LỜI MỞ ĐẦU Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Tươi t×m hiÓu c«ng t¸c ®µo t¹o ngêi dïng tin t¹i trung t©m th«ng tin th viÖn ®¹i häc quèc gia hµ néi LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành khóa luận, ngoài sự cố gắng nỗ[.]
Trang 1tìm hiểu công tác đào tạo ngời dùng tin tại trung tâm thông tin - th viện
đại học quốc gia hà nội
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khúa luận, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thõn, tụi đó được sự giỳp đỡ, hướng dẫn tận tỡnh của cỏc thầy, cỏc cụ, sự động viờn của gia đỡnh, bố bạn Qua đõy tụi xin bày tỏ lũng biết ơn chõn thành đến:
Thạc sỹ, thầy giỏo Trần Hữu Huỳnh - Phú Chủ nhiệm Khoa Thụng tin
- Thư viện, Trường Đại học Khoa học xó hội và Nhõn văn đó cú những định hướng, giỳp đỡ tụi trong suốt quỏ trỡnh thực hiện khúa luận
Cỏc thầy, cụ giỏo Khoa Thụng tin - Thư viện, Trường Đại học Khoa học Xó hội và Nhõn văn Cỏc cỏn bộ tại Trung tõm Thụng tin -Thư viện ĐHQGHN
Gia đỡnh và bạn bố tụi
Trong quỏ trỡnh thực hiện và hoàn thành chắc chắn khúa luận cũn nhiều thiếu sút Rất mong cỏc thầy, cụ giỏo và cỏc bạn đúng gúp ý kiến để khúa luận được hoàn thiện hơn
Tụi xin chõn thành cảm ơn!
Hà Nội, thỏng 5 năm 2009
Sinh viờn
Nguyễn Thị Tươi
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Tìm hiểu công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm Thông tin-Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu được sử dụng trong đề tài đều là những kết quả điều tra xác thực.
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ACRL : Hiệp hội Các thư viện chuyên ngành và các trường đại
học Hoa KỳCD-ROM : Compact Disc Readable Memory
CNTT : Công nghệ thông tin
ĐHQGHN : Đại học Quốc gia Hà Nội
LAN : Mạng cục bộ (Local Area Networking)
OCLC : OCLC Online Computer Library Center
OPAC : Online Public Access Catalog
(Mục lục truy cập trực tuyến)TT-TV : Thông tin -thư viện
UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
LỜI MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài 7
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 8
5 Tình hình nghiên cứu đề tài 8
6 Bố cục của khóa luận 8
Chương 1 9
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO 9
NGƯỜI DÙNG TIN 9
1.1 Kiến thức thông tin và công tác đào tạo người dùng tin 9
1.2 Khái niệm công tác đào tạo người dùng tin 11
1.2.1 Khái niệm 11
1.2.2 Đặc điểm của công tác người dùng tin 12
1.2.3 Vai trò của công tác đào tạo người dùng tin 13
1.2.4 Các kiến thức và kỹ năng cần đào tạo cho người dùng tin 17
1.2.5 Các hình thức đào tạo người dùng tin 17
1.2.6 Các nhân tố tác động tới công tác đào tạo người dùng tin của các cơ quan/trung tâm thông tin – thư viện 18
1.2.6.1 Loại hình, chức năng nhiệm vụ của cơ quan/trung tâm thông tin - thư viện .18
1.2.6.2 Đặc điểm nguồn tin và hệ thống sản phẩm & dịch vụ 19
1.2.6.3 Đặc điểm người dùng tin 21
1.2.6.4 Đặc điểm nhu cầu tin 23
1.2.6.5 Tác động của công nghệ mới 26
Chương 2 28
CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGƯỜI DÙNG TIN TẠI TRUNG TÂM 28
THÔNG TIN THƯ VIỆN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 28
2.1 Khái quát về Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội 28
2.1.1 Lịch sử hình thành, phát triển 28
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ 29
2.1.3 Cơ cấu tổ chức 30
2.1.4 Quan hệ quốc tế 32
Trang 52.2 Các yếu tố tham gia vào quá trình thông tin và tác động tới công tác
đào tạo người dùng tin tại Trung tâm 32
2.2.1 Cơ sở vật chất 32
2.2.2 Đội ngũ cán bộ 33
2.2.3 Nguồn lực thông tin 34
2.2.4 Người dùng tin và nhu cầu tin 39
2.2.5 Hệ thống các sản phẩm & dịch vụ thông tin tại Trung tâm 41
2.3 Công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm 42
2.3.1 Tổ chức các buổi tập huấn sử dụng nguồn lực thông tin tại Trung tâm 43
2.3.2 Tổ chức hội nghị bạn đọc 44
2.3.3.Tuyên truyền, giới thiệu qua cổng thông tin 45
