1 PHẦN I – ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam có chiều dài bờ biển trên 3 000 km, có thể nói đây là điều kiện thuận lợi của nước ta trong phát triển lĩnh vực nuôi trồng thủy sản nói chung và lĩnh vực nuôi tôm nước l[.]
Trang 1PHẦN I – ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam có chiều dài bờ biển trên 3.000 km, có thể nói đây là điều kiệnthuận lợi của nước ta trong phát triển lĩnh vực nuôi trồng thủy sản nói chung và lĩnhvực nuôi tôm nước lợ nói riêng Với đặc điểm kiến tạo địa hình, khí hậu, nguồnnước và chế độ thủy văn đặc biệt lại ở vùng bãi triều được đánh giá là có tiềm nănglớn đối với nuôi thủy sản nước lợ, trong đó con tôm nước lợ được chọn là thủy sản
nuôi chủ lực Năm 2009, Việt Nam là một trong 5 nước xuất khẩu tôm lớn nhất thế
giới với kim ngạch xuất khẩu tôm đạt gần 210.000 tấn, trị giá trên 1,67 tỷ USD,trong đó tôm thẻ chân trắng đạt hơn 50.000 tấn, kim ngạch hơn 300 triệu USD Năm
2010 dự báo sản lượng tôm thẻ chân trắng năm nay sẽ tăng gấp ba lần năm 2009, cókhả năng lên 150.000 tấn, do vậy kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng gấp hai lần, ước đạt500-600 triệu USD, chiếm một phần ba kim ngạch xuất khẩu tôm của cả nước
Thị trường tiêu thụ sản phẩm tôm khá đa dạng, sôi động, qua nhiều “mắtxích” và mang thuộc tính của thị trường hoàn hảo tương đối cao Tuy nhiên, đếnnay hoạt động của nó vẫn chưa theo một hệ thống thống nhất, giá sản phẩm không
ổn định, khâu thu mua có nhiều vấn đề gây bức xúc trên thị trường mà nhà nông làngười chịu thiệt thòi nhất
Hà Tĩnh là địa phương có nhiều thuận lợi để phát triển NTTS, có bờ biển dài
137 km, nhiều cửa sông lớn, có nhiều hồ đập, nguồn nước ngầm tự chảy, nguồnthức ăn đa dạng phong phú nên phù hợp cho phát triển NTTS Thời gian qua, ngànhthủy sản nói chung và lĩnh vực nuôi tôm nói riêng đã và đang đóng góp đáng kể chonền kinh tế Tỉnh nhà, tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động Nhờ đó, nóđược xác định là ngành kinh tế mũi nhọn ở Hà Tỉnh
Tuy nhiên, quy mô nuôi trồng thủy sản phổ biến ở dạng quy mô nhỏ, phươngthức canh tác truyền thống, nhỏ lẻ, manh mún và tự phát; việc phát triển nuôi tômmột cách ồ ạt, quản lý không phù hợp đã làm hiệu quả nghề nuôi tôm giảm sút domôi trường ô nhiễm, dịch bệnh tràn lan; tiêu thụ tôm gặp nhiều khó khăn do bị épgiá, ép cấp; hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc chế biến và bảo quản tôm chưa
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 2tốt; người nông dân còn rất hạn chế trong việc tiếp cận thông tin thị trường; việcgắn kết giữa bốn khâu sản xuất - thu mua - chế biến - tiêu thụ tôm chưa thật chặtchẽ, đã làm giảm tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, nhất là sản phẩmtôm xuất khẩu.
Từ những vấn đề trên, tôi đã chọn đề tài“Tiêu thụ tôm trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh” làm luận văn tốt nghiệp cao học của mình.
Mục tiêu nghiên cứu
+ Phân tích tình hình tiêu thụ tôm trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
+ Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiêu thụ tôm trên địa bàntỉnh Hà Tĩnh
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề kinh tế trong quá trình tiêu thụ tômcủa các hộ nông dân với chủ thể là các thành viên tham gia trong chuỗi tiêu thụ tômtrên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu chuỗi cung sản phẩm tôm từ người sản xuất đếnngười tiêu dùng cuối cùng
- Về không gian nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tình hình tiêu thụ tôm trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
- Về thời gian nghiên cứu
+ Các thông tin, số liệu thứ cấp lấy từ năm 2003 đến năm 2009
+ Thông tin sơ cấp về tình hình nuôi tôm năm 2009
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 3Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp duy vật lịch sử và duy vật biện chứng, đây là phương phápchung sử dụng xuyên suốt đề tài
- Phương pháp thu thập số liệu:
+ Số liệu sơ cấp: Để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, tôi đã tiến hànhphỏng vấn 90 hộ nông dân ở 4 huyện: Huyện Nghi Xuân, Huyện Lộc Hà, HuyệnCẩm Xuyên, Huyện Kỳ Anh Cơ cấu mẫu như sau: Nghi Xuân 15 hộ, Lộc Hà 15 hộ,Cẩm Xuyên 30 hộ, Kỳ Anh 30 hộ
Bên cạnh đó tôi có phỏng vấn 15 người bán buôn nhỏ trong tỉnh, 5 người bánbuôn lớn ngoài tỉnh và Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Nam Hà Tĩnh
+ Số liệu thứ cấp được thu thập từ: Chi cục nuôi trồng thủy sản Hà Tĩnh, CụcThống Kê Hà Tĩnh, Sở Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Hà Tĩnh
- Phương pháp thống kê: Phương pháp thống kê được sử dụng để phân tíchcác số liệu liên quan đến đề tài
- Phương pháp sơ đồ: sử dụng phương pháp này để mô tả các kênh tiêu thụtôm từ hộ nông dân đến người tiêu dùng cuối cùng
- Phương pháp chuyên gia: Dựa trên kết quả phân tích cùng với sự tham khảo
ý kiến của các chuyên gia nhằm đưa ra những nhận xét đúng đắn và giải pháp hợp
lý để nâng cao khả năng tiêu thụ tôm
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 4PHẦN II – NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG I – TỔNG QUAN VỀ TIÊU THỤ THỦY SẢN
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TIÊU THỤ THỦY SẢN NÓI CHUNG VÀ TÔM NÓI RIÊNG
1.1.1 Khái niệm về tiêu thụ thủy sản
Tiêu thụ là tất cả các hoạt động liên quan điến sự lưu chuyển của hàng hóa vàdịch vụ từ người cung cấp đến tay người tiêu dùng cuối cùng để thỏa mãn nhu cầungười tiêu dùng thông qua trao đổi hàng hóa và dịch vụ trên thị trường [6]
Thực chất của tiêu thụ sản phẩm là quá trình người sản xuất sử dụng cáctrung gian hoặc trực tiếp giao quyền sở hữu hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùngcuối cùng, đồng thời tạo doanh thu thông qua việc thu tiền hoặc nhận quyền thuhàng hóa, dịch vụ đã bán
Tiêu thụ sản phẩm thủy sản được thể hiện trên kênh lưu thông qua nhiềucấp và nhiều khâu khác nhau Tùy theo trình độ phát triển của mỗi nền sản xuất,lưu thông hàng hóa và tính chất của từng loại sản phẩm mà kênh tiêu thụ có thểngắn hoặc dài, trực tiếp hay gián tiếp Nghĩa là sản phẩm từ người sản xuất đếnngười tiêu dùng cuối cùng có thể trực tiếp thông qua khâu trung gian hoặc giántiếp phải qua nhiều khâu trung gian Sản phẩm thủy sản trực tiếp tới tay người tiêudùng dưới hình thức bán lẻ ở ngay các ngư trại nuôi trồng thủy sản, hoặc có thể ởcác làng cá trên bờ biển, hoặc có thể bán lẻ ở các chợ nông thôn và thành phố Sảnphẩm thủy sản lưu thông tới tay người tiêu dùng có thể trải qua nhiều khâu trunggian như: thương mại thu gom sản phẩm, chế biến, người bán buôn, người bán lẻ,người tiêu dùng …
1.1.2 Đặc điểm trong sản xuất và kinh doanh thủy sản nói chung
Thủy sản là một bộ phận của nông nghiệp theo nghĩa rộng, nên sản xuất kinhdoanh thủy sản có những đặc điểm tương tự những đặc điểm của sản xuất kinhdoanh nông nghiệp nói chung Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của đối tượng laođộng nên biểu hiện của những đặc điểm chung trong ngành thủy sản lại có nhữngnét riêng
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 5Đối tượng sản xuất là các sinh vật sống trong nước
Các loài động thực vật sống trong môi trường nước mặt là đối tượng sản xuấtcủa ngành thủy sản Môi trường nước mặt cho sản xuất thủy sản gồm có biển và cácmặt nước trong nội địa Những sinh vật sống trong môi trường nước, với đặc tính làđối tượng lao động của ngành thủy sản nên có một số đặc điểm đáng lưu ý sau:
- Về trử lượng khó xác định một cách chính xác trử lượng thủy sản có trongmột ao hồ hay ngư trường Đặc biệt ở các vùng mặt nước rộng lớn, các sinh vật cóthể di chuyển tự do trong ngư trường hoặc di chuyền từ vùng này đến vùng kháckhông phụ thuộc vào ranh giới hành chính Hướng di chuyển của các luồng tôm cáchịu tác động của nhiều yếu tố như thời tiết khí hậu, dòng chảy và đặc biệt là nguồnthức ăn tự nhiên
- Các loài sinh vật trong nước sinh trưởng và phát triển chịu sự tác động củađiều kiện thời tiết, khí hậu, dòng chảy, địa hình, thủy văn Trong nuôi trồng thủysản, cần tạo những điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển cao của các loàithủy sản như: tạo dòng chảy bằng máy bơm, tạo ôxi bằng quạt sục nước
- Các sản phẩm thủy sản đánh bắt đều rất dễ ươn thối, hư hỏng vì chúng đều lànhững sản phẩm sinh vật đã bị tách ra khỏi môi trường sống Để tránh tổn thất trongsản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm đòi hỏi sự liên kết chặt chẻ giữa các khâu
từ khai thác, nuôi trồng đến chế biến và kinh doanh tiêu thụ sản phẩm, từ khai thácđến đầu tư tái tạo nguồn lợi, đầu tư cơ sở hạ tầng dịch vụ một cách đồng bộ
- Cần có những nghiên cứu cơ bản để nắm vững qui luật sinh trưởng và pháttriển của từng giống, loài thủy sản như qui luật sinh sản, sinh trưởng, di cư, qui luậtcạnh tranh quân đoàn, các tập tính ăn hay tự vệ Trên cơ sở đó triển khai thực hiệncác biện pháp nuôi trồng, khai thác phù hợp với yêu cầu nâng cao hiệu quả kinh tế,bảo vệ và phát triển nguồn lợi, bảo đảm phát triển bền vững của ngành [16]
Thủy vực là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế
Các loại mặt nước bao gồm: sông, hồ, ao, mặt nước ruộng, cửa sông, biển gọi chung là thủy vực được sử dụng vào nuôi trồng và đánh bắt thủy sản Tương tựnhư ruộng đất sử dụng vào sản xuất nông nghiệp, thủy vực là tư liệu sản xuất đặc
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 6biệt, chủ yếu không thể thay thế của ngành thủy sản Không có thủy vực sẽ không
có sản xuất thủy sản Do vậy, để sử dụng có hiệu quả và bảo vệ thủy vực trongngành thủy sản cần chú ý những vấn đề sau:
- Thực hiện qui hoạch các loại hình thủy vực và xác định hướng sử dụngthủy vực cho ngành thủy sản Trong qui hoạch cần chú ý những thủy vực có mụcđích sử dụng chính vào nuôi trồng thủy sản cần kết hợp các hướng kinh doanh khác,còn những thủy vực được qui hoạch sử dụng cho mục đích phát triển giao thông,thủy điện là chính thì cần kết hợp hợp lý với việc phát triển thủy sản để nâng caohiệu quả sử dụng thủy vực
