Công trình đã nghiên cứu vấn đề trí thức nữ dưới một góc nhìn mới, góp phần quan trọng trong việc xóa bỏ định kiến giới, khẳng định vai trò to lớncủa người phụ nữ đối với sự phát triển c
Trang 1MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
1.2 Giá trị, hạn chế của các công trình nghiên cứu và những nội dung mới
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ PHỤ NỮ LÃNH ĐẠO, QUẢN
LÝ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
2.1 Một số vấn đề cơ bản về lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị 39
2.2 Cơ sở lý luận về phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị ở vùng
2.3 Cơ sở thực tiễn về phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị ở
Chương 3: THỰC TRẠNG PHỤ NỮ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ TRONG HỆ
THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG VÀ NHỮNG
3.1 Thực trạng phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị ở vùng đồng
3.2 Nguyên nhân thực trạng phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị
ở vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ đổi mới 92 3.3 Một số vấn đề đặt ra hiện nay đối với phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ
thống chính trị ở vùng đồng bằng sông Hồng 103
Chương 4: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG PHỤ NỮ LÃNH ĐẠO,
QUẢN LÝ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG
Trang 3Bảng 2.1: Tỷ lệ phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống cấp ủy Đảng 61
Bảng 2.2: Tỷ lệ phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong Quốc hội qua các nhiệm
Bảng 2.3: Tỷ lệ phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong Hội đồng nhân dân các
Bảng 2.4: Tỷ lệ phụ nữ lãnh đạo, quản lý đoàn thể cấp tỉnh, huyện, xã 64
Bảng 3.1: So sánh tỷ lệ nữ ủy viên BCH Đảng bộ các cấp: tỉnh, huyện,
xã vùng đồng bằng sông Hồng nhiệm kỳ 2010-2015 81Bảng 3.2: So sánh tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp vùng
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài luận án
Các nhà tương lai học khi dự báo xu hướng phát triển của nhân loại ở thế
kỷ XXI đã nhận định rằng, yếu tố quan trọng nhất quyết định sự phát triển
chính là lao động trí tuệ, nguồn lực con người, trong đó có lao động nữ Việc
giải phóng, phát huy tiềm năng của phụ nữ là đòi hỏi khách quan và bức thiếtcủa sự phát triển xã hội Sự bình đẳng và tiến bộ về giới trong lãnh đạo chínhtrị sẽ tạo điều kiện khai thác và phát huy một cách có hiệu quả lao động nữ, đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc trong bối cảnh
toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
Chiếm khoảng 50,54% dân số và 50,6% lực lượng lao động xã hội [11,tr.61], phụ nữ Việt Nam không ngừng phát huy vai trò và khả năng, sức sáng tạocủa mình trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, góp phần tích cực vào
sự phát triển chung của đất nước Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Mặttrận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, trong những năm đổi mới vừa qua
vị thế của phụ nữ ngày càng được nâng cao, nhất là trong lĩnh vực lãnh đạo,quản lý; số lượng nữ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị (HTCT)
ở Việt Nam ngày càng có xu hướng gia tăng Tuy nhiên, so với tiềm năng của
phụ nữ và với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, phụ nữ lãnh đạo, quản lý các cấptrong HTCT còn ít về số lượng, hạn chế về chất lượng trong tương quan so sánhvới nam giới Phụ nữ đảm nhiệm chức vụ “cấp phó” hay tham gia ở “lĩnh vực xãhội” trong công tác lãnh đạo, quản lý đang trở thành phổ biến, có tính chất nhưhiệu ứng xã hội từ cấp vi mô đến cấp vĩ mô
Những hạn chế trên, ngoài nguyên nhân do sự chỉ đạo và thực hiện chính
sách chưa hiệu quả của các cấp, các ngành về công tác cán bộ nữ, còn do định
kiến giới, thiếu tin tưởng vào năng lực lãnh đạo, quản lý của phụ nữ Sự tự ti,
an phận cùng với gánh nặng công việc gia đình mà người phụ nữ phải đảmnhận càng làm trầm trọng thêm khoảng cách giới trong lĩnh vực lãnh đạo, quản
lý ở nước ta hiện nay
Trang 5Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là địa bàn có quá trình phát triển lâu đời
về văn hóa và truyền thống cách mạng, có sự phát triển khá cao về kinh tế - xãhội; đặc biệt, trình độ dân trí luôn đạt mức cao so với các vùng khác trong toànquốc Tuy nhiên, tỷ lệ phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong HTCT ở vùng ĐBSH chỉ
đạt 23,3% trong khi đó vùng Trung du và miền núi phía Bắc là 26,6%; vùngTây nguyên là 24,2%; vùng Đông Nam Bộ là 27,5% [Phụ lục 1]
Phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong các khối, các cấp của HTCT tuy có tăngdần so với trước, nhưng mức tăng, giảm qua các nhiệm kỳ luôn có sự biến
động, thậm chí ở một số tỉnh trong vùng có sự sụt giảm rõ nét Không chỉ thấp
về số lượng mà các vị trí lãnh đạo, quản lý của phụ nữ chủ yếu trong các tổchức chính trị - xã hội, khối đoàn thể và đa số là vị trí cấp phó Ở vị trí càngcao, tỷ lệ phụ nữ lãnh đạo, quản lý càng thấp, nhất là ở các vị trí ra quyết định.Rất ít phụ nữ tham gia những vị trí chủ chốt cấp tỉnh, huyện, thành phố, trong
khi đó, ở nhiều vùng khác trong cả nước, sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí
chủ chốt có xu hướng gia tăng
Nguyên nhân của nghịch lý nêu trên xuất phát từ nhiều yếu tố, nhưngtheo tác giả luận án, định kiến giới vẫn là chủ yếu Định kiến giới dường như
đã áp đặt những giá trị và vai trò khác nhau giữa nam và nữ theo hệ thống
chuẩn mực truyền thống, theo khuôn mẫu xã hội là rào cản khiến cho phụ nữphải đối mặt với nhiều thách thức khi nắm giữ các vị trí lãnh đạo, quản lý Mặc
dù đây cũng là nguyên nhân chung về tình trạng bất bình đẳng giới trên cảnước hiện nay, nhưng đối với ĐBSH, định kiến giới dường như có phần nặng
nề hơn; tính “thâm căn, cố đế” của nó sâu sắc hơn; sự biến đổi của nó chậmchạp hơn rất nhiều so với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của vùng nói riêng
và trình độ nhận thức về bình đẳng giới của cả nước nói chung
Đây là vấn đề phức tạp cả về nhận thức lý luận lẫn trong hoạt động thực
tiễn mà cho đến nay vẫn chưa được nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện
Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn vấn đề: “Ph ụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị ở vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ đổi mới” làm đề tài luận
Trang 6án tiến sĩ triết học, chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học, với mong muốngóp phần làm rõ hơn thực trạng, nguyên nhân của vấn đề và từ đó đề xuất cácgiải pháp khắc phục.
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về phụ nữ lãnh đạo, quản lý
trong HTCT, phân tích làm rõ thực trạng và những vấn đề đặt ra, luận án đềxuất một số quan điểm, giải pháp nhằm tăng cường số lượng, chất lượng phụ
nữ lãnh đạo, quản lý trong HTCT ở vùng ĐBSH hiện nay
2.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu
Một là, khái quát cơ sở lý luận và thực tiễn về phụ nữ lãnh đạo, quản lý
trong HTCT;
Hai là, phân tích làm rõ thực trạng phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong HTCT
ở vùng ĐBSH và những vấn đề đặt ra hiện nay;
Ba là, đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm tăng cường phụ nữ lãnh
đạo, quản lý trong HTCT ở vùng ĐBSH hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu về số lượng, chất lượng, tỷ lệ phụ nữ lãnh đạo, quản
lý trong HTCT ở ba khối cơ quan: Đảng, Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc vàcác tổ chức chính trị - xã hội; các cấp tỉnh/thành phố, quận/huyện/thị xã vàxã/phường/thị trấn Trong đó, luận án tập trung nghiên cứu về số lượng, tỷ lệphụ nữ lãnh đạo, quản lý khối cơ quan Đảng và Chính quyền vùng đồng bằngsông Hồng hiện nay
3.2 Ph ạm vi nghiên cứu
Về không gian: ĐBSH (gồm 11 tỉnh, thành phố); trong đó luận án chú
trọng phân tích một số tỉnh/thành phố có tính đại diện: Thành phố Hà Nội (đạidiện cho trung tâm); Hải Phòng, Vĩnh Phúc (đại diện cho các tỉnh phía ĐôngBắc); Nam Định, Hà Nam (đại diện cho các tỉnh phía Nam)
Trang 7Về thời gian: Luận án nghiên cứu phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong HTCT
ở vùng ĐBSH thời kỳ đổi mới, trong đó chủ yếu tập trung khảo sát: cấp tỉnh
nhiệm kỳ 2011 - 2016; cấp huyện, xã nhiệm kỳ 2010 - 2015
Về lĩnh vực: Tác giả tập trung nghiên cứu phụ nữ trong Ban Chấp hành
(BCH), Ban Thường vụ (BTV) Đảng ủy, đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND),
Chủ tịch, Phó Chủ tịch thường trực HĐND, Uỷ ban nhân dân (UBND),
trưởng/phó các Sở, Ban, Ngành, phòng chuyên môn, trưởng/phó Mặt trận Tổ
quốc, tổ chức chính trị - xã hội các cấp ở vùng ĐBSH hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và các chủtrương, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về phụ nữ trong lĩnh vực
chính trị nói chung và công tác lãnh đạo, quản lý nói riêng
Luận án tham khảo các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học ở trong
và ở ngoài nước liên quan đến chủ đề của luận án
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa
duy vật lịch sử, luận án sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, sosánh và một số phương pháp liên ngành
Luận án sử dụng phương pháp điều tra xã hội học (gồm các cuộc phỏngvấn sâu được kết hợp trong quá trình nghiên cứu, khảo sát Đối tượng là cán bộlãnh đạo, quản lý trong HTCT các cấp, các tỉnh khác nhau Bảng hỏi: gồm 9câu hỏi, với dung lượng mẫu là 305, đối tượng hỏi là cán bộ lãnh đạo, quản lýtại một số tỉnh/thành đại diện trong HTCT các cấp ở ĐBSH) [Phụ lục 2]
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Một là, luận án góp phần làm rõ thực trạng phụ nữ lãnh đạo, quản lý
trong HTCT ở vùng ĐBSH, chỉ ra nguyên nhân và những vấn đề đặt ra đối vớiphụ nữ lãnh đạo, quản lý trên phương diện chính trị - xã hội
