉnh, hay nói cách khác là trong hệ thống chung cấp cao hơn
b) Quan điểm lãnh thổ: bất cứ một đối tượng địa lý đều gắn với một không
gian cụ thể Các đối tượng này phản ánh những đặc trưng của lãnh thổ, phân biệt giữa lãnh thổ này với lãnh thổ khác Đối với mỗi lãnh thổ, các đối tượng địa lý có
sự phân hóa nội tại và quy luật hoạt động riêng phụ thuộc chặt chẽ vào lãnh thổ đó
Trang 33Vận dụng quan điểm lãnh thổ nhằm xác định không gian nghiên cứu, phạm vi các thể tổng hợp địa lý tự nhiên, các nguồn lực phát triển DLSTDVCĐ và thể hiện chúng trên bản đồ phân vùng địa lý tự nhiên phục vụ phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng Trong đánh giá, các không gian đã được phân chia trong một lãnh thổ được sử dụng làm các đơn vị được đánh giá, xác định mức độ thuận lợi cho du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng Từ đó đưa ra được các định hướng, giải pháp mang tính tổng hợp và sát thực tế địa phương
c) Quan điểm lịch sử: nghiên cứu quá khứ để có được những đánh giá đúng
đắn hiện tại, phân tích nguồn gốc phát sinh, phát triển là cơ sở đưa ra các dự báo về
xu hướng phát triển Quan điểm này được vận dụng trong quá trình phân tích các giai đoạn chủ yếu của quá trình hình thành, phát triển hệ thống du lịch, các phân hệ cũng như xu hướng phát triển của hệ thống lãnh thổ Quan điểm lịch sử được thể hiện trong luận án thông qua những đánh giá, đề xuất phù hợp với giai đoạn lịch sử hiện nay về các mặt kinh tế, nhận thức dân trí
d) Quan điểm phát triển bền vững: phát triển bền vững là sự phát triển trong
đó đảm bảo sự hài hòa giữa các mục tiêu tăng cường kinh tế với các mục tiêu giữ gìn sự ổn định của văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường
Trong luận án, quan điểm này chỉ chi phối trong việc định hướng và giải pháp khai thác phát triển không gian và sản phẩm du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng vùng theo từng khu vực.Việc khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên nhằm mục đích mang lại hiệu quả kinh tế cao, ổn định xã hội, nâng cao thu nhập, đảm bảo cuộc sống người dân và bảo vệ môi trường
1.3.2.2 Các phương pháp nghiên cứu
a) Phương pháp nghiên cứu chủ đạo
(1) Phân vùng địa lý tự nhiên với phát triển du lịch bền vững
Theo V.I.Prokaep, phân vùng địa lý tự nhiên là sự phân chia và phân loại các địa tổng hợp trên một lãnh thổ nào đó Công tác phân vùng bao gồm cả việc phát hiện và đặt tên các địa tổng hợp, thể hiện chúng trên bản đồ và thuyết minh những đặc thù của chúng [64]
Phân vùng ĐLTN cần xét đến tất cả các hợp phần tự nhiên bởi tuy có quan hệ mật thiết và tác động tương hỗ lẫn nhau nhưng chúng có bản chất và sự phân hóa khác
Trang 34tự nhiên, phương pháp phân tích bản đồ kiểu cảnh quan, phương pháp nhân tố chủ đạo và phương pháp thực địa
Trên cơ sở phân tích các phương pháp phân vùng và đặc điểm phân hóa tự nhiên lãnh thổ, các phương pháp phân vùng ĐLTN khu vực Đông Bắc được sử dụng gồm:
- Phương pháp thực địa: được áp dụng nhằm đánh giá mức độ khả thi của lý
thuyết, tính phù hợp với thực tiễn khi tiến hành phân vùng nghiên cứu của luận án
- Phương pháp phân tích yếu tố trội: Cơ sở lý luận của phương pháp phân tích
