BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH o0o HOÀNG THỊ THANH NHÀN MỨC TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀO CHỈ SỐ GIÁ Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2012[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-o0o -
HOÀNG THỊ THANH NHÀN
MỨC TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀO CHỈ
SỐ GIÁ Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2012
Trang 2-o0o -
HOÀNG THỊ THANH NHÀN
MỨC TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀO CHỈ
SỐ GIÁ Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế tài chính- Ngân hàng
Mã số: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Trang
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Trang người đã tận tình chỉ dẫn và đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành đến Quý thầy cô những người đã tận tình truyền đạt những kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Và tôi cũng xin gởi lời cảm ơn chân tình đến em Bạch Thị Phương Thảo; Trần Quốc Phong, Nguyễn Quốc Huy và các bạn học đã hỗ trợ nhiệt tình để giúp tôi hoàn thành tốt luận văn này
Lời cảm ơn sau cùng tôi xin gởi đến những thành viên trong gia đình, những người đã hỗ trợ về tinh thần và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
TP Hồ Chí Minh, ngày 06 tháng 10 năm 2012
Hoàng Thị Thanh Nhàn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi với sự giúp đỡ của người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Trang Các nội dung nghiên cứu và kết quả của bài nghiên cứu này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào
Số liệu thống kê trong bài nghiên cứu được lấy từ những nguồn dữ liệu đáng tin cậy
và được chú thích rõ ràng trong bài nghiên cứu của tôi
Nếu có phát hiện bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng
TP Hồ Chí Minh, ngày 06 tháng 10 năm 2012
Tác giả
Hoàng Thị Thanh Nhàn
Trang 5MỤC LỤC
TÓM TẮT 1
MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1 5
TỔNG QUAN LÝ THYẾT VỀ TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TẠI VIỆT NAM 5
1.1 Thế nào là truyền dẫn tỷ giá hối đoái (ERPT) 5
1.2 Cơ chế truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào các chỉ số giá là như thế nào 6
1.3 Tổng quan về các nghiên cứu điển hình về ERPT ở các nước 7
1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới 8
1.3.2 Các nghiên cứu trong nước 10
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 13
CHƯƠNG 2 14
ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ (ERPT) VÀO CHỈ SỐ GIÁ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001-2011 14
2.1 Mô hình nghiên cứu 14
2.2 Dữ liệu nghiên cứu 16
2.3 Các bước thực hiện trong quá trình chạy mô hình 17
2.4 Kết quả thực nghiệm 18
2.4.1 Kiểm định nghiệm đơn vị 18
2.4.2 Xác định độ trễ cho các biến trong mô hình 18
2.4.3 Hàm phản ứng xung (impulse response) 19
2.4.4 Chức năng phân rã phương sai 27
2.4.5 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 29
KẾT LUẬN CHUNG 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
PHỤ LỤC 1 34
PHỤ LỤC 2 39
PHỤ LỤC 3 43
PHỤ LỤC 4 47
PHỤ LỤC 5 51
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị
Bảng 2.2: Kết quả xác định độ trễ cho mô hình
Bảng 2.3: Kết quả chuẩn hóa cú sốc NEER- hệ số truyền dẫn đến chỉ số giá Bảng 2.4: Kết quả phân rã phương sai
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.2: Kênh trực tiếp của mức chuyển tỷ giá
Hình 2.1: Phản ứng của các chỉ số giá đối với cú sốc NEER
Hình 2.2: Tổng hợp phản ứng ba chỉ số giá với 1% cú sốc NEER
Hình 2.3 Hàm phản ứng xung theo trật tự thứ 2 (Cholesky Ordering 2) Hình 2.4 Hàm phản ứng xung theo trật tự thứ 3 (Cholesky Ordering 3) Hình 2.5 Hàm phản ứng xung theo trật tự thứ 4 (Cholesky Ordering 4) Hình 2.6: Tác động của các cú sốc giá dầu, cung tiền, Gap đến chỉ số giá
Trang 8kế đến là PPI và cuối cùng là CPI tuy nhiên mức ảnh hưởng đến CPI là không hoàntoàn, mức ảnh hưởng theo khuynh hướng giảm dần theo chuỗi chỉ số giá cả trong nước
là hoàn toàn phù hợp với các nghiên cứu ở các nước Hơn nữa, trong bài nghiên cứuchỉ ra rằng ở Việt Nam chính sách tiền tệ có ảnh hưởng rất lớn đến sự thay đổi chỉ sốgiá trong nước Do vậy, để đạt mục tiêu kiểm soát lạm phát và tăng trưởng kinh tế thìngân hàng nhà nước cần phải thận trọng trong vấn đề kiểm soát cung tiền
Từ khóa: Truyền dẫn tỷ giá (ERPT), mô hình hồi qui vecto (VAR), chỉ số giá nhập
khẩu(IMP), chỉ số giá sản xuất(PPI), chỉ số giá tiêu dùng(CPI),
Trang 9Như vậy, liệu rằng có một mối quan hệ như thế nào giữa TGHĐ và lạm phát? Sự thayđổi trong TGHĐ có tác động đáng kể đến lạm phát hay không? Và nếu có thì mức độtác động là như thế nào? Biến động của giá cả hàng hóa trên thế giới cụ thể giá dầu cóảnh hưởng như thế nào đến thay đổi tỷ giá và lạm phát ở Việt Nam? Chính sách tiền tệliệu có tác động đến lạm phát hay không và nếu có thì mức độ của nó như thế nào? Để
trả lời cho những câu hỏi trên tác giả đã lựa chọn đề tài “Mức độ truyền dẫn của tỷ
giá vào các chỉ số giá ở Việt Nam” để làm luận văn bảo vệ khóa học thạc sĩ của
mình
2 Tính cấp thiết của đề tài
Nghiên cứu về mức độ truyền dẫn tỷ giá hối đoái (ERPT) vào các chỉ số giá: chỉ sốgiá nhập khẩu (IMP); chỉ số giá sản xuất (PPI); chỉ số giá tiêu dùng (CPI) luôn là một
đề tài đáng quan tâm của các nhà kinh tế thế giới Đã có rất nhiều nghiên cứu liên quanđến vấn đề này đã được thực hiện ở nhiều quốc gia; nhiều nền kinh tế trên thế giới như
so sánh mức độ truyền dẫn tỷ giá ( ERPT) vào chỉ số giá nhập khẩu(IMP), chỉ số giásản xuất (PPI), chỉ số giá tiêu dùng (CPI) ở những nước phát triển và những nước mớinổi trong nhiều giai đoạn và thời gian khác nhau Kết quả của các nghiên cứu cũnggóp phần không nhỏ đối với những nhà điều hành chính sách ở các quốc gia nói trên.Tại Việt Nam, những năm gần đây cùng với sự tăng mạnh của tỷ lệ lạm phát và chínhsách điều hành tỷ giá cũng linh hoạt hơn, mức độ phá giá của VND ngày càng lớn do
Trang 10đó việc cập nhật và xác định mức độ ảnh hưởng của việc phá giá VND đối với nềnkinh tế đặc biệt là chỉ số giá tiêu dùng (CPI)trong nước là vô cùng cần thiết.