- Chú trọng việc bảo vệ môi trường nước, kể cả nước biển Thực hiện nhữngbiện pháp hữu hiệu để ngăn chặn mọi nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước.Mặt khác, phải thường xuyên cải tạo thủy vực, tăng nguồn dinh dưỡng cho các thủysinh vật nhằm nâng cao năng suất sinh học của thủy vực
- Sử dụng thủy vực một cách tiết kiệm, đặc biệt cần hạn chế chuyển đổi mụcđích sử dụng thủy vực là các ao, hồ sang đất sử dụng cơ bản hay mục đích khác [16]
Ngành thủy sản là ngành sản xuất vật chất có tính hỗn hợp và tính liên ngành cao
Cơ cấu sản xuất ngành thủy sản (hay còn gọi là cơ cấu ngành) là tập hợp các
bộ phận những hoạt động sản xuất thủy sản tương tự nhau và mối quan hệ tương tácgiữa các bộ phận đó hợp thành hệ thống sản xuất kinh doanh thủy sản Cơ cấungành thủy sản được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của lực lượngsản xuất, phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất, hình thành nênhai bộ phận sản xuất chủ yếu là nuôi trồng thủy sản và công nghiệp thủy sản vớinhững chức năng khác nhau:
- Nuôi trồng thủy sản: bộ phận sản xuất có tính chất nông nghiệp, thườngđược gọi là ngành nuôi trồng thủy sản, có chức năng duy trì, bổ sung tái tạo và pháttriển nguồn lợi thủy sản để cung cấp sản phẩm trực tiếp cho tiêu dùng, xuất khẩu vànguyên liệu cho công nghiệp chế biến và các ngành khác
- Công nghiệp thủy sản: bộ phận sản xuất có tính chất công nghiệp bao gồmkhai thác và chế biến thủy sản Những hoạt động này có nhiệm vụ khai thác nguồn
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 7lợi thủy sản và chế biến chúng thành các sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của
xã hội và xuất khẩu
- Ngoài ra, để phục vụ sản xuất kinh doanh còn có các hoạt động sản xuấtphụ trợ và phục vụ khác như: đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, sản xuất nước đá,sản xuất bao bì, ngư cụ… Tất cả các hoạt động sản xuất phụ trợ và phục vụ nói trêncùng với nuôi trồng và công nghiệp thủy sản có mối quan hệ chặt chẻ với nhau tạothành cơ cấu ngành thủy sản Cơ cấu ngành thủy sản Việt Nam có thể được minhhọa đơn giản như sau [16]
- Chế biếnđông lạnh
- Đóng sửa tàu thuyền
- Sản xuất sửa chữa ngư cụ
- Sản xuất thức ăn cho nuôitrồng
Sản xuất kinh doanh thủy sản đòi hỏi đầu tư ban đầu lớn, độ rủi ro cao
Hầu hết các hoạt động nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thủy sản đều đòi hỏi đầu
tư ban đầu tương đối lớn Trong hoạt động nuôi trồng, nếu không kể những hoạt độngnuôi cá trong ao hồ có sẵn, nuôi cá ruộng, nuôi lồng ở sông suối thì hầu hết các hoạtđộng đầu tư nuôi thủy sản đều cần vốn lớn như: đào ao thả cá trên đất canh tác hiệuquả thấp được chuyển đổi mục đích sử dụng, đầu tư cải tạo đầm nuôi thủy sản ở venbiển, cửa sông … Trong hoạt động đánh bắt, nhất là đánh bắt xa bờ đòi hỏi vốn đầu
tư đóng mới tàu thuyền lên tới hàng tỷ đồng Nhu cầu đầu tư vốn ban đầu tương đốilớn cho phát triển của các hoạt động kinh tế như trên là vượt quá khả năng tự tích lũy
và đầu tư của từng chủ thể kinh tế trong ngành thủy sản, đặc biệt là khả năng của các
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 8hộ Do vậy, để phát triển thủy sản, nhà nước phải xây dựng và thực hiện chính sáchcho vay vốn theo các chương trình phát triển riêng của ngành này như: Cho vay trongchương trình khai thác xa bờ, tín dụng đầu tư xây dựng các cơ sở hậu cần dịch vụnghề cá theo qui hoạch…
Sản xuất nuôi trồng và đánh bắt thủy sản phụ thuộc nhiều vào điều kiện tựnhiên nhất là điều kiện thủy văn, bão, lũ Đối với những nước như nước ta có bờbiển dài, diễn biến bão lũ phức tạp, nhiều trận bão lũ lớn đã gây thiệt hại nặng chonghề nuôi trồng thủy sản của cả một vùng hay một địa phương Trong nhiều trườnghợp, thiên tai có thể gây thiệt hại cả đến tính mạng của ngư dân, nhất là ngư dân làmnghề đánh bắt ngoài khơi Để hạn chế tối đa những hậu quả có thể gây ra do thiêntai và khắc phục hậu quả thiên tai nhằm nhanh chóng phục hồi sản xuất, cần chú ýnhững vấn đề chủ yếu sau:
- Cần đầu tư các phương tiện thực hiện dự báo khí tượng thủy văn phát hiện
và cảnh báo sớm các thiên tai như bão biến, lũ lụt … cho ngư dân Xây dựng cácvùng tránh bão cho tàu thuyền đành cá, xây dựng lực lượng cứu hộ, cứu nạn chuyênnghiệp để bảo vệ tài sản và tính mạng của ngư dân
- Ban hành và thực thi những chính sách ưu đãi cho các vùng, các hoạt độngkinh doanh nuôi trồng, khai thác hay chế biến của các chủ thê kinh doanh để khắcphục rủi ro hay thiên tai nhằm nhanh chóng ổn định đời sống và phát triển sản xuất
- Cần từng bước nghiên cứu xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm đốivới các hoạt động sản xuất kinh doanh trong ngành thủy sản
Ngoài những đặc điểm chung như trình bày trên, ngành thủy sản Việt Namcòn có những đặc điểm riêng đáng lưu ý sau đây:
- Thủy vực và nguồn lợi thủy sản Việt Nam đa dạng và khá phong phú Đốivới nước ta, nếu không kể tiềm năng mặt nước và nguồn lợi thủy sản nội địa, ta còn
có tiềm năng về biển cho phát triển thủy sản Biển Đông của Việt Nam có diện tích3.447 ngàn Km2, độ sâu trung bình 1.140m và bờ biển dài trên 3.260 km, khá dồidào về nguồn lợi sinh vật biển Nguồn lợi sinh vật biển có khoảng 11.000 loài độngvật và thực vật biển, trong đó: động vật nổi có 468 loài, động vật đáy có 6.377 loài,
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 9cá biển có hơn 2000 loài thuộc 717 giống, 178 họ, tôm biển có 225 loài… Ngoài racòn nhiều loại động thực vật biển phong phú và có giá trị khác như: chim biển, thúbiển, thực vật nổi và thực vật ngập mặn… Với tiềm năng mặt nước lớn và nguồn lợithủy sản phong phú, Việt Nam hoàn toàn có thể và cần thiết phải phát triển ngànhthủy sản thành một ngành kinh tế mũi nhọn của khu vực nông, lâm, thủy sản trên cơ
sở những thuận lợi chủ yếu là:
Chủng loại thủy sản nuôi trồng khá phong phú với nhiều giống loài từ nhiệtđới đến ôn đới như cá trê phi, rô phi, cá chim trắng, tôm thẻ chân trắng, bống tượng,trắm cỏ, chép lai…
Khả năng nuôi trồng và khai thác thủy sản có thể diễn ra quanh năm, trong khi
ở các nước xứ lạnh chỉ có thể nuôi trồng, khai thác một vụ với quy mô lớn ngoài trời
Giống loài động thực vật trong nước đa dạng, đặc biệt có nhiều loài có giá trịkinh tế và xuất khẩu cao
Tuy nhiên do điều kiện địa hình và thủy vực phức tạp, lại nằm trong vùng cónhiều mưa, bão, lũ, rét và hay bị hạn vào mùa đông gây ra những kho khăn, thậmchí những tổn thất trong phát triển nuôi trồng và khai thác thủy sản
- Ngành thủy sản Việt Nam hiện nay đang ở trình độ thấp, có mặt còn lạchậu, đang trong quá trình đổi mới để phát triển và hội nhập Do vậy, cần chú ýnhững vấn đề chủ yếu sau:
Xây dựng và thực hiện việc qui hoạch phát triển ngành thủy sản theo hướngtăng trưởng ổn định và bền vững đối với tất cả các khâu từ nuôi trồng, khai thác,đến chế biến và tiêu thụ, kể cả tiêu thụ trong nước và xuất khẩu
Từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cho ngành thủy sản, tậptrung vào việc xây dựng các vùng nuôi trồng đủ tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật, đầu tưcho chế biến và các cơ sở hạ tầng phục vụ khác
Nhanh chóng áp dụng các thành tựu về khoa học và quản lý trong phát triểnngành Tăng cường năng lực hoạt động của mạng lưới khuyến ngư từ Trung ươngđến đại phương để hỗ trợ kỹ thuật và kiến thức cho người sản xuất
Tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ đồng bộ để đáp ứng yêu cầu phát triểnngành thủy sản
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 101.1.3 Đặc điểm sản xuất và tiêu thụ tôm
Cũng giống các loại thủy sản khác, sản phẩm tôm cũng là một sản phẩmhàng hóa vì vậy tiêu thụ tôm cũng mang những đặc điểm của tiêu thụ thủy sản
Giá cả dễ biến động nhanh
Giá cả của sản phẩm thủy sản có thể thay đổi đáng kể và đột ngột trong vòngmột ngày hoặc một tuần Mức độ biến động giá do cung cầu điều phối kém hoặc dokhông thể bảo quản lâu mà phải bán ngay Do đó, giá của sản phẩm thủy sản có xuhướng giảm nhiều vào cuối ngày hoặc khi có một lượng thủy sản lớn đột ngột xâmnhập làm cung vượt quá nhu cầu của thị trường
Ví dụ: Biến động giá tôm sú loại 30con/kg tại một số địa phương năm 2009
Bảng 1.1 - Biến động giá tôm tại một số địa phương
Ví dụ: Giá tôm tại tỉnh Kiên Giang năm 2008 Hồi đầu vụ tôm loại 20 con/kgthương lái thu mua giá 150.000 đồng/kg, gần cuối vụ chỉ còn khoảng 110.000đồng/kg
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 11Biểu đồ 1.1 - Biến động giá tôm tại một số địa phương
(Nguồn: AGRODATA)
Giao động mạnh về giá giữa các năm
Giá sản phẩm thủy sản thường giao động mạnh giữa các năm bởi những lý
do sau Điều kiện tự nhiên như thời tiết, dịch bệnh là những nguyên nhân chủ yếugây ra giao động giá do tác động của nó tới cung Ví dụ, nếu thời tiết bất lợi sẽ làmcho sản phẩm tôm bị bệnh chết hàng loạt dẫn đến giá tăng Ngược lại, nếu thời tiếtthuận lợi tôm không mắc bệnh như vậy sản lượng tăng dẫn đến lượng tôm trên thịtrường nhiều, giá có xu hướng giảm Sản phẩm tôm cũng tuân theo quy luật của cácsản phẩm nông nghiệp khác là mất mùa giá tăng, được mùa thì giá giảm
Phản ứng của nông dân đối với những hiện tượng trên càng làm giá cả biếnđộng mạnh hơn Khi giá của sản phẩm tôm tăng lên nông dân lại đua nhau đi nuôitôm bằng cách mở rộng diện tích nuôi và thâm canh sản xuất trong những vụ tiếptheo làm cho lượng cung vượt quá cầu và dẫn tới giá giảm trong vụ thu hoạch sau.Khi giá giảm họ lại cùng nhau giảm sản xuất khi đó giá sản phẩm của vụ thu hoạch
đó lại tăng lên
Biểu đồ giá tôm sú tại một số địa phương
0 20000 40000 60000 80000 100000
Bạc Liêu Kiên Giang
Cà Mau
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 12Ví dụ: Giá tôm thẻ chân trắng năm 2008 là 80.000 – 100.000 đ/kg, năm 2009giá tôm thẻ chân trắng 100 con/kg giá từ 40.000 đến 50.000đ/kg [8].