Trang 8Hai là, luận án góp phần đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường số
lượng, tỷ lệ phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong HTCT vùng ĐBSH hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án cung cấp một số cơ sở lý luận góp phần cho việc hoạch định,thực hiện chính sách về phụ nữ, bình đẳng giới, cán bộ nữ trong HTCT ở cáctỉnh vùng ĐBSH hiện nay
Luận án là tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạynhững chuyên đề liên quan đến phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý, bình đẳng giớitrong tham gia chính trị, thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học và cácchuyên ngành liên quan
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài,kết luận, danh mục các công trình đã công bố của tác giả liên quan đến luận án,danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 4 chương, 11 tiết
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở trong nước
Trong thời kỳ đổi mới, những công trình nghiên cứu liên quan đến phụ nữ,tình hình lãnh đạo, quản lý của phụ nữ ở Việt Nam rất đa dạng, phong phú, luận
án phân loại thành các nhóm sau đây:
1.1.1.1 Nghiên c ứu về phụ nữ, giới và phát triển, bình đẳng giới
Tác giả Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng trong công trình Phụ nữ giới và phát triển [1] đã phân tích mối quan hệ giữa bình đẳng giới và phát triển
-xã hội Trên cơ sở phân tích vị trí, vai trò của phụ nữ trong đổi mới kinh tế - -xãhội gắn với vấn đề việc làm, thu nhập, sức khỏe, học vấn Các tác giả đã khẳng
định chính sách xã hội đối với phụ nữ có ảnh hưởng khá sâu sắc đến bình đẳng
giới và phát triển xã hội
Trong công trình Nho giáo và phát triển ở Việt Nam [62] Giáo sư Vũ
Khiêu đã phân tích sự ra đời và phát triển của Nho giáo Trong đó, vấn đề Nho
giáo với gia đình ngày nay được nghiên cứu khá toàn diện Tuy tác giả chưa đềcập cụ thể đến tác động của Nho giáo đối với phụ nữ khi tham gia lãnh đạo, quản
lý ở Việt Nam nhưng cuốn sách đã khẳng định rằng, cuộc cách mạng ở Việt Namphải gắn liền với cuộc cách mạng trong gia đình, gắn liền với việc giải phóngmọi thành viên trong gia đình, nhất là người phụ nữ khỏi lễ giáo khắc nghiệt và
sự độc đoán của chế độ gia trưởng
Tác giả Lê Thi trong công trình Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới
ở Việt Nam [117] đã làm rõ sự vận dụng quan điểm của Đảng và Nhà nước
cũng như quan điểm tiếp cận giới vào việc xem xét các vấn đề có liên quan đếnbình đẳng giới Từ đó đã nêu lên những vấn đề đáng quan tâm và đề xuất ýkiến về một số chính sách xã hội cần thiết nhằm thực hiện bình đẳng giới trongtình hình mới
Trang 10Báo cáo nghiên cứu chính sách của Ngân hàng Thế giới, Đưa vấn đề giới vào phát triển, thông qua sự bình đẳng giới về quyền, nguồn lực và tiếng nói
[89] Công trình đã đi sâu nghiên cứu một số nội dung cơ bản như: bất bình đẳnggiới trước thế kỷ XXI; bất bình đẳng giới cản bước tiến trình phát triển; chiến
lược ba phần để nâng cao sự bình đẳng giới Trong đó, nhấn mạnh vấn đề thayđổi thể chế nhằm tạo ra sự bình đẳng giới trong các quyền cơ bản Có thể xemđây là điểm nổi bật để đảm bảo sự bình đẳng giới lớn hơn trong tiếng nói và sự
tham gia hoạt động chính trị
Phạm Minh Hạc (chủ biên), Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa [46] Tác giả chỉ ra 5 đặc điểm trí tuệ quan trọng
nhất mà người Việt Nam trong đó có phụ nữ, cần phải có để đáp ứng yêu cầucông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước: năng lực tư duy sáng tạo; năng lực tiếpthu nhanh và vận dụng linh hoạt; năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề; nănglực quản lý; kiến thức rộng rãi và sâu sắc trong nhiều lĩnh vực Trên cơ sở tổnghợp và khái quát các kết quả nghiên cứu, tác giả đã đề xuất mô hình nhân cách
con người Việt Nam thế kỷ XXI - một nhân cách được phát triển toàn diện.Trong đó, nhu cầu và động cơ, hứng thú sở thích trí tuệ và tài năng, nhân sinh
quan và quan niệm giá trị, lý tưởng, niềm tin, tính cách và khí chất của họ đềuphát triển theo hướng lành mạnh Đó là một mô hình gắn bó chặt chẽ giữa haimặt Đức và Tài
Trần Hàn Giang, Về một số lý thuyết nữ quyền [42] Tác giả đã nghiên cứu
nội dung chính của một số lý thuyết nữ quyền phổ biến có lịch sử tồn tại lâu dài
và có thể áp dụng để lý giải các vấn đề phụ nữ, vấn đề giới ở Việt Nam Tiêubiểu là lý thuyết nữ quyền tự do (Liberal Feminism) xuất hiện vào thế kỷ XVIIIvới nội dung tranh luận chủ yếu về vấn đề bình đẳng nam nữ trong giáo dục Vàothế kỷ XIX, lý thuyết nữ quyền tự do có nội dung tranh luận chủ yếu là sự bình
đẳng về quyền công dân và cơ hội kinh tế giữa phụ nữ và nam giới Trong thế kỷ
XX, tranh luận trung tâm của thuyết nữ quyền tự do là phụ nữ và nam giới phải
được đối xử bình đẳng như nhau Nhiều lý luận gia nữ cho rằng, các vấn đề xã
Trang 11hội nảy sinh có nguyên nhân đầu tiên là sự coi thường và hạn chế sự tự do của cánhân, sự phụ thuộc của phụ nữ có nguồn gốc trong tập quán và hạn chế của luật
pháp Theo quan điểm của họ, nam nữ bình đẳng, có thể hợp tác và hòa nhập,
chia sẻ trách nhiệm trong gia đình và ngoài xã hội với nhau chứ không phải tự
do, bình đẳng, giành quyền cho phụ nữ bằng cách tước đoạt quyền và lợi ích củaphái nam
Đỗ Thị Thạch, Phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa [110] Tác giả đã làm rõ quan niệm về trí thức, trí
thức nữ; những cơ sở khẳng định phẩm chất trí tuệ cũng như những yếu tố tác
động đến sự phát triển trí tuệ của phụ nữ Trên cơ sở đó, tác giả đã đi sâu phân
tích sự hình thành, đặc điểm của nguồn lực trí thức nữ Việt Nam, những đónggóp của họ đối với sự phát triển của gia đình và đất nước, trong đó có đóng gópvào lĩnh vực lãnh đạo, quản lý các cấp; đề xuất một số giải pháp nhằm phát huynguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước Công trình đã nghiên cứu vấn đề trí thức nữ dưới một góc nhìn mới,
góp phần quan trọng trong việc xóa bỏ định kiến giới, khẳng định vai trò to lớncủa người phụ nữ đối với sự phát triển của xã hội, nhất là lĩnh vực khoa học vàlĩnh vực lãnh đạo, quản lý nhằm thực hiện bình đẳng giới ở nước ta hiện nay
Cùng chủ đề trên, tác giả Lê Thị Quý trong công trình Phụ nữ trong đổi mới: Thành tựu và thách thức [102] đã đưa ra nhận định: Việt Nam là một nước
đang phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, về cơ bản, nhà nước ta đã
quan tâm và tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển Giải phóng phụ nữ không thểchỉ hiểu đơn giản là vấn đề chính sách mà còn ở cuộc sống thực tiễn Theo tácgiả, nhiều nghiên cứu gần đây đã luận giải tỷ lệ chênh lệch giữa nam và nữ trong
bộ máy lãnh đạo các cấp, đồng thời bước đầu chỉ ra quan niệm, định kiến giớicủa một số cán bộ chính quyền và người dân đối với việc phụ nữ tham gia lãnh
đạo Sự hạn chế của phụ nữ trong giáo dục - đào tạo, việc bố trí sử dụng cán bộ
nữ và việc giữ gìn, phát triển tiềm năng của phụ nữ, tác động của phân công lao
động bất bình đẳng hiện nay đến việc nâng cao năng lực và trao quyền cho phụ
Trang 12nữ được tác giả đánh giá là có nguyên nhân liên quan đến sự phân công lao
động Do vậy, nghiên cứu này cung cấp cho đề tài một số cơ sở của việc phụ nữ
tham gia vào lĩnh vực lãnh đạo, quản lý
Lê Ngọc Văn, Nghiên cứu gia đình - lý thuyết nữ quyền - quan điểm giới
[143] Tác giả của cuốn sách đã nghiên cứu, bước đầu giới thiệu lịch sử hình
thành tư tưởng nữ quyền, một số quan điểm cơ bản, các trường phái lý thuyết,
những cống hiến và những hạn chế của lý thuyết nữ quyền Qua đó, tác giả chỉ rarằng, nghiên cứu vấn đề này chính là cơ sở khoa học cho việc xây dựng chínhsách, chiến lược phát triển gia đình và bình đẳng giới
Phan Thanh Khôi - Đỗ Thị Thạch (đồng chủ biên), Những vấn đề giới - từ lịch sử đến hiện đại [65] Đây là công trình của tập thể các nhà khoa học của
Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.Các tác giả đã nghiên cứu các vấn đề về giới thông qua việc tiếp cận những tácphẩm kinh điển của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh và đường lối,chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam Công trình khoa họcnêu trên đã mang lại những gợi ý cho tác giả luận án khi nghiên cứu về bản chất
và nguyên nhân của bất bình đẳng giới ở Việt Nam
Trần Thị Vân Anh và Nguyễn Hữu Minh (đồng chủ biên), Bình đẳng giới
ở Việt Nam [2] Với việc điều tra cơ bản về bình đẳng giới, các tác giả xác định
thực trạng bình đẳng giới về cơ hội và khả năng nắm bắt cơ hội của phụ nữ, củanam giới; tương quan giữa hai giới trên lĩnh vực lao động - việc làm, giáo dục -
đào tạo, chăm sóc sức khỏe và địa vị trong gia đình, cộng đồng và xã hội Công
trình nghiên cứu này giúp cho tác giả luận án thấy được vai trò của phụ nữ tronggiải quyết các vấn đề của xã hội nói chung và lãnh đạo, quản lý nói riêng
Trên phương diện chính trị - xã hội, các tác giả Trịnh Quốc Tuấn và Đỗ
Thị Thạch trong công trình Khoa học giới - Những vấn đề lý luận và thực tiễn
[129] đã cung cấp một bức tranh về lịch sử phát triển của khoa học giới; đồngthời nghiên cứu vấn đề giới dựa trên cách tiếp cận các lĩnh vực của đời sống gia
đình và xã hội Vấn đề giới trong lĩnh vực lãnh đạo, quản lý được các tác giả
Trang 13phân tích với các nội dung cụ thể như: Mối liên hệ giữa bình đẳng giới vớicông tác lãnh đạo, quản lý; thực trạng tham gia lãnh đạo, quản lý của nam giới
và nữ giới - thành tựu, hạn chế và nguyên nhân và một số giải pháp nhằm khắcphục tình trạng bất bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý Nghiên cứu này
được tác giả kế thừa trong quá trình thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
của luận án
Tác giả Vũ Thị Cúc trong công trình Quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn
đề giới [18] đã phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về nguyên nhân của bất
bình đẳng giới như: tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, sự hạn chế trong nhận thức
người dân, và giải pháp đấu tranh cho bình đẳng giới trong xã hội: “Người đã chỉ
ra rằng để đạt được bình đẳng giới phải thực hiện đồng thời hai việc đó là giải
phóng người phụ nữ khỏi những ràng buộc của những lề thói, tập tục lạc hậu
trong xã hội đồng thời phải thay đổi, nâng cao nhận thức của người đàn ôngtrong xã hội về phụ nữ và bản thân phụ nữ phải tự mình phấn đấu vươn lên đểgiành quyền bình đẳng cho mình” [18, tr.57] Đây là một trong những cơ sở lýluận quan trọng cho tác giả luận án tham khảo trong quá trình nghiên cứu, triển
khai đề tài của mình
Trong đề tài khoa học: Lồng ghép giới hướng tới bình đẳng và phát triển
bền vững ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay [50] tác giả Phạm Thu Hiền đã
phân tích lồng ghép giới trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế và lao động việc
làm, văn hóa - xã hội, giáo dục, y tế và gia đình; đồng thời đề xuất một số giải
pháp và kiến nghị lồng ghép giới nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, pháttriển bền vững Nghiên cứu này là gợi ý cho việc hiện thực hóa mục tiêu phụ nữtham gia lãnh đạo, quản lý của luận án
Ngân hàng Thế giới, Đánh giá Giới tại Việt Nam [90] Báo cáo là sản
phẩm cuối cùng của nhiều hoạt động hợp tác của một số đối tác phát triển nhằmphân tích các vấn đề giới, tạo cơ sở để đối thoại chính sách với Chính phủ Việt
Nam Báo cáo được cấu trúc thành 5 chương, trong đó Chương 4 đề cập đến vấn
đề tỷ lệ tham gia của nữ giới vào các vị trí lãnh đạo, quản lý Trên cơ sở đó Báo
Trang 14cáo đưa ra các khuyến nghị liên quan Các khuyến nghị là căn cứ để tác giả có
thể kế thừa và phát triển trong luận án của mình
Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Về Công ước CEDAW và sự tham gia của phụ nữ vào vị trí quản lý, lãnh đạo (Hội thảo) [13] Hội thảo là diễn đàn
để các tỉnh, thành phố chia sẻ kinh nghiệm về thực hiện Công ước CEDAW và
phát luật bình đẳng giới về bảo đảm quyền cho phụ nữ trên lĩnh vực chính trị;
đặc biệt là trao đổi về giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả Chiến lược quốc gia về
bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 và Chương trình quốc gia về bình đẳng giới
giai đoạn 2011-2015 về các hoạt động tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào
các vị trí lãnh đạo, quản lý Đây là tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả trongquá trình nghiên cứu, đánh giá về công tác cán bộ nữ ở vùng ĐBSH
Ngô Thị Tuấn Dung, Nghị sự toàn cầu về vấn đề phụ nữ và bình đẳng giới
- Lịch sử và hiện tại [24] Bài viết tập trung phân tích, khái quát về bối cảnh, đặc
điểm chương trình nghị sự toàn cầu về vấn đề phụ nữ và thúc đẩy bình đẳng giới,
nêu những vấn đề và thách thức đặt ra trong khoảng ba thập kỷ vừa qua Tác giảbài báo cho rằng, trong khoảng ba thập kỷ gần đây, nhận thức, cam kết chính trị
và định hướng chương trình hành động nhằm mục tiêu bình đẳng giới, tạo quyền
phụ nữ đã trở thành tiền đề đảm bảo ổn định chính trị, hòa bình, an ninh và pháttriển bền vững ở các cộng đồng, quốc gia đã được tăng cường ở cấp độ toàn cầu
Đỗ Thị Thạch, Tác động của toàn cầu hóa đối với thực hiện bình đẳng
giới ở Việt Nam hiện nay [111] Trên cơ sở tiếp cận quá trình toàn cầu hóa như là
một tất yếu khách quan tác động đến mọi quốc gia trên các mặt của đời sống xãhội, tác giả đã phân tích khá rõ sự tác động của toàn cầu hóa đến việc thực hiệnbình đẳng giới trong các mặt đời sống xã hội và gia đình; đề xuất một số giải
pháp để phát huy tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của toàn cầu hóa
tới thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay
Chương trình hợp tác chung giữa Chính phủ Việt Nam và Liên hợp quốc
về Bình đẳng giới, Hệ thống các văn bản quy định hiện hành về bình đẳng giới
và phòng, chống bạo lực gia đình [16] Cuốn sách hệ thống hóa các văn bản
Trang 15chính sách pháp luật về Bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực gia đình Nộidung cuốn sách gồm có 5 phần: 1 Văn bản chỉ đạo của Đảng; 2 Các văn bản
quy định hiện hành về bình đẳng giới; 3 Các văn bản hiện hành về tổ chức bộ
máy về bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ và phòng, chống bạo lực gia
đình; và 5 Một số trích đoạn của các văn kiện quốc tế có liên quan
Phạm Ngọc Tiến, Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn
2011 - 2015 và mục tiêu tăng tỷ lệ lãnh đạo nữ, Hội thảo quốc tế: “Nhu cầu vềnguồn nhân lực - tăng cán bộ quản lý nữ ở Việt Nam” [124] Tác giả đã thống kê
cụ thể các mục tiêu và chỉ tiêu trong lĩnh vực chính trị của chiến lược quốc gia
về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2015, đó là: Tăng cường sự tham gia của phụ
nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo, nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị Với một số hoạt động chính nhằm giúp phụ nữ nâng cao
năng lực tham gia vào các vị trí quản lý, lãnh đạo như: nghiên cứu, đánh giá tácđộng của hệ thống thể chế, chính sách đối với cán bộ nữ; tổ chức các hoạt động
nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý, lãnh đạo chính trị - xã hội.Một trong những giải pháp quan trọng mà tác giả đề ra nhằm giúp phụ nữ nâng
cao năng lực tham chính đó là đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc
tế Bài viết là gợi ý khoa học quan trọng cho tác giả luận án khi triển khai đề tàinghiên cứu
Phạm Minh Anh, Vai trò của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở trong việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới ở Việt Nam [4] Tác giả đã trình bày cơ sở
lý luận và thực tiễn về cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở và bình đẳng giới
Đồng thời phân tích, đánh giá thực trạng vai trò, các yếu tố tác động đến cán bộ
lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở trong việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới ở nước
ta hiện nay Từ đó, tác giả cuốn sách đã đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằmgóp phần nâng cao vai trò cũng như hiệu quả thực hiện mục tiêu bình đẳng giớicủa cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở trước mắt cũng như lâu dài
Bùi Thế Cường, Phụ nữ Việt Nam trong kỷ nguyên biến đổi xã hội nhanh [20] Theo tác giả:“đổi mới là một thời đoạn mới trong lịch sử Việt Nam, diễn ra
Trang 16trong bối cảnh một khuôn khổ phát triển chung mang tính toàn cầu giới là mộtchủ đề then chốt, xuyên suốt mọi chủ đề khác” [20, tr.9] Cuốn sách bao gồmnhiều mảng vấn đề như: Vận dụng tiếp cận giới vào nghiên cứu ở Việt Namtrong thập niên 2000; Giới trong Giáo dục đào tạo; Phụ nữ và gia đình; Phụ nữ
vươn lên vượt khó; Từ nhận thức đến hành động: những câu chyện thành công
Trong đó, đặc biệt có chuyên đề: Phụ nữ quản lý và lãnh đạo trong khu vực công
ở Việt Nam, tác giả Vũ Mạnh Lợi đã nhấn mạnh:“Tình trạng bình đẳng giới
trong Đảng được thể hiện ở tình hình về giới trong hệ thống chính quyền các
cấp” [20, tr.266] Tuy chưa đưa ra giải pháp nào cho tình hình này nhưng tác giả
đã có những phân tích cho thấy trên thực tế, phụ nữ có rất ít đại diện trong mọi vị
trí lãnh đạo ở mọi ngành trong khu vực công
Lưu Song Hà, Phan Thị Thu Hà, Chất lượng nguồn nhân lực nữ qua lăng
kính giới [45] Bài viết đã phân tích chất lượng nguồn nhân lực nữ ở nước ta hiện
nay ở những khía cạnh như: thể lực (chỉ số về nhân trắc của nhân lực nữ ở nước
ta thường thấp, bé, nhẹ cân và biểu hiện sức khỏe như mất ngủ, căng thẳng tâm
lý, hay quên, suy giảm thị lực, chóng già phổ biến hơn nam giới); trí lực (trình
độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, trình độ ngoại ngữ và tin học, kỹ năng
nghề nghiệp như kỹ năng hợp tác với người khác, kỹ năng sử dụng công nghệthông tin trong công việc, kỹ năng thuyết phục người khác và kỹ năng sử dụng,vận hành những phương tiện kỹ thuật, công nghệ thì nhân lực nữ đều sử dụng
kém hơn lao động nam) và tâm lực (đối với lao động nữ, phẩm chất nổi bật nhất
là tính hợp tác và hạn chế nhất là tính năng động, linh hoạt, sáng tạo; còn vớinam giới, phẩm chất được đánh giá tốt là ý thức kỷ luật lao động và hạn chế ởtinh thần trách nhiệm) Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đã đề ra một số giải phápnhằm góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ và bình đẳng giới Tác
giả nhấn mạnh:“Vấn đề giới cần được xem xét một cách có hệ thống trong việc
lập kế hoạch, xây dựng thể chế, chính sách và luật pháp” [45, tr.50] Các giảipháp còn mang tính sơ lược, nhưng đã gợi mở cho tác giả hướng đánh giá về vấn
đề giới khi nghiên cứu về các giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, quản
lý cho phụ nữ
Trang 17Lê Thị Quý, Bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay [103] Tác giả đã phân tích quan niệm về bình đẳng giới và nhấn mạnh:“Thực tế cuộc sống Việt Nam
cho thấy, có sự khác biệt về bình đẳng giới thực chất và bình đẳng giới hìnhthức” [103, tr.76] Bài viết đã chỉ ra quá trình phát triển nhận thức giới ở ViệtNam và nhận định: Phụ nữ ngày nay đã được độc lập về kinh tế, được tham gia
và thừa nhận trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, gia
đình, thậm chí ở nhiều nơi, họ còn đứng ở vị trí lãnh đạo cao cấp Đây là những
biểu hiện của bình đẳng giới thực chất ở Việt Nam [dẫn theo 103, tr.77] Về luậtpháp và chính sách bình đẳng giới, Việt Nam đã có những tiến bộ về giới, côngnhận quyền bình đẳng nam và nữ ở trong xã hội và gia đình Tác giả đã bước đầuchỉ ra những thách thức hay bình đẳng giới hình thức ở nước ta như: luật thì có
nhưng không được thực hiện, sự vất vả của phụ nữ trong vai trò “kép”, nhất là