2.3.5 Cán bộ thư viện trực tiếp trả lời những thắc mắc cụ thể của bạn đọc 48
2.4 Đánh giá, nhận xét 50
2.4.1 Đánh giá chung 50
2.4.2 Những vấn đề tồn tại 51
Chương 3 55
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ 55
CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGƯỜI DÙNG TIN TẠI TRUNG TÂM 55
TRONG THỜI GIAN TỚI 55
3.1 Phát triển nguồn lực thông tin, đa dạng hoá hệ thống sản phẩm & dịch vụ 55
3.2 Đa dạng các hình thức trong công tác đào tạo người dùng tin 56
3.3 Phát triển hạ tầng cơ sở thông tin 57
3.4 Nâng cao trình độ cho người cán bộ thông tin – thư viện 57
3.5 Mở rộng quan hệ hợp tác trong và ngoài nước 59
KẾT LUẬN 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62 PHỤ LỤC
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hoạt động thông tin thư viện không còn là hiện tượng mới lạ trong xã hội chúng ta Có rất nhiều cách hiểu, khái niệm về thư viện Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) :“Thư viện không phụ thuộc vào tên gọi của nó, là bất cứ bộ sưu tập có tổ chức nào của sách, ấn phẩm định kỳ hoặc các tài liệu khác kể cả đồ họa, nghe nhìn và nhân viên phục vụ có trách nhiệm tổ chức cho bạn đọc sử dụng tài liệu đó nhằm mục đích thông tin, nghiên cứu khoa học, giáo dục hoặc giải trí” Theo cách hiểu đơn giản, thư viện là cơ quan có nhiệm vụ tìm kiếm, thu thập, xử lý, bảo quản
và phổ biến thông tin đến người dùng Vì thế, hoạt động thư viện đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển chung của xã hội
Trong giai đoạn hiện nay, thư viện chiếm vai trò quan trọng, không thể thiếu Bước vào thời đại của thông tin, thông tin trở thành nguồn lực đối với mỗi quốc gia, là quyền lực đối với từng cá nhân riêng lẻ Để phát triển các cá nhân, tổ chức, quốc gia không còn lựa chọn nào tốt hơn là phải nắm bắt thông tin, làm chủ thông tin
Trong môi trường đại học, thư viện chiếm vị trí thúc đẩy, hỗ trợ, trở thành một trong những tiêu chí quan trọng để chất giá chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học của trường đại học Đặc biệt khi các trường đại học và cao đẳng đang thực hiện quy chế đào tạo theo hệ thống tín chỉ trên phạm vi toàn quốc được ban hành theo Quyết định số 43/2007/GĐ-BGDDT ngày 15/08/2007 của Bộ Giáo dục và đào tạo, yêu cầu đối với thư viện trong môi trường đại học vì thế càng trở nên cấp thiết
Để có thể tạo vị trí của mình trong xã hội, các cơ quan, trung tâm thông tin- thư viện không ngừng xây dựng nguồn lực, hoàn thiện hệ thống sản phẩm
và dịch vụ thông tin phổ biến chúng nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của từng nhóm người dùng tin
Trang 7Trong môi trường nghiên cứu, giảng dạy, đào tạo bậc đại học, cao đẳng Các trung tâm thư viện không ngừng hoàn thiện các sản phẩm & dịch
vụ của mình Sự hiện diện đa dạng của các sản phẩm & dịch vụ thông tin đi cùng sự bức thiết về nhu cầu tin không đồng nghĩa với việc tất cả người dùng tin của thư viện đều hiểu biết đầy đủ về nguồn lực thông tin, cách thức khai thác nguồn tin Vấn đề đào tạo người dùng tin vì vậy cần được các trung tâm/thư viện quan tâm đúng mức khi triển khai bất kỳ sản phẩm hay dịch vụ thông tin nào
Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội (gọi tắt là Trung tâm) là cơ quan thông tin- thư viện tương đối hiện đại trong hệ thống các thư viện trường đại học ở nước ta Công tác đào tạo người dùng tin luôn được chú trọng ngay từ những ngày Trung tâm được thành lập Cho đến nay, công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm đã phát triển thêm nhiều biện pháp mới, đã thu được nhiều kết quả khả quan Bên cạnh những kết quả đáng ghi nhận đó, việc đào tạo người dùng tin còn bộc lộ một số tồn tại cần được được khắc phục Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, tôi
chọn đề tài “Tìm hiểu công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm Thông tin-Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội” là đề tài khóa luận của mình.
