ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC Phạm Văn Cường QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ TỈNH ĐIỆN BIÊN LUẬN VĂN THẠC SỸ QU[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Phạm Văn Cường
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ - TỈNH ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Phạm Văn Cường
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ - TỈNH ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60 14 01 14
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Quang Tháp
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu và quý thầy cô, Phòng Quản lý đào tạo sau Đại học Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc Gia Hà Nội cùng các nhà khoa học, các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, góp ý, chỉ bảo, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới cán bộ, giáo viên, các em Học sinh ở các trường THPT trên địa bàn Thành Phố Điện Biên Phủ đã nhiệt tình cộng tác, giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này
Đặc biệt tôi xin trân trọng và bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới TS Nguyễn Quang Tháp - Người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn, động viên tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài, song không thể tránh khỏi những thiếu sót trong luận văn, tôi kính mong nhận được ý kiến đóng của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Điện Biên Phủ, tháng 11 năm 2014
Tác giả
Phạm Văn Cường
Trang 4GD & ĐT Giáo dục và đào tạo
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Quy mô số lớp, số học sinh cấp THPT 5 năm gần đây 39 Bảng 2.2 Tình hình đội ngũ giáo viên Trường THPT Phan Đình
Giót, THPT Thành phố……… 41
Bảng 2.3: Tình hình đội ngũ giáo viên Trường THPT Phan Đình Giót, THPT Thành phố……… 43
Bảng 2.4: Kết quả xếp loại hạnh kiểm và học lực của học sinh toàn trường……… 45
Bảng 2.5: Phân bổ học sinh các dân tộc từ năm 2011 – 2014…… 47
Bảng 2.6: Vài nét về đội ngũ cán bộ quản lý các trường THPT trên địa bàn TP Điện Biên Phủ……… 51
Bảng 2.7: Đánh giá quản lý hoạt động chính khóa……… 54
Bảng 2.8: Bảng đánh giá quản lý hoạt động phụ đạo……… 55
Bảng 2.9: Bảng đánh giá quản lý hoạt động tự học……… 57
Bảng 2.10: Đánh giá quản lý hoạt động ngoại khóa và các hình thức học tập khác……… 58
Bảng 2.11: Bảng đánh giá quản lý kỷ cương nề nếp……… 59
Bảng 2.12: Bảng đánh giá quản lý sự phối hợp với nhau giữa phó hiệu trưởng giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, quản lý học sinh, bảo vệ, Đoàn thanh niên, gia đình, xã hội trong quản lý hoạt động học tập của học sinh 61
Bảng 2.13: Đánh giá quản lý cơ sở vật chất phục vụ hoạt động học tập……… 62
Bảng 2.14: Điểm trung bình đánh giá kết quả thực hiện các mặt QL HĐHT của học sinh tại các trường THPT trên địa bàn TP Điện Biên Phủ ……… 63
Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp……… 88
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Biểu đồ tỉ lệ học sinh đỗ ĐH, CĐ của các trường THPT
khu vực TP Điện Biên Phủ qua các năm……… 46 Biểu đồ 2.2: Biểu đồ biểu thị tỉ lệ học sinh giỏi qua các năm……… 47
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ khái niệm quản lý 11
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ Chu trình quản lý 13
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ các biện pháp quản lý hoạt động học tập……… 86
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, chiến lược phát triển nhanh và bền vững nhất đối với mỗi quốc gia, dân tộc là sự chú trọng hàng đầu của Chính phủ về công tác đổi mới hệ thống GD-ĐT, tạo tiền đề quan trọng cho sự phát triển nguồn nhân lực, nhân tài cho đất nước Việt Nam từ một nước có nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, chuyển đổi sang cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay với tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang diễn ra nhanh, mạnh, có phạm vi ảnh hưởng rộng lớn trên toàn quốc, Đảng và Nhà nước ta đã hết sức chú trọng phát triển GD-ĐT, coi “giáo dục là quốc sách hàng đầu”
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 khoá VIII của Ban chấp hành Trung
ương Đảng đã ghi rõ: “Giáo dục và Đào tạo hiện nay phải có một bước chuyển nhanh về chất lượng và hiệu quả đào tạo, về số lượng và quy mô đào tạo, nhất là chất lượng dạy học trong các nhà trường nhằm nhanh chóng đưa Giáo dục và Đào tạo đáp ứng yêu cầu mới của đất nước”
Cùng với lịch sử phát triển của ngành giáo dục, việc nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập luôn được coi là nhiệm vụ cơ bản, đầu tiên, quan trọng nhất của các nhà trường, đây chính là điều kiện để mô hình của các nhà trường tồn tại và phát triển Thực chất công tác quản lý nhà trường và việc quản lý hoạt động học tập của học sinh là công việc được tiến hành thường xuyên, liên tục, là điều kiện tiên quyết để đảm bảo chất lượng đào tạo của nhà trường, đáp ứng yêu cầu mục tiêu đào tạo
Trong những năm gần đây, cùng với quá trình đổi mới đất nước, đổi mới chất lượng giáo dục ở cấp THPT và chất lượng giáo dục đào tạo nói chung ở nước ta đã có sự khởi sắc, đã đạt được những thành tựu nhất định Trình độ hiểu biết, năng lực tiếp cận tri thức mới của học sinh, sinh viên và giáo viên được nâng cao, chất lượng giáo dục đại học từng bước được nâng
Trang 8lên, đào tạo được đội ngũ đông đảo cán bộ khoa học kỹ thuật, đã có những cống hiến quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế, xã hội
Mặc dù đã đạt được những thành tựu trên, nhưng hệ thống Giáo dục và Đào tạo nước ta vẫn còn nhiều yếu kém, bất cập so với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ CNH-HĐH Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc khoá
VIII đã khẳng định:“Giáo dục nước ta vẫn còn nhiều yếu kém bất cập cả về quy mô lẫn cơ cấu và nhất là chất lượng ít hiệu quả, chưa đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao về nhân lực và công cuộc đổi mới kinh tế xã hội, xây dựng bảo vệ tổ quốc, thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” Để giải quyết tồn tại trên đòi hỏi chúng ta phải thay