yếu tố trội được thể hiện trong phản ánh các đặc trưng của tự nhiên, nó giải thích sự không đồng nhất cũng như vai trò của từng yếu tố hay thành phần trong thể tổng hợp tự nhiên tại một cấp phân vị nào đó Nó nhấn mạnh đến vị trí, vai trò của yếu tố này hay yếu tố khác cũng như mối liên hệ chặt chẽ giữa chúng với nhau trong một
hệ thống đồng nhất của tự nhiên…
- Phương pháp phân tích tổng hợp các thành phần tự nhiên: Thiên nhiên là
một hệ thống thống nhất trong đó các hợp phần tự nhiên có quan hệ chặt chẽ với nhau theo những quy luật khách quan Vì khi tiến hành phân vùng ĐLTN cho mục đích sử dụng hợp lý TNTN của lãnh thổ cần thiết phải áp dụng phương pháp phân tích tổng hợp các thành phần tự nhiên
Trang 35- Phương pháp phân tích, so sánh các bản đồ bộ phận: Việc so sánh, đối chiếu
các bản đồ bộ phận với nhau giúp rút ra được những đặc trưng giống và khác nhau
về ĐKTN giữa các cấp phân vùng, từ đó đưa ra được những chỉ tiêu khoa học thích hợp cho mỗi cấp phân vùng theo mục đích nghiên cứu
Các nguyên tắc trong phân vùng địa lý tự nhiên vùng Đông Bắc
Trên thế giới, trong các công trình nghiên cứu phân vùng ĐLTN, các tác giả
đã đưa ra những nguyên tắc phân vùng ĐLTN A.G.Ixatsenko (1969) đưa ra 2 nguyên tắc: tính chất khách quan, phát sinh hay lịch sử V.I.Prokaev đưa ra 6 nguyên tắc: khách quan, tính đồng nhất tương đối, phát sinh, cùng chung lãnh thổ,
so sánh và ưu tiên xét những qui luật phân vùng ĐLTN phổ biến [64] F.N Mincov đưa ra 4 nguyên tắc: cùng chung lãnh thổ, phát sinh, tổng hợp và đồng nhất tương đối [53] Trong các công trình phân vùng ĐLTN trên lãnh thổ Việt Nam, có rất nhiều các nguyên tắc phân vùng được đề cập Một số nguyên tắc được nhiều tác giả
sử dụng như Tổ phân vùng Địa lí tự nhiên, Ủy ban Khoa học Nhà nước; Vũ Tự Lập; Nguyễn Văn Nhưng và Nguyễn Văn Vinh đã đưa ra các nguyên tắc phân vùng bao gồm: Nguyên tắc phát sinh; nguyên tắc tổng hợp; nguyên tắc toàn vẹn lãnh thổ; đồng nhất tương đối; nguyên tắc khách quan [82], [43], [57]
Dựa trên các kết quả nghiên cứu và đặc điểm phân hóa tự nhiên lãnh thổ nghiên cứu, các nguyên tắc sử dụng phân vùng ĐLTN khu vực Đông Bắc gồm:
- Nguyên tắc phát sinh: Áp dụng nguyên tắc phát sinh nhằm giải quyết các vấn
đề về sự phát sinh, phát triển của các thể tổng hợp tự nhiên Mặc khác cho phép giải thích được nguồn gốc phát sinh của các thành phần tự nhiên và các thể tổng hợp tự nhiên cùng với các mối quan hệ tương tác giữa chúng Tuy nhiên, trên thực tế khó tái tạo và xác định đầy đủ nguồn gốc và lịch sử của các địa hệ ở các cấp khác nhau, mặt khác tuổi và lịch sử hình thành của mỗi đơn vị và mỗi thành phần tự nhiên cũng khác nhau, do vậy nguyên tắc phát sinh chỉ có thể giải thích sự phân dị lãnh thổ diễn
ra như thế nào, nguyên nhân gì và thời gian nào hình thành các cấp phân hóa lãnh thổ, mức độ thống nhất phát sinh nội tại của mỗi vùng… Do vậy, cần thiết phải kết hợp với các nguyên tắc khác trong quá trình phân vùng ĐLTN
Trang 3630
- Nguyên tắc tổng hợp: Để tiến hành phân vùng ĐLTN cần xem xét mọi khía
cạnh của thể tổng hợp tự nhiên trên mọi cấp phân vị, từ đó đề ra chỉ tiêu tổng hợp
tất cả đặc điểm của các yếu tố chung nhất để đưa vào một cấp phân vùng
- Nguyên tắc toàn vẹn lãnh thổ: nhấn mạnh đặc điểm toàn vẹn phát sinh của
lãnh thổ, nghĩa là mỗi lãnh thổ nhất định sẽ được thể hiện trên bản đồ bằng một
khoanh vi riêng với một tên gọi riêng