2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
Mục tiêu của đề tài: Tìm hiểu công tác đào tạo người dùng tin tại Trung
tâm Thông tin-Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhiệm vụ của đề tài:
- Tìm hiểu sơ lược lịch sử phát triển, cơ cấu tổ chức - hoạt động thông tin- thư viện của Trung tâm
- Tìm hiểu các yếu tố tham gia vào hoạt động thông tin và công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm
- Khảo sát các cách thức, biện pháp mà Trung tâm đã thực hiện nhằm nâng cao kiến thức thông tin cho người dùng tin của mình (công tác đào tạo người dùng tin)
Trang 83 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Các cách thức, biện pháp được Trung tâm áp dụng trong
hoạt động đào tạo người dùng tin của mình
Phạm vi nghiên cứu: Trong Trung tâm Thông tin-Thư viện ĐHQGHN,
đặc biệt trong giai đoạn hiện nay - giai đoạn đầu của đào tạo theo tín chỉ
4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận: Kết hợp phương pháp duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử
Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu tài liệu, thống kê số liệu, quan
sát, điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn…
5 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trung tâm TT-TV ĐHQGHN là đối tượng nghiên cứu của nhiều đề tài,
ở nhiều cấp độ khác nhau Tuy nhiên, công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm mới chỉ được nhắc đến ngắn gọn trong phần giải pháp kiến nghị của một số đề tài, chưa được nghiên cứu, đề cập một cách toàn diện
Với đề tài này, tôi hi vọng có được cài nhìn toàn diện, cụ thể về công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm TT-TV ĐHQGHN Từ đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả đào tạo người dùng tin tại Trung tâm
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục Khóa luận được chia thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về công tác đào tạo người dùng tin
Chương 2: Công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm Thông Thư viện ĐHQGHN
tin-Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm trong thời gian tới
Trang 9Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO
NGƯỜI DÙNG TIN1.1 Kiến thức thông tin và công tác đào tạo người dùng tin
Theo Hiệp hội các thư viện đại học và thư viện nghiên cứu Mỹ (ACRL, 1989), kiến thức thông tin là sự hiểu biết và một tập hợp các khả năng cho phép các cá nhân có thể “nhận biết thời điểm cần thông tin và có thể định vị, thẩm định và sử dụng thông tin cần thiết một cách hiệu quả” [12]
Kiến thức thông tin là sự hiểu biết, tri thức, kỹ năng, thái độ, các hành
vi cụ thể của mỗi thành viên của cộng đồng, mỗi con người trong xã hội trong việc khai thác, sử dụng các nguồn/hệ thống thông tin Hoạt động thông tin càng phát triển thì trình độ kiến thức thông tin của con người trong xã hội càng được nâng cao Trình độ của kiến thức thông tin sẽ là một trong những chỉ số quan trọng phản ánh mức độ thông tin được sử dụng trong mỗi xã hội, phản ánh sự bình đẳng của việc khai thác, sử dụng thông tin đối với mỗi thành viên trong xã hội
Cần hiểu rõ rằng kiến thức thông tin không chỉ đơn thuần là những kỹ năng cần thiết để tìm kiếm thông tin (xác định nhu cầu thông tin, xây dựng các biểu thức tìm tin, lựa chọn và xác minh nguồn tin), mà bao gồm cả những kiến thức về các thể chế xã hội và các quyền lợi do pháp luật quy định giúp người dùng tin có thể thẩm định thông tin, tổng hợp và sử dụng thông tin một cách hiệu quả
Kiến thức thông tin vẫn đang trong giai đoạn đầu nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam Mặc dù có không ít khó khăn và trở ngại trong việc triển khai, nhưng nhu cầu về kiến thức thông tin là cần thiết Chính những sức ép từ sự phát triển kinh tế xã hội, từ những kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực và từ nhu cầu cải cách nền giáo dục đã khiến cho chúng ta cần phải tính đến và xem xét kiến thức thông tin như là nhân tố cốt lõi cho
Trang 10các chương trình thông tin quốc gia, cũng như cho các quyết sách phát triển giáo dục đào tạo.