đổi quan niệm, nhận thức về giáo dục, phải hướng tới chất lượng giáo dục, điều đó đồng nghĩa với việc phải chú trọng nâng cao trách nhiệm quản lý và tăng cường các biện pháp quản lý, trong đó có quản lý hoạt động học tập trong các nhà trường
Mặt khác giáo dục phổ thông giữ vai trò quan trọng trong việc tạo dựng mặt bằng dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài đáp ứng những yêu cầu phát triển KT-XH của một quốc gia Đặc biệt trong thời đại ngày nay, với tốc độ phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, việc nhanh chóng hoà nhập vào cộng đồng khu vực và thế giới, đòi hỏi giáo dục phổ thông của chúng ta phải có những bước tiến mới mạnh mẽ, giúp học sinh phát triển toàn diện đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm
hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, biết "giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, phát huy tiềm năng của dân tộc và của con người Việt Nam"
Chính vì vậy, quản lý nhà trường đặc biệt là quản lý hoạt động học tập đòi hỏi phải chặt chẽ, đồng bộ phù hợp với đối tượng, hiệu quả thì mới mang lại chất lượng giáo dục cao cho nhà trường, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn lực con người trong thời kỳ CNH-HĐH
Trang 9Vấn đề quản lý hoạt động giáo dục nói chung và quản lý hoạt động học tập ở trường THPT nói riêng mặc dù đã có nhiều nhà khoa học giáo dục nghiên cứu và đã được áp dụng vào thực tế, song xét từ nhiều góc độ, nhiều phương diện thì chưa được đề cập một cách đầy đủ và sâu sắc Việc quản lý hoạt động học tập ở các trường THPT tỉnh Điện Biên chưa đáp ứng được yêu cầu về đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường
Là một người trực tiếp tham gia công tác quản lý ở một trường THPT khu vực Thành phố Điện Biên Phủ, gắn bó với sự nghiệp giáo dục - đào tạo con em đồng bào dân tộc thiểu số, nắm được đặc điểm tâm lý học sinh, nhận thức được tính cấp thiết của việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH quê hương miền núi Điện Biên Cá nhân người viết trăn trở rất nhiều về chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt là chất lượng học tập của học sinh Trong những năm qua khối các nhà trường THPT đã được Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, các ngành, các cấp trong tỉnh quan tâm đầu tư, Sở GD & ĐT có nhiều chủ trương, biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục - đào tạo của các nhà trường, song chất lượng dạy học - giáo dục của các nhà trường vẫn chưa thực sự được nâng lên ở tầm cao mới, chưa đáp ứng được với yêu cầu chung Một trong những nguyên nhân đó
là biện pháp quản lý hoạt động học tập của các nhà trường thiếu hệ thống và đồng bộ
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tác giả chọn vấn đề : "Quản lý hoạt động học tập của học sinh trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ - tỉnh Điện Biên” làm đề tài nghiên cứu; hy vọng sẽ góp
phần vào việc xây dựng công tác quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
ở các trường THPT, đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động dạy học ở các trường THPT thuộc khu vực thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên
Trang 10tác giả luận văn đề xuất một số biện pháp tăng cường quản lý hoạt động động học tập nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Hệ thống hoá cơ sở lý luận về quản lý hoạt động học tập của học sinh THPT
3.2 Khảo sát thực trạng công tác quản lý hoạt động học tập của học sinh ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên 3.3 Đề xuất một số giải pháp trong công tác quản lý hoạt động học tập của học sinh
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động học tập ở các trường THPT
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh ở các trường THPT khu vực thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên
5 Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng quản lý hoạt động học tập của học sinh THPT hiện nay như thế nào?
Nội dung quản lý các hoạt động học tập của các nhà trường THPT nên lựa chọn theo hướng nào?
Biện pháp nào có thể sử dụng để quản lý có hiệu quả các hoạt động học tập của học sinh các trường THPT khu vực Thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên?
6 Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý hoạt động học tập ở các trường THPT có ý nghĩa quyết định đến chất lượng giáo dục
Áp dụng một cách đồng bộ, linh hoạt, sáng tạo các biện pháp quản lý hoạt động học tập ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ,
Trang 11tỉnh Điện Biên được đề xuất trong luận văn sẽ đáp ứng tốt yêu cầu phát triển giáo dục THPT trong giai đoạn hiện nay
7 Phạm vi nghiên cứu
Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu, đề tài luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý và các biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động học tập của học sinh ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên
Giới hạn khảo sát: thời gian từ năm 2010 đến năm 2014, địa bàn nghiên cứu tại các trường THPT trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phân tích tổng hợp những vấn đề lý luận về công tác quản lý hoạt động học tập của học sinh
- Hệ thống hoá, khái quát hoá một số vấn đề lý luận, liên quan tới đề tài nghiên cứu
8.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Sử dụng hệ thống các câu hỏi và phiếu điều tra theo mẫu nhằm thu thập số liệu về thực trạng công tác quản
lý hoạt động học tập và các biện pháp quản lý hoạt động học tập ở các trường THPT thuộc khu vực Thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên Từ
đó, tìm ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng
- Phương pháp tọa đàm (đối tượng tham gia tọa đàm là hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng (PHT) phụ trách chuyên môn, tổ trưởng chuyên môn và các giáo viên, học sinh
- Phương pháp quan sát: Quan sát các biện pháp quản lý hoạt động học tập
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm của hoạt động học tập:
+ Nghiên cứu sản phẩm hoạt động học tập của học sinh
(đồ dùng dạy học của giáo viên, kết quả học tập của học sinh…)
+ Nghiên cứu sản phẩm quản lý hoạt động học tập ở các trường THPT khu
Trang 12vực thành phố Điện Biên Phủ (kế hoạch năm học, kế hoạch chuyên môn…)