Tính rủi ro cao
Rủi ro cao là đặc điểm cơ bản của thị trường hàng hóa thủy sản nói chung vànuôi tôm nói riêng, người ta ví nuôi tôm là “canh bạc trên chiếu cát” Giá cả biếnđộng là nguyên nhân chính của rủi ro trong nuôi tôm, một nguyên nhân khác cũngảnh hưởng rất lớn đến hoạt động nuôi tôm đó là dịch bệnh Một yếu tố rủi ro khác làhao hụt sản phẩm do thối hỏng, sản phẩm thủy sản dễ bị ươn thối do không cóphương tiện bảo quản, thời gian vận chuyển, lưu kho dài Những yếu tố này đều dẫnđến sự thua thiệt về tài chính đối với nông dân và thương nhân
Ví dụ: Trường hợp ông Lê Phúc Thái (Xã Kỳ Thư – Kỳ Anh), vụ nuôi năm
2009, ông thả gần 30 vạn con giống, dù đã tuân thủ nghiêm quy trình, thực hiệnđúng kỹ thuật nuôi nhưng chỉ thời gian ngắn bỗng nhiên tôm chết nổi trắng hồ khiếnông mất trắng hàng chục triệu đồng
Chi phí giao dịch và chi phí tiếp thị cao
Chênh lệch giá bán từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng thườngrất cao Nguyên nhân chính dẫn đến sự chênh lệch này là do:
- Quy mô nuôi trồng thủy sản của các hộ nông dân còn rất nhỏ, lại nằm ở cácvùng sâu, vùng xa Vì thế, làm tăng chi phí thu gom, chi phí vận chuyển do cácthương nhân phải đi đến tận nơi để thu mua
- Sau khi thu gom về, các thương nhân phải phân loại, bảo quản, sơ chế hoặctinh chế sản phẩm, đóng gói Công việc này cũng làm tăng chi phí
- Hao hụt hoặc giảm phẩm cấp sản phẩm do bị ươn, thối cũng là nguyên nhânlàm tăng chi phí
- Ngoài ra thương nhân còn phải trả thêm các khoản chi phí khác như: chi phíbảo quản, cất giữ, chi phí lao động và lợi nhuận cho tất cả những hoạt động diễn ratrong khâu trung gian này
Những khoản chi phí này sẽ làm cho giá trị sản phẩm tăng lên Trong phântích chuỗi cung, người ta gọi đó là quá trình tạo giá trị
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 13Thiếu thông tin
Khả năng tiếp cận thông tin thị trường kém là một nguyên nhân quan trọnglàm cho thị trường thủy sản không hiệu quả Nhìn chung, kiến thức và sự hiểu biếtcủa nông dân về phương thức hoạt động của thị trường là hạn chế và thiếu thông tin
về cầu và giá cả Thiếu kiến thức làm hạn chế khả năng tiếp cận tới các thị trường
có cơ hội mang lại lợi nhuận cao hơn, hạn chế khả năng đáp ứng yêu cầu của ngườimua và thương thuyết để đạt được một mức giá hợp lý Thương nhân và nhà chếbiến cũng có thể không có khả năng tiếp cận các thông tin quan trọng về thị trường
Vì vậy, không thể hoàn toàn điều chỉnh ngay được khi môi trường kinh doanh thayđổi Nói một cách tổng quát, thiếu thông tin làm cho chi phí tiếp thị và rủi ro cao vàdẫn tới điều phối cung cầu kém
1.2 LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH CHUỖI CUNG
1.2.1 Khái niệm về chuỗi cung
Cạnh tranh một cách thành công trong bất kỳ môi trường kinh doanh nàohiện nay đòi hỏi các doanh nghiệp phải tham gia vào công việc kinh doanh của nhàcung cấp cũng như khách hàng của nó
Có rất nhiều định nghĩa về chuỗi cung ứng, Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả
các doanh nghiệp tham gia, một cách trực tiếp hay gián tiếp, trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng [1] Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất và nhà
cung cấp, mà còn công ty vận tải, nhà kho, nhà bán lẻ và khách hàng của nó
Chuỗi cung cấp là một mạng lưới gồm các tổ chức có liên quan, thông quacác mối liên kết phía trên và phía dưới, trong các quá trình và hoạt động khácnhau, sản sinh ra giá trị dưới hình thức sản phẩm dịch vụ trong tay người tiêudùng cuối cùng
Trong một chuỗi cung ứng điển hình, nguyên vật liệu được mua ở một hoặcnhiều nhà cung cấp, các bộ phận được sản xuất ở một nhà máy hoặc nhiều hơn, sau
đó được vận chuyển đến nhà kho để lưu trữ ở giai đoạn trung gian và cuối cùng đếnnhà bán lẻ và khách hàng Vì vậy, để giảm thiểu chi phí và cải tiến mức phục vụ,
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 14các chiến lược chuỗi cung ứng hiệu quả phải xem xét đến sự tương tác ở các cấp độkhác nhau trong chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng, cũng được xem như mạng lướihậu cần, bao gồm các nhà cung cấp, các trung tâm sản xuất, nhà kho, các trung tâmphân phối, và các cửa hàng bán lẻ, cũng như nguyên vật liệu, tồn kho trong quátrình sản xuất và sản phẩm hoàn thành dịch chuyển giữa các cơ sở [11].
Chuỗi cung tồn tại nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng về sản phẩmnào đó Những nhu cầu này có thể bao gồm các thuộc tính khác nhau của sản phẩmnhư dạng sản phẩm, chất lượng, số lượng, tính liên tục và thời gian cung cấp cũngnhư giá cả cho các điều kiện chi trả
Sơ đồ 1.1 - Chuỗi cung và chuỗi cạnh tranh
Thời gian các chuỗi cung có thể đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùngbao gồm thời gian cung đầu vào thông qua sản xuất, chế biến, phân phối, tiếp thị vàbán lẻ Phía bên trái của biểu đồ giới thiệu 1 chuỗi cung mà thời gian từ khi cungcấp đầu vào cho đến khi các sản phẩm đến người tiêu dùng cuối cùng, trong khiphía bên phải biểu đồ thể hiện 1 chuỗi cung khác cũng đang cạnh tranh để giành
Người tiêu dùng cuối cùng?
Nhà phân phối, quầy bán lẻ
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 15được cùng khách hàng cuối cùng Dấu chấm hỏi (?) nằm ở phía dưới người tiêudùng cuối cùng thể hiện loại khách hàng này sẵn lòng mua sản phẩm từ cả hai chuỗitrên và sẽ chọn lựa một chuỗi để mua hàng trong khi các đường chấm (…) từ nhàsản xuất đến chuỗi cung cạnh tranh thể hiện nhà sản xuất này không chắc chắn sẽcung cấp cho chuỗi nào hay đang chủ động tận dụng lợi thế cạnh tranh của họ bằngcách cung cấp bất kì chuỗi nào mang lại lợi nhuận cao nhất cho họ.
Sơ đồ 1.2 - Quá trình và các luồng vận chuyển
Lưu kho phụ liệu đóng gói
Sản xuất
Lịch trình sản xuấtLưu kho sản phẩm dở dangĐóng gói thành phẩm hoàn thiện
Phân phối
Vận chuyển từ nơi sản xuất đếnkho
Quản lý tồn kho thành phẩmLưu kho thành phẩm
Giao hàng tới khách hàng cuối cùngCác giai đoạn điển hình của một chuỗi cung cấp: khách hàng, người bán lẻ,nhà phân phối, nhà sản xuất, nhà cung ứng Tuy nhiên không nhất thiết tất cả cácchuỗi cung cấp phải bao gồm đầy đủ các giai đoạn này [3]
Trong mỗi doanh nghiệp, chuỗi cung cấp bao trùm tất cả các chức năng cóliên quan đến việc đáp ứng yêu cầu khách hàng (phát triển sản phẩm, marketing,vận hành, phân phối, tài chính, dịch vụ khách hàng) Khách hàng chính là một phầnkhông thể thiếu của chuỗi cung cấp
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 16Thông tin trao đổi lên xuống trong chuỗi Nó liên kết các nhà cung cấp và cáckhách hàng trung gian với cầu thị trường như dạng sản phẩm, số lượng và chất lượngyêu cầu và liên kết thị trường với các cung (số lượng và chất lượng có sẵn) [3].
Một chuỗi cung bao gồm luồng sản phẩm dịch vụ từ nhà cung cấp tới nhàsản xuất rồi tới nhà phân phối, nhưng cũng bao gồm luồng thông tin, tài chính vàsản phẩm theo cả hai hướng thuận và nghịch
Sơ đồ 1.3 - Phân biệt luồng thông tin và vật chất
- Lưu kho tại trung tâm phân phối
- Vận chuyển từ nơi sản xuất đến kho
- Đóng gói
- Lập lịch trình sản xuất
- Lưu kho tại nơi sản xuất
- Quản lý chất lượng nguyên vật liệu
- Lưu kho nguyên vật liệu
- Vận chuyển nguyên vật liệu
- Quản lý lưu kho nguyên vật liệu
- Đơn đặt hàng
1.2.2 Tầm quan trọng của chuỗi cung ứng
Tất cả các sản phẩm đến tay người tiêu dùng thông qua một vài hình thức củachuỗi cung ứng, có một số thì lớn hơn và một số thì phức tạp hơn rất nhiều Với ýtưởng chuỗi cung ứng này, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng chỉ có một nguồn tạo ra
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 17lợi nhuận duy nhất cho toàn chuỗi đó là khách hàng cuối cùng Khi các doanhnghiệp riêng lẻ trong chuỗi cung ứng ra các quyết định kinh doanh mà không quantâm đến các thành viên khác trong chuỗi, điều này rốt cuộc dẫn đến giá bán chokhách hàng cuối cùng là rất cao, mức phục vụ chuỗi cung ứng thấp và điều này làmcho nhu cầu khách hàng tiêu dùng cuối cùng trở nên thấp.