Hoạt động thông tin - thư viện đang diễn ra những thay đổi sâu sắc từ khoảng những năm 1990 Tại Việt Nam, hoạt động thông tin - thư viện mới chỉ có những bước chuyển đáng kể từ những năm 2000 trở lại đây: Ngân sách đầu tư cho ngành thông tin- thư viện ngày càng được gia tăng đáng kể Hầu hết các cơ quan thông tin thư viện, đặc biệt là các thư viện đại học, đang trong giai đoạn hiện đại hóa và tự động hóa Các nhà quản lý và các tổ chức doanh nghiệp bắt đầu hiểu được tầm quan trọng của các cơ quan thông tin – thư viện Theo bà Nguyễn Thị Ngọc Thuần (Vụ Thư viện Việt Nam), khoảng 80
tỷ đồng đã được đầu tư vào một dự án nâng cấp Thư viện Quốc gia Bên cạnh
đó, nhận thức của các nhà lãnh đạo về vai trò của ngành thông tin thư viện cũng đang ngày một đúng đắn và toàn diện Theo đó, cho tới năm 2004, đã có thêm 9 thư viện tỉnh mới được xây dựng với ngân sách khoảng 62,4 tỷ đồng (tương đương khoảng 3,7 triệu USD) Cho tới năm 2003, đã có khoảng 94 thư viện huyện được tái lập trên cả nước Rất nhiều dự án xây mới và nâng cấp thư viện đã và đang được triển khai ở các tỉnh như Hà Nội, Hải Dương, Thanh Hóa, Kiên Giang …[7]
Để đáp ứng nhu cầu thông tin của người dùng trong bối cảnh mới, hệ thống thư viện công cộng cũng đã không ngừng đổi mới, trong đó chú trọng đến việc ứng dụng công nghệ thông tin Cho tới năm 2004, 32 dự án hiện đại hóa các thư viện tỉnh, tương ứng với số tiền là 43 tỷ đồng đã được thông qua
và triển khai Những dự án này hướng vào việc nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật và công nghệ, ứng dụng các phần mềm quản trị thư viện mới để nâng cao hiệu quả hoạt động của thư viện Các nguồn thông tin được bổ sung đang ngày càng trở nên đa dạng với nhiều loại hình tài liệu khác nhau Bên cạnh
đó, các phương pháp phục vụ mới như kho mở, OPAC; các hoạt động tiếp thị sản phẩm và dịch vụ thông tin cũng đã bắt đầu được đưa vào triển khai, giúp đáp ứng tốt nhu cầu của người dùng
Trang 11Rõ ràng, đã có rất nhiều những thay đổi đáng kể trong hoạt động thông tin – thư viện tại Việt Nam, đặc biệt là sự tăng cường ngân sách phát triển hệ thống thư viện Do đó, các thư viện và cán bộ thư viện đang có một cơ hội lớn
để chứng tỏ vai trò của mình cũng như thu hút sự quan tâm của xã hội Tính hiệu quả của sự đầu tư đó chỉ được đảm bảo nếu như việc đào tạo người dùng tin được quan tâm một cách đúng mức và triển khai hiệu quả
Đào tạo người dùng tin xét đến cùng là quá trình cung cấp những kiến thức thông tin cần thiết cho người dùng tin Đóng vai trò quyết định tới hiệu quả hoạt động của từng cơ quan/trung tâm thông tin – thư viện.Trong từng thời kỳ khác nhau, đối với mỗi nhóm người dùng tin khác nhau, công tác đào tạo người dùng tin đòi hỏi có những thay đổi sao cho phù hợp trong từng điều kiện cụ thể Điều này có nghĩa các cơ quan/trung tâm cần nghiên cứu nghiêm túc về công tác đào tạo người dùng tin, đánh giá lại hoạt động đào tạo người dùng tin mà cơ quan mình đã và đang thực hiện, từ đó xây dựng kế hoạch đào tạo người dùng tin tại cơ quan/trung tâm cho tương xứng
1.2 Khái niệm công tác đào tạo người dùng tin
Từ đó, ta có thể hiểu: công tác đào tạo người dùng tin là tổng hợp các hành động của một/một nhóm các cơ quan/trung tâm thông tin – thư viện tác động tới người dùng tin của mình nhằm cung cấp, phổ biến những thông tin cần thiết để người dùng tin có khả năng khai thác, sử dụng nguồn lực thông tin tại cơ quan/trung tâm một cách nhanh chóng, thuận tiện, hiệu quả nhất.