8.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý các số liệu thu nhận được từ các phương pháp nghiên cứu khác
9 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc quản lý hoạt động học tập của học sinh THPT
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động học tập của học sinh ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
CỦA HỌC TẬP HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong nhà trường dạy học là hoạt động giữ vị trí trung tâm, chi phối mọi hoạt động khác và quyết định chất lượng giáo dục Hoạt động dạy học bao gồm hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò Hai hoạt động này song song tồn tại và phát triển trong cùng một quá trình thống nhất Ở các lĩnh vực quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học, quản lý quá trình sư phạm, dạy học, quản lý hoạt động dạy học đã có nhiều công trình nghiên cứu nhưng phần lớn chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động dạy của giáo viên hoặc nghiên cứu từng thành tố của quá trình dạy học
1.1.1 Một số nghiên cứu ở nước ngoài
Việc quản lý hoạt động dạy học thực chất là quản lý hoạt động học tập của học sinh thông qua quản lý hoạt động dạy của giáo viên Học sinh là chủ thể hoạt động học tập Tinh thần, thái độ, động cơ, phương pháp học tập quyết định trực tiếp kết quả học tập của bản thân người học
Các nhà nghiên cứu quản lý giáo dục Xô Viết trong những công trình nghiên cứu của mình đã cho rằng: “Kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào công việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác hoạt động dạy học và học tập”[16]
M.I.Kôndakôp, P.V.Zimin, N.I.Saxerđôtôp đi sâu nghiên cứu lãnh đạo công tác dạy học, giáo dục trong nhà trường và xem đây là khâu then chốt trong hoạt động quản lý của người làm công tác quản lý giáo dục [16]
Triết lý giáo dục của J.A.Komenski là một khoa học luận đúng trong mọi thời đại mặc dù có những khiếm khuyết và được mọi người công nhận
John Dewey (1859 - 1925), nhà sư phạm người Mỹ nổi tiếng đầu thế kỷ
XX đã đưa ra một phương hướng canh tân giáo dục, ông yêu cầu bổ sung vào vốn tri thức của học sinh những tri thức ngoài sách giáo khoa và lời giảng của
Trang 14giảng viên, đề cao hoạt động đa dạng của học sinh, đặc biệt là hoạt động thực tiễn Ông viết: Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục, nói không phải là dạy, nói ít hơn, chú ý nhiều đến việc tổ chức hoạt động của học sinh
Vào thập niên 30 của thế kỷ XX, nhà giáo dục nổi tiếng người Nhật Bản Tsunesaburo Makiguchi (1871
- 1944) đã nhấn mạnh: “Giáo viên không bao giờ học thay cho học viên mà học viên phải tự mình học lấy Nói khác đi, dù giáo viên có làm gì đi nữa thì mọi tri thức truyền thụ vẫn không có giá trị nếu họ không làm cho học sinh tự mình kiểm nghiệm và thực nghiệm những tri thức đó” [60, tr 152]
Tuy nhiên, phải đến những năm 60 của thế kỷ XX, xuất phát từ yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục, quản lý đào tạo thực sự thu hút sự quan tâm của nhiều nhà giáo dục học, tâm lý học trên phương diện lý luận và thực tiễn quản lý Trong lĩnh vực quản lý đào tạo, vài thập kỷ gần đây ở nước ngoài cũng xuất hiện những nghiên cứu đi sâu vào vấn đề quản lý đào tạo, quản lý sinh viên trong các nhà trường đại học Ở Liên xô cũ những đóng góp to lớn cho sự phát triển lý luận và thực tiễn giáo dục nói chung phải kể đến các nhà giáo dục học nổi tiếng như A.X Macarencô P.P Blônski, V.A Xukhôlinxki, M.F Sabaeva, L.N Lutvin, M.I Kônđucôp, V.V Khuđôminski, L.X Vưgốtski và nhiều người khác
Trong đó, A.X Macarencô, Nhà giáo dục Xô Viết vĩ đại, khi đánh giá vai trò của uy tín chân thực trong hoạt động sư phạm của người giáo viên, nhà giáo, Ông đã viết: Hoàn toàn rõ ràng là nhà giáo dục nào mà không có uy tín thì không thể là nhà giáo dục được
Ngày nay, th y giáo có uy tín ph i là ng i có c và có tài, có n ng l c hành ng; uy tín của người thầy thì dù ở thời đại nào cũng là đòi hỏi cao nhất của của sự nghiệp “trồng người” Chỉ có nhà giáo dục có uy tín mới thực
sự xứng đáng với sự tin yêu, kính trọng của xã hội, của các thế hệ học trò V.A XuKhômLinxki (Vasilij Aleksandrovich Sukhomlinskij; 1918 - 70), Nhà sư phạm Xô Viết, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học giáo dục Liên
Trang 15giáo dục thế hệ trẻ Xô Viết Ông có nhiều kinh nghiệm giải quyết mối quan
hệ giữa quá trình giáo dục và tự giáo dục, chủ động tác động của nhà sư phạm với chủ động, tự quản rèn luyện của học sinh và tập thể học sinh, giải quyết hợp lý giữa giáo dục tập thể và giáo dục cá nhân Ông cũng có nhiều kinh nghiệm trong việc phối hợp các lực lượng giáo dục xã hội, tự nhiên vào quá trình giáo dục thế hệ trẻ Những tác phẩm giáo dục chủ yếu: “Giáo dục con người chân chính như thế nào”, “Giáo dục cộng sản đối với lao động” v.v
1.1.2 Một số nghiên cứu ở trong nước
Đã có nhiều nghiên cứu về các vấn đề học tập, tự học, quản lý học tập trong các công trình nghiên cứu giáo dục, tôi xin đơn cử một số công trình của các tác giả sau đây:
Luận văn thạc sỹ của Trần Thị Tư (2003), đề tài “Một số biện pháp của Hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng học tập cho học sinh Trường THPT huyện Châu Thành A, Tỉnh Cần Thơ” Đề tài đề cập đến vai trò của mục đích, động cơ, thái độ, phương pháp học tập đối với kết quả học tập Tác giả cũng nêu ảnh hưởng của nội dung, phương pháp giảng dạy và điều kiện, môi trường học tập đối với kết quả học tập Trong luận văn cũng đã nêu lên một số
lý luận quản lý hoạt động học tập nhưng chưa đi sâu vào từng giải pháp cụ thể
và chưa thể hiện sự phát huy vai trò của từng bộ phận, cá nhân trong nhà trường và sự phối hợp sức mạnh tổng hợp các lực lượng giáo dục
Tác giả Phạm Thị Phương Thuỷ (2004), với đề tài “Một số biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao năng lực tự học cho sinh viên trường Cao đẳng sư phạm mẫu giáo Trung ương 3” Đây cũng là nội dung QLHĐHT, vì
tự học của học sinh là bộ phận cốt lõi của HĐHT
Tác giả Trần Thị Huỳnh Mai (2005), với đề tài “Thực trạng quản lý hoạt động học tập đối với sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Vĩnh Long”