chính sách quy định độ tuổi về hưu của phụ nữ là 55 tuổi, nam giới là 60 tuổi,
chính sách này đã hạn chế các đóng góp và đề bạt đối với phụ nữ trí thức, nhất là
khi tỷ lệ phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý vốn đã nhỏ bé, chênh lệch so vớinam giới, do đó, họ lại càng không có điều kiện thuận lợi hơn để phát triển
Đỗ Thị Thạch, Nữ trí thức Việt Nam trước yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế [112] Theo tác giả thì đội ngũ nữ trí thức Việt Nam
nói chung phải đảm bảo ba phẩm chất cơ bản là phẩm chất chính trị vững vàng;
có trí tuệ cao; có trách nhiệm xã hội Để phát huy vai trò của nữ trí thức đáp ứngyêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, cần thực hiện đồng
bộ các giải pháp: Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cá nhân, cộng đồng vềvai trò của nữ trí thức trong phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng gia đình; xâydựng chính sách hợp lý trong đào tạo đội ngũ nữ trí thức; có chính sách sử dụng,
đãi ngộ đội ngũ nữ trí thức hợp lý, xây dựng nữ trí thức chuyên gia, đầu đàn;
quan tâm, tạo điều kiện để nữ trí thức kết hợp tốt chức năng “kép” gia đình và xãhội; xây dựng tổ chức Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, nhất là Hội Nữ trí thức
đại diện cho quyền lợi của trí thức nữ Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến vấn đề
nữ cán bộ lãnh đạo, quản lý
Trang 18Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chương trình lãnh đạo nữ lớp Bồi dưỡng Dự nguồn Cán bộ Cao cấp Khóa III [54] Tác giả PipPa Norris đã
phân tích chuyên đề: “Xây dựng kế hoạch hành động bình đẳng giới trong cơ
quan dân cử ở Việt Nam” thông qua việc giới thiệu các nội dung về các xu
hướng trong khu vực và toàn cầu; những rào cản đối với bình đẳng giới và
khung kế hoạch hành động gồm 6 bước Đặc biệt, nghiên cứu đã đặt ra một loạtcác gợi ý mở về những rào cản đối với bình đẳng giới như: Tại sao lại có sự đốilập giữa các quốc gia? Tại sao không phải là sự tăng trưởng kinh tế? Không phải
là sự dân chủ hóa? Thái độ văn hóa có ý nghĩa quan trọng nhưng rất khó để thay
đổi? Mục tiêu của tác giả nhằm nhấn mạnh việc:“Thúc đẩy và tăng cường vai trò
lãnh đạo của phụ nữ trong chính trị và bình đẳng giới là một vấn đề phát triển,vấn đề nhân quyền và cũng là đạo lý” [54, tr.4] Đây là tài liệu nghiên cứu có giátrị để tác giả luận án tham khảo trong quá trình triển khai đề tài của mình
Chu Thị Thoa, Bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn đồng bằng sông Hồng hiện nay [119] Trên cơ sở phân tích những điều kiện kinh tế, văn hóa, xã
hội ảnh hưởng đến bình đẳng giới trong gia đình nông thôn ĐBSH, tác giả đã chỉ
ra những thành tựu cũng như hạn chế của việc thực hiện bình đẳng giới trong gia
đình ở địa bàn nghiên cứu trong công cuộc đổi mới; đồng thời, đề xuất phươnghướng cơ bản và những giải pháp chủ yếu nhằm từng bước xóa bỏ bất bình đẳng
giới trong gia đình nông thôn ĐBSH hiện nay
Hoàng Bá Thịnh, Về làn sóng nữ quyền và ảnh hưởng của nữ quyền đến địa vị của phụ nữ Việt Nam [118] Tác giả đã trao đổi về sự phân chia các làn
sóng nữ quyền cũng như ảnh hưởng của phong trào nữ quyền đến địa vị của phụ
nữ Việt Nam và tiến trình bình đẳng giới Qua đó, tác giả đi đến kết luận: ở ViệtNam không có phong trào nữ quyền như các nước phương Tây, mà chỉ có phongtrào phụ nữ, do Hội LHPN Việt Nam đứng đầu, dưới sự lãnh đạo của ĐảngCộng sản Việt Nam, thực hiện các mục tiêu của cách mạng, trong đó có mục tiêuquan trọng là tiến tới bình đẳng nam nữ/bình đẳng giới Ở nước ta trong thời kỳ
đổi mới, nhân tố quyết định bình đẳng giới là chính sách, đường lối của Đảng
“có sự nhạy cảm giới”
Trang 191.1.1.2 Nghiên cứu về công tác cán bộ, phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong
hệ thống chính trị ở Việt Nam và ở vùng đồng bằng sông Hồng
Về công tác cán bộ và phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong HTCT ở Việt Nam
có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan:
Vương Thị Hanh, Phụ nữ Việt Nam và sự tham gia chính trị [47] Công
trình nghiên cứu đã chỉ ra một trong những nguyên nhân quan trọng nhất đanglàm cản trở quá trình thực hiện mục tiêu bình đẳng giới ở Việt Nam có liên quan
đến vai trò của cán bộ trong HTCT Đó là sự thiếu quyết tâm và cam kết có trách
nhiệm của thủ trưởng các cấp, các ngành Lãnh đạo các ngành, các cấp thiếu sựchỉ đạo sát sao việc xây dựng và thực hiện quy hoạch cán bộ nữ như tạo nguồn,
đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đề bạt phụ nữ; chưa mạnh dạn sử dụng, đề bạt cán
bộ nữ trẻ Thiếu quan tâm trong việc thực hiện biện pháp đặc biệt về chỉ tiêu phụ
nữ tham gia lãnh đạo, ra quyết định, dẫn đến các chỉ tiêu đưa ra không đạt hoặcthực hiện chỉ tiêu theo cơ cấu hình thức mà không quan tâm đến chất lượng cán
bộ nữ Thiếu kiểm tra, đôn đốc và định kỳ đánh giá việc thực hiện chính sáchcán bộ nữ, thiếu biện pháp thưởng, phạt cần thiết đối với các đơn vị, ban ngànhtrong việc xây dựng và thực hiện chính sách cán bộ nữ
Trung tâm nghiên cứu Khoa học về lao động nữ, Phụ nữ tham gia lãnh đạo quản lý [128] Cuốn sách có chủ đề phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý
nhưng mới phân tích và bàn luận sơ lược về địa vị của phụ nữ Việt Nam trong bộ
máy chính trị hiện tại
Nguyễn Thị Tuyết Nga, Ảnh hưởng của yếu tố văn hóa đến sự tham gia chính trị của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay [86] Nghiên cứu cụ thể của tác giả là
ở địa bàn Hà Giang với nội dung chính là chỉ ra ảnh hưởng của các giá trị truyền
thống và các giá trị hiện đại có sự khác nhau ở các nhóm tuổi và dân tộc Hệ quả
ảnh hưởng của nó tới phụ nữ là phụ nữ có xu hướng lựa chọn cân bằng công việc
xã hội và trách nhiệm gia đình trong trường hợp cụ thể ở mức cao nhất và với sự
phân công lao động trong gia đình thì những quyết định quan trọng vẫn thuộc về
nam giới Bài viết có giá trị tham khảo cho luận án trong quá trình so sánh vềcông tác phụ nữ giữa các vùng, miền ở nước ta hiện nay
Trang 20Võ Thị Mai, Vai trò của nữ cán bộ quản lý nhà nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa [77] Cuốn sách đã phần nào làm rõ thực trạng
và xu hướng biến đổi vai trò nữ cán bộ quản lý nhà nước trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằmnâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ tham gia quản lý nhà nước trong giai đoạnhiện nay Tuy nhiên, ở góc độ tiếp cận xã hội học, cuốn sách là kết quả nghiêncứu về giới trong phạm vi khảo sát, điều tra tại tỉnh Quảng Ngãi thuộc vùngDuyên hải miền Trung
Nguyễn Thị Kỳ, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện công tác cán bộ nữ từ năm 1986 đến năm 2001 [68] Tác giả đã cung cấp một số tư liệu
về các hoạt động của Đảng trong việc khuyến khích và thúc đẩy sự tham gia lãnh
đạo chính trị của phụ nữ Trên cơ sở sử dụng các số liệu thống kê và báo cáo
hoạt động của một số bộ ngành, tác giả đã phân tích những vấn đề thuộc về thểchế chính trị nhưng thiếu vắng sự phân tích chi tiết về tác động của yếu tố chínhsách trong lĩnh vực này
Nguyễn Đức Hạt (chủ biên), Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hệ thống chính trị [48] Cuốn sách là kết quả nghiên cứu của Đề tài độc
lập cấp Nhà nước của Ban Tổ chức Trung ương Các tác giả đã góp phần làmsáng tỏ những luận cứ khoa học, thực tiễn về việc nâng cao vị trí, vai trò, nănglực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hệ thống bộ máy Đảng, Nhà nước và các tổchức đoàn thể ở nước ta, đồng thời, nhấn mạnh việc giải quyết các vấn đề liênquan tới nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong HTCT; đa dạng hóagiá trị, tăng quyền và mở rộng cơ hội lựa chọn cho nam - nữ một cách hợp lýnhằm phát huy mọi tiềm năng, sức lực của cả hai giới đối với sự phát triển bềnvững của đất nước
Nguyễn Thị Thu Hà, Định kiến giới đối với nữ trong lãnh đạo, quản lý
[43] Tác giả làm rõ khái niệm định kiến giới, biểu hiện định kiến giới đối vớiphụ nữ: tiềm năng lãnh đạo, đặc điểm tính cách, hành vi lãnh đạo thực tế Bài
Trang 21viết nhấn mạnh, đó chính là một trong những yếu tố trực tiếp cản trở phụ nữtham gia bình đẳng vào các vị trí lãnh đạo, quản lý ở các cấp Tuy nhiên, nhữngluận giải về tác động của định kiến giới đối với phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý
ở Việt Nam chưa đủ sức thuyết phục về các vấn đề liên quan của luận án
nghiên cứu
Đinh Thị Hà, Sự tham gia của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong đời
sống chính trị - xã hội [44] Đề tài đã hệ thống hóa và phân tích một số vấn đề lý
luận cơ bản về sự hình thành và phát triển của Hội LHPN; khái quát vị trí, vai tròcủa Hội LHPN trong HTCT Việt Nam; phân tích, đánh giá thực trạng tham giacủa Hội LHPN trên các lĩnh vực văn hóa, kinh tế, xã hội, đặc biệt là thực tiễntham gia hoạt động chính trị: hoạt động của các hội viên trong bộ máy Đảng vàchính quyền các cấp, việc thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội;những khó khăn và thuận lợi khi tham gia hoạt động chính trị - xã hội của HộiLHPN, những mặt mạnh cần phát huy và những hạn chế cần khắc phục Từ đó,tác giả đã nêu ra một số phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy và nâng caohiệu quả tham gia đời sống chính trị - xã hội của Hội LHPN trong HTCT ViệtNam hiện nay
Trần Đình Hoan (chủ biên), Đánh giá, quy hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [53] Cuốn
sách đã khái quát những vấn đề lý luận và thực tiễn cũng như cơ sở khoa học;
chỉ ra những yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đốivới công tác đánh giá, quy hoạch, luân chuyển cán bộ Đặc biệt, các tác giả đãphân tích quá trình thực hiện công tác này từ năm 1986 đến nay; nêu ra một số
quan điểm, giải pháp đổi mới, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tácđánh giá, quy hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước
Nguyễn Thị Phương, Một số yếu tố tác động đến tỷ lệ nữ trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XII [96] Bài viết đã phân tích một số yếu tố ảnh hưởng
đến tỷ lệ nữ trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XII và chỉ ra những yếu tố khách
Trang 22quan có sự tác động đến kết quả tăng tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội như sự lãnh
đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, công tác quy hoạch tạo nguồn cán bộ nữ,
việc sắp xếp danh sách bầu cử, công tác tuyên truyền và việc nâng cao nhậnthức giới của cử tri Bên cạnh đó, bài viết còn cho rằng, các yếu tố khách quan
như học vấn, nghề nghiệp, lĩnh vực, vị trí công tác và uy tín của bản thân các
nữ ứng cử viên cũng là những điều kiện quan trọng quyết định sự thành côngcủa họ trong quá trình bầu cử
Lê Thị Thục, “Tính nữ và tính nam: Nan đề của phụ nữ Việt Nam trong lãnh đạo chính trị” [122] Tác giả đã bước đầu khái quát những vấn đề mang
tính hệ thống, đóng vai trò rào cản đối với việc nắm giữ quyền lực chính trị củaphụ nữ Việt Nam trong bộ máy chính trị hiện đại Tuy nhiên, do khuôn khổ củanghiên cứu chủ yếu phục vụ mục đích học tập nên chưa bao quát được toàn bộcác vấn đề nghiên cứu về lĩnh vực này, nhưng luận án đã đóng vai trò gợi mởcho những nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu hơn cho các nghiên cứu khác vềlĩnh vực này
Trần Thị Vân Anh, Những trở ngại đối với sự phấn đấu của nữ lãnh đạo
[3] Tác giả đã trình bày những bằng chứng khá thuyết phục về những trở ngại
chính đối với sự phấn đấu của cán bộ nữ lãnh đạo Đó là: ảnh hưởng, tác động
của những người có trách nhiệm, việc tạo nguồn và kiểm tra, đánh giá công táccán bộ nữ; trở ngại từ các quy định chính sách; sự ảnh hưởng của định kiến vàchuẩn mực cũ ở gia đình, cộng đồng và cơ quan Chẳng hạn như chuẩn mực, sự
mặc định về năng lực của nam giới cao hơn so với nữ giới: “Nếu một người phụ
nữ về năng lực làm việc như một người nam giới thì chắc chắn người ta bỏ phiếucho nam giới Không phải chỉ người nam bỏ phiếu cho người nam đâu mà tâm lýchung là nữ giới cũng bỏ cho người nam giới Có thể nhiều người không thích bịmột người phụ nữ lãnh đạo, đặc biệt là nam Có thể họ cũng nghĩ là phụ nữ ít cóthời gian dành cho công việc hơn, vì phụ nữ còn có công việc gia đình” (Nữ,
lãnh đạo sở, thành phố) “Người ta không nói ra nhưng lúc nào người ta cũng
nghĩ là nam giới làm tốt hơn” Người có trách nhiệm thường mong muốn ở nam
Trang 23và nữ lãnh đạo các phẩm chất khác nhau, đây là những kỳ vọng về “tiêu chuẩn”
một cách không chính thức, nằm sâu trong nhận thức và những suy nghĩ của mỗi
cá nhân Thông thường, nữ làm lãnh đạo, quản lý thường bị quan sát, đánh giá và
dễ bị phê bình hơn so với nam giới Trong gia đình thì chuẩn mực về phụ nữ
trước hết là người phục vụ gia đình còn khá phổ biến [3, tr.23-24]
Nguyễn Văn Tài, Phát huy tính tích cực xã hội của đội ngũ cán bộ nước
ta hiện nay [106] Với kết cấu 3 chương, tác giả đã phân tích: thực chất quá trình
phát huy tính tích cực xã hội của đội ngũ cán bộ - những cơ sở lý luận và thựctiễn của đường lối, chính sách cán bộ của Đảng ta; vai trò nhân tố con người của
đội ngũ cán bộ và tình hình phát huy tính tích cực xã hội của đội ngũ cán bộnước ta hiện nay Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp khoa học về những vấn
đề cơ bản nhằm phát huy tính tích cực xã hội, kiện toàn, nâng cao chất lượng củađội ngũ cán bộ ở nước ta hiện nay
Nguyễn Thế Thắng (chủ biên), Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng phong cách làm việc của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay
[115] Tác giả đã đề cập đến hai vấn đề cơ bản, đó là: (1) tư tưởng Hồ Chí Minh
về phong cách làm việc của cán bộ lãnh đạo, quản lý; (2) vận dụng tư tưởng HồChí Minh vào xây dựng phong cách làm việc của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở
nước ta hiện nay Trong đó, tác giả đã bước đầu nêu ra một số khuyến nghị về
giải pháp xây dựng phong cách làm việc của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
Nguyễn Thúy Anh, Sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị - thể hiện qua bầu cử tại Việt Nam [5] Tác giả đã trình bày một số nội dung cơ bản
như: khuôn khổ pháp lý về bình đẳng giới trong bầu cử, ứng cử (thể hiện qua hệ
thống các văn bản như Hiến pháp, các điều ước quốc tế, Luật và các văn bản
hướng dẫn); sự tham gia của phụ nữ trong Nghị viện trên thế giới và ở Việt Nam
Tác giả đã đưa ra số liệu về sự tham gia của phụ nữ trong nghị viện trên thế giới,
tính đến thời điểm 31/10/2011 thì “trong tổng số nghị sĩ trên thế giới là 44.657
người, phụ nữ là 8547 người chiếm 19,4%” [5, tr.11] Về tỷ lệ nữ đại biểu Quốc
hội Việt Nam khóa XIII so với thế giới thì Việt Nam đứng thứ 39 trên tổng số
Trang 24189 nước; so với các nước trong khu vực Đông Nam Châu Á thì Việt Nam đứng
thứ 3; so với các nước trong khu vực Châu Á cũng như Châu Á Thái Bình
Dương thì Việt Nam đứng thứ 6 Đó là dẫn chứng cho thấy tỷ lệ phụ nữ tại các
nghị viện trên thế giới và Việt Nam không cân xứng với tỷ lệ dân số nữ trongtổng dân số trên toàn thế giới Tuy nhiên, tác giả chưa nêu ra những giải pháp cụthể để khắc phục những hạn chế về sự tham gia của phụ nữ trong Quốc hội trênthế giới và ở Việt Nam
Phạm Thu Hiền, Những rào cản đối với phụ nữ khi tham gia ứng cử đại biểu hội đồng nhân dân [51] Bài viết đã phân tích những rào cản đối với phụ nữ
trong quá trình tham gia ứng cử Hội đồng nhân dân các cấp, cụ thể là rào cản vềnhận thức; rào cản về năng lực; rào cản về cách thức, thủ tục bầu cử (việc sắpxếp liên danh có thể có tác động quan trọng đến kết quả bầu cử, bố trí địa bàn
ứng cử cho các ứng cử viên là một trong những yếu tố tác động đến kết quả
trúng cử); rào cản về văn hóa và lối suy nghĩ truyền thống (định kiến giới đã tác
động đến việc lựa chọn ứng cử viên là nữ, thiếu sự ủng hộ của nam giới tronggia đình, gia đình được xem là tiêu chí để đánh giá về phụ nữ) Trên cơ sở đó, tác
giả đưa ra những giải pháp can thiệp nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữtrong hoạt động của Hội đồng nhân dân
Vũ Mạnh Lợi, Phụ nữ làm lãnh đạo trong khu vực công ở Việt Nam [72].
Tác giả đã phân tích thực trạng phụ nữ làm lãnh đạo trong khu vực công ở ViệtNam chênh lệch khá lớn so với tỷ lệ nữ trong lực lượng lao động Với những sốliệu thực tiễn, bài viết đã chỉ rõ phụ nữ có rất ít đại diện trong lãnh đạo, quản lý
trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh:“Vùng
ĐBSH tỏ ra là nơi có tỷ lệ phụ nữ tham gia làm lãnh đạo thấp, và Đông Nam bộ
là nơi có tỷ lệ nữ làm lãnh đạo cao hơn so với các nơi khác Điều này gợi ra rằngcác khuôn mẫu văn hóa cản trở phụ nữ làm lãnh đạo có tính phổ biến” [72,tr.39] Nghiên cứu này tuy chưa đưa ra giải pháp nào cho tình hình này nhưng làtài liệu hữu ích để tác giả luận án định hướng phân tích số liệu cụ thể một cách
có hệ thống và kỹ lưỡng về đề tài của mình, góp phần làm cơ sở cho hoạt động
Trang 25chính sách trong lĩnh vực thực hiện bình đẳng giới và công tác cán bộ tại vùng
và đề xuất một số giải pháp về vấn đề này, tác giả nhấn mạnh: các nhà lãnh đạo
là cán bộ nữ ngoài những phẩm chất của một nhân tài, họ còn có những phẩmchất mang đặc thù giới nữ nói riêng Bởi vậy, các nhà hoạch định chính sách vàlãnh đạo, quản lý cần quan tâm phát hiện, đào tạo, trọng dụng và tôn vinh nhântài nữ, tạo cho họ có môi trường tốt hơn để làm việc và cống hiến
Hà Quang Ngọc và Nguyễn Minh Phương, Tư tưởng Hồ Chí Minh về tổ chức nhà nước và cán bộ, công chức [91] Cuốn sách đã nghiên cứu nhiều vấn
đề, trong đó đã phân tích nguồn gốc, quá trình hình thành, phát triển tư tưởng Hồ
Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ; những nội dung cơ bản của tư tưởng HồChí Minh về cán bộ, công chức, công tác cán bộ Đặc biệt, các tác giả đã trìnhbày một số vấn đề xoay quanh việc vận dụng tư tưởng của Người vào việc xâydựng đội ngũ cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay; chỉ ra những hạn chế, thiếusót, khuyết điểm cần sớm được khắc phục trong công tác cán bộ Nhóm tác giảnhấn mạnh: việc đổi mới công tác cán bộ chưa toàn diện và chậm so với sự pháttriển của đời sống kinh tế - xã hội; chưa xây dựng được chính sách, môi trườnglàm việc đủ sức thu hút, khuyến khích và tạo động lực để cán bộ phát huy nănglực và cống hiến
Lê Quốc Lý, Những nhân tố cơ bản bảo đảm ổn định và phát triển hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay [73] Tác giả đã nhấn mạnh: bảo đảm đội ngũ
cán bộ, công chức trong HTCT có năng lực trí tuệ, trong sạch, vững mạnh lànhân tố quan trọng nhất, quyết định sự ổn định và phát triển của HTCT Chẳnghạn: công tác quy hoạch cán bộ phải đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ,
Trang 26công tác luân chuyển cán bộ phải đảm bảo đạt yêu cầu về tiêu chuẩn, triển vọngphát triển trong nguồn quy hoạch.
Vũ Văn Phúc (chủ biên), Thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong hệ thống chính trị hiện nay [95] Cuốn sách đi sâu
luận giải những vấn đề người đứng đầu cấp ủy, chính quyền; người đứng đầu vớitập thể cấp ủy, chính quyền trong HTCT Từ đó, các tác giả đã gợi mở, chỉ ra vấn
đề tiếp tục đổi mới nhằm nâng cao vị thế, thẩm quyền người đứng đầu cấp ủy,
chính quyền Đáng chú ý là nội dung vai trò, trách nhiệm và thẩm quyền người
đứng đầu trong công tác cán bộ hiện nay Tác giả nhấn mạnh, trong quá trình
thực hiện đường lối đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Đảng ta xác định: “Phát triển kinh tế là nhiệm vụtrung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt” Công tác xây dựng Đảng gồmnhiều mặt, nhiều nội dung và nhiều khâu khác nhau, trong đó công tác cán bộ