3 Mục tiêu nghiên cứu
Như đã nêu rõ ở phần lý do chọn đề tài, tác giả có hai vấn đề cần nghiên cứu:
Thứ nhất: tác giả muốn xem xét mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái (ERPT) vào
các chỉ số giá ở Việt Nam là như thế nào
Thứ hai: tác giả muốn xem xét mức độ tác động của các yếu tố vĩ mô có ảnh hưởng
như thế nào đến chỉ số giá ở Việt Nam
4 Đối tượng nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của mình, các đối tượng nghiên cứu của tác giả nhưsau:
- CPI : chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam
- IMP : chỉ số giá nhập khẩu của Việt Nam
- PPI : chỉ số giá sản suất của Việt Nam
- IP : giá trị sản xuất công nghiệp của Việt Nam
- Neer, Reer : tỷ giá danh nghĩa hiệu lực đa phương (Neer), tỷ giá thực hiệu lực
đa phương (Reer) của Việt Nam so với đổng tiền các nước trong khu vực Ở bàinghiên cứu của mình tác giả lựa chọn 10 quốc gia có quan hệ giao thươngchiếm 82 % tỷ trọng giao thương với Việt Nam bao gồm: Nhật, Singapore,Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ, Thái Lan, Úc, Hong Kong, Indonesia, Malaysia
- Các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng đến mức độ truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào chỉ sốgiá ở Việt Nam
5 Phạm vi nghiên cứu
- Các số liệu về chi số giá tiêu dùng (CPI), chỉ số giá nhập khẩu (IMP), chỉ số giásản suất (PPI), giá trị sản xuất công nghiệp (IP) của Việt Nam sẽ được nghiêncứu trong giai đoạn từ năm 2001- 2011
- Tỷ giá danh nghĩa hiệu lực đa phương (Neer) so với 10 đối tác thương mại lớncủa Việt Nam cũng được nghiên cứu trong giai đoạn 2001-2011
6 Phương pháp nghiên cứu
Trang 11- Phương pháp phân tích kinh tế lượng: tác giả sử dụng mô hình VAR (vectorautoregression model) để đo lường và phân tích mức độ truyền dẫn tỷ giá(ERPT) vào chỉ số giá ở Việt Nam giai đoạn 2001-2011
7 Dữ liệu nghiên cứu
Trong bài nghiên cứu của mình tác giả đã sử dụng số liệu thống kê từ các nguồn dữliệu: Tổng cục thống kê Việt Nam (GSO); nguồn dữ liệu datastream từ tổ chức tàichính quốc tế (IFS); ngân hàng thế giới (WB), trong khoảng thời gian từ 2001-2011
9 Đóng góp của luận văn
- Thứ nhất, luận văn góp phần cung cấp thông tin tổng quan hơn về mức độ
truyền dẫn tỷ giá hối đoái tại Việt Nam là như thế nào trong giai đoạn nghiêncứu
- Thứ hai, luận văn đã xác định được xu hướng biến động của mức độ truyển dẫn
tỷ giá hối đoái vào chỉ số giá ở Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu
- Thứ ba, thực hiện chức năng phân rã phương sai, luận văn xác định được mức
độ ảnh hưởng như thế nào của các nhân tố đến chỉ số giá ở Việt Nam
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TẠI
VIỆT NAM
1.1 Thế nào là truyền dẫn tỷ giá hối đoái (ERPT)
Có rất nhiều những nghiên cứu khác nhau về truyền dẫn tỷ giá, điển hình như của
Giovanni P.Olivei (2002) cho rằng truyển dẫn tỷ giá hối đoái như là sự tác động của
sự thay đổi tỷ giá hối đoái đến giá nhập khẩu ( tính trên đồng nội tệ) đối với nhữngquốc gia có quan hệ xuất nhập khẩu với nhau Hay nói cách khác là 1% thay đổi của tỷgiá hối đoái sẽ tác động như thế nào đến sự thay đổi giá nhập khẩu
Nghiên cứu khác của Amit Ghosh và Ramkishen S.Rajan (2007) cho rằng truyền
dẫn tỷ giá là sự ảnh hưởng của những thay đổi của tỷ giá hối đoái vào giá của hàng hóanhập khẩu cũng như vào giá cả hàng hóa nội địa nói chung( dựa trên đơn vị tiền tệ củanước nhập khẩu)
Rudrani Bhattacharya, Ila Patnaik, Ajay Shah (2008) trong nghiên cứu của mình
đã định nghĩa truyền dẫn tỷ giá hối đoái là phần trăm thay đổi của giá cả hàng hóa
trong nước(domestic prices) -giá nhập khẩu, giá sản xuất, giá tiêu dùng và cả giá
hàng hóa xuất khẩu- được xác định bởi các nhà nhập khẩu trong nước khi có sự thay
đổi 1% của biến động tỷ giá hối đoái
Nkunde Mwase (2006) có định nghĩa rộng hơn về truyền dẫn tỷ giá hối đoái chính là
sự thay đổi của giá cả hàng hóa trong nước như thế nào khi có sự thay đổi 1% của cúsốc tỷ giá
Jonathan McCarthy (2000) nghiên cứu tác động của sự thay đổi tỷ giá hối đoái và
giá nhập khẩu đến chỉ số giá trong nước( PPI, CPI) ở những quốc gia phát triển và tácgiả sử dụng mô hình VAR để phân tích sự tương quan của sự biến động của tỷ giá hốiđoái và giá nhập khẩu đến chuỗi các chỉ số giá ở các nước phát triển
Một nghiên cứu điển hình nữa trong vần đề này là của Takatoshi Ito và Kiyotaka Sato (2006) cũng định nghĩa truyền dẫn tỷ giá là mức ảnh hưởng của biến động tỷ giá
Trang 13Qua một số những nghiên cứu đã nêu tác giả khái quát định nghĩa truyền dẫn tỷ giá
như sau:“ truyền dẫn tỷ giá là phần trăm thay đổi của giá cả hàng hóa nội địa - chỉ
số giá nhập khẩu(IMP), chỉ số giá sản xuất(PPI), chỉ số giá tiêu dùng (CPI)- khi có
sự thay đổi một phần trăm (1%)của cú sốc tỷ giá”.
1.2 Cơ chế truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào các chỉ số giá là như thế nào?
Theo Rudrani Bahttacharya (2008) cho rằng cơ chế truyền dẫn tỷ giá vào giá hàng
hóa nội địa qua hai giai đoạn:
Giai đoạn 1: sự sụt giảm của tỷ giá hối đoái sẽ làm tăng giá nguyên vật liệu đầu vào
của các hàng hóa nhập khẩu
Giai đoạn 2: Khi tăng giá nguyên vật liệu đầu vào của các hàng hóa nhập khẩu thì
thông qua cung cầu thị trường nó sẽ lâp tức ảnh hưởng làm tăng chi phí sản xuất và sẽlàm tăng giá hàng hóa trong nước
Và mức truyền dẫn được gọi là hoàn toàn(complete) khi 1% thay đổi tỷ giá sẽ dẫn đến
sự thay đổi trong giá cả nội địa cũng ở mức 1%, và nếu mức độ thay đổi này nhỏ hơn1% thì mức truyền dẫn được gọi là không hoàn toàn(incomplete)
Theo nghiên cứu của Nicoleta (2007), những thay đổi của TGHĐ sẽ ảnh hưởng đến
tỷ lệ lạm phát qua hai kênh cơ bản là: trực tiếp và gián tiếp
a Kênh trực tiếp: Để đơn giản hoá phân tích và không mất tính tổng quát, ta
có thể xem cú sốc này chính là: sự mất giá đồng nội tệ Điều này sẽ khiến những hànghoá và nguyên liệu nhập khẩu trở nên đắt hơn Khi giá các nguyên liệu nhập khẩutăng, chi phí sản xuất sẽ tăng và tăng giá tiêu dùng Giá hàng hoá tiêu dùng nhập khẩutăng sẽ phản ánh ngay vào sự tăng lên của chỉ số giá tiêu dùng (Hình 1.2)
Trang 14Hình 1.2: Kênh trực tiếp của mức chuyển tỷ giá
Nguồn: Nicoleta (2007)
b Kênh gián tiếp: Khi đồng nội tệ giảm giá, hàng nội địa sẽ trở nên rẻ hơn so với
hàng quốc tế khiến cầu hàng nội địa tăng dẫn đến giá tăng theo cơ chế cung - cầu thịtrường hoặc dẫn đến gia tăng sản xuất, tăng cầu lao động, tiếp đến là tăng lương vàtăng tổng cầu, kết quả là tỷ lệ lạm phát gia tăng Tuy nhiên, tác động này chủ yếu làtrong dài hạn do giá thường cứng nhắc trong ngắn hạn
Một kênh gián tiếp quan trọng khác : trong ngắn hạn cũng như dài hạn thông qua tỷ
lệ đô la hoá nền kinh tế, tức là tình trạng người dân sở hữu các tài sản tính bằng ngoại
tệ Giả định TGHĐ tăng, tức là nội tệ mất giá và ngoại tệ tăng giá, người dân có xuhướng chuyển sang nắm giữ các tài sản bằng ngoại tệ, đẩy giá của các tài sản tínhbằng ngoại tệ tăng, thông thường là bất động sản và các mặt hàng xa xỉ, và mặt bằnggiá chung sẽ tăng lên hay CPI sẽ tăng
1.3 Tổng quan về các nghiên cứu điển hình về truyền dẫn tỷ giá(ERPT) ở các nước
Về cơ bản vai trò quan trọng nhất của truyền dẫn tỷ giá là mức độ ảnh hưởng của nótrong khả năng dự báo lạm phát trong nền kinh tế, điều đó có ý nghĩa rất quan trọngđối với ngân hàng trung ương trong việc thực thi chính sách tiền tệ Nắm bắt được vaitrò của nó mà các nhà kinh tế đã không ngừng nghiên cứu để xác định mức độ ảnhhưởng của truyền dẫn tỷ giá đến giá cả nội địa nhằm tăng khả năng dự báo cho chínhphủ trong việc thực thi các chính sách vĩ mô của nền kinh tế các nước Dưới đây tácgiả xin điểm qua một số các nghiên cứu điển hình
Hàng hóa nhập
khẩu( chỉ số giá
nước ngoài-P*)
Hàng hóa nhập khẩu( chỉ số giá nhập khẩu-P)
Nguyên vật liệu sản xuất( chỉ số giá sản xuất- PPI)
Hàng tiêu dùng cuối cùng( chỉ số giá tiêu dùng- CPI)
Hàng tiêu dùng cuối cùng( chỉ
số giá tiêu CPI) 4
Trang 151.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới.