Đề tài đã khái quát các nội dung quản lý học tập, vai trò của chủ thể và khách thể quản lý HĐHT, sự phối hợp giữa các chủ thể và cơ chế quản lý HĐHT
Trang 16Trong đề tài “Nghiên cứu sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc
QL HĐHT của học sinh các trường THPT tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu” Tác giả Nguyễn Văn Trung đã khái quát một số lý luận, thực trạng và giải pháp phối hợp giữa nhà trường và gia đình nhằm nâng cao kết quả học tập của học sinh Trường ĐHSP, ĐH Huế có đề tài luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thanh Tiệp
“Biện pháp quản lý hoạt động dạy học của Hiệu trưởng trường THPT khu vực Đồng Tháp Mười, tỉnh Long An” Đề tài đã đi sâu nghiên cứu biện pháp QL HĐGD và QL HĐHT, qua đó nêu được các nội dung QL HĐHT, tuy nhiên chủ yếu đề cập đến quản lý HĐGD
Qua nghiên cứu một số luận văn thạc sỹ trong nước chưa thấy tác giả nào đi sâu nghiên cứu về QL HĐHT của học sinh THPT Từ thực tiễn giáo dục và tiếp xúc nhiều đối tượng học sinh THPT, người viết nhận thấy trong công tác quản lý, giáo dục và công tác giảng dạy của các nhà trường cũng còn nhiều tồn tại thiếu sót Từ những tiếp thu lý luận về giáo dục, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, kết hợp với học tập kinh nghiệm quản lý của các đơn
vị khác, chúng tôi quyết định thực hiện một số giải pháp về quản lý hoạt động học tập bước đầu đã có kết quả khả quan
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý và chức năng của quản lý
Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng (NXB Giáo dục, 1998) thuật ngữ quản lý được định nghĩa là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị,
cơ quan” Các nhà nghiên cứu từ các góc độ tiếp cận khác nhau đã đưa ra các khái niệm khác nhau:
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến”[28,tr.24]
Theo điều khiển học: Quản lý là quá trình điều khiển của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu đã định
Trang 17Theo quan điểm kinh tế học: Quản lý là sự tính toán, sử dụng hợp lý các nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra
Theo GS Hà Sĩ Hồ: "Quản lý là một quản trình tác động có định hướng, có chủ đích, tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho
sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã định" [20]
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: "Quản lý là tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể của người lao động nói chung (khách thể quản lý) nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến" [18]
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức, làm cho tổ chức đó vận hành và đạt được mục tiêu của tổ chức” [6]
Theo Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu; quản lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [30] Theo tác giả Nguyễn Văn Lê: “quản lý là một hệ thống xã hội, là khoa học
và nghệ thuật tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu là vào con người nhằm đạt hiệu quả tối ưu theo mục tiêu đề ra” [27]
Theo TS.Nguyễn Quốc Chí và PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: “Quản lý
là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [2]
- Theo Harold Koontz: “ Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân Ýt nhất Với tư cách thực hành thì
Trang 18cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức tổ chức về quản lý là mét khoa học”.[24,33]
- Theo F.F.Aunapu: “Quản lý là mét khoa học và nghệ thuật tác động vào một hệ thống nhằm mục tiêu biến đổi hệ thống đó.”[3,16]
- Theo P.Baranger: “Quản lý là sù cai trị một tổ chức bằng cách đặt ra những mục tiêu và hoàn chỉnh mục tiêu cần phải đạt, là lùa chọn sử dụng các phương tiện nhằm đạt được mục tiêu đã định.” [23]
- Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống: “Quản lý là phương thức tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên hệ thống bao gồm hệ các quy tắc ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính trội hợp lý của cơ cấu và đưa cơ cấu sớm đạt mục tiêu ”[14,21]
Các nhà lý luận quản lý quốc tế như:
W Taylor (1856 - 1951) người Mỹ: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”
A Fayol (1841 - 1925) người Pháp: “Quản lý là đưa xí nghiệp tới đích,
cố gắng sử dụng tốt khái niệm nêu trên, ta có thể thấy rõ bốn yếu tố của quản lý: chủ thể quản lý, đối tượng bị quản lý (gọi tắt là đối tượng quản lý), khách thể quản lý và mục tiêu quản lý Bốn yếu tố này tạo thành sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1 - Sơ đồ khái niệm quản lý [32,38]
lý
Khách thể quản
lý
Mục tiêu quản lý
Phương pháp QL
Phương pháp QL
Trang 19Ngày nay thuật ngữ quản lý được dùng khá phổ biến, nhưng chưa có định nghĩa thống nhất Nhiều người cho rằng: Quản lý chính là do một hoặc nhiều người điều phối hành động của người khác nhằm thu được kết quả mong muốn Quản lý là một khoa học và là một nghệ thuật Quản lý là một khoa học vì nó là hoạt động dựa trên những tri thức khoa học được hệ thống hoá, chủ thể quản lý vận dụng các quy luật để giải quyết những vấn đề thực tiễn [18]
"Quản lý là một nghệ thuật vì đây là hoạt động đặc biệt, hoạt động này đòi hỏi phải được vận dụng một cách khéo léo, linh hoạt vào những tình huống rất đa dạng, trong những điều kiện không gian thời gian, hoàn cảnh, đặc điểm khác nhau" [5]
Từ những cơ sở trên, khái niệm quản lý có thể được hiểu một cách khái quát như sau:
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể lên khách thể bằng việc vận dụng những tri thức, kỹ năng nhằm khai thác có hiệu quả các tiềm năng và cơ hội của hệ thống tổ chức đạt được mục tiêu dự kiến
Về chức năng quản lý: Chức năng quản lý là một thể thống nhất những hoạt động tất yếu của chủ thể quản lý nảy sinh từ sự phân công, chuyên môn hoá của hoạt động quản lý Nó tập hợp các nhiệm vụ mà chủ thể quản lý phải thực hiện để đạt được mục tiêu quản lý đề ra
Có nhiều cách phân chia chức năng quản lý, song về cơ bản đều thống nhất có bốn chức năng: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
* Chức năng lập kế hoạch
Lập kế hoạch là chức năng đầu tiên và cơ bản nhất giúp cho nhà quản
lý tiếp cận mục tiêu mét cách hợp lý và khoa học Trên cơ sở phân tích trạng thái xuất phát, căn cứ vào những tiềm năng đã có, những khả năng sẽ có trong tương lai mà xác định rõ hệ thống các mục tiêu, nội dung hoạt động, các biện pháp cần thiết để chỉ rõ trạng thái mong muốn của tổ chức Lập kế hoạch bao gồm ba nội dung chủ yếu sau:
Trang 20- Dự đoán, dự báo nhu cầu phát triển
- Chuẩn đoán, đánh giá thực trạng phát triển của tổ chức
- Xác định những mục tiêu, biện pháp và phương tiện cần thiết để thực hiện mục tiêu đề ra
* Chức năng tổ chức
Tổ chức thực hiện kế hoạch là quá trình sắp xếp và phân phối các nguồn lực để hiện thực hoá các mục tiêu đã đề ra, là sự sắp đặt một cách khoa học những con người, những công việc một cách hợp lý, là sự phối hợp các tác động bộ phận tạo nên một tác động tích hợp mà hiệu quả của nó lớn hơn nhiều so với tổng số các hiệu quả của các tác động thành phần Công tác tổ chức gồm ba nhiệm vụ chính dưới đây:
- Xác định cấu trúc của bộ máy
- Tiếp nhận và phân phối các nguồn lực theo cấu trúc bộ máy
- Xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận, các thành viên trong tổ chức
* Chức năng chỉ đạo
Chỉ đạo là quá trình tác động, ảnh hưởng qua lại của chủ thể quản lý đến hành vi và thái độ của những thành viên trong tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra Nội dung của chức năng chỉ đạo bao gồm:
- Chỉ huy, ra lệnh
- Động viên, khen thưởng
- Theo dõi, giám sát
- Uốn nắn và điều chỉnh
* Chức năng kiểm tra
Kiểm tra là một chức năng có liên quan đến mọi cấp quản lý nhằm đánh giá trạng thái của hệ, xem mục tiêu dự kiến ban đầu và toàn bộ kế hoạch
đã đạt được ở mức độ nào, kịp thời phát hiện những sai sót, lệch lạc tìm ra nguyên nhân của những sai sót, những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn, điều chỉnh và tạo thông tin cho quá trình quản lý tiếp theo
Trang 21Bốn chức năng quản lý có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một chu trình quản lý Chu trình quản lý gồm 4 giai đoạn với sự tham gia của
2 yếu tố quan trọng: Thông tin và quyết định trong đó thông tin có vai trò là huyết mạch của hoạt động quản lý Chức năng kiểm tra đánh giá là giai đoạn cuối cùng của hoạt động quản lý đồng thời là tiền đề của một quá trình quản
lý tiếp theo Chu trình quản lý được thể hiện ở sơ đồ dưới đây:
Lập kế hoạch
Kiểm tra Thông tin Tổ chức
* Khái niệm về giáo dục
Để tồn tại và phát triển, con người phải trải qua quá trình lao động, học tập, con người nhận thức thế giới xung quanh, dần dần tích lũy được kinh nghiệm, từ đó nảy sinh nhu cầu truyền đạt những hiểu biết ấy cho nhau qua nhiều thế hệ dần trở thành giá trị văn hóa Đó chính là nguồn gốc phát sinh của hiện tượng giáo dục
Giáo dục lúc đầu xuất hiện như một hiện tượng tự phát, sau dần trở thành một hoạt động có ý thức Ngày nay giáo dục đã trở thành một hoạt động được tổ chức đặc biệt, đạt tới trình độ cao, có chương trình, kế hoạch,
có nội dung, phương pháp hiện đại và trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của xã hội loài người
Như vậy, giáo dục là một hiện tượng xã hội loài người, bản chất của
nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người Nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa
Trang 22văn hóa dân tộc, nhân loại được bảo tồn, kế thừa và bổ sung ngày càng hoàn thiện hơn và trên cơ sở đó, xã hội loài người không ngừng phát triển tiến lên
* Khái niệm quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội
Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên đối tượng giáo dục và khách thể quản lý giáo dục về mặt chính trị văn hoá, xã hội, kinh tế,… bằng hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp, các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng
Quản lý giáo dục là quá trình đạt đến mục tiêu giáo dục của hệ thống giáo dục bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra [22,tr.8]
Tác giả Đỗ Ngọc Đạt cho rằng: “QLGD là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trong hệ thống giáo dục, sử dụng tốt nhất tiềm năng và điều kiện nhằm đạt được mục tiêu quản lý
đã đề ra theo đúng luật định và thông lệ hiện” [8, tr.8]
Theo GS Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống các tác động
có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho
hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, và tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học -giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [32]
Khái quát lại, nội hàm của khái niệm quản lý giáo dục chứa đựng
Trang 23tầm vĩ mô là quản lý nhà nước mà cơ quan trực tiếp quản lý là Bộ GD-ĐT,
Sở GD-ĐT, Phòng GD-ĐT; Ở tầm vi mô là quản lý của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng của các trường phổ thông Phải có hệ thống tác động quản lý theo nội dung, chương trình kế hoạch thống nhất từ TW đến địa phương nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể Phải
có một lực lượng đông đảo những người làm công tác giáo dục cùng với hệ thống cơ sở vật chất, khoa học kỹ thuật tương ứng Quản lý giáo dục có tính xã hội cao, bởi vậy cần tập trung giải quyết tốt các vấn đề kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, an ninh quốc phòng phục vụ tốt công tác giáo dục Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của quản lý giáo dục, trong đó đội ngũ giáo viên và học sinh là đối tượng quản lý quan trọng nhất, đồng thời là chủ thể trực tiếp quản lý quá trình giáo dục
Tóm lại: Quản lý giáo dục là quá trình tác động có định hướng của nhà quản lý giáo dục trong việc vận hành nguyên lý, phương pháp chung nhất của kế hoạch nhằm đạt được những mục tiêu đề ra
1.2.3 Quản lý nhà trường
Trường học là đơn vị cơ sở trong hệ thống giáo dục quốc dân; là nơi diễn ra các hoạt động giáo dục đối với tập thể học sinh, sinh viên Quản lý trường học là một bộ phận của QLGD Nhà trường là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách, đường lối giáo dục, phương pháp, nguyên tắc, nguyên lý giáo dục trong phạm vi trách nhiệm của mình nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục - đào tạo được quy định cho từng cấp học, ngành học [23] Quản lý nhà trường là QL HĐGD của giáo viên, QL HĐHT của học sinh, quản lý nhân sự, quản lýhọc sinh, quản lý CSVC thiết bị, điều kiện phục
vụ hoạt động dạy và học Theo Giáo sư Viện sĩ Phạm Minh Hạc: “Quản
lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục của Đảng để tiến tới mục đích giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [10, tr.71]
Trang 24Tóm lại, quản lý nhà trường là một bộ phận của QLGD Quản lý nhà trường
là một hệ thống những tác động sư phạm khoa học và có tính định hướng của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng xã hội trong
và ngoài nhà trường nhằm làm cho nhà trường vận hành theo đúng đường lối
và nguyên lý giáo dục của Đảng Người quản lý nhà trường phải làm sao cho
hệ thống các thành tố vận hành chặt chẽ với nhau, đưa đến kết quả mong muốn
1.2.4 Hoạt động dạy học
Dạy học là một quá trình sư phạm, với nội dung khoa học, được thực hiện theo một phương pháp sư phạm đặc biệt do nhà trường tổ chức, giáo viên thực hiện nhằm giúp học sinh nắm vững hệ thống kiến thức khoa học và hình thành hệ thống kiến thức khoa học và hình thành hệ thống kỹ năng hoạt động, nâng cao trình độ học vấn, phát triển trí tuệ và hoàn thiện nhân cách Dạy học
là con đường cơ bản để thực hiện mục đích giáo dục xã hội Học tập là cơ hội quan trọng nhất giúp mỗi cá nhân phát triển và thành đạt trong xã hội
Dạy học là một quá trình toàn vẹn có sự thống nhất giữa hai mặt của các chức năng hoạt động dạy và hoạt động học Đó là quá trình vận động và phát triển của các thành tố tạo nên hoạt động dạy học Hiệu quả của hoạt động dạy học phụ thuộc vào mối quan hệ tương tác, sự hỗ trợ của hoạt động dạy và hoạt động học, hoạt động dạy học “là một quá trình bộ phận, một phương tiện trao đổi học vấn, phát triển năng lực và giáo dục phẩm chất nhân cách thông qua sự tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm truyền thụ và lĩnh hội một cách có hệ thống những tri thức khoa học, những kỹ năng nhận thức và thực hành” Nói cách khác, hoạt động dạy học
là quá trình vận động kết hợp giữa hai hoạt động dạy và học nhằm đạt được nhiệm vụ của dạy học
Hoạt động dạy học là một hệ thống toàn vẹn bao gồm các thành tố cơ bản: Mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức, người
Trang 25để thực hiện nhiệm vụ dạy học nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học
Hoạt động dạy học gắn liền với hoạt động giáo dục Cả hai hoạt động này đều hướng tới một mục tiêu chung là phát triển toàn diện nhân cách người học
Nói tóm lại, hoạt động dạy học là quá trình mà trong đó dưới sự tổ chức, điều khiển, lãnh đạo của người giáo viên làm cho người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức- học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học
Bản chất của hoạt động dạy học thể hiện tính thống nhất của hoạt động dạy
và hoạt động học, sự thống nhất biện chứng giữa các thành tố của hoạt động dạy học trong quá trình triển khai hoạt động dạy học
V.I Lênin đã khái quát quá trình nhận thức của loài người: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu trượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan”
Hoạt động dạy học là một hệ thống toàn vẹn mà các thành tố của nó luôn luôn tương tác với nhau theo những quy định riêng, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau để tạo nên sự thống nhất biện chứng: giữa dạy và học, giữa truyền đạt và lĩnh hội, giữa điều khiển và tự điều khiển trong quá trình dạy học
Dạy và học là hệ thống hoạt động thống nhất biện chứng còn bởi sự quy định lẫn nhau của các hoạt động này cả về nội dung lẫn hình thức
Dạy học là một quá trình cộng tác, tương tác giữa thầy và trò Chủ thể hoạt động dạy là giáo viên, chủ thể hoạt động học là học sinh Quá trình vận động tích cực, sáng tạo của chủ thể này làm cho họ phát triển, hoàn thiện mình hơn cả về phẩm chất lẫn năng lực Trong đó hoạt động dạy của thầy
và trò phối hợp nhịp nhàng, ăn khớp phát huy tối đa khả năng sáng tạo của người học giúp họ trưởng thành hơn trong hoạt động đó
Trang 261.2.4.1 Hoạt động dạy
Theo tác giả Lê Văn Hồng thì “Hoạt động dạy là sự tổ chức, điều khiển, tối ưu quá trình học sinh lĩnh hội tri thức, hình thành và phát triển nhân cách của mình Ở đây, thầy giáo là chủ thể của hoạt động dạy theo phương thức nhà trường với nội dung dạy học quy định trong chương trình, giúp học sinh lĩnh hội nền văn hoá xã hội, phát triển tâm lý thông qua tái tạo nền văn hoá đó, hình thành kỹ năng, thái độ” [13 ,tr.20]
Như vậy hoạt động dạy thực chất chính là việc tổ chức hoạt động học; nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học của người giáo viên ảnh hưởng rất lớn đến phương pháp và kết quả học tập của học sinh Hoạt động dạy giúp học sinh tiếp thu tri thức mới và qua học tập học sinh hình thành phương pháp
tư duy, kỹ năng và thái độ
1.2.4.2 Hoạt động học
Theo Giáo sư Phạm Minh Hạc thì “Học là khái niệm dùng để chỉ việc học theo phương thức thường ngày, còn hoạt động học là khái niệm dùng để chỉ việc học diễn ra theo phương thức đặc thù (phương thức nhà trường), nhằm lĩnh hội các hiểu biết mới, kỹ năng, kỹ xảo mới”[11 ,tr62]
Theo Lê Văn Hồng “Hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành vi và những dạng hoạt động nhất định, những giá trị” [12, tr.82]
Như vậy có thể nói hoạt động học là hoạt động bằng chính khối óc và cơ bắp, nhằm chiếm lĩnh tri thức, hình thành nên những giá trị, những kinh nghiệm và phương thức hoạt động tạo nên sự phát triển cho bản thân người học bằng một phương thức nhất định
1.3 Một số vấn đề lý luận về hoạt động học tập ở trường THPT
1.3.1 Bản chất của hoạt động học
- Đối tượng của hoạt động học (HĐH) là những tri thức và kỹ năng, kỹ xảo
Trang 27thức, kỹ năng, kỹ xảo của xã hội thông qua sự tái tạo của cá nhân Muốn học
có kết quả, người học phải tiến hành các hoạt động học tập bằng chính ý thức
tự giác và năng lực trí tuệ của bản thân
- HĐH là hoạt động hướng vào làm thay đổi chính bản thân mình
- HĐH là hoạt động được điều khiển một cách có ý thức nhằm tiếp thu kỹ năng, kỹ xảo
- HĐH không chỉ hướng vào việc tiếp thu những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới
mà còn hướng vào việc tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân hoạt động, nói cách khác là tiếp thu các phương pháp giành tri thức đó (cách học) [12,tr.83], [24]
1.3.1.1 Đối tượng của hoạt động học
Tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ… là đối tượng của HĐH Những tri thức mà học sinh phải học được lựa chọn từ những khoa học khác nhau, theo những nguyên tắc nhất định, làm thành những môn học tương ứng Đối tượng của HĐH, trong thực tiễn giáo dục được biểu hiện cụ thể ở chương trình các môn học (mà đơn vị cấu thành nó là khái niệm, kỹ năng, thái độ)[11, tr.67 ] Như vậy người giáo viên phải biên soạn nội dung dạy học và tổ chức hoạt động dạy sao cho những tri thức thật sự là đối tượng học tập, nó trở nên gần gũi và tạo động lực học ở học sinh
1.3.1.2 Nhiệm vụ học tập
Đối với học sinh, mục đích thiết yếu là chiếm lĩnh đối tượng của HĐH (gọi tắt là đối tượng học tập) Trong thực tiễn giáo dục, đối tượng học tập phải được cụ thể hoá thành hệ thống các mục đích bộ phận Học sinh phải vươn tới từng mục đích bộ phận này bằng cách thực hiện từng nhiệm vụ học tập tương ứng do người dạy giao cho Bởi vậy, việc tổ chức cho học sinh chiếm lĩnh đối tượng, trong thực tiễn giáo dục diễn ra dưới hình thức tổ chức cho các em thực hiện một hệ thống nhiệm vụ học tập Sự sắp xếp các nhiệm vụ học tập phải làm thành một hệ thống có tính phát triển Do đó cũng có thể nói, thầy
Trang 28giáo tổ chức quá trình phát triển của học sinh bằng cách lập ra và tổ chức cho các em thực hiện một hệ thống nhiệm vụ học tập [11, tr.70]
Theo chúng tôi, những người xây dựng chương trình học phải sắp xếp tri thức theo một hệ thống để người học thực hiện nhiệm vụ học tập theo một trình tự khoa học, và chính giáo viên là người tổ chức cho học sinh tiến hành các hành động học, giải quyết từng nhiệm vụ học tập theo đúng quy luật nhận thức và phù hợp với điều kiện thực tiễn
1.3.1.3 Phương tiện học tập
Theo Giáo sư Phạm Minh Hạc thì trong hoạt động học, học sinh phải tự tạo cho chính mình phương tiện thực hiện, không thể chỉ dùng những phương tiện đã có do một quá trình khác ngoài quá trình học tập tạo ra (giấy, mực, bút,
…) Tính chất đặc thù của hoạt động học là ở chỗ: mọi yếu tố của nó đang được hình thành bởi chính nó Phương tiện hoạt động học cũng vậy, nó không
có sẵn trong tâm lý chủ thể, mà được hình thành chính trong quá trình diễn ra hoạt động này Phương tiện chủ yếu của hoạt động học trước hết là các hành động học tập Phương tiện này được học sinh tự hình thành trong quá trình diễn ra hoạt động học tập [11, tr.74]
Theo tác giả luận văn nhận thấy, hiện nay không ít người chưa nhận thức sâu sắc vấn đề này, quá đề cao các phương tiện cơ sở vật chất, tập trung đầu tư xây dựng, mua sắm trang thiết bị mà ít quan tâm phương tiện quan trọng nhất đó là chính các hành động học tập của học sinh Chính phương pháp và hình thức tổ chức dạy học sẽ quyết định chất lượng cho các hành động học Điều này khẳng định và minh chứng cho chúng ta thấy rằng yếu tố con người có vai trò quyết định và cũng từ cơ sở này, chúng ta tin rằng có thể nâng cao chất lượng giáo dục của Việt Nam trong điều kiện đất nước ta hiện nay còn khó khăn về kinh tế
1.3.1.4 Những điều kiện của hoạt động học
Hoạt động học bao giờ cũng diễn ra trong điều kiện chỉ đạo về mặt sư phạm của hoạt động dạy Chất lượng và hiệu quả của hoạt động học chủ yếu
Trang 29cả nội dung lẫn phương pháp, đổi mới mối quan hệ thầy-trò trong quá trình dạy và học
Vì vậy để đảm bảo cho hoạt động học đạt được kết quả cao thì phải có mối liên hệ hợp tác và trao đổi giữa những người cùng học dưới sự chỉ đạo và tổ chức của thầy, trong giao lưu, trong tập thể[11, tr.76]
Chúng tôi thấy rằng nội dung bài học và hình thức trình bày cùng với phương pháp dạy học tích cực, hợp tác, giao lưu có ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả của hoạt động học; điều này giúp học sinh có động lực học, nắm vững kiến thức và rèn luyện nhiều kỹ năng
1.3.2 Hình thành hành động học
1.3.2.1 Hình thành động cơ học tập cho học sinh
Khi nói đến hoạt động thì phải có động cơ của nó, động cơ tâm lý không phải đơn thuần ở bên trong cá thể Nó phải được vật thể hoá ở đối tượng của hoạt động Nghĩa là động cơ phải mang một hình thức tồn tại vật chất hiện thực ở bên ngoài Với nghĩa đó, đối tượng của hoạt động chính cũng
là nơi hiện thân của động cơ hoạt động ấy Động cơ học tập của học sinh được hiện thân ở những tri thức, kỹ năng, thái độ…(đối tượng của các hoạt động học) mà giáo dục nhà trường sẽ đưa lại cho các em Động cơ học tập, biểu hiện ra ngoài ở lòng khao khát đối với tri thức, muốn hiểu biết nhiều hơn những điều mới lạ Nhà trường nên làm cho tri thức, kỹ năng, thái độ trở nên thiết thân đối với học sinh, các em yêu thích môn học, say mê hứng thú học tập [25]
Động cơ học tập không có sẵn, cũng không thể áp đặt từ ngoài, mà phải được hình thành dần dần chính trong quá trình đi sâu chiếm lĩnh đối tượng học tập của học sinh, dưới sự hướng dẫn, tổ chức của thầy Vì vậy, người thầy cần tổ chức cho học sinh tự phát hiện những điều mới lạ (cả nội dung tri thức lẫn phương pháp giành lấy tri thức đó) Các em từng bước giải quyết thành công nhiệm vụ học tập sẽ tạo hứng thú say mê với tri thức và chính hoạt động học tập Học tập dần dần trở thành một nhu cầu không thể thiếu của chính học
Trang 30sinh Nó tạo nên sức mạnh tinh thần thường xuyên thúc đẩy các em vượt qua khó khăn để học tập với sự tự nguyện, say mê, hứng thú [11, tr.78,79,80,81] Theo chúng tôi lý luận này có ý nghĩa rất quan trọng đối với thực tiễn giáo dục trong nhà trường Để hình thành động cơ học tập cho học sinh phải thực hiện một số nội dung như sau:
Vận dụng cơ sở tâm lý học hình thành động cơ học tập, như cho học sinh thấy mục đích học tập và sự hạnh phúc, sự thành đạt khi các em có một trình độ học vấn, năng lực Chúng ta có thể giới thiệu những tấm gương thành đạt, tư vấn hướng nghiệp cho học sinh Động cơ học tập cũng hiện thân ở những tri thức, kỹ năng, thái độ; chính vì vậy nhà trường phải tổ chức hoạt động dạy và học theo hướng toàn diện, quan tâm biên soạn nội dung dạy học, cải tiến phương pháp để học sinh thật sự yêu thích môn học, các em cảm thấy hạnh phúc trong từng tiết học; tạo điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị và môi trường học tập, thực hiện kiểm tra đánh giá kích thích động cơ học tập