được xác định là khâu có ý nghĩa then chốt Vì vậy, thẩm quyền, trách nhiệm củangười đứng đầu trong công tác cán bộ là hết sức quan trọng
Đỗ Thị Thạch, Tăng cường tham gia của phụ nữ vào lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay [113] Tác giả đã đưa ra minh chứng phân tích về vai trò, sự
đóng góp, điểm mạnh và điểm yếu của phụ nữ trong lĩnh vực lãnh đạo, quản lý,đồng thời chỉ ra một số những nguyên nhân hạn chế sự tham gia lãnh đạo, quản
lý của phụ nữ ở các cấp như: định kiến về năng lực lãnh đạo, quản lý của phụ nữvẫn còn khá nặng nề; rào cản về quy định tuổi nghỉ hưu; ảnh hưởng của công
việc gia đình Bài viết nhấn mạnh:“Tình trạng phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý
còn thấp về số lượng và chất lượng ảnh hưởng lớn tới nguồn nhân lực chất lượngcao của đất nước, đồng thời ảnh hưởng tới việc thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ
mà Chính phủ Việt Nam đã cam kết với các tổ chức quốc tế” [113, tr.43] Theotác giả, trong bối cảnh hiện nay, để tăng tỷ lệ nữ trong lĩnh vực lãnh đạo, quản
lý cần thiết phải: (1) Nâng cao nhận thức cho cán bộ và nhân dân về sự cầnthiết của việc phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý, nhất là hiệu quả của tỷ lệ công
Trang 27bằng về giới trong các vị trí ra quyết sách ở các cấp; (2) Tăng cường tuyêntruyền làm thay đổi định kiến giới trong gia đình và xã hội; (3) Xem xét và điềuchỉnh tuổi nghỉ hưu của phụ nữ; (4) Thực hiện nghiêm túc và hiệu quả các chủ
trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về lao động nữ nói chung, lao động nữ
trong lĩnh vực lãnh đạo, quản lý nói riêng; (5) Phụ nữ cần có tinh thần vượt quanhững rào cản về giới tính để phấn đấu vươn lên trong học tập, công tác Đây làtài liệu tham khảo có ý nghĩa thực tiễn quan trọng khi tác giả thực hiện luận án
Trần Thị Thanh Nhàn, Quy hoạch cán bộ diện Ban Thường vụ tỉnh, thành
ủy quản lý ở đồng bằng Bắc Bộ [92] Tác giả đã có sự phân tích khá phong phú
với những số liệu thực tiễn cụ thể về kết quả thực hiện thống nhất, đồng bộ việc
tổ chức quán triệt chủ trương, định hướng xây dựng kế hoạch quy hoạch cánbộ; công tác chuẩn hóa cán bộ quy hoạch theo tiêu chuẩn được tiến hành
thường xuyên, có kế hoạch, mục tiêu cụ thể; việc rà soát, bổ sung quy hoạch
bảo đảm quy trình chặt chẽ, hiệu quả Bên cạnh đó, tác giả chỉ ra một số kinhnghiệm từ thực tế việc quy hoạch cán bộ diện Ban Thường vụ tỉnh, thành ủyquản lý ở đồng bằng Bắc Bộ như sự chỉ đạo của Trung ương và trách nhiệm, sựnghiêm túc, phối hợp chặt chẽ của cấp ủy các tỉnh, thành phố vùng đồng bằngBắc Bộ về công tác quy hoạch cán bộ; công tác đánh giá, rà soát, xây dựng quyhoạch cán bộ; đồng thời, đề cao trách nhiệm, phát huy vai trò của đội ngũ cán
bộ chuyên trách, các lực lượng tham gia thực hiện công tác quy hoạch cán bộlãnh đạo, quản lý Tuy nhiên, tác giả chưa chú trọng đến giải pháp cụ thể có
tính đến khía cạnh giới trong công tác quy hoạch cán bộ diện Ban Thường vụ
hội ảnh hưởng đến bình đẳng giới trong gia đình nông thôn ĐBSH, tác giả đã chỉ
ra những thành tựu cũng như hạn chế của việc thực hiện bình đẳng giới trong gia
Trang 28đình ở địa bàn nghiên cứu trong công cuộc đổi mới; đồng thời, đề xuất phươnghướng cơ bản và những giải pháp chủ yếu nhằm từng bước xóa bỏ bất bình đẳng
giới trong gia đình nông thôn ĐBSH hiện nay
Nguyễn Thái Sơn, Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [105] Tác giả đã nghiên cứu vị trí, vai trò, chức năng của đội ngũ
cán bộ lãnh đạo chủ chốt và yêu cầu công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôncác tỉnh ĐBSH cùng những vấn đề cần giải quyết đối với đội ngũ cán bộ lãnh
đạo chủ chốt; xác định tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt nói chung và tiêu
chuẩn từng chức danh cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh
Dương Minh Đức, Nâng cao năng lực tư duy lý luận của cán bộ lãnh đạo
chủ chốt cấp tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay [39] Luận án xác định
phẩm chất tối thiểu thuộc về năng lực tư duy lý luận của cán bộ chủ chốt cấptỉnh; làm rõ vai trò năng lực, tư duy lý luận đối với hoạt động của cán bộ lãnh
đạo; thực trạng và nguyên tắc, giải pháp phát huy, nâng cao năng lực tư duy lý
luận của đội ngũ cán bộ cấp tỉnh
Cao Khoa Bảng, Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của hệ thống chính trị cấp tỉnh, thành phố (Qua kinh nghiệm của Hà Nội) [8] Cuốn
sách đã phân tích một số vấn đề như: cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ; quanđiểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ và
xây dựng đội ngũ cán bộ; nghiên cứu, tổng kết, đánh giá thực trạng công tác xâydựng cũng như nguyên nhân, bài học kinh nghiệm và những yêu cầu đặt ra đốivới công tác xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo của HTCT thuộc diện Ban
Thường vụ Thành ủy quản lý Từ đó, tác giả đã đề ra phương hướng và giải pháp
chủ yếu nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo của HTCT thuộc diện Ban
Thường vụ Thành ủy quản lý hiện nay
Nguyễn Dương Hùng, Kiện toàn hệ thống chính trị ở xã nhằm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay [59] Tác giả
đã nghiên cứu vấn đề kiện toàn HTCT ở cấp xã và mối quan hệ với quyền làm
Trang 29chủ của nhân dân; phân tích thực trạng HTCT ở cấp xã và vai trò của nó đối vớiquyền làm chủ của nhân dân vùng ĐBSH Thông qua đó, tác giả đã nêu ra
phương hướng, đặc biệt là một số giải pháp chủ yếu nhằm kiện toàn HTCT ở cấp
xã vùng ĐBSH như: nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân vềvai trò và trách nhiệm của cơ sở, HTCT ở cấp xã cũng như của từng bộ phận cấuthành hệ thống
Đinh Ngọc Giang, Chuẩn hóa Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã các tỉnh đồng
bằng sông Hồng giai đoạn hiện nay [41] Luận án khảo sát, đánh giá thực tiễn về
các chủ tịch Ủy ban nhân dân xã ở các tỉnh ĐBSH và việc chuẩn hóa đội ngũ cán
bộ Từ đó, đề xuất các giải pháp khả thi nhằm thực hiện mạnh mẽ việc chuẩn hóa
đội ngũ này giai đoạn hiện nay
Ngô Kim Ngân và Lâm Quốc Tuấn (đồng chủ biên), Phong cách làm việc của người bí thư huyện ủy hiện nay qua khảo sát vùng đồng bằng sông Hồng
[87] Các nghiên cứu đã bàn về phong cách làm việc của người bí thư huyện ủy
từ khảo sát vùng ĐBSH và những tố chất cần có của người đứng đầu cấp ủy mộthuyện Công trình cũng đã đề xuất những giải pháp có tính thực tiễn để xây dựngphong cách làm việc của người bí thư Một tài liệu cần tham khảo từ cuốn sách
là các bảng hỏi mang tính điều tra, phỏng vấn sâu để có câu trả lời về phongcách lãnh đạo, phong cách ứng xử của người bí thư huyện ủy Đây là tài liệutham khảo bổ ích cho đề tài
Phạm Tất Thắng, Đánh giá cán bộ huyện diện ban thường vụ tỉnh ủy quản
lý các tỉnh đồng bằng sông Hồng giai đoạn hiện nay [114] Tác giả trình bày
những vấn đề lý luận và thực tiễn đánh giá thực trạng về đội ngũ cán bộ huyệndiện Ban Thường vụ tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh vùng ĐBSH Trên cơ sở đó, tácgiả đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm đánh giá đúng đối với đối
tượng cán bộ trên từ nay đến năm 2020
Trần Sỹ Dương, Tâm lý sản xuất nhỏ ở đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay [26] Tác giả đã phân tích cơ sở hình thành và những
đặc trưng của tâm lý sản xuất nhỏ ở đồng bằng Bắc Bộ; những ảnh hưởng cũng
Trang 30như xu hướng biến đổi của tâm lý sản xuất nhỏ ở đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ
sở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay Tác giả cũng đã nêu ra một số giải pháp để khắcphục tâm lý sản xuất nhỏ trong vùng thông qua hoạt động lãnh đạo đẩy mạnhquá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng đời sống văn hóa - xã hội và
đẩy mạnh dân chủ hóa ở cơ sở; nâng cao trình độ và phẩm chất đạo đức cách
mạng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở hiện nay
Trịnh Thanh Tâm, Xây dựng đội ngũ nữ cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị cấp xã (qua khảo sát thực tiễn ở đồng bằng sông Hồng) [107] Cuốn
sách đã cung cấp nhiều tư liệu điều tra khảo sát vùng ĐBSH về các phương diện;
thực trạng đội ngũ nữ cán bộ của HTCT trên địa bàn, những thuận lợi, khó khăntrong xây dựng đội ngũ cán bộ nữ Giá trị khoa học của công trình biểu hiện tậptrung ở những phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng đội ngũ nữ cán
bộ chủ chốt vùng ĐBSH đến năm 2020 Đây là một công trình có ý nghĩa thựctiễn sâu sắc, là tài liệu tham khảo quan trọng để tác giả luận án kế thừa khi thựchiện đề tài
1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở ngoài nước
Bình đẳng giới trong lãnh đạo chính trị là một trong những mục tiêu rấtquan trọng đối với sự phát triển toàn diện của các quốc gia Tuy nhiên, nghiêncứu về phụ nữ lãnh đạo, quản lý và bình đẳng giới trong lĩnh vực này lại xuấthiện khá muộn Những nghiên cứu đầu tiên về chủ đề này trên thế giới xuất hiệnvào khoảng cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970 Một số công trìnhnghiên cứu tiêu biểu gần đây là:
Kim Dung (lược dịch), Vấn đề giới trong các báo cáo thực hiện và phát
triển Mục tiêu thiên niên kỷ [23] Tác giả tổng hợp Tuyên bố thiên niên kỷ của
189 nguyên thủ quốc gia thành viên Liên hiệp quốc thông qua vào tháng 9 năm
2000 tại New York - Mỹ nhằm xây dựng một thế giới tốt đẹp và an toàn hơn chothập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI bằng việc hợp tác phát triển và hữu nghị Nhữngcam kết này không chỉ có giá trị thiết yếu cho sự phát triển mà còn là quyền cơ
Trang 31bản của mỗi con người Trong tám mục tiêu thiên niên kỷ, bình đẳng giới vànâng cao vị thế cho phụ nữ (Mục tiêu 3) có ý nghĩa quan trọng không phải vì tựthân vấn đề này mà còn là phương tiện để đạt các mục tiêu khác, càng bình đẳnggiới trong lĩnh vực chính trị thì đầu tư hợp tác, phát triển càng thuận lợi.