Có rất nhiều doanh nghiệp khác liên quan một cách gián tiếp đến hầu hết cácchuỗi cung ứng và họ đóng vai trò quan trọng trong việc phân phối sản phẩm cuốicùng cho khách hàng Họ chính là các nhà cung cấp dịch vụ, chẳng hạn như cáccông ty vận tải đường không và đường bộ, các nhà cung cấp hệ thống thông tin, cáccông ty kinh doanh kho bãi, các hãng môi giới vận tải, các đại lý và các nhà tư vấn.Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ này đặc biệt hữu ích đối với các doanh nghiệptrong đa số chuỗi cung ứng, vì họ có thể mua sản phẩm ở nơi họ cần, cho phépngười mua và người bán giao tiếp một cách hiệu quả, cho phép doanh nghiệp phục
vụ các thị trường xa xôi, giúp các doanh nghiệp tiết kiệm tiền trong vận tải nội địa
và quốc tế và nói chung cho phép doanh nghiệp phục vụ tốt khách hàng với chi phíthấp nhất có thể
Việc thiết kế và quản trị các luồng trong chuỗi cung cấp (luồng sản phẩm,thông tin và tiền) có mối quan hệ chặt chẽ với thành công của chuỗi cung cấp
Các quyết định của chuỗi cung cấp đóng vai trò quan trọng trong thành cônghay thất bại của một doanh nghiệp
Các chuỗi cung có một số chức năng hỗ trợ quá trình tạo giá trị Đó là:
- Công tác hậu cần và việc bảo quản sản phẩm
- Quản lí thông tin
- Thống nhất các tiến trình thông qua việc quản lí các mối quan hệ
Các chuỗi cung ứng có chức năng hậu cần trong đó các sản phẩm đượcchuyển từ một điểm ở chuỗi này sang điểm kế tiếp có hiệu quả về thời gian và chiphí, trong khi vẫn bảo đảm duy trì được chất lượng sản phẩm trong quá trình đónggói, vận chuyển và làm lạnh
Các chuỗi cung cũng có chức năng điều phối các qui trình hoạt động trongchuỗi Và việc này có thể được thực hiện bằng 2 cách: Cách thứ nhất là khi người dẫn
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 18đầu chuỗi thực hiện nhiều qui trình, ví dụ: như sản xuất, chế biến và phân phối đồngthời cũng duy trì được quyền làm chủ sản phẩm Cách này là hợp nhất theo chiều dọc.Theo cách thứ 2 các tiến trình dọc chuỗi được điều phối thông qua việc quản lí cácquan hệ của nhiều bộ phận khi sản phẩm được chuyển xuống dưới chuỗi [11].
1.2.3 Quá trình tạo giá trị
Trong khi bị chi phối bởi người tiêu dùng cuối cùng, những chuỗi cung đượctạo ra bởi nhiều khách hàng trung gian mà mỗi người phải đáp ứng các nhu cầu củangười tiêu dùng ở phía bên trong chuỗi Khi làm điều này, họ sẽ tạo ra giá trị chongười tiêu dùng của mình và đổi lại họ cũng mong muốn các nhà cung cấp đầu vàocũng phải tạo ra giá trị cho họ
Sơ đồ 1.4 - Quá trình tạo giá trị trong chuỗi cung
Quá trình tạo ra giá trị diễn ra trong toàn chuỗi với mục đích đáp ứng nhucầu của người tiêu dùng cuối cùng Quá trình này được mô tả trong hình trên khinhu cầu của người tiêu dùng cuối cùng chuyển xuống chuỗi thông qua nhiều khách
Người tiêu dùng cuối
và các nhà cung cấp Tạo giá trị
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 19hàng trung gian khác nhau Mỗi khách hàng trung gian này trong vai trò là ngườicung cấp đầu vào phải đáp ứng các nhu cầu bằng cách tạo ra giá trị chuyển lênhướng phía trên được thể hiện bằng các mũi tên đậm chĩa lên trên ở dạng các thuộctính của sản phẩm được cải thiện [11].
Trong chuỗi giá trị, các bên tham gia chính là các tác nhân hoạt động trênmọi cấp độ của chuỗi, bao gồm những người cung cấp sản phẩm đầu vào cụ thể,người sản xuất, người thu gom, các công ty gia công, chế biến, các đại lý vận tải,người phân phối, tiêu thụ, và đại diện của các đơn vị hỗ trợ, các trường, viện…những người đóng vai trò thúc đẩy chuỗi [11]
Cách thức mà giá trị được tạo ra cho mỗi doanh nghiệp trong chuỗi cungđược thể hiện chi tiết hơn trong hình sau
Doanh nghiệp trong hình trên có thể hoạt động tại bất cứ vị trí nào trongchuỗi đầu vào, sản xuất, chế biến, phân phối hay bán lẻ Ở bất kì vị trí nào trongchuỗi, các nguyên tắc tạo giá trị vẫn tương tự nhau Trước tiên doanh nghiệp sẽ phải
có một hệ thống nguồn lực có thể sử dụng để tạo ra giá trị Các nguồn lực này có thể
là vật chất hay tự nhiên, vốn và nhân lực Khả năng tận dụng tối đa các nguồn nàycủa doanh nghiệp tuỳ thuộc vào khả năng cải tiến của doanh nghiệp đó
Các nguồn lực của doanh nghiệp
Vật chất và tự nhiên
Vốn
Liên kết với Các hoạt động của Liên hệ khách
các nhà cung nhà máy hàng
cấp đầu vào
đầu vào (lau chùi, phân loại, - Bảo dưỡng sản phẩm
- Bảo dưỡng
sản phẩm
(đảm bảo
chất lượng)
Lợi nhuận của doanh nghiệp
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 20Doanh nghiệp sử dụng các nguồn tài nguyên và khả năng sáng tạo của mình
để tạo ra giá trị cho các khách hàng trung gian và bằng cách làm như vậy sẽ tạo ralợi nhuận Giá trị được tạo ra chủ yếu thông qua các hoạt động của doanh nghiệpnhưng giá trị có thể nâng cao bằng các liên hệ với khách hàng và các nhà cung cấpđầu vào Doanh nghiệp tạo ra giá trị thông qua chế biến sản phẩm hay nâng cao,hoàn thiện sản phẩm (lau chùi, phân loại, đóng gói hay giới thiệu) Các mối liên kếtnày đối với các nhà cung cấp đầu vào có liên quan tới hoạt động mua bán và côngtác hậu cần đầu vào Các mối liên hệ với khách hàng cũng liên quan đến tiêu thụ sảnphẩm và công tác hậu cần đầu ra Việc bảo trì sản phẩm cuối cùng để đảm bảo chấtlượng cũng liên hệ với công tác hậu cần đầu ra
1.2.4 Định hướng chuỗi và kiểm soát
Các chuỗi được điều hành bởi 1 hay 2 người đứng đầu chuỗi (được gọi làhoa tiêu hay trưởng chuỗi) Người này xác định các nhu cầu của thị trường và điềuphối các nguồn của chuỗi để đảm bảo đáp ứng các nhu cầu đó Những người lãnhđạo chuỗi này đặt ra những tiêu chuẩn, kiểm soát các quá trình và dòng thông tintrong chuỗi Họ được hưởng lợi từ việc thực hiện các chức năng đó Thường thìngười đứng đầu chuỗi cố gắng nội hoá các qui trình tạo giá trị quan trọng trongchuỗi có thể thông qua cách hợp nhất theo chiều dọc hay thông qua các mối quan hệđược kiểm soát chặt chẽ với các đối tác chuỗi quan trọng [11]
Các chuỗi (hay các bộ phận của chuỗi) có thể là hợp tác hay cơ hội trong hoạtđộng, với định hướng được qui định bởi các sức mạnh kinh tế cơ bản điều khiểnngành sản xuất (hoặc một bộ phận của ngành) mà ở đó các chuỗi hoạt động
Các chuỗi hợp tác có khuynh hướng ổn định, có những người tiêu dùng trungthành và cam kết dài hạn giữa các thành viên trong chuỗi cùng làm việc để đáp ứngnhu cầu của những người tiêu dùng này Những chuỗi như vậy thực sự tuân theo thịtrường và có định hướng chuỗi cung trong đó các thành viên trong chuỗi xem các tổchức trên hay dưới họ như những người đồng minh và xem những chuỗi cung khác
nổ lực để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng cuối cùng như nhau như là nhữngđối thủ cạnh tranh
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 21Các thành viên trong chuỗi cơ hội thì ngược lại, có khuynh hướng xem cácthành viên của chuỗi trên hay dưới mình là những đối thủ cạnh tranh vì thế khôngđảm bảo được mức độ cam kết cao trong chuỗi Những chuỗi như vậy thì phản ứngrất mạnh với thị trường và nếu các thị trường mà chúng hoạt động là không ổn địnhthì bản thân các chuỗi cũng sẽ không ổn định, các thành viên trong chuỗi sẽ hợpnhất lại tạo thành một khối tận dụng các cơ hội xuất hiện trên thị trường và khi cơhội này mất đi thì họ lại phân tán ra.
Do sự khác biệt về định hướng của chuỗi các mối quan hệ trong chuỗi có thểbao quát một miền rộng lớn từ hợp tác đến cơ hội, mối quan hệ có thể là “với mớitới” (thị trường mở) hay có dính líu (hợp dồng) hay rất gần (các khối liên minhchiến lược thậm chí các công ty liên doanh) Kiểu quan hệ trong suốt chuỗi phụthuộc vào khuynh hướng của chuỗi và của trưởng chuỗi, mà khi đến lượt mình thìthường phụ thuộc vào các lực lượng kinh tế căn bản chi phối hành vi của chuỗi,trưởng chuỗi và nền công nghiệp trong đó chứng đang hoạt động
1.2.5 Các trở ngại cho hoạt động
Khi đã hiểu được các chuỗi cung cũng như các chức năng của chúng và thấy
rõ các chỉ báo hoạt động tốt xuất hiện như thế nào từ những chuỗi này thì các trởngại có khả năng gây khó khăn cho hoạt động của chuỗi có thể được thảo luận Có 4trở ngại căn bản đối với hoạt động của chuỗi cung Đó là:
- Chuỗi không có định hướng chuỗi cung
- Chuỗi thiếu các nguồn lực cạnh tranh
- Luồng thông tin trong chuỗi nghèo nàn
- Cơ sở hạ tầng không đảm bảo
Tuy nhiên những trở ngại này không phải là duy nhất mà còn có thể cónhững trở ngại khác cho hoạt động của chuỗi cung tôm ở Hà Tĩnh Những trở ngạinày sẽ rõ ràng hơn sau khi phân tích chuỗi cung tôm này [11]
a, Thiếu định hướng chuỗi cung
Nếu một chuỗi không có định hướng chuỗi cung thì nó sẽ trở thành mộtchuỗi mang tính cơ hội trong đó các đối tác không được tập trung vào người tiêu
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 22dùng và không cùng nhau tạo giá trị cho người tiêu dùng cuối cùng Các mối quan
hệ trong chuỗi có thể mang tính đối địch, các cấp theo chiều dọc của chuỗi cungkhông cùng nhau hoạt động để đảm bảo sự tương hỗ liền mạch của các qui trình vàviệc tạo giá trị tập trung vào người tiêu dùng trong chuỗi
Có nhiều lí do giải thích cho tình hình này Trước tiên chuỗi bán ra thịtrường mà ít có sự khác biệt về các sản phẩm được cung cấp bởi các chuỗi khácnhau và vì thế phương pháp cơ hội đã ăn sâu vào trong hành vi của toàn chuỗi.Trong những thị trường này, không có điểm khác biệt giữa các sản phẩm được cungcấp bởi các chuỗi cạnh tranh, hay có thể là người đứng đầu trong một chuỗi nào đókhông xác định và khai thác các tính chất khác biệt của sản phẩm trong chuỗi mànhững người tiêu dùng cho là có giá trị Chuỗi “cung đẩy” (không phải là kháchhàng điều tiết “cầu kéo”) thường thể hiện những đặc điểm này
Thứ hai, sản phẩm có thể là một nguyên liệu công nghiệp thứ yếu cho mộtsản phẩm được chế biến bởi công nghệ cao, và trong khi có sự định hướng chuỗicung từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng thì chuỗi có thể mang tính cơhội nhiều hơn, nhà sản xuất có mối quan hệ rất tự do (không có sự trung thành) vớicác nhà cung cấp những nguyên liệu thứ yếu Điều này buộc các nhà cung cấp này,khi đến lượt của mình cũng sẽ sử dụng phương pháp cơ hội
Thứ ba, các lực cạnh tranh tại nhiều điểm trong chuỗi có thể quá gay gắt đếnnỗi sự định hướng chuỗi cung có thể bị sụp đổ và chủ nghĩa cơ hôi sẽ chiếm ưu thế
Ví dụ, điều này cũng thường thấy khi tình trạng quá tải tạm thời tồn tại trong mộtkhu vực của một ngành sản xuất, chẳng hạn ngành chế biến Để đảm bảo đầu vàohiện vật thì các nhà chế biến phải cạnh tranh kịch liệt để đạt được nguồn cung cấp.Trong các trường hợp này, các nhà cung cấp có khuynh hướng không mấy trungthành với một chuỗi nào đó họ phải chạy theo các giá cả ngắn hạn cao do các nhàchế biến khác nhau liều lĩnh đưa ra Tương tự như vậy, một chuỗi có thể thiếukhuynh hướng chuỗi cung vì thị trường bị bóp méo bởi sự can thiệp của chínhquyền trong nước hay nước ngoài Những sự can thiệp như vậy có thể làm cùn các
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 23dấu hiệu về giá cả, chất lượng và số lượng trên thị trường, điều này cũng có thể làmcho chuỗi bị sụp đổ [11].
b, Thiếu hụt các nguồn lực của chuỗi
Thiếu hụt nguồn lực của chuỗi có thể gây khó khăn cho hoạt động của chuỗi
Ví dụ, một chuỗi không có lợi thế cạnh tranh hơn các chuỗi khác vì các nguồn lực
tự nhiên thấp kém không có đủ mức để đáp ứng các nhu cầu của người tiêu dùng và
vì thế cấu trúc chi phí của nó cũng không cạnh tranh
Tương tự như thế, sự thiếu hụt vốn tại một số điểm trong chuỗi cũng có thể
là một khó khăn cho hoạt động của chuỗi Ví dụ thiếu tiết kiệm hoặc không có khảnăng tiếp cận tín dụng cũng có thể làm cho các nhà sản xuất gặp khó khăn trongviệc tạo giá trị cho các khách hàng yêu cầu [11]
Tương tự như thế, cơ sở nguồn nhân lực không đủ cho chuỗi hoạt động tốt
Ví dụ các nhà sản xuất hay các nhà chế biến không có đủ kiến thức và kĩ năng cầnthiết để sản xuất và chế biến hợp lí một loại sản phẩm nào đó phù hợp với các đặcđiểm mà người tiêu dùng đưa ra Cũng như vậy họ không có đủ các kĩ năng kinhdoanh cần thiết để tham gia thành công vào các hoạt động của chuỗi
c, Các luồng thông tin nghèo nàn
Các luồng thông tin không thoả đáng trong chuỗi có thể gây khó khăn chohoạt động của chuỗi Trong chuỗi có định hướng chuỗi cung, các trưởng chuỗi cótrách nhiệm đảm bảo thông tin về khách hàng và các nhu cầu về sản phẩm thôngsuốt trong chuỗi và có thể thực hiện các chức năng tập huấn để các cấp dưới (thậmchí cả cấp trên) thấy được cách thức nuôi trồng, chế biến, xử lí hay thậm chí tiêu thụsản phẩm Trong những chuỗi mang tính cơ hội thì các trách nhiệm như thế có thểđược bỏ đi ở một mức độ nào đó và kết quả là các thành viên trong chuỗi, ví dụ cácnhà sản xuất hay chế biến đạt được hiểu biết ít về các yêu cầu của thị trường và làmthế nào để đáp ứng các nhu cầu đó
Cũng trong chuỗi mang tính cơ hội thì giá cả có khuynh hướng không rõràng và đứt quảng trong suốt chuỗi Do các mối quan hệ giữa các cấp trong chuỗi cókhuynh hướng đối địch, một cấp trong chuỗi không được khuyến khích tham giachia sẽ thông tin với cấp bên dưới Ví dụ người mua có thể đưa ra giá, các tiêu
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 24chuẩn chất lượng sản phẩm mà họ yêu cầu là rộng, để các nhà sản xuất tự tìm ra liệuđây là một vụ làm ăn tốt hay tạm được, và tìm ra cách đáp ứng nhu cầu của ngườimua Bởi vì thông tin giá cả mà họ có được là rất ít, các nhà sản xuất lại sẽ khôngnhận biết được các khuynh hướng thị trường dài hạn và những ẩn ý về doanh thucủa họ trong tương lai.
Dòng thông tin nghèo nàn cũng có thể là một kết quả nếu các chuỗi quá dài,
có nghĩa là quá trình chế biến lâu, trong chuỗi có nhiều móc xích và sản phẩm đượcvận chuyển trong những quảng đường dài Tình huống này có thể trở nên trầm trọnghơn do các hệ thống thông tin liên lạc không phù hợp, có nghĩa là các mắc xích đầuchuỗi không nhận được các yêu cầu ở các mắc xích sau [11]
d, Cơ sở hạ tầng không đầy đủ
Công tác hậu cần và cơ sở hạ tầng cũng có thể gây trở ngại cho hoạt độngcủa chuỗi cung Điều này bao gồm sự thiếu hụt về cơ sở hạ tầng như đường sá, cácdịch vụ đường thuỷ, đường không, các dịch vụ vận chuyển đường thuỷ hay đườngkhông, lịch trình các hoạt động dịch vụ vận tải và có sẵn các nhà cung cấp dịch vụvận chuyển ở một mức giá hợp lí Thiếu hụt các phương tiện đóng gói và các quitrình làm lạnh, làm mát sản phẩm cũng ảnh hưởng tới hoạt động của chuỗi, gây khókhăn cho việc đảm bảo chất lượng sản phẩm [11]
1.3 KINH NGHIỆM TIÊU THỤ THỦY SẢN NUÔI TRỒNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
Với trên 3200 km bờ biển và hệ thống sông ngòi, ao hồ chằng chịt, Việt nam
có nhiều tiềm năng để phát triển NTTS Chính vì thế Đảng và Nhà nước ta đã coithuỷ sản là ngành kinh tế mũi nhọn Trong vòng 10 năm qua (từ 1997 đến 2006),ngành thuỷ sản của nước ta đã có nhiều chuyển biến mạnh mẽ, sản lượng thuỷ sảnxuất khẩu tăng gấp 3,98 lần, giá trị xuất khẩu tăng gấp 4,4 lần Phát triển thuỷ sản
đã và đang tạo công ăn việc làm cho hàng triệu lao động nông thôn, góp phần cảithiện đời sống nhân dân, tăng thu nhập ngoại tệ, cải thiện cán cân thương mại vàgóp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước
Tuy vậy, ngành thuỷ sản của nước ta cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn,thách thức Vì thế, việc tìm hiểu những hạn chế của nước ta và nghiên cứu kinh
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 25nghiệm tiêu thụ thuỷ sản của các nước trên thế giới là sự cần thiết khách quan nhằmthúc đẩy sự phát triển NTTS ở nước ta trong bối cảnh hiện nay.
Tình hình tiêu thụ thuỷ sản của Việt nam
Từ một lĩnh vực sản xuất nhỏ bé, nghèo nàn và lạc hậu, ngành thủy sản đãtrở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, có tốc độ tăngtrưởng cao, có tỷ trọng trong GDP ngày càng lớn
Nếu như trong những năm 60 của thế kỷ trước, tổng sản lượng thủy sản ởmiền Bắc chỉ đạt trên dưới 200.000 tấn thì đến năm 1976 - năm đầu thống nhất đấtnước tổng sản lượng thủy sản đạt khoảng 840.000 tấn và đến năm 1980, kim ngạchxuất khẩu thủy sản cũng mới chỉ đạt được con số khiêm tốn
Từ năm 1981, thủy sản đã là ngành kinh tế đầu tiên được chính phủ cho phépvận dụng cơ chế kinh tế thị trường trong sản xuất, kinh doanh; được phép thoát ly
cơ chế bao cấp để thử nghiệm cơ chế "tự cân đối, tự trang trải", xuất khẩu trực tiếpcác sản phẩm thủy sản vào thị trường "khu vực 2" thu ngoại tệ để mua máy móc, vật
tư, thiết bị đầu tư trở lại cho sản xuất
Tổng sản phẩm thủy sản hiện chiếm 21% trong nông-lâm-ngư nghiệp và hơn4% GDP trong nền kinh tế quốc dân Riêng năm nay, tổng sản lượng thủy sản toànngành ước đạt hơn 3,3 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 2,6 tỷ USD, tănghơn năm ngoái khoảng 250 triệu USD [26]
Sau một phần tư thế kỷ hoạt động trong cơ chế thị trường, ngành thủy sản đãtừng bước trưởng thành Điều đáng chú ý là từ năm 1986, khi chính sách đổi mớicủa Ðảng được thực hiện trong cả nước, thị trường xuất khẩu thủy sản được mởrộng và tăng trưởng với tốc độ rất nhanh
Sự mở rộng thị trường đã kích thích sản xuất phát triển Có thể nói, thịtrường xuất khẩu thủy sản đã mở đường, hướng dẫn cho quá trình chuyển đổi mạnh
mẽ cơ cấu nghề trong khai thác hải sản trên biển
Các nghề sản xuất trên biển đã hướng theo các sản phẩm có giá trị xuất khẩu
Cơ cấu sản phẩm khai thác phục vụ xuất khẩu đã liên tục tăng từ khoảng 5% trongnhững năm trước đây lên 30-35% trong thời gian gần đây Thị trường xuất khẩu
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 26thủy sản là động lực kích thích sự phát triển nuôi trồng thủy sản Nuôi trồng thủysản đã trở thành hướng đi chính của việc chuyển đổi các vùng diện tích sản xuấtnông nghiệp kém hiệu quả thành những vùng sản xuất nguyên liệu lớn phục vụ chongành chế biến thủy sản xuất khẩu.