- Nguyên tắc yếu tố trội: Trong mỗi bậc của hệ thống phân vùng được đặc
trưng bởi một thành phần hoặc yếu tố tự nhiên nào đó chiếm ưu thế, song không là tuyệt đối Nhân tố chiếm ưu thế tại một phạm vi nhất định sẽ tạo ra sự phân hóa lãnh thổ nhất định Áp dụng nguyên tắc yếu tố trội sẽ giải quyết được sự phân cấp
trong hệ thống phân vị khu vực nghiên cứu
- Nguyên tắc đồng nhất tương đối: Tính đồng nhất tương đối được hiểu là mối
tương quan của các nhân tố hình thành vùng, làm nên tính riêng của mỗi vùng, tạo ra sự khác biệt với các vùng khác Như vậy, nguyên tắc đồng nhất được áp dụng để giải thích việc nhóm các lãnh thổ có ĐKTN gần nhau thì được đưa về một đơn vị phân vùng
- Hệ thống phân vị trong phân vùng địa lí tự nhiên
Trên thế giới, trong các công trình phân vùng ĐLTN, tác giả A.E Phêdina (1970b) đã đưa ra sơ đồ hệ thống phân vị khác nhau, phụ thuộc vào đặc điểm tự nhiên của mỗi khu vực được phân vùng Mỗi sơ đồ phân vị đều dựa trên những dấu hiệu nhận biết khác nhau
Kết quả tổng hợp cho thấy, lãnh thổ Việt Nam đã được nhiều tác giả người Pháp
và Liên Xô đã tiến hành phân vùng như J.Sion (1927), Ch.Robequain (1935, 1952),
P.Gourou (1931), T.N Sêglova (1957), V.M Fridland (1961) [trích 64]
Đối với các tác giả Việt Nam, cũng đã có nhiều công trình phân vùng Ở mỗi công trình, các tác giả đã xây dựng hệ thống các cấp phân vị và các dấu hiệu nhận
biết Mội số hệ thống phân vị tiêu biểu: Hệ thống 7 cấp: Á đại lục Xứ Đới Á đới MiềnÁ miền Vùng của Tổ Phân vùng Địa lí Tự nhiên Việt Nam [82]; hệ
thống các cấp phân vị và phân loại của Vũ Tự Lập [43]; hệ thống 3 cấp: Đới cảnh
quan Miền cảnh quan Vùng cảnh quan của Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng
Trang 37Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh [19] và hệ thống 5 cấp: Ô địa lí Á ô địa lí Đới địa
lí Miền địa lí Vùng địa lí của Nguyễn Văn Nhưng, Nguyễn Văn Vinh [57]
Mỗi hệ thống phân vị đều được phân chia theo những nguyên tắc, phương pháp
khác nhau và có những dấu hiệu nhận biết cụ thể theo từng cấp phân vị
Dựa trên cơ sở lý luận về phân vùng ĐLTN và đặc điểm phân hóa về ĐKTN
khu vực nghiên cứu, NCS đã lựa chọn hệ thống phân vị gồm 3 cấp (Hình 1.1):
Hình 1.1 Sơ đồ các cấp phân vị phân vùng địa lý tự nhiên
(2) Đánh giá các điều kiện tự nhiên, tài nguyên phục vụ mục đích phát triển du lịch
Đánh giá điều kiện địa lý và tài nguyên cho mục đích phát triển du lịch là xác định giá trị của các hợp phần tự nhiên phù hợp cho việc khai thác phát triển du lịch Đánh giá tài nguyên du lịch được xác định theo các tính chất của tài nguyên bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn [47] Do vậy, trong nội
dung nghiên cứu của luận án, đánh giá điều kiện địa lý và tài nguyên chính là đánh giá tổng hợp mức độ thuận lợi của tài nguyên du lịch nhằm xác định khả năng khai thác vàphát triển DLSTDVCĐ vùng Đông Bắc Việt Nam
- Các phương thức đánh giá tổng hợp tài nguyên du lịch bao gồm:
+ Đánh giá định tính, là những nhận định về đặc điểm, tính chất của các đối
tượng hoặc lãnh thổ nghiên cứu nhằm mục đích phục vụ cho từng mục tiêu sử dụng