Trang 121.2.2 Đặc điểm của công tác người dùng tin
* Tính đối tượng
Tính đối tượng là đặc trương cơ bản của hoạt động, bất cứ hành động nào cũng nhằm tới một/ một nhóm các đối tượng xác định Tùy theo tính chất, quy mô mà đối tượng của hành động có sự đa dạng khác nhau Trong nhiều trường hợp, đối tượng của một hành động không chỉ dừng lại ở các đối tượng hiện hữu mà có thể bao gồm cả các đối tượng đang trong quá trình xuất hiện
Đối với công tác đào tạo người dùng tin, đối tượng của hoạt động này trước hết là các đối tượng là người dùng tin chính thức tại cơ quan/trung tâm
đó Các đối tượng này cần nhận được hướng dẫn, đào tạo kiến thức thông tin thường xuyên, liên tục từ phía cơ quan/trung tâm thông tin thư viện Bên cạnh
đó đối tượng của hoạt động đào tạo người dùng tin còn bao gồm những người dùng tin không chính thức, những đối tượng là người dùng tin của các cơ quan/trung tâm thư viện khác- nơi có quan hệ hợp tác liên thư viện với cơ quan/trung tâm mình
Nhìn chung, đối tượng của công tác đào tạo người dùng tin không phải
là một nhóm đồng nhất Họ có thể có tuổi tác, trình độ, vị trí xã hội, thói quen
sử dụng thông tin… rất khác nhau Mỗi một đối tượng này có yêu cầu, phương thức đào tạo kiến thức thông tin khác nhau
* Tính chủ thể trong công tác đào tạo người dùng tin
Hoạt động bao giờ cũng do chủ thể tiến hành Chủ thể của hành động
có thể là một cá nhân, một nhóm các nhân hay một tập thể, một cộng đồng tùy theo quy mô, tính chất của hoạt động
Chủ thể của công tác đào tạo người dùng tin chính là các cán bộ thư viện/những chuyên gia thông tin – những người hiểu rõ hơn ai hết hệ thống các sản phẩm & dịch vụ thông tin cùng cách thức truy cập, khai thác, sử dụng các sản phẩm & dịch vụ đó; những đặc điểm riêng biệt của từng nhóm đối tượng cụ thể trong tập hợp người dùng tin tại cơ quan/trung tâm thông tin – thư viện
Trang 13* Tính gián tiếp (phương tiện)
Để có thể tiến hành công tác đào tạo người dùng tin, các cơ quan/trung tâm sử dụng nhiều phương thức khác nhau: phương thức trực tiếp trình bày của cán bộ thông tin, thông qua các phương tiện gián tiếp như văn bản, hướng dẫn, địa chỉ Website… Mỗi phương thức này đòi hỏi những phương tiện riêng: không gian, thiết bị hỗ trợ, hệ thống mạng, máy móc…
* Mục đích của công tác đào tạo người dùng tin
Hàm lượng chất xám trong các sản phẩm & dịch vụ thông tin ngày càng cao đòi hỏi người dùng tin phải có tri thức và kỹ năng sử dụng, khai thác thông tin một cách triệt để Mục đích của công tác đào tạo người dùng tin chính là cung cấp thông tin để người dùng tin có thể truy cập tới các nguồn tin
và thỏa mãn nhu cầu tin của mình:
- Thông tin về khả năng của cơ quan thông tin-thư viện có thể thỏa mãn được nhu cầu của mình như thế nào qua việc cung cấp các sản phẩm & dịch
vụ thông tin của họ
- Biết các sản phẩm & dịch vụ nào phù hợp với mình
- Có kiến thức, kỹ năng sử dụng và khai thác các sản phẩm & dịch vụ phù hợp
Theo Hiệp hội Các thư viện chuyên ngành và các trường đại học Hoa