Ðể có được kết quả trên, hơn bốn triệu lao động nghề cá, cùng đội ngũ doanhnhân ngành thủy sản đã phải vượt qua bao khó khăn, gian khổ để khẳng định được
uy tín hàng thủy sản của Việt Nam trên thị trường thế giới Hàng thủy sản Việt Namhiện đã có mặt tại gần 100 nước và vùng lãnh thổ
Cả nước hiện có 439 nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu, trong đó có
171 doanh nghiệp được xếp vào danh sách 1 xuất khẩu vào EU, 300 doanhnghiệp áp dụng quy trình quản lý chất lượng sản phẩm theo HACCP, đủ tiêuchuẩn xuất khẩu vào thị trường Mỹ, 222 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn xuấtkhẩu sản phẩm vào Hàn Quốc, 295 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu vàoTrung Quốc
Bên cạnh vai trò nòng cốt của đội ngũ doanh nhân, lực lượng khoa học côngnghệ đã có đóng góp to lớn Từ những năm đầu của thập kỷ 80 của thế kỷ trước,công nghệ sinh sản tôm sú nhân tạo đã được du nhập và phát triển thành công ởmiền Trung, sau đó nhân ra cả nước, tạo tiền đề cho phong trào nuôi tôm phát triển,
là cơ sở để có được nguồn nguyên liệu chủ yếu cho chế biến, xuất khẩu thủy sản.Đến nay, giá trị tôm xuất khẩu chiếm hơn 50% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản
Ðồng thời với việc làm chủ công nghệ sinh sản nhân tạo tôm sú, các nhàkhoa học thủy sản đã thành công trong việc nhân giống nhiều loài thủy sản quýhiếm, như cá mú, cá giò, cà dìa, cá bớp, cá chẽm, cá rô phi, cá lóc, cua biển, ốchương, sò, vẹm, tôm càng Những thành tựu khoa học này là nền tảng để phát triểncác sản phẩm thủy sản xuất khẩu
Hiện nay, Bộ Thủy sản đang soạn thảo Chương trình phát triển xuất khẩuthủy sản tới năm 2010 và tầm nhìn 2020, theo đó năm 2010, kim ngạch xuất khẩu sẽđạt 4 tỷ USD và đến năm 2020 sẽ đạt từ 4,5 đến 5 tỷ USD
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 27Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, sản xuất và tiêu thụ thủy sản của tacòn nhiều mặt hạn chế:
- NTTS còn manh mún, tự phát, không xuất phát từ nhu cầu thị trường
Số liệu Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản năm 2006 chothấy, trong 3 hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu của ngành thuỷ sản là hợp tác xã(HTX), trang trại và hộ gia đình thì hộ gia đình vẫn chiếm ưu thế Năm 2006, toànngành thuỷ sản của cả nước chỉ có 273 HTX, 34.989 trang trại nhưng có đến692.197 hộ NTTS, tăng 35,1% so với năm 2001 Trong khi đó, quy mô diện tíchnuôi trồng của các hộ lại quá nhỏ Điều này gây ra nhiều khó khăn cho công tácquản lý và là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường, dịchbệnh phát triển làm ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả sản xuất của người nuôi
Đồng bằng sông Cửu long (ĐBSCL), nơi có nghề NTTS phát triển mạnhnhất cả nước, chiếm 71% diện tích và 69% sản lượng nuôi trồng Tuy nhiên, ở đâycũng phát sinh nhiều vấn đề bất cập
- Tiêu thụ trong nước chưa được các doanh nghiệp chú trọng cho dù khốilượng thuỷ sản tiêu thụ trong nước có xu hướng tăng Nguyên nhân chính của tìnhtrạng trên là do lợi nhuận từ tiêu thụ trong nước thấp hơn so với xuất khẩu Kết quảphỏng vấn các doanh nghiệp chế biến cá tra xuất khẩu cho thấy : “Thời gian qua cácdoanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm ở thị trường nội địa chủ yếu nhằm quảng bá thươnghiệu chứ lợi nhuận từ thị trường thấp và tiềm năng phát triển không nhiều”
- Mối quan hệ hợp tác giữa người NTTS và các đơn vị tiêu thụ thuỷ sảnkhông chặt chẽ làm cho sản xuất không đáp ứng nhu cầu thị trường cả về số lượng
và chất lượng, hiện tượng tranh mua, tranh bán xảy ra làm ảnh hưởng đến lợi nhuậncủa cả hai bên
Ở khu vực miền Trung, việc tiêu thụ phụ thuộc chủ yếu vào tư thương nênhiện tượng ép cấp, ép giá đã xảy ra thường xuyên làm ảnh hưởng đến thu nhập củangười nuôi
Vì thế, việc xây dựng mối liên kết giữa nhà máy chế biến, các đơn vị NTTS,các cơ sở sản xuất và dịch vụ các yếu tố đầu vào cho nhà sản xuất, ngân hàng, các
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 28công ty bảo hiểm là sự cần thiết khách quan nhằm đảm bảo sự ổn định, bền vững vàgiá trị gia tăng cao cho nghề NTTS.
- Diện tích, sản lượng NTTS phát triển với tốc độ nhanh So với năm 2000,diện tích NTTS của cả nước năm 2008 tăng 1,64 lần, sản lượng tăng 2,05 lần Trongkhi đó cơ sở hạ tầng phục vụ cho bảo quản, chế biến và tiêu thụ thuỷ sản còn nhiềuyếu kém Chúng ta vẫn còn thiếu hệ thống các kho lớn để trữ hàng Điều này đã gâykhông ít khó khăn cho người sản xuất khi vào mùa thu hoạch rộ [7]
- Hiểu biết của các đơn vị NTTS, các cơ sở thu mua và chế biến thuỷ sản về vấn
đề an toàn vệ sinh thực phẩm còn rất hạn chế Về vấn đề này, tác giả Phạm Danh báoQuảng ngãi viết: “Nhiều cơ sở hoạt động nhưng chưa đảm bảo quy định điều kiện vệsinh an toàn thực phẩm; không có hồ sơ ghi chép về xuất xứ, nguồn gốc nguyên liệu;chưa trang bị đầy đủ quần áo bảo hộ lao động và việc xử lý nước thải không được thựchiện đúng các quy trình, gây ô nhiễm môi trường Thậm chí có nhiều cơ sở còn sử dụngcác hoá chất cấm sử dụng để bảo quản nguyên liệu thuỷ sản”
Chính vì những nguyên nhân trên mà ngày 17/4 năm 2010 theo hệ thốngcảnh báo nhanh của EU – RASSF Portal, trong tháng 3 có 3 lô hàng thuỷ sản ViệtNam bị cảnh báo Trong số 3 lô hàng này có 2 lô phát hiện có chứa dư lượng khángsinh Neomycin vượt quá giới hạn cho phép Đây là loại kháng sinh chiết xuất từnấm, có tác dụng diệt khuẩn tại chỗ, sử dụng hạn chế trong nuôi trồng và sản xuấtthuỷ sản [7]
Những vấn đề trên cho thấy, các đơn vị sản xuất, chế biến và tiêu thụ thuỷsản của nước ta cần có sự chuẩn bị kỹ càng hơn về vấn đề an toàn vệ sinh thựcphẩm để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường thế giới
Kinh nghiệm của thế giới
Kinh nghiệm tiêu thụ thuỷ sản của các nước trên thế giới cho thấy, họ lấymục tiêu sản xuất thuỷ sản phục vụ nhu cầu tiêu thụ trong nước là chủ yếu, thứ đếnmới là xuất khẩu Nếu sản xuất chưa đáp ứng được nhu cầu thì phải nhập khẩu cácsản phẩm thuỷ sản
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 29Trung Quốc với 1,21 tỷ người, mặc dù đang là nước xuất khẩu thuỷ sản lớnnhất nhì thế giới, nhưng họ luôn luôn đặt mục tiêu chính cho phát triển nghề cá làđáp ứng nhu cầu ngày càng cao về thuỷ sản cho nhân dân Họ luôn đặt trọng tâmvào phát triển thị trường thuỷ sản trong nước là chính Glitnir dự báo nhu cầu thủysản ở Trung Quốc sẽ tăng mạnh trong những năm tới Năm 2004, tiêu thụ thủy sảnbình quân theo đầu người ở Trung Quốc là 25kg và dự kiến sẽ đạt 36 kg vào năm
2020 Ðây là thành tích to lớn của Trung Quốc và được đánh giá là đóng góp quantrọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực thực phẩm không chỉ cho Trung Quốc
mà còn cho thế giới [7]
Malaixia, tuy là quốc gia đạo hồi, nhưng nhu cầu của nhân dân về thuỷ sảnlại rất cao Nhu cầu tiêu thụ thủy hải sản ở Malaysia ngày một tăng, từ mức45kg/người/ năm như hiện nay dự báo lên 61 kg/người/năm vào năm 2010 Ðây làchỉ tiêu cao nhất ở khu vực Ðông Nam Á Malaixia đặt mục tiêu chủ yếu của nghề
cá là phục vụ nhu cầu tiêu thụ trong nước Với số dân chỉ có 20,5 triệu người, tổngsản lượng thuỷ sản là 1,7 triệu tấn/năm, nhưng họ vẫn nhập khẩu hằng năm từ 350 -
400 nghìn tấn thuỷ sản để phục vụ nhu cầu trong nước Thương mại thuỷ sản trongnước của Malaixia năm 2000 đạt 1,2 triệu tấn sản phẩm [7]
Thái Lan là nước xuất khẩu thuỷ sản số một thế giới, nhưng họ rất coi trọngphát triển thị trường thuỷ sản trong nước để đáp ứng nhu cầu cao của nhân dân.Trong năm 2000, thị trường nội địa Thái Lan tiêu thụ hơn 2 triệu tấn thuỷ sản và đạtchỉ tiêu 32,4 kg thuỷ sản/người năm 2000 [7]
Inđônêxia với số dân tới hơn 200 triệu người, cũng đạt chỉ tiêu cao là 18 kgthuỷ sản/người năm 2000 Riêng thị trường trong nước của Inđônêxia đã tiêu thụ 3,7triệu tấn thuỷ sản năm 2000 [7]
Xingapo chỉ với số dân 3,4 triệu người, nhưng lại có nền thương mại thuỷsản rất phát triển Mặc dù không tự sản xuất được thuỷ sản (tổng sản lượng rất nhỏ
bé - 13 nghìn tấn/năm), đã phải nhập khẩu 270 nghìn tấn thuỷ sản và xuất khẩu 110nghìn tấn, thị trường trong nước tiêu thụ 110 nghìn tấn sản phẩm thuỷ sản và cómức tiêu thụ bình quân là 32,5 kg thuỷ sản/người năm 2000 [7]
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 30Philippin cũng đặt mục tiêu chính của nghề cá là phục vụ nhu cầu trongnước Với số dân gần 70 triệu người, thị trường trong nước tiêu thụ 2,2 triệu tấnthuỷ sản và đạt chỉ tiêu 31 kg thuỷ sản/người năm 2000 [7].
Bên cạnh tiêu thụ ở thị trường trong nước, các nước đã có những chiến lượccho việc xuất khẩu thuỷ sản Các chiến lược chủ yếu mà các nước sử dụng là:
Một là phải ổn định nguồn cung cấp để duy trì và phát triển khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường.