Đối với học sinh chưa có động cơ học tập tốt chúng ta không chỉ kêu gọi, răn đe, nhắc nhở, thuyết phục mà còn tổ chức quá trình dạy học sao cho học sinh yếu được củng cố kiến thức cơ bản để các em có thể tiếp thu được nội dung bài mới, từ đó yêu thích học tập
Vậy để tạo động cơ học tập cần phối hợp giáo dục động cơ học tập và tổ chức dạy học cho học sinh dựa trên cơ sở tâm lý về động cơ, lý luận giáo dục và hoạt động dạy học
1.3.2.2 Hình thành mục đích học tập
Giáo sư Phạm Minh Hạc đề cập đến mục đích học tập như sau: Muốn cho HĐHT thực hiện được động cơ của nó, trước hết động cơ của hoạt động này phải được cụ thể hoá thành hệ thống các khái niệm của môn học ấy Thông qua hành động học tập, học sinh chiếm lĩnh từng mục đích bộ phận riêng lẻ, dần dần chiếm lĩnh toàn bộ đối tượng Bản chất của HĐHT là hoạt động chuyển hướng vào làm thay đổi chính chủ thể của nó Sự thay đổi này
Trang 31những chuẩn mực, những quy luật và những phương thức hành vi phù hợp với chúng Chính những cái đó làm thành nội dung của mục đích học tập [11, tr.82, 83, 84]
Như vậy, trong quá trình học tập của học sinh thì từng bước các em làm chủ những khái niệm và từ đó làm cơ sở để tiếp thu những khái niệm mới, có phương pháp nhận thức và phát triển tư duy Qua học tập, từng đơn vị kiến thức ở các bộ môn dưới sự ảnh hưởng của người thầy, học sinh được hình thành những giá trị, chuẩn mực và hành vi Như vậy thông qua dạy chữ để dạy người và thông qua hoạt động học các em được phát triển nhân cách toàn diện
1.3.2.3 Hình thành các hành động học tập
Đối tượng của HĐHT cần phải được cụ thể hoá thành hệ thống nhiệm
vụ mà học sinh sẽ thực hiện thông qua những hành động học tập Người giáo viên trong quá trình giảng dạy cần đề ra hệ thống nhiệm vụ học tập theo một trình tự logic, học sinh hoàn thành nhiệm vụ học tập này làm cơ sở để giải quyết nhiệm vụ tiếp theo Do đó học sinh phải cố gắng nắm vững kiến thức những nội dung đã học mới tiếp thu và giải quyết nhiệm vụ học tập kế tiếp Người giáo viên phải thường xuyên kiểm tra việc học bài và làm bài của học sinh, kịp thời củng cố những kiến thức cho học sinh, nhất là học sinh yếu Việc giảng dạy trên lớp, người giáo viên phải tổ chức được các hành động học tập cho học sinh, chính học sinh tiến hành các hành động học tập mới tạo nên
sự phát triển trong tâm lý học sinh Các hành động học tập ở nhà của học sinh
vô cùng quan trọng, giúp các em nắm vững nội dung học tập, rèn luyện tư duy, kỹ năng Chính vì vậy, việc quản lý kiểm tra HĐHT ở nhà của học sinh
là rất quan trọng, giáo viên phải đề ra nhiệm vụ học tập phù hợp, đảm bảo tính vừa sức, kích thích tạo động lực học tập ở nhà của học sinh
1.3.3 Một số quan niệm hiện nay về hoạt động dạy và học trong nhà trường
Trang 32Trong tài liệu bồi dưỡng hiệu trưởng trường phổ thông theo chương trình liên kết giữa Việt Nam - Singapore năm 2009 đã nêu lên một số quan niệm hiện nay về hoạt động dạy và học trong nhà trường như sau:
- Chuyển từ việc lấy dạy học làm trung tâm sang việc lấy học tập làm trung tâm, giáo viên hướng sự chú ý vào việc xây dựng quy trình học tập hơn chú ý vào công nghệ dạy học; họ lấy việc học tập của học sinh làm trung tâm của sự nghiệp giáo dục, tạo ra cơ hội học tập cho học sinh phù hợp với hoàn cảnh cụ thể
- Lưu ý giúp đỡ học sinh để có kinh nghiệm học tập, tạo môi trường an toàn
về mặt tình cảm, biên soạn nội dung học tập có thể lôi cuốn học sinh Nhà trường cần tạo dựng những nhân tố thu hút việc dạy và học, tạo không khí lớp học để các em cảm thấy được chấp nhận; cảm thấy thoải mái và tôn trọng trật
tự, quy định và quy trình rõ ràng
- Quan niệm về hoạt động dạy học là: Người học tự tìm kiếm kiến thức bằng hoạt động của chính mình; người học phải có năng lực tự thể hiện mình và năng lực hợp tác , học bạn; người học phải có năng lực tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh
- Xu hướng cơ bản trong đổi mới phương pháp dạy học là quan điểm dạy học tích cực Vấn đề lãnh đạo và quản lý đổi mới phương pháp dạy học là cốt lõi của đổi mới lãnh đạo và quản lý hoạt động dạy học ở trường phổ thông, đồng thời là đòn bẩy trực tiếp để nâng cao chất lượng dạy học Với quan điểm:
“học sinh làm trung tâm”, việc lãnh đạo và quản lý đổi mới phương pháp dạy học tập trung vào đổi mới cách dạy của giáo viên và cách học của học sinh, làm cho học sinh tích cực hơn trong suy nghĩ, hành động, hợp tác và bày tỏ ý kiến của mình nhiều hơn”
- Lãnh đạo và quản lý hoạt động dạy học tức là lãnh đạo và quản lý hoạt động dạy của giáo viên cũng như lãnh đạo và quản lý HĐHT của học sinh Tuy nhiên, việc lãnh đạo và quản lý HĐHT của học sinh là quản lý gián tiếp thông
Trang 33qua giáo viên Chính người giáo viên mới là người trực tiếp quản lý việc học của học sinh [3], [20]
Như vậy, dạy học thực chất là tổ chức hoạt động học cho học sinh Việc học tập của học sinh là trung tâm của sự nghiệp giáo dục; tất cả hoạt động của nhà trường đều hướng đến tạo điều kiện tối ưu cho học tập Người học tự nỗ lực, chủ động, tích cực tìm kiếm tri thức trong sự tương tác với môi trường học tập Như vậy đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề quan trọng nhất để phát huy tối đa hiệu quả hoạt động học tập và nâng cao chất lượng giáo dục
1.3.4 Những hình thức hoạt động học tập của học sinh
Giáo trình giáo dục học đại cương, của Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh khái quát các hình thức học tập của học sinh ở trường trung học như sau: HĐHT có các hình thức như học tập chính khoá ở trường, tự học
ở nhà, học nhóm, hoạt động ngoại khoá, tham quan, phụ đạo
Tự học là nói đến nội lực của người học, chất lượng của học tuỳ thuộc vào nội lực Dù điều kiện tác động từ bên ngoài đối với hoạt động học dù tốt đến mấy, nhưng nếu con người không có đủ nỗ lực bản thân để tự học, tự biến đổi mình đến mức cần thiết thì không thể nào đạt được mục tiêu mong muốn [14, tr.31]
Tự học có nhiều hình thức như tự học ở lớp khi đang diễn ra quá trình dạy
và học, tự học ở nhà Tự học ở nhà cũng là hình thức tự học có hướng dẫn của giáo viên Tự học ở nhà của học sinh thường là nắm vững nội dung