Kỳ (ACRL, 1989), người có kiến thức thông tin là người “đã học được cách thức để học Họ biết cách học bởi họ nắm được phương thức tổ chức tri thức, tìm kiếm thông tin và sử dụng thông tin, do đó những người khác có thể học tập được từ họ Họ là những người được đã chuẩn bị cho khả năng học tập suốt đời, bởi lẽ họ luôn tìm được thông tin cần thiết cho bất kỳ nhiệm vụ hoặc quyết định nào một cách chủ động”.[12]
1.2.3 Vai trò của công tác đào tạo người dùng tin
Quá trình khai thác sử dụng thông tin trong xã hội thông qua các cơ quan/trung tâm bao gồm các thành tố: Người dùng tin, các nguồn/hệ thống
Trang 14thông tin và hệ thống các thành tố trung gian đó tương ứng là nhu cầu tin, hệ thống các sản phẩm & dịch vụ và dịch vụ thông tin Các thành tố này có quan
hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau trong suốt quá trình khai thác, sử dụng thông tin của người dùng tin Vai trò của công tác đào tạo người dùng tin chính là tìm ra các vấn đề tồn tại giữa các thành tố trên, tìm ra giải pháp và cung cấp những thông tin thích hợp để người dùng tin khắc phục những hạn chế, khó khăn xảy ra khi họ khai thác, sử dụng thông tin
Nhận diện các vấn đề xảy làm hạn chế ra trong quá trình khai thác, sử dụng thông tin, bao gồm:
- Vấn đề giữa người dùng tin và nhu cầu tin:
Luôn luôn tồn tại khoảng cách giữa người dùng tin - nhu cầu tin thực tế của họ với việc họ diễn đạt nhu cầu đó với phía các cơ quan/trung tâm thông tin – thư viện Thực tế cho thấy ở đối tượng người dùng tin có trình độ cao, có thói quen khai thác sử dụng thông tin thì khoảng cách này nhỏ, và ngược lại, (ở đối tượng người dùng tin có trình độ thấp, chưa có thói quen sử dụng thông tin thì khoảng cách này khá lớn) Mặt khác, việc xây dựng và hiệu quả của các sản phẩm & dịch vụ thông tin phụ thuộc hoàn toàn vào mức độ mà cán bộ thông tin hiểu về nhu cầu tin của người dùng tin Vấn đề xảy ra chính là làm sao để các chuyên gia thông tin hiểu đúng và đầy đủ nhất Để giải quyết vấn
đề này, biện pháp tối ưu là tập trung vào việc nâng cao kiến thức về khai thác,
sử dụng thông tin của người dùng tin Các cơ quan/trung tâm thông tin thư viện cần xem xét kỹ lưỡng làm sao để người dùng tin có thể sử dụng các công
cụ tra cứu chuyên ngành (bảng từ khóa, bảng chủ đề, bảng phân loại…), các điểm truy nhập có thể khi họ tra tìm tài liệu theo những yêu cầu tin cụ thể (nhan đề, tác giả, từ khóa, chỉ số phân loại…), cách thức kết hợp các yếu tố tìm tin để có thể mở rộng/thu hẹp kết quả tìm (sử dụng các toán tử, biểu thức tìm), và cả cách sử dụng các phương tiện mà cơ quan/trung tâm thư viện sử dụng khi triển khai hệ thống sản phẩm & dịch vụ của mình
Trang 15- Vấn đề giữa người dùng tin - các nguồn/hệ thống thông tin
Do các nguồn/hệ thống thông tin luôn có những biến động: phát triển
mở rộng, thêm mới, bị chia tách thành các nguồn tách biệt… Do đó, người dùng tin không thể hiểu biết được một cách đầy đủ về sự phân bố cụ thể của các nguồn tin có trong thư viện Khi một yêu cầu tin mới nảy sinh, người dùng tin không thể nào định hình được tất cả và đầy đủ các nguồn tin trong thư viện mà họ có thể truy nhập để thỏa mãn nhu cầu tin đó Vấn đề chính là làm thế nào để người dùng tin hiểu biết tối đa sự phân bố nguồn tin mà thư viện phục vụ họ Để có thể giảm nhẹ khoảng cách giữa người dùng tin và các nguồn/hệ thống thông tin, các cơ quan/trung tâm nhất thiết phải có kế hoạch quảng bá cho người dùng tin đầy đủ nhất các nguồn/hệ thống thông tin mà thư viện đã xây dựng, sắp xây dựng, mỗi khi có bất kỳ sự thay đổi dù là nhỏ nhất