cụ thể Đánh giá định tính cần đảm bảo các yêu cầu: (1) đảm bảo được tính hiệu quả (hiệu quả và lợi ích kinh tế, hiệu quả và lợi ích xã hội, hiệu quả và lợi ích môi trường); (2) đảm bảo được các giá trị (giá trị thưởng thức, giá trị lịch sử, giá trị khoa học, giá trị sử dụng); (3) đáp ứng được các điều kiện (điều kiện giao thông, điều kiện kinh tế, điều kiện cảnh quan, điều kiện dung lượng, điều kiện thi công, điều kiện thị trường)
Vùng
Á vùng
Tiểu vùng
Trang 3832
Đối với đánh giá tổng hợp mức độ thuận lợi của tài nguyên du lịch, phương pháp này cho phép đánh giá ở mức độ: nhiều hay ít, phù hợp hay không phù hợp, thuận lợi hay không thuận lợi đối với hoạt động du lịch ở một điểm, theo quy mô nhỏ
+ Đánh giá định lượng, là quy về các chỉ tiêu và cho điểm từng đối tượng
được đánh giá theo những mục tiêu đã đặt ra Tuy nhiên, không phải bao giờ cũng
có thể sử dụng phương pháp định lượng; do đó trong một số trường hợp, có thể áp dụng phương thức đánh giá bán định lượng trong quá trình nghiên cứu
Đánh giá định tính, định lượng hay bán định lượng các điều kiện tự nhiên và tài nguyên đều nhằm phục vụ cho mục tiêu khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên Thông thường, các nghiên cứu áp dụng quy trình đánh giá định tính sơ bộ trên cơ sở kết quả phân tích hiện trạng, tiếp theo sẽ tiến hành đánh giá định lượng để đưa ra những chính sách quản lý, kịch bản quy hoạch và tổ chức lãnh thổ cho các mục tiêu phát triển
- Mục đích và các kiểu đánh giá
Đánh giá định lượng là các kết quả phải quy về được các đơn vị đo lường cụ thể: số lượng, khối lượng, kích thước Đánh giá định tính là đưa ra được những nhận định về mặt tính chất của sự vật, hiện tượng
Trong đánh giá TNDL, Mukhina đã cho rằng: “Đánh giá tài nguyên du lịch là phân loại các TNDL theo mức độ thuận lợi của chúng cho các hoạt động du lịch nghỉ dưỡng của con người, liên quan tới tất cả các LHDL, đồng thời cũng có thể cho một LHDL cụ thể” Còn Boniface và Cooper: “Đánh giá TNDL là xác định mức độ thuận lợi, phù hợp của các tài nguyên cho các LHDL khác nhau” [26]
Như vậy, mục đích của việc đánh giá TNDL phục vụ PTDL là nhằm xác định mức độ thuận lợi của tài nguyên đối với các hoạt động du lịch nói chung và từng LHDL, điểm du lịch nói riêng Trên cơ sở đó đề ra phương hướng và biện pháp cụ thể nhằm sử dụng tài nguyên một cách hiệu quả nhất, trên cơ sở bảo tồn và phát triển tài nguyên
Theo Đặng Duy Lợi, đánh giá TNDL phục vụ PTDL gồm các kiểu như sau:
Trang 39+ Đánh giá thẩm mỹ: xác định mức độ cảm giác và phản ứng tâm lí của khách
du lịch đối với TNDL Cơ sở đánh giá dựa trên những thống kê điều tra xã hội học
+ Đánh giá sinh học: Đánh giá các tiêu chí khí hậu, thời gian thích hợp của
khí hậu đối với sức khỏe con người hoặc cho các hoạt động du lịch
+ Đánh giá kĩ thuật: Dựa trên một số chỉ tiêu kỹ thuật của các tiêu chí tự
nhiên, nhân văn để xác định giá trị tài nguyên đối với PTDL, làm cơ sở cho đánh giá mức độ phân hóa lãnh thổ du lịch, xác định các điểm, tuyến du lịch, khu du lịch
- Đánh giá kinh tế: là kiểu đánh giá mà kết quả của nó sẽ là giá trị tiền tệ cụ thể [56]
Như vậy, đánh giá TNDL và các nguồn lực phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng là một kiểu đánh giá kỹ thuật mà nhiệm vụ xác định mức độ thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng theo từng khu vực địa lý Đánh giá TNDL có thể tiến hành đánh giá các thể tổng hợp tự nhiên và nhân văn có khả năng khai thác cho du lịch [47]
-Phương pháp đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên phục vụ phát triển DLSTDVCĐ
Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên để phục vụ mục đích phát triển du lịch là phương pháp đánh giá truyền thống đặc trưng cho nghiên cứu địa lý ứng dụng - là dạng đánh giá nhằm thể hiện mức độ thích hợp (thuận lợi) theo khía cạnh tự nhiên của cảnh quan và các hợp phần của chúng đối với dạng hoạt động kinh tế nào đó Mức độ thuận lợi của các địa tổng thể thường được thể hiện ở dạng điểm hoặc cấp dựa vào nhu cầu sinh thái của loại hình sử dụng và tiềm năng tự nhiên của địa tổng thể Đánh giá TNDL trên một lãnh thổ có thể thực hiện đánh giá theo các đơn vị thể tổng hợp ĐLTN [32]
Phương pháp đánh giá có thể tiến hành đánh giá theo từng thành phần Tuy nhiên, do tính chất tổng hợp của tài nguyên, của các thể tổng hợp ĐLTN đòi hỏi phải tiến hành đánh giá tổng hợp nhằm xác định giá trị đích thực và khả năng khai thác thực tế của tài nguyên Trong thực hiện đề tài, việc sử dụng phương pháp này nhằm xác định mức độ thuận lợi (tốt, trung bình, kém) của TNDL (TNDL tự nhiên,
Trang 4034
TNDL nhân văn) và điều kiện sinh khí hậu cho PTDL trên quan điểm PTBV Phương pháp đánh giá thích nghi sinh thái có thể thực hiện theo 3 bước:
Bước 1: Xây dựng thang đánh giá
Đây là bước quan trọng và quyết định nhất tới kết quả đánh giá bao gồm việc lựa chọn các tiêu chí đánh giá, xác định các bậc, chỉ tiêu, điểm cho mỗi bậc và trọng
số của từng tiêu chí
Tiêu chí được xác định dựa trên đặc điểm, yêu cầu của chủ thể đánh giá Các tiêu chí phải có sự phân hóa trên lãnh thổ nghiên cứu và ảnh hưởng rõ rệt đến chủ thể đánh giá Mỗi tiêu chí thường được đánh giá theo các bậc, gồm 3, 4 hoặc 5 bậc với các mức độ thuận lợi khác nhau Để đảm bảo tính khách quan và mang tính định lượng, mỗi bậc đánh giá được cho bằng một điểm số xác định
Trên thực tế, các tiêu chí lựa chọn thường có tính chất, mức độ và giá trị không đồng đều Vì thế để đảm bảo tính chính xác và khách quan của kết quả đánh giá cần xác định thêm trọng số cho các tiêu chí Trọng số có thể xác định bằng nhiều cách: theo ý kiến chuyên gia, phân tích hệ số hồi quy tuyến tính, phân tích chỉ
số kinh tế v.v…
Để đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên phục vụ mục đích phát triển DLSTDVCĐ vùng Đông Bắc, NCS xác lập các tiêu chí đánh giá dựa vào các nguồn lực cụ thể: điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và văn hóa; các điều kiện
về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch cùng sức hấp dẫn du lịch
trong phạm vi một vùng/tiểu vùng Mỗi tiêu chí phân chia làm 4 bậc đánh giá (RTL: Rất thuận lợi, TL: Thuận lợi, TĐTL:Tương đối thuận lợi và ITL: Ít thuận lợi) dựa
trên chỉ tiêu riêng và điểm số tương ứng từ cao xuống thấp Các chỉ tiêu riêng được xác lập dựa trên các kết quả nghiên cứu, điều tra, thực nghiệm, hỏi ý kiến chuyên gia và bằng trực giác trên cơ sở tích lũy các kinh nghiệm
Trọng số của các tiêu chí được xác định bằng ma trận tam giác - là phương pháp so sánh các tiêu chí theo tầm quan trọng hay mức độ ảnh hưởng của chúng đối với yêu cầu sinh thái của các dạng sử dụng Quá trình so sánh được tiến hành theo
từng cặp các yếu tố dưới hình thức đặt câu hỏi: “đối với dạng sử dụng X, yếu tố nào