Để ổn định nguồn cung cấp thuỷ sản, các nước chú trọng vào khâu NTTS.Kinh nghiệm của Nauy cho thấy để tránh những rào cản hạn chế khả năng đánh bắt
tự nhiên như quy định hạn ngạch đánh bắt của cộng đồng quốc tế cũng như sự biếnđổi có tính chất chu kỳ của nguồn thuỷ sản tự nhiên, các nước này đã đầu tư lớn vàophát triển cơ sở hạ tầng để tổ chức nuôi cá hồi nước mặn và nước ngọt Hiện Nauy
có 3441 khu vực nuôi cá hồi, 250 công ty chuyên cung cấp con giống bằng côngnghệ hiện đại với sự quan tâm và kiểm soát của Nhà nước Nhờ chiến lược này màgiá trị và sản lượng xuất khẩu của Nauy tăng liên tục
Hai là, kiểm soát chặt chẽ chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, coi đây là yếu tố có tính sống còn để thâm nhập thị trường thế giới.
Thái Lan là ví dụ điển hình Một trong những nguyên nhân đưa nước này lên
vị trí hàng đầu xuất khẩu với khối lượng lớn là Thái Lan bắt buộc áp dụng HCCPtrong các cơ sở chế biến thuỷ sản Ngoài ra, các cơ sở chế biến thuỷ sản hàng đầucủa Thái Lan còn xây dựng tiêu chuẩn ISO 9000 để nâng cao hình ảnh và vị thếcạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường thế giới
Chilê chú trọng vào việc quản lý tốt môi trường NTTS theo tiêu chuẩn ISO
14000 do Tổ chức y tế thế giới quy định Chính vì vậy trên nhãn mác các sản phẩmxuất khẩu thuỷ sản của Chilê ghi rõ sản phẩm đạt tiêu chuẩm môi trường nên dễ tiêuthụ hơn sản phẩm có xuất xứ từ nước khác
Ba là năng động trong phát triển thị trường
Kinh nghiệm trong phát triển thị trường của Thái Lan cũng rất đáng để taquan tâm nghiên cứu Ngoài thị trường truyền thống, chính phủ Thái Lan có chính
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 31sách khuyến khích chiếm lĩnh thị trường tiềm năng như Trung Quốc, Nhậtbản…Thái lan đã tham gia hội chợ triển lãm quốc tế và đã giành được sự tin tưởngtuyệt đối từ phía người tiêu dùng Nhật Bản sau khi tham gia hội chợ triển lãm thủysản quốc tế tại Nhật Bản Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Nghề cá Thái Lan NiwatSutheemeechaikul cho biết, các nhà sản xuất và xuất khẩu thủy sản Thái Lan đãđược công nhận về cả chất lượng và tiêu chuẩn an toàn thực phẩm trong thời giantham dự Hội chợ Thủy sản và Công nghệ quốc tế lần thứ 9 tại Nhật Bản từ ngày 18-20/7/2007.
Ước tính, giá trị kim ngạch xuất khẩu tôm của Thái Lan sang thị trường NhậtBản năm 2007 có thể đạt 5- 6 tỉ Bạt (tương đương 168,9 – 202,7 triệu USD) trongtổng số khoảng 40 tỉ Bạt (1,35 tỉ USD) giá trị xuất khẩu thủy sản sang thị trườngnày [7]
Bốn là Hợp tác liên kết đầu tư với nước ngoài tại cơ sở để mở rộng khả năng xuất khẩu.
Chiến lược này đã được Trung Quốc và Thái Lan thực hiện rất tốt trong việcliên kết với các doanh nghiệp Nhật bản để tiếp nhận vốn, công nghệ chế biến và cónơi bao tiêu sản phẩm Nhờ vậy mà kim ngạch xuất khẩu của họ sang thị trườngNhật bản ngày một tăng
Nhờ có sự đầu tư lớn về công nghệ và thiết bị nuôi cá hồi mà Chilê trở thànhnước xuất khẩu cá hồi đứng thứ hai thế giới và tốc độ xuất khẩu gia tăng ổn định
Năm là Chính phủ có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường
Trước hết vai trò của chính phủ là tạo hành lang pháp lý cho việc phát triển thuỷsản Kinh nghiệm của Nauy, Nhật, Mỹ… sớm ra đời Luật nuôi thuỷ sản đã gópphần tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, đảm bảo sạch môi trường nước, tạo
ra sự tin tưởng của khách hàng khi sử dụng sản phẩm
Chính phủ của các nước như Indonesia, Ấn Độ, Thái Lan đã có những chươngtrình tổ chức hội thảo, tiếp thị, hỗ trợ cung cấp giống, hỗ trợ xây dựng tiêu chuẩn
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 32HCCP…để gây tiếng vang cho ngành thuỷ sản nước nhà, giúp doanh nghiệp nângcao tính cạnh tranh sản phẩm.
Sáu là xây dựng hệ thống chợ thuỷ sản bán buôn giúp giảm được chi phí tìm kiếm thông tin hàng hoá, giảm chi phí vận tải hàng bảo đảm lợi ích của cả người mua và người bán.
Kinh nghiệm của Đài Loan cho thấy, Đài Loan đã xây dựng 58 chợ bán buônthuỷ sản Trong đó có 38 chợ được lập tại nơi sản xuất, 20 chợ được lập tại nơi tiêuthụ 72% sản lượng thuỷ sản được tiêu thụ qua hệ thống chợ này Việc tổ chức racác chợ giúp chính phủ tập trung hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng: kho lạnh, cân, cơ
sở giám định chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm
Ở Trung quốc, chính phủ thực hiện một vai trò tích cực trong đầu tư xâydựng chợ và dịch vụ thông tin thuỷ sản Ngày nay, có 302 chợ cá với quy mô lớndùng để chế biến và tiêu thụ thuỷ sản Năm 1997, 12,5 triệu tấn thuỷ sản đã dượcbán trên các chợ với tổng giá trị là 138,6 tỷ tệ Chính phủ đồng thời cũng hợp nhấtcác trung tâm thông tin thị trường phân tán trước đây và thiết lập một mạng lướigồm 142 thành viên trong toàn quốc tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ sảnphẩm thuỷ sản giữa các vùng [7]
Tóm lại, nuôi trồng và tiêu thu thuỷ sản của Việt nam trong những năm vừa
qua đã đạt nhiều thành tựu đáng trân trọng Tuy nhiên, những khó khăn và bật cậpvẫn còn nhiều, thu nhập của người NTTS còn thấp và chưa ổn định Vì thế, kinhnghiệm rút ra từ thực tiễn của các nước trên thế giới sẽ là bài học hết sức quý báu đểnghề NTTS của Việt nam phát triển bền vững và ổn định
1.4 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Trong thủy sản nuôi tôm là nghề đem lại giá trị kinh tế cao, trong thời giangần đây nghề nuôi tôm đã có sự tiến bộ vượt bậc và đạt được kết quả đáng trântrọng, bởi chỉ sau 9 năm từ năm 2000 đến năm 2009 tôm nuôi nước lợ đã vươn lêngiữ vị trí quan trọng số một trong ngành thủy sản Việt Nam với kim ngạch xuấtkhẩu năm 2009 đạt hơn 210.000 tấn đạt trên 1,67 tỷ USD Phát triển nhanh chóng
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 33của nghề nuôi tôm đã đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết nhất là trong vấn đề tiêu thụtôm Chính vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này, điển hình là:
+ Đề tài “Tiêu thụ thủy sản nuôi trồng ở Thừa Thiên Huế” do PGS,TS
Phùng Thị Hồng Hà Khoa Kinh Tế Và Phát Triển Trường đại học Kinh Tế Huếthực hiện năm 2008 Kết quả mà đề tài đạt được là: Nghiên cứu đã mô tả các hoạtđộng chuỗi cung thủy sản như sản xuất, mua và bán của tường chủ thể trong chuỗi(nhà cung ứng đầu vào, người sản xuất tôm, thu gom và nhà máy chế biến xuấtkhẩu) Thứ hai, sơ đồ chuỗi cung đã được xác định bao gồm các chức năng chuỗi,các chủ thể tham gia chuỗi, kênh thị trường và nhà hỗ trợ/thúc đẩy chuỗi Thứ ba,phân tích kinh tế chuỗi bao gồm chi phí sản xuất, chi phí tăng thêm, giá trị gia tăng,tổng thu nhập và lợi nhuận chuỗi Cuối cùng, nghiên cứu đã đưa ra được các giảipháp nhằm nâng cao hiệu quả tiêu thụ thủy sản nói chung và tiêu thụ tôm nói riêng
ở tỉnh Thừa Thiên Huế
+ Đề tài “Phân tích chuỗi giá trị tôm ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, Việt Nam” do TS Võ Thị Thanh Lộc Viện nghiên cứu phát triển Đồng Bằng Sông Cửu
Long, trường đại học Cần Thơ thực hiện năm 2008 Kết quả đạt được: Nghiên cứu đã
mô tả các hoạt động chuỗi giá trị tôm như sản xuất, mua, bán và xu hướng của từngchủ thể trong chuỗi (nhà cung ứng đầu vào, người sản xuất tôm, thu gom/ người mua
sỉ và nhà máy chế biến xuất khẩu) Thứ hai, sơ đồ chuỗi giá trị đã được xác định vàbao gồm các chức năng chuỗi, các chủ thể (tác nhân) tham gia chuỗi, kênh thị trường
và nhà hỗ trợ/thúc đẩy chuỗi Thứ ba, phân tích kinh tế chuỗi bao gồm chi phí sảnxuất, chi phí tăng thêm, giá trị gia tăng, tổng thu nhập và lợi nhuận chuỗi cũng nhưtham gia lao động chuỗi của các tác nhân Thứ tư, phân tích SWOT liên quan đến mặtmạnh, mặt yếu, cơ hội và nguy cơ cũng như xác định các vấn đề về chất lượng củasản phẩm của chuỗi Cuối cùng, nghiên cứu còn đề cập đến một chiến lược nâng cấpchuỗi nhằm để tăng giá trị gia tăng, thu nhập và lợi nhuận, lợi thế cạnh tranh cũngnhư phát triển bền vững ngành tôm ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
Nhìn chung các đề tài đã hình thành và khái quát được chuỗi cung thủy sảnnói chung và sản phẩm tôm nói riêng bao gồm chi phí, lợi nhuận của các tác nhântrong chuỗi cung Bên cạnh đó đề tài còn đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 34chuỗi cung và từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tiêu thụ thủy sảnnói chung và tiêu thụ tôm nói riêng.