cơ quan/trung tâm cũng cần giải thích, hướng dẫn cụ thể để người dùng tin hiểu, chấp nhận và sử dụng các nguồn tin sau đó
- Vấn đề giữa người dùng tin - hệ thống sản phẩm & dịch vụ thông tin
Cùng với sự phát triển không ngừng của các nguồn/hệ thống thông tin
mà hệ thống sản phẩm & dịch vụ thông tin cũng luôn thay đổi tương ứng Hơn thế nữa, các sản phẩm & dịch vụ thông tin vẫn luôn hình thành và thay đổi cho phù hợp với điệu kiện cụ thể của từng thư viện, từng nhiệm vụ trong những thời điểm nhất định Điều này làm cho người dùng tin không thể biết đầy đủ, chi tiết về các sản phẩm & dịch vụ thông tin mà họ có thể sử dụng tại
cơ quan/trung tâm Làm hạn chế kết quả tìm và sử dụng thông tin của người dùng tin, giảm hiệu quả sử dụng của bản thân các sản phẩm & dịch vụ thông tin Câu hỏi đặt ra là làm sao để người dùng tin biết được tối đa hệ thống sản phẩm & dịch vụ thông tin mà họ có thể khai thác Câu trả lời chỉ có thể là cần phổ biến rộng rãi về khả năng, điều kiện, các tiện ích, ưu thế trong việc khai thác và sử dụng các sản phẩm & dịch vụ thông tin mà cơ quan/trung tâm thư viện cung cấp cho họ
Trang 16- Vấn đề giữa nhu cầu tin – các nguồn/hệ thống thông tin
Nhu cầu tin của người dùng tin luôn thay đổi nhất định biểu hiện qua yêu cầu tin tương ứng Mỗi nguồn/hệ thống thông tin đều được xây dựng theo những đặc điểm, nội dung riêng, nhằm phục vụ những đối tương người dùng tin mục tiêu Nhưng do sự phát triển bùng nổ, đan xen của khoa học, tri thức nên tạo ra mối quan hệ liên đới giữa các nguồn/hệ thống thông tin Một yêu cầu tin cụ thể có thể tồn tại ở nhiều các nguồn/hệ thống thông tin, một nguồn tin cụ thể khó có thể thỏa mãn hoàn toàn một yêu cầu tin cụ thể Vậy làm thế nào để các nguồn/hệ thống thông tin có thể phù hợp tối đa nhu cầu tin của người dùng tin Giải pháp là phải nghiên cứu thường xuyên nhu cầu tin và sự biến động của nó, từ đó xây dựng chính sách hợp lý cho việc phát triển/liên kết các nguồn tin, chiến lược liên kết, chia sẻ nguồn lực thông tin với các cơ quan bên ngoài
- Vấn đề giữa nhu cầu tin – hệ thống sản phẩm & dịch vụ thông tin
Chính do sự phát triển của thông tin, do mức độ ngày càng phức tạp của nhu cầu tin … đã hối thúc sự đa dạng của các sản phẩm & dịch vụ thông tin So với thực tế hiện nay của nhu cầu tin, các sản phẩm & dịch vụ thông tin chắc chắn sẽ tiếp tục phát triển hơn nữa Giải quyết vấn đề này đồng nghĩa với đa dạng, kiện toàn và phát triển không ngừng các sản phẩm & dịch vụ thông tin cho phù hợp với nhu cầu tin
- Vấn đề giữa hệ thống sản phẩm & dịch vụ thông tin – các nguồn/hệ thống thông tin
Sản phẩm & dịch vụ hình thành là sự phản ánh hoặc để khai thác, sử dụng hiệu quả nhất, đầy đủ nhất mọi nguồn/hệ thống thông tin Trên thực tế,
hệ thống các sản phẩm & dịch vụ không thể là sự phản ánh đầy đủ chi tiết của các nguồn/hệ thống thông tin Vấn đề cần giải quyết chính là làm cho hệ thống sản phẩm & dịch vụ phản ánh tốt nhất về các nguồn tin Giải quyết vấn