Khi xem xét phản ứng của giá nhập khẩu của các ngành công nghiệp ở Hoa Kỳ đối với
những biến động của tỷ giá hối đoái trong giai đoạn 1981-1999, Oliver (2002), kết quả
nghiên cứu là mức truyền dẫn tỷ giá vào giá nhập khẩu là không hoàn toàn, trung bình
ở mức 0.5 % đối với các ngành công nghiệp trong giai đoạn 1980s và mức độ truyềndẫn càng nhỏ hơn cụ thể 0.25% trong giai đoạn 1990s Do đó, đề xuất của tác giả là đểgiảm lượng hàng hóa nhập khẩu vào Hoa Kỳ thì chính phủ nên phá giá đồng nộitệ(USD)
Môi trường lạm phát và mức biến động tỷ giá ở một quốc gia là một trong những nhân
tố ảnh hưởng rất lớn đến mức truyền dẫn tỷ giá vào chỉ số giá Theo Campa &
Goldberg(2004) nghiên cứu về mức độ truyền dẫn tỷ giá vào giá nhập khẩu của 23
nước OECD và kết quả nghiên cứu cho thấy các nước có tỷ giá hối đoái và lạm phátbiến động ít hơn sẽ có tỷ lệ truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào giá nhập khẩu thấp hơn
Cùng với kết luận trên có nghiên cứu của Ghosh và Rajan(2008) tác giả đã sử dụng
phương pháp hồi qui tuyến tính OLS để đo lường độ lớn của truyền dẫn tỷ giá vào chỉ
số giá tiêu dùng và chỉ số giá nhập khẩu của Hàn Quốc, Thái Lan, kết quả nghiên cứu
đã cho thấy mức truyền dẫn tỷ giá ở Thái Lan cao hơn ở Hàn Quốc, bài nghiên cứucũng cho thấy độ mở của nền kinh tế và sự thay đổi của tỷ giá càng lớn thì độ lớn củatruyền dẫn tỷ giá vào chỉ số giá nhập khẩu càng tăng
Sự phụ thuộc hàng nhập khẩu của một quốc gia và qui mô của một quốc gia cũng làmột trong những nhân tố ảnh hưởng đến độ lớn của truyền dẫn tỷ giá vào chỉ số giá
Theo Campa,Goldberg & Gonzales-Minguez (2005) khi nghiên cứu về mức truyền
dẫn tỷ giá hối đoái đến giá nhập khẩu giữa các nước và các loại sản phẩm trong khuvực đồng Euro Kết quả nghiên cứu: trong ngắn hạn, ảnh hưởng của biến động tỷ giáđến giá nhập khẩu cao nhưng không hoàn toàn (nhỏ hơn 1), và rằng mức truyền dẫn làkhác nhau giữa các ngành công nghiệp và các quốc gia Trong dài hạn: mức chuyểndịch lại cao hơn (gần bằng 1), không tìm thấy bằng chứng thuyết phục rằng sự ra đờicủa đồng Euro gây ra một sự thay đổi cấu trúc về mức truyền dẫn tỷ giá vào giá nhậpkhẩu của khu vực đồng Euro