Anne Marie Goetz, Ai có trách nhiệm trả lời phụ nữ? Giới và trách nhiệm giải trình [6] Báo cáo đã xây dựng cơ sở cho một chế độ giải trình mới đối với
quyền của phụ nữ và bình đẳng giới; đưa ra các ví dụ cho thấy mức độ đòi hỏicủa phụ nữ về trách nhiệm giải trình đối với hành động thực hiện cam kết thúc
đẩy bình đẳng giới và quyền của phụ nữ từ phía Chính phủ các nước, hệ thốngcác cơ quan tư pháp và thực thi pháp luật Từ sự phân tích tổng tuyển cử ở Kê-
nia năm 2007, nhóm tác giả đã khẳng định:“Phụ nữ đang được sử dụng lá phiếu
của mình để tăng cường vị thế của họ như là thành viên của các nhóm lợi ích,
kể cả các nhóm lợi ích về bình đẳng giới” [6, tr.17] Bản Yêu sách của Phụ nữ
Ailen năm 2007 với tiêu đề “Phụ nữ muốn gì từ Chính phủ mới của Ailen” có
5 yêu cầu, trong đó yêu cầu đầu tiên là “Tăng thêm số lượng phụ nữ nắm giữ
các vị trí ra quyết định” [6, tr.20] Báo cáo là bức tranh về việc phân tích và mô
phỏng các dẫn chứng thực tiễn về ý chí và tiếng nói của phụ nữ, chỉ rõ:“Phụ nữ
cần phải hiện diện ở tất cả các cấp của quá trình ra quyết định trong chính phủ,trong nền kinh tế và tại cộng đồng” [6, tr.111] Đây là tài liệu tham khảo có giátrị giúp tác giả luận án có cơ sở khoa học khi đánh giá về công tác cán bộ nữ ở
ĐBSH hiện nay
UNIFEM, Đảm bảo các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ phục vụ toàn thể nhân dân: Các phương pháp tiếp cận đáp ứng Giới dựa trên các quyền con người [135] Công trình khoa học là tài liệu nguồn về cách thức thực hiện các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ theo phương diện bình đẳng giới và trao quyền
cho phụ nữ Tài liệu này đặc biệt được xây dựng nhằm hỗ trợ các nhà hoạch địnhchính sách, các nhà lập kế hoạch và các nhà thực hành thuộc khu vực Chính phủ
và xã hội dân sự để phát triển, thực hiện và giám sát các chiến lược để đạt mụctiêu cho tất cả mọi người phụ nữ và nam giới, trẻ em gái và trẻ em trai theo cách
Trang 32thức phù hợp với các mục tiêu toàn cầu và các chỉ số vào bối cảnh quốc gia và
địa phương
UNIFEM, Cách tiếp cận có trách nhiệm giới đối với các mục tiêu phát triển [136] Nội dung của báo cáo đã lý giải các chiều cạnh của bất bình đẳng
giới trong việc thực hiện 8 Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ mà 189 quốc gia
(trong đó có Việt Nam) đã cam kết thực hiện Bất bình đẳng giới cũng chính là
lực cản đối với việc thực hiện các Mục tiêu Thiên niên kỷ Báo cáo thực sự là tàiliệu bổ ích đối với các nhà hoạch định chính sách Tuy nhiên, báo cáo dừng lại ởmức độ chung nhất, mà chưa đưa ra những gợi ý cụ thể khi áp dụng vào bối cảnhcủa các nước khi thực hiện lồng ghép giới vào Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ,
và việc áp dụng có thể sẽ khác nhau do yếu tố văn hóa, xã hội, kinh tế
UNIFEM, Giới và Trách nhiệm giải trình [137] Cuốn sách đã cho thấy
những nỗ lực của thế giới trong việc xóa bỏ bất bình đẳng giới và thực hiện lồngghép giới nhằm đáp ứng tốt hơn quyền lợi cho phụ nữ, góp phần thay đổi cách tưduy về trách nhiệm giải trình đối với vấn đề giới Giá trị của cuốn sách thể hiện ởviệc phân tích lồng ghép giới vào một số lĩnh vực như chính trị, dịch vụ, thị
trường, tư pháp, hỗ trợ và an sinh Tuy nhiên, những cách thức cụ thể cần tiến
hành khi lồng ghép giới vào các lĩnh vực chưa được tổ chức UNIFEM chú trọngnghiên cứu một cách hệ thống
UNIFEM, CEDAW và pháp luật: Nghiên cứu rà soát văn bản pháp luật Việt Nam trên cơ sở quyền và giới qua lăng kính CEDAW [138] Ý nghĩa thực
tiễn của công trình là đánh giá sự tuân thủ của văn bản pháp luật Việt Nam vớicác tiêu chuẩn về bình đẳng giới theo khuôn khổ giới và quyền Nghiên cứunhấn mạnh những giác độ giới trong các lĩnh vực cụ thể và chỉ ra những nhu cầusửa đổi, bổ sung văn bản pháp luật trong tương lai
Rea Abada Chiongson, CEDAW và pháp luật: Nghiên cứu rà soát văn bản pháp luật Việt Nam trên cơ sở quyền và giới qua lăng kính CEDAW, Lê
Thành Long (Chủ biên dịch) [104] Là chuyên gia về bình đẳng giới, quyền con
người và luật quốc tế, tác giả đã đánh giá sự tuân thủ của văn bản pháp luật Việt
Trang 33Nam với các tiêu chuẩn về bình đẳng giới theo khuôn khổ giới và quyền, nhấnmạnh những giác độ giới trong các lĩnh vực cụ thể, chỉ ra những nhu cầu sửa đổi,
bổ sung văn bản pháp luật, đưa ra phân tích và khuyến nghị, đồng thời cung cấpthông tin cho những nghiên cứu rà soát văn bản pháp luật Việt Nam trong tương
lai Đặc biệt, Báo cáo khẳng định: “Vì Việt Nam là quốc gia một đảng mà theo
đó Đảng Cộng sản Việt Nam nắm quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội, cho nên
sự lãnh đạo và tham gia của phụ nữ trong Đảng Cộng sản Việt Nam là yếu tốquan trọng để phụ nữ có thể được bầu hoặc bổ nhiệm vào các chức vụ quản lý,lãnh đạo” [104, tr.21]
Ngô Thị Tuấn Dung, Kinh nghiệm thúc đẩy bình đẳng giới ở khu vực châu Âu [25] Tác giả khái quát một số giai đoạn phát triển và công tác thúc đẩy
bình đẳng giới của Hội đồng châu Âu qua các giai đoạn cụ thể như: (1) giai đoạn
1949 - 1979: “giải quyết vấn đề bất bình đẳng giới theo tiếp cận truyền thống
chưa quan tâm xác định, xây dựng thể chế chính thức nhằm giải quyết vấn đề
bình đẳng nam và nữ, chưa tìm kiếm biện pháp hoặc xây dựng hướng dẫn cụ thể
về bình đẳng giới cho các quốc gia thành viên” [25, tr.19]; (2) giai đoạn 1979 1980: thiết lập cơ chế thể chế chính thức đảm bảo bình đẳng nữ và nam trong tổchức; (3) giai đoạn 1981 - 1986: nỗ lực thay đổi tình trạng bất bình đẳng giữanam và nữ; (4) giai đoạn 1987 - 1991: thiết lập cấu trúc bình đẳng giới bền vững
-và lâu dài, với tên gọi là Uỷ ban Bình đẳng phụ nữ -và nam giới châu Âu; (5) giai
đoạn từ 1992 đến nay: áp dụng biện pháp lồng ghép giới vào mọi lĩnh vực chính
sách ở cấp khu vực và quốc gia thành viên
Bài viết là tài liệu tham khảo có giá trị về hoạt động, kinh nghiệm giảiquyết vấn đề bất bình đẳng giới, xây dựng hướng dẫn triển khai thực hiện bình
đẳng giới tại quốc gia thành viên Hội đồng châu Âu Qua đó, luận án có thể tham
khảo một số bài học kinh nghiệm về nhận thức và giải quyết vấn đề, cách tiếpcận bình đẳng từ hình thức sang thực chất; công tác thu thập thông tin giới; định
hướng tư duy, nghiên cứu về bình đẳng giới nhất là trong lĩnh vực chính trị
Trang 34UN Women, (United Nations Entity for Gender Equality and theEmpowerment of Women - Các thực thể của Liên Hợp quốc về bình đẳng giới
và trao quyền cho phụ nữ), Pháp luật của chúng ta có thúc đẩy bình đẳng giới,
Sổ tay nghiên cứu rà soát pháp luật dựa trên công ước CEDAW, (Dịch ra tiếng
Việt: Hà Ngọc Anh) [139] Tài liệu được xây dựng từ kinh nghiệm của các nước
Đông Nam Á, nhưng có thể áp dụng trên phạm vi toàn cầu Với nội dung hướng
dẫn rà soát luật pháp nhằm đánh giá các luật có phân biệt đối xử với phụ nữ hay
không Đây là một tài liệu tham khảo hữu ích đối với các nhà lãnh đạo, quản lý
trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách Cụ thể là từ việc lập kế hoạchcho tới việc tiến hành rà soát pháp luật, với việc tham vấn, cách làm việc để
hướng tới bình đẳng giới và cách xây dựng bộ chỉ số rà soát pháp luật trên cơ sởcông ước CEDAW vì mục tiêu bình đẳng giới trong thực tế Đây là một tài liệu
tham khảo hữu ích cho tác giả luận án trong quá trình nghiên cứu về tác độngcủa chính sách pháp luật ở Việt Nam đối với phụ nữ khi tham gia lãnh đạo, quản
lý trong HTCT hiện nay
Kathleen Burke, Sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị và lãnh đạo ở cấp dưới trung ương ở khu vực châu Á Thái Bình Dương [61] Tác giả đã
trình bày một số biểu đồ tổng quan về sự tham gia cấp dưới trung ương của phụ
nữ, cho thấy Ấn Độ là nước có tỷ lệ cao nhất, chiếm trên 35% và thấp nhất làTonga - khoảng 1% Tác giả nhấn mạnh: vai trò lãnh đạo không tương xứng với
sự tham gia của phụ nữ, nhất là trong vai trò người đứng đầu hội đồng Bài viết
chưa quan tâm phân tích về sự tham gia lãnh đạo cũng như các rào cản cụ thể đối
với vị trí lãnh đạo của phụ nữ ở các quốc gia khu vực châu Á Thái Bình Dương
Deborah Chatsis, Chính sách công và sự trao quyền cho phụ nữ: Bài học
từ Canada [21] Tác giả đã đưa ra một bức tranh sáng màu về việc bảo đảm sự
đại diện đầy đủ và bình đẳng của phụ nữ trong các cấp chính quyền ở Canada,
nhất là sự đóng góp ngày càng nhiều của phụ nữ vào khu vực nhà nước Theophân tích của tác giả thì thành tựu này có được là nhờ vào nhiều cách thức, trong
đó bao gồm có hiến pháp, luật, các chương trình và chính sách tập trung thúc đẩy
Trang 35sự bình đẳng Bài viết đã nêu ra một số bài học kinh nghiệm từ thực tế củaCanada trong các nỗ lực thúc đẩy trao quyền cho phụ nữ như: (1) cần phải cókhuôn khổ hiến pháp và luật pháp để đảm bảo các quyền của phụ nữ; (2) các cơquan chính quyền có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quyền bình đẳng ở
nơi làm việc; (3) các biện pháp hỗ trợ phụ nữ thông qua các mạng lưới chính
thức và phi chính thức, các tổ chức tư vấn hay các chương trình đào tạo Đây làbài viết có giá trị giúp tác giả luận án có sự đánh giá khách quan, đa chiều vềthực tiễn tham gia lãnh đạo, quản lý của phụ nữ Việt Nam trong HTCT
UN Women, Thúc đẩy quyền của phụ nữ tại Việt Nam [140] Tại Việt
Nam, UN Women đã phân tích: “trong hơn 30 năm qua, Việt Nam đã chuyển
mình từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới thành một quốc giamới nổi năng động nhất thế giới Trong khi phần đông dân số được hưởng lợi từ
sự phát triển ấn tượng này, những chuẩn mực và khuôn mẫu giới đã và đang
ngăn cản nhiều phụ nữ trong việc phát triển tối đa năng lực của họ” [140, tr.3]
Tuy báo cáo nhấn mạnh bình đẳng giới và việc trao quyền cho phụ nữ là việc cơbản và cần thiết để Việt Nam tiếp tục phát triển kinh tế xã hội, nhưng chưa chỉ ragiải pháp cụ thể nhằm tăng cường sự lãnh đạo và sự tham gia của phụ nữ tronglĩnh vực chính trị
Heather Riddell, Các chính sách công nhận khuyến khích nâng cao năng lực cán bộ nữ - bài học từ Niu Di Lân [49] Tác giả đã trình bày một số vấn đề
về sự tham gia của phụ nữ Niu Di Lân trong vai trò ra quyết định Tác giả đánhgiá mặc dù sự tham gia của phụ nữ trong vai trò ra quyết định ở khu vực nhà
nước tại Niu Di Lân và trong các ủy ban của nhà nước đạt mức độ tương đối cao,
song vẫn còn sự khác biệt giữa các lĩnh vực khác nhau trong khu vực công; cácyếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ trong vai trò ra quyết định nóichung là yếu tố cá nhân, yếu tố tổ chức và yếu tố xã hội Tác giả đánh giá cao vaitrò của các dịch vụ đề cử của Bộ các vấn đề về phụ nữ, vì nó giúp tăng đáng kể
tỷ lệ % của nữ cán bộ trong các cơ quan nhà nước Theo tác giả, để tăng số phụ
nữ nắm các vị trí lãnh đạo thì cần phải giám sát sự tham gia của phụ nữ trong các
Trang 36cơ quan thuộc khu vực nhà nước; thúc đẩy các “trường hợp điển hình”; các nhà
hoạch định chính sách cần phải ưu tiên nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ
để đạt được sự tiến bộ tốt nhất Bài viết đã chia sẻ bài học kinh nghiệm của Niu
Di Lân, góp phần hữu ích cho tác giả luận án trong quá trình triển khai đề tàinghiên cứu tại Việt Nam
Kim Henderson, Tăng cường tiếng nói, vai trò lãnh đạo và sự tham gia của phụ nữ từ châu Á Thái Bình Dương và những nơi khác [67] Tuy chưa có sự
phân tích chi tiết nhưng tác giả đã gợi mở một số vấn đề như: tại sao chúng ta lạicần nhiều lãnh đạo nữ trong khu vực nhà nước? Việc gì đang được thực hiện ởquy mô toàn cầu nhằm đạt mục tiêu đó? Các chiến lược nhằm xây dựng đội ngũlãnh đạo nữ mạnh? Một trong những vấn đề mới nổi trên thế giới hiện nay là tìnhhình phụ nữ nắm những vị trí ra quyết định có thể thay đổi tùy theo mỗi quốc gia
và các cấp dưới trung ương Đặc biệt, tác giả đã đưa ra được tổng quan trong khuvực về các biện pháp thực hiện để tuyển dụng, duy trì và thăng tiến cho phụ nữtheo tỷ lệ % số người trả lời ở châu Á Thái Bình Dương, châu Âu, Bắc Mỹ,Trung Quốc, Ấn Độ, châu Mỹ Latinh; các thị trường đang phát triển về các giảipháp linh hoạt điều kiện làm việc và địa điểm; các chương trình hỗ trợ và điềukiện vật chất giúp hài hòa công việc và cuộc sống gia đình; các chương trình
thúc đẩy phụ nữ kết nối mạng lưới, nhân vật điển hình; các chỉ tiêu giới trong
tuyển dụng, duy trì, thăng tiến và phát triển phụ nữ; yêu cầu trong mỗi đợt xét
thăng tiến phải có ít nhất một ứng viên là nữ Đây là bài viết tổng hợp có giá trị
để luận án tham khảo khi phân tích những vấn đề đặt ra hiện nay đối với phụ nữ
lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam, nhất là vùng ĐBSH hiện nay
UN Women, Suy nghĩ về bình đẳng giới và quyền con người trong công tác đánh giá, (Biên dịch: Đỗ Thị Vinh) [142] Báo cáo bao gồm 4 chủ đề khác
nhau nhưng tựu chung lại đã miêu tả thách thức hiện nay trong công tác đánh giá
về bình đẳng giới và quyền con người của phụ nữ Đây là cơ sở cho việc nghiêncứu cũng như khảo sát giữa các chuyên gia và các nhà thực tiễn trong việc thúc
đẩy bình đẳng giới và tăng quyền năng cho phụ nữ Tuy nhiên, không có chủ đề
nào phân tích cụ thể về phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý
Trang 37UN Women, Những phát hiện chính từ Báo cáo An sinh xã hội cho phụ
nữ và trẻ em gái ở Việt Nam [141] Báo cáo là tài liệu tham khảo khá quan trọng
cho các nhà hoạch định chính sách và quản lý cũng như cho tác giả luận án khinghiên cứu về khía cạnh bình đẳng giới và đảm bảo quyền lợi của phụ nữ Báo
cáo đã bước đầu đánh giá được những vấn đề và thách thức giới trong hệ thống
chính sách an sinh xã hội Chỉ ra tỷ lệ tham gia lực lượng lao động, trình độchuyên môn kỹ thuật, tốc độ tăng việc làm, tốc độ chuyển dịch việc làm, thấtnghiệp, tiền lương bình quân của lao động nữ luôn thấp hơn lao động nam
UNDP (Chương trình phát triển Liên Hợp quốc), Sự tham gia của phụ nữ trong vai trò lãnh đạo và quản lý ở Việt Nam [134] Báo cáo đã bước đầu khái
quát các xu hướng tham gia của phụ nữ trong các cơ quan chính phủ của Việt
Nam, mô tả tổng quan khung pháp lý liên quan đến vai trò lãnh đạo của phụ nữcũng như các rào cản và thách thức đối với phụ nữ trong khu vực nhà nước
Đồng thời, đánh giá một số kết quả nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong lĩnh
vực ra quyết sách, mục tiêu/chỉ tiêu về phụ nữ và lãnh đạo Báo cáo đã nhấn
mạnh: “Mặc dù Việt Nam đạt được nhiều tiến bộ đáng kể trong thúc đẩy bình
đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ, vẫn còn khoảng cách giữa mục tiêu và kỳ
vọng được đề cập trong các văn bản của chính phủ với con số thực tế về sự thamgia của phụ nữ” Tuy nhiên, báo cáo thiếu những phân tích theo chiều sâu đối vớiphụ nữ lãnh đạo, quản lý trong HTCT ở Việt Nam
Jean Munro, Hướng dẫn/dìu dắt ở Việt Nam - Một cách xây dựng năng lực hiệu quả dành cho lãnh đạo nữ [145] Tài liệu đã tổng hợp các kết quả
nghiên cứu, những thách thức chung và kinh nghiệm của các cá nhân trong quátrình xây dựng và triển khai chương trình hướng dẫn/dìu dắt trong cơ quan/tổchức để nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hội nhập quốc tế Tácgiả đã cung cấp một số lý thuyết công cụ, các nội dung chính, các câu hỏi quantrọng khi xây dựng và triển khai chương trình Chẳng hạn như mô hình hướngdẫn/ dìu dắt là sự kết hợp chặt chẽ giữa 3 yếu tố: kiến thức, hướng dẫn và sự tin
tưởng hướng tới sự phát triển, tự tin và hiểu biết xã hội để cán bộ nữ vượt qua
Trang 38các tình huống khó khăn, xây dựng phong cách quản lý, lãnh đạo, thể hiện đượctối đa năng lực của mình Báo cáo chưa đưa ra được các minh chứng cụ thểtrong thực tiễn mà mới chỉ dừng lại ở việc nêu ra khung lý thuyết cho đối tượng
là các điều phối viên chương trình hướng dẫn/dìu dắt
Như vậy, trên thực tế các nghiên cứu thường chỉ tập trung vào xem xét,đánh giá vai trò của phụ nữ trong các cơ quan lập pháp mà không quan tâm
nhiều đến vai trò khác của họ trong bộ máy chính trị Rất ít đề tài nghiên cứu
quan tâm đến vai trò của phụ nữ trên lĩnh vực tư pháp, hành pháp và những cơ
quan nắm quyền lực chính trị khác Đây là một sự thiếu hụt cần được khắc phụctrong các nghiên cứu thời gian tới
Tổng thể các công trình nghiên cứu của một số cá nhân, tổ chức nước
ngoài nêu trên đã cung cấp cho tác giả luận án những cơ sở lý luận quan trọng
khi luận giải về phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong HTCT
1.2 GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG NỘI DUNG MỚI LUẬN ÁN THỰC HIỆN
1.2.1 Giá trị của các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Một là, các công trình, bài viết của các tác giả nêu trên đã đóng góp quan
trọng về mặt lý luận và thực tiễn, luận giải những vấn đề về bình đẳng giới, giảiphóng phụ nữ và vai trò của phụ nữ trong gia đình và cộng đồng, trong đời sốngchính trị - xã hội Các tác giả đã phân tích vị trí, vai trò của phụ nữ trong đổi mớikinh tế - xã hội gắn với vấn đề việc làm, thu nhập, sức khỏe, học vấn chuyênmôn; phụ nữ quản lý kinh tế - xã hội; phụ nữ và gia đình; chính sách xã hội đốivới phụ nữ và ảnh hưởng của chính sách xã hội đối với phụ nữ và thực hiện bình
đẳng giới
Hai là, các nghiên cứu đã chỉ ra tỷ lệ chênh lệch giữa nam và nữ trong bộ
máy lãnh đạo các cấp Quan niệm, định kiến giới, bất bình đẳng giới và sự hạnchế của phụ nữ trong giáo dục đào tạo, việc bố trí sử dụng cán bộ nữ và việc giữgìn, phát triển tiềm năng của phụ nữ, tác động của phân công lao động bất bình
đẳng hiện nay đến việc nâng cao năng lực và trao quyền cho phụ nữ cũng là vấn
Trang 39đề được các tác giả quan tâm và luận chứng trên nhiều góc độ khác nhau Mặt
khác, các công trình nghiên cứu đã chỉ ra những điểm cần lưu ý trong quá trìnhvận dụng lý thuyết nữ quyền, lý thuyết giới vào nghiên cứu phụ nữ nói chung,phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý nói riêng ở Việt Nam
Ba là, các công trình nghiên cứu đã hệ thống hóa các văn bản chỉ đạo
của Đảng; các văn bản quy định hiện hành về bình đẳng giới; các văn bản hiệnhành về tổ chức bộ máy, về bình đẳng giới vì sự tiến bộ của phụ nữ, góp phầnquan trọng trong việc xóa bỏ định kiến giới, khẳng định vai trò to lớn của nữcán bộ lãnh đạo, quản lý nhà nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước
Bốn là, các công trình nghiên cứu đã khái quát vị trí, vai trò của Hội
LHPN trong HTCT Việt Nam; phân tích, đánh giá thực trạng tham gia của HộiLHPN, đặc biệt là sự cần thiết đưa phụ nữ vào tham gia lĩnh vực lãnh đạo, quản
lý, tham gia hoạt động chính trị và chỉ ra một số phương hướng, giải pháp nhằm
thúc đẩy và nâng cao hiệu quả tham gia đời sống chính trị - xã hội của Hội
LHPN trong HTCT Việt Nam hiện nay
Năm là, các công trình nghiên cứu đã phân tích một số vấn đề như: cán bộ
và xây dựng đội ngũ cán bộ; quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ; nghiên cứu, tổngkết, đánh giá thực trạng công tác xây dựng cũng như nguyên nhân, bài học kinhnghiệm và những yêu cầu đặt ra đối với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý trong HTCT; chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nữ trúng cửđại biểu Quốc hội khóa XII, những rào cản đối với phụ nữ trong quá trình tham
gia ứng cử Hội đồng nhân dân các cấp ở nước ta
1.2.2 Hạn chế của các công trình nghiên cứu như là những gợi mở cho nghiên cứu của đề tài luận án
Một là, mặc dù đã có một số nghiên cứu về vấn đề phụ nữ trong chính trị,
cung cấp một số ví dụ về bất bình đẳng giới, tuy nhiên, do mục đích nghiên cứu
và cách tiếp cận khác nhau nên những thông tin trong các nghiên cứu đó mới chỉ
Trang 40giới hạn ở một số lĩnh vực theo từng giai đoạn lịch sử nhất định, chỉ mô tả tìnhhình bất bình đẳng giữa nam và nữ trong đời sống chính trị và đề cập đến một
góc độ cụ thể của những rào cản đối với phụ nữ trong đời sống chính trị ở ViệtNam Chưa có công trình nghiên cứu mang tính hệ thống và toàn diện nào về
phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong HTCT ở ĐBSH hiện nay
Hai là, các công trình nghiên cứu đã lý giải về bất bình đẳng giới trong
HTCT ở Việt Nam, nhưng phần lớn các lý giải đó do phạm vi nghiên cứu riêng
nên đã giới hạn trong phân tích các vấn đề của cấu trúc kinh tế - xã hội Một số
nghiên cứu có đề cập đến các yếu tố văn hóa và thể chế nhưng chưa cung cấpbằng chứng minh họa thuyết phục Vì vậy, tri thức về những rào cản đối với hoạt
động lãnh đạo, quản lý của phụ nữ vùng ĐBSH còn khá hạn hẹp
Ba là, phần lớn các nghiên cứu tiếp cận dưới các góc độ khác nhau khi
phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến chủ đề phụ nữ lãnh đạo, quản
lý trong chính trị hiện nay Chính vì thế các kết luận và khuyến nghị chưa có tínhthống nhất cao, các phân tích chưa thật sự làm sáng tỏ những luận cứ khoa học,
đề xuất những giải pháp hữu hiệu nâng cao số lượng, chất lượng phụ nữ lãnhđạo, quản lý trong bộ máy Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội ởnước ta trong giai đoạn hiện nay Đồng thời, chưa chú trọng việc phân tích sâu
sắc vấn đề định kiến giới đối với phụ nữ lãnh đạo, quản lý, các vấn đề liên quantới việc thúc đẩy sự lãnh đạo, quản lý của phụ nữ trong HTCT ở ĐBSH hiện nay
Bốn là, chưa có tác giả, công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, có hệ
thống dưới góc độ chính trị - xã hội về phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong HTCT ở
vùng ĐBSH thời kỳ đổi mới Đây là một trong những khoảng trống cần được lấpđầy, góp phần nghiên cứu về vấn đề giới trong lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam
1.2.3 Những nội dung mới luận án cần thực hiện làm sáng tỏ
Một là, hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sự lãnh đạo, quản lý của
phụ nữ trong HTCT Lãnh đạo, quản lý là lĩnh vực liên quan trực tiếp nhất đếnquyền lực, đến chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà
nước về quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân trong đó có phụ nữ Đây