đề này đòi hỏi vừa đa dạng hóa sản phẩm, phát triển đồng bộ về công nghệ và chính sách
Trang 17Các vấn đề trên luôn tồn tại tại bất cứ cơ quan/trung tâm thư viện nào
Để có thể hạn chế tất cả các vấn đề trên, cần tăng cường nghiên cứu người dùng tin, nhu cầu tin của họ, phương thức thỏa mãn nhu cầu của từng đối tượng cụ thể… Giải pháp khả thi nhất chính là tăng cường công tác đào tạo người dùng tin
1.2.4 Các kiến thức và kỹ năng cần đào tạo cho người dùng tin
- Kiến thức về hệ thống thông tin, mạng lưới các cơ quan thông tin –thư viện: Mạng lưới các cơ quan thông tin - thư viện nơi người dùng tin có thể khai thác, sử dụng nguồn lực thông tin ; Thông tin về phương thức phục
vụ tại từng phòng phục vụ; Điều kiện khi người dùng tin đến khai thác, sử dụng thông tin tại thư viện
- Kiến thức về các loại hình sản phẩm và dịch vụ tại cơ quan/trung tâm thư viện
- Kỹ năng khai thác và sử dụng các sản phẩm & dịch vụ thông tin cụ thể: khai thác các sản phẩm & dịch vụ thông tin truyền thống, khai thác và sử dụng các sản phẩm & dịch vụ thông tin hiện đại
1.2.5 Các hình thức đào tạo người dùng tin
Trong quá trình hoạt động của mình, các cơ quan/trung tâm thư viện đã triển khai nhiều hình thức khác nhau trong công tác đào tạo người dùng tin của mình:
- Hướng dẫn trực tiếp cho người dùng tin
- Hướng dẫn thông qua các bảng biểu chỉ dẫn, các văn bản
Trang 18- Tuyên truyền, hướng dẫn người dùng tin thông qua các chương trình riêng trên đài phát thanh truyền hình.
- Thường xuyên đăng tải các thông tin hướng dẫn trên các phương tiện khác
1.2.6 Các nhân tố tác động tới công tác đào tạo người dùng tin của các cơ quan/trung tâm thông tin – thư viện
1.2.6.1 Loại hình, chức năng nhiệm vụ của cơ quan/trung tâm thông tin - thư
viện.
Loại hình, chức năng nhiệm vụ là một trong những đặc điểm cho phép phân loại các cơ quan thông tin – thư viện Đó cũng là nhân tố quyết định các chính sách liên quan tới người dùng tin tại một cơ quan/trung tâm thông tin, trong đó có công tác đào tạo người dùng tin
Hiện nay, tại Việt Nam có một số loại hình cơ quan thông tin thư viện như: Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện chuyên ngành, đa ngành, thư viện công cộng, thư viện trường học Các loại hình này có chức năng cụ thể khác biệt với nhau, có nhiệm vụ cụ thể xác định
Thư viện Quốc gia Việt Nam là thư viện đứng đầu hệ thống thư viện công cộng nước ta Với số vốn tài liệu lên tới hơn 130.000 triệu bản, với hệ thống sản phẩm & dịch vụ đa dạng và tương đối hoàn chỉnh… Thư viện Quốc gia Việt Nam có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu tin của tất cả các đối tượng người dùng tin trong và ngoài nước Với số lượng bạn đọc đông đảo, đa dạng như vậy, công tác đào tạo người dùng tin tại Thư viện được triển khai một cách đầy đủ tất cả các phương pháp Việc hướng dẫn người dùng tin chủ yếu tập trung vào các phương pháp đào tạo qua chỉ dẫn bằng văn bản, hướng dẫn từ
xa trong môi trường mạng, trả lời những thác mắc cụ thể của từng đối tượng
cụ thể
Hệ thống thư viện chuyên ngành chủ yếu phục vụ nhu cầu tin của một nhóm đối tượng là cán bộ cao cấp của ngành, các cán bộ nghiên cứu của