Đối với địa bàn tỉnh Hà Tĩnh: Là tỉnh có tiềm năng để phát triển thủy sản nóichung và tôm nói riêng Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu nào về vấn đề tiêu thụtôm được thực hiện trên địa bàn Hà Tĩnh Vì thế, đề tài luận văn của chúng tôi lànghiên cứu đầu tiên về vấn đề này
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 35CHƯƠNG 2 -TÌNH HÌNH TIÊU THỤ TÔM Ở TỈNH HÀ TĨNH
Kỳ Anh (trong đó có 4 huyện và 1 thị xã miền núi); có 261 xã, phường, thị trấn (241
xã, 8 phường, 12 thị trấn) 7 huyện, thị dọc Quốc lộ 1A; 3 huyện dọc theo đường Hồ
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 36Chí Minh và 4 huyện có tuyến đường sắt Bắc - Nam đi qua Theo trục Đông - Tây,
Hà Tĩnh có Quốc lộ 8, Quốc lộ 12 qua Lào, Thái Lan
Diện tích đất tự nhiên 6.019 km2, dân số Hà Tĩnh có 1.227.554 người (điềutra dân số ngày 01/04/2009) có 127 km đường Quốc lộ 1A, 87 km đường Hồ ChíMinh và 70km đường sắt Bắc - Nam chạy dọc theo hướng Bắc Nam, có đườngQuốc lộ 8A chạy sang Lào qua cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo với chiều dài 85 km,Quốc lộ 12 dài 55 km đi từ cảng Vũng Áng qua Quảng Bình đến cửa khẩu Cha Losang Lào và Đông Bắc Thái Lan [21]
Ngoài ra Hà Tĩnh còn có 137 km bờ biển có nhiều cảng và cửa sông lớn cùngvới hệ thống đường giao thông khá tốt, rất thuận lợi cho giao lưu văn hoá phát triểnkinh tế xã hội cũng như phát triển nuôi trồng thủy sản
2.1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Khí hậu
Hà Tĩnh nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưng củakhí hậu miền Bắc có mùa đông lạnh
Tuy nhiên, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc từ lục địa Trung Quốc tràn
về bị suy yếu nên mùa đông đã bớt lạnh hơn và ngắn hơn so với các tỉnh miền Bắc
và chia làm hai mùa rõ rệt 1 mùa lạnh và 1 mùa nóng
Nhiệt độ bình quân ở Hà Tĩnh thường cao Nhiệt độ không khí vào mùa đôngchênh lệch thấp hơn mùa hè Nhiệt độ đất bình quân mùa đông thường từ 18- 22oC, ởmùa hè bình quân nhiệt độ đất từ 25,5 - 33oC Nhiệt độ đóng vai trò quan trọng choquá trình sinh trưởng và phát triển của sinh vật nói chung và các loài nuôi trồng thủysản nói riêng Mỗi loài có khoảng nhiệt độ thích ứng riêng Khả năng chống chịu củachúng nằm trong khoảng giới hạn nhất định Ví dụ nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng
và phát triển của tôm sú giới hạn trong khoảng 25 – 32oC, nếu nhiệt độ cao hơn 32oChoặc thấp hơn 25oC thì sự phát triển của tôm sẽ bị ảnh hưởng như tôm chậm lớn Nhưvậy, có thể thấy khí hậu ở Hà Tĩnh khá thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản nói chung
và nuôi tôm nói riêng [21]
Trang 37Sông ngòi Hà Tĩnh có thể chia làm 3 hệ thống:
- Hệ thống sông Ngàn Sâu: có lưu vực rộng 2.061 km2, có nhiều nhánh sông
bé như sông Tiêm, Rào Trổ, Ngàn Trươi
- Hệ thống sông Ngàn Phố: dài 86 km, lưu vực 1.065 km2, nhận nước từHương Sơn cùng với Ngàn Sâu đổ ra sông La dài 21 km, sau đó hợp với sông Lamchảy ra Cửa Hội
- Hệ thống cửa sông và cửa lạch ven biển có: nhóm Cửa Hội, Cửa Sót, CửaNhượng, Cửa Khẩu
Các hồ đập chứa trên 600 triệu m3nước, cùng với hệ thống Trạm bơm LinhCảm, hệ thống Sông La, Ngàn Sâu, Ngàn Phố thì lượng nước phục vụ cho sinh hoạt,công nghiệp và tưới cho cây trồng ở Hà Tĩnh là khá lớn
Nguồn nước là một trong những yếu tố quyết định cho sự thành công chophát triển nuôi trồng thủy sản Với hệ thống sông ngòi dày đặc việc nuôi trồng thủysản ở Hà Tĩnh sẽ rất thuận lợi [21]
2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
Tình hình kinh tế xã hội năm 2008
Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 10%, trong đó: khu vực công nghiệp - xâydựng tăng 16,9%, thương mại dịch vụ tăng 10,1%; khu vực nông - lâm - ngư nghiệptăng 3,6%,
Sản xuất Nông, Lâm, Ngư nghiệp tuy bị ảnh hưởng thời tiết, rét đậm kéo dài, dịch bệnh nhưng hầu hết các chỉ tiêu đều tăng khá so với năm 2007, sản xuất lương thực được mùa toàn diện.
Giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp đạt 2.724 tỷ đồng, tăng 7,5% so vớinăm 2007, trong đó nông nghiệp đạt 2.155 tỷ đồng, tăng 6,88%; lâm nghiệp đạt 221
tỷ đồng, tăng 8,25%; thuỷ sản đạt 348 tỷ đồng, tăng 10,98%
Diện tích NTTS 7.500 ha, tăng trên 300 ha so với năm 2007 Đội tàu đánhbắt được củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động, đến nay đã có 3.500 tàu với tổngcông suất trên 55.000 mã lực Tổng sản lượng đánh bắt và NTTS đạt 35.400 tấn,bằng 98,3% kế hoạch, tăng 12,9% so với năm 2007; trong đó sản lượng khai thácđạt 22.400 tấn, nuôi trồng 13.000 tấn, chế biến đạt 3.800 tấn, giá trị chế biến đạt 21triệu USD [18]
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 38Lĩnh vực Công nghiệp - Xây dựng tăng trưởng nhanh, đóng góp gần 50% tăng trưởng GDP toàn tỉnh, phát huy tốt năng lực các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn.
Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng ước đạt 4.528 tỷ đồng, bằng 104,3%
so với kế hoạch, tăng 16,38% so với năm 2007, trong đó công nghiệp đạt 1.677 tỷđồng, tăng 18,5% so với năm 2007 (khu vực kinh tế quốc doanh tăng 19,6%, khuvực kinh tế ngoài quốc doanh tăng 16,2%, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nướcngoài tăng 28,3%) [18]
Môi trường đầu tư được cải thiện; hoạt động xúc tiến, thu hút vốn đầu tư đã
có bước chuyển biến rõ rệt cả về số lượng và chất lượng.
Các cấp, các ngành đã tập trung chỉ đạo quyết liệt, thực hiện đồng bộ các giảipháp để phát huy tiềm năng lợi thế, tạo điều kiện thuận lợi thu hút các doanh nghiệpđầu tư trên địa bàn, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, có nhiều cố gắng trongcông tác giải phóng và bàn giao mặt bằng cho doanh nghiệp triển khai thực hiện dự
án cơ bản đúng cam kết
Đã cấp phép đầu tư cho 22 dự án với tổng vốn đăng ký 130.550 tỷ đồng;trong đó có 12 dự án có vốn đăng ký trên 100 tỷ đồng Đặc biệt Tập đoàn Formosa(Đài Loan) đã tổ chức khởi công xây dựng Khu liên hợp luyện thép và cảng SơnDương (giai đoạn 1) với tổng mức đầu tư gần 7,9 tỷ USD [18]
Lĩnh vực Thương mại - Dịch vụ cơ bản đáp ứng nhu cầu về trao đổi hàng hoá, tiêu thụ sản phẩm, đồng thời thực hiện tốt các giải pháp kiềm chế lạm phát, từng bước ổn định thị trường.
Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ và doanh thu dịch vụ xã hội dự kiến
cả năm đạt 7.505 tỷ đồng, tăng 25% so với năm 2007 Kim ngạch xuất khẩu đạt 50triệu USD, bằng 100% kế hoạch và tăng 7,4% so với năm 2007
Dịch vụ bưu chính - viễn thông và công nghệ thông tin có bước tăng trưởngkhá, hệ thống cơ sở hạ tầng được tăng cường, đến nay 100% số xã đã có điện thoại
cố định, 98% số xã được phủ sóng điện thoại di dộng; doanh thu ngành bưu chính viễn thông đạt 250 tỷ đồng
-ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 39Thu ngân sách nội địa ước đạt 731,841 tỷ đồng, bằng 103,4% kế hoạch, tăng4,2% so với năm 2007; trong đó: thu cấp quyền sử dụng đất 290,3 tỷ đồng, bằng106,6% kế hoạch; thu ngoài quốc doanh 146,9 tỷ đồng, bằng 98,5% kế hoạch; thuquốc doanh 98,58 tỷ đồng, bằng 83% kế hoạch; thu thuế xuất nhập khẩu, thuế VAThàng nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu đạt 95 tỷ đồng, bằng 136%
kế hoạch Chi ngân sách cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ theo kế hoạch, đảm bảo
an sinh xã hội, phục vụ phòng chống thiên tai, dịch bệnh và một số yêu cầu cấpbách khác [18]
Huy động vốn đầu tư phát triển khá, góp phần tích cực vào việc xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển kinh tế - xã hội.
Tổng các nguồn vốn đầu tư phát triển trên địa bàn năm 2008 đạt 6.021,29 tỷđồng, tăng 79,2% so với năm 2007 và bằng 169,1 % kế hoạch (trong đó nguồnthuộc kế hoạch 2007 chuyển sang 2008 là 526,804 tỷ đồng) Nguồn vốn đầu tư dongân sách nhà nước quản lý (kể cả vốn ODA) là 3.456,3 tỷ đồng, bằng 147,59%;trong đó: vốn ngân sách tỉnh quản lý đạt 163,25%; vốn ODA đạt 108,1%; vốn ngânsách TW quản lý đạt 136,99% so với Nghị quyết HĐND tỉnh giao Mặc dầu do ảnhhưởng của thời tiết, sự biến động của giá cả, lạm phát tăng cao, nhưng nhìn chungcác dự án tiếp tục được triển khai khá hơn năm 2007, dự kiến tỷ lệ giải ngân cả nămước đạt 78%
Công tác quy hoạch được quan tâm, đã phê duyệt và triển khai quy hoạchphát triển đến năm 2020 các ngành, lĩnh vực: Bưu chính Viễn thông; Quy hoạchphát triển các loại cây trồng, vật nuôi chủ yếu; Quy hoạch chi tiết một số cụm côngnghiệp, khu du lịch, khu đô thị, thị trấn; điều chỉnh quy hoạch chung thành phố HàTĩnh và quy hoạch Giao thông Vận tải; Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xãhội của tỉnh đến năm 2020 đã được HĐND tỉnh thông qua, đang trình các Bộ, ngànhTrung ương và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt [18]
Lĩnh vực Tài nguyên - Môi trường đã được quan tâm: đang tiếp tục triển
khai công tác điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất cấp huyện và cấp xã; hoàn thành,bàn giao hồ sơ quy hoạch của 67 xã Triển khai đo đạc bản đồ địa chính và thu hồi
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 40đất bồi thường, giải phóng mặt bằng các công trình trọng điểm, như: Dự án đườngNam cầu Cày - cầu Thạch Đồng; Dự án cải thiện môi trường đô thị miền Trung;Đường nối quốc lộ 1A - mỏ sắt Thạch Khê vv Tổ chức thẩm định, phê duyệt báocáo đánh giá tác động môi trường các dự án đầu tư trên địa bàn, đồng thời tăngcường công tác quản lý khai thác khoáng sản [18].
Dân số và lao động
Theo kết quả điều tra ngày 1/4/2009, tỉnh Hà Tĩnh có 1.227.554 người.Trong đó, số người trong độ tuổi lao động xã hội toàn tỉnh là 457.270 người, chiếm37,25% dân số Trên địa bàn toàn tỉnh có 5 thành phần dân tộc chính, đông nhất làdân tộc Kinh chiếm gần 99% Các dân tộc thiểu số gồm dân tộc Lào có 594 người;dân tộc Mường có 403 người, dân tộc Chứt có 127 người
Bảng 2.1 - Cơ cấu lao động hoạt động trong nông nghiệp phân theo ngành nghề
là 2.636 chiếm một tỷ lệ rất nhỏ khoảng hơn 0,5%
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