ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Trần Lê Thanh ĐẢNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈ[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trần Lê Thanh
ĐẢNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO
Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÖI PHÍA BẮC
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận án là công trình độc lập của cá nhân tôi Các thông tin trong Luận án là trung thực Những thông tin đƣợc trích dẫn đều có nguồn gốc đầy đủ
Tác giả Luận án
Trần Lê Thanh
Trang 32 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3
4 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 4
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
1 Những công trình nghiên cứu liên quan và trực tiếp về xoá đói,
1.1 Những công trình của tác giả nước ngoài 71.2 Những công trình của tác giả Việt Nam 8
2 Những công trình nghiên cứu liên quan và trực tiếp về xoá đói,
3 Những công trình nghiên cứu về xoá đói, giảm nghèo ở các tỉnh
Bắc Giang, Hà Giang, Hòa Bình và Sơn La 17
Trang 41.1 Những nhân tố tác động đến thực hiện xoá đói, giảm nghèo ở các
tỉnh Bắc Giang, Hà Giang, Hòa Bình và Sơn La và chủ trương,
chỉ đạo của Đảng về xoá đói, giảm nghèo 221.1.1 Những nhân tố tác động đến thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở các
tỉnh Bắc Giang, Hà Giang, Hòa Bình và Sơn La 221.1.2 Chủ trương và chỉ đạo của Đảng về xoá đói, giảm nghèo 401.2 Các đảng bộ Bắc Giang, Hà Giang, Hòa Bình và Sơn La vận
dụng chủ trương của Đảng về xoá đói, giảm nghèo 461.2.1 Chủ trương của các đảng bộ 461.2.2 Chỉ đạo thực hiện của các đảng bộ 51Chương 2 CHỦ TRƯƠNG MỚI VỀ XOÁ ĐÓI, GIẢM NGHÈO CỦA
Trang 53.2.1 Đảng coi trọng hoạch định chủ trương, chính sách xóa đói, giảm
nghèo trên cơ sở tổng kết thực tiễn, đặc biệt về nguồn lực và quan tâm theo dõi, kiểm tra thường xuyên trong chỉ đạo thực hiện 1233.2.2 Các đảng bộ địa phương quán triệt và vận dụng sáng tạo chủ
trương, chính sách xoá đói, giảm nghèo của Đảng và chú trọng sự sâu sát trong chỉ đạo thực hiện 1293.2.3 Đảng và các đảng bộ địa phương coi trọng chỉ đạo phối hợp thực
hiện xoá đói, giảm nghèo ở Trung ương và địa phương nhằm bảo
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Lượng mưa các tháng trong năm của Hà Giang 24
Bảng 1.2 GDP của các tỉnh theo giá thực tế năm 2000 27
Bảng 1.3 Cơ cấu thu nhập bình quân nhân khẩu 1 tháng chia theo nguồn thu năm 2002 28
Bảng 1.4 Năng suất lúa của Hà Giang 28
Bảng 1.5 Tỷ lệ đói nghèo phân theo vùng 32
Bảng 1.6 Số xã có tỷ lệ đói nghèo trên 40% và xã thuộc chương trình 135 33
Bảng 1.7 Số xã chưa có đường vào trung tâm xã 63
Bảng 1.8 Tỷ lệ hộ nghèo các tỉnh miền núi phía Bắc giai đoạn 1998-2000 (%) 70
Bảng 1.9 Số xã có tỷ lệ hộ nghèo trên 40% các tỉnh miền núi phía Bắc năm 2000 70
Bảng 2.1 Các cấp uỷ đảng, chính quyền quan tâm phát huy vai trò các tổ chức chính trị-xã hội trong công tác xoá đói, giảm nghèo 90
Bảng 2.2 Sự chủ động tham gia xóa đói, giảm nghèo của các tổ chức chính trị-xã hội 90
Bảng 2.3 Hiệu quả tuyên truyền xóa đói giảm nghèo của các tổ chức chính trị - xã hội ở Hòa Bình 96
Bảng 2.4 Hiệu quả tuyên truyền xóa đói giảm nghèo của các tổ chức chính trị - xã hội ở Hà Giang 97
Bảng 2.5 Hiệu quả hoạt động giúp đỡ, hỗ trợ vốn, tư vấn khoa học kĩ thuật, công nghệ xóa đói giảm nghèo của các tổ chức chính trị - xã hội ở Hòa Bình 97
Bảng 2.6 Hiệu quả hoạt động giúp đỡ, hỗ trợ vốn, tư vấn khoa học kĩ thuật, công nghệ xóa đói giảm nghèo của các tổ chức chính trị - xã hội ở Hà Giang 98
Trang 7Bảng 2.7 Người dân tham gia hoạt động xóa đói giảm nghèo 98
Bảng 2.8 Tỷ lệ lượt người khám chữa bệnh ngoại trú cơ sở lang y 104
Bảng 2.9 Tỷ lệ hộ nghèo của các tỉnh miền núi phía Bắc 107
Bảng 3.1 Nguyên nhân nghèo của hộ gia đình 111
Bảng 3.2 Tổng hợp nguyên nhân giúp hộ thoát nghèo trong 4 năm
ở Bắc Giang (2006-2009) 111
Bảng 3.3 Tỷ lệ hộ sử dụng nguồn thắp sáng chính là điện lưới 112
Bảng 3.4 Tổng hợp kinh phí chương trình giảm nghèo từ năm 2006
đến năm 2009 của tỉnh Bắc Giang 122
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xóa đói, giảm nghèo là chủ trương, chính sách xã hội lớn, lâu dài của Đảng nhằm bảo đảm công bằng xã hội và định hướng xã hội chủ nghĩa Trong quá trình lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo, trước yêu cầu quan trọng và cấp bách đặt ra của xoá đói, giảm nghèo, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) đề ra Chương trình xoá đói, giảm nghèo nhằm tập trung nguồn lực thực hiện xóa đói, giảm nghèo
Sau 15 năm thực hiện Chương trình xoá đói, giảm nghèo, đời sống của một bộ phận nhân dân được cải thiện, tỉ lệ hộ nghèo của cả nước đã giảm xuống còn 10,7% (theo chuẩn nghèo mới là 14,2%) [117, tr 432] Đó là một thành tích lớn về thực hiện xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam được cộng đồng quốc tế ghi nhận Tuy nhiên nếu xét theo vùng thì mức độ đói nghèo ở các vùng đặc biệt khó khăn còn rất nghiêm trọng, trong đó miền núi phía Bắc
có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất là 22,5% (theo chuẩn nghèo mới là 29,4%) và trong vùng, một số tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất so với các tỉnh thành trên
cả nước như Hà Giang là 50,0%, Lai Châu là 50,1%, Điện Biên là 50,8% [117, tr 432] Trước thực trạng đói nghèo nghiêm trọng ở các vùng đặc biệt khó khăn trên đây, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2011) chủ trương
“Tập trung triển khai có hiệu quả chương trình xoá đói, giảm nghèo, nhất là
ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn” [36, tr 43]
Nền kinh tế thị trường có vai trò thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, từ đó có thể tăng cường nguồn lực thực hiện xóa đói, giảm nghèo nhưng đồng thời cũng làm nảy sinh những vấn đề xã hội bức xúc, đặc biệt là quy luật phát triển không đều làm cho sự phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc thêm Những vùng đặc biệt khó khăn, ít thuận lợi trong phát triển như miền núi phía Bắc do
Trang 9đó có nguy cơ tiếp tục bị đẩy vào tình trạng đói nghèo nghiêm trọng hơn so với các vùng khác nếu không có những chủ trương đúng đắn, kịp thời
Nghiên cứu nhằm đánh giá, tổng kết về vai trò lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo của Đảng nhất là đối với các vùng đặc biệt khó khăn do đó
có ý nghĩa hết sức cấp thiết Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu về Đảng lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở các vùng đặc biệt khó khăn nói chung, miền núi phía Bắc nói riêng tuy nhiên chủ yếu là tập trung đánh giá về vai trò lãnh đạo của đảng bộ đối với thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở địa phương
Trong khi đó, tổ chức Đảng là một hệ thống bao gồm các cấp từ Trung ương đến địa phương và sự lãnh đạo của mỗi cấp đều có ảnh hưởng nhất định đối với kết quả thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở địa phương Vì vậy nếu chỉ tập trung nghiên cứu về vai trò lãnh đạo của đảng bộ địa phương, sự đánh giá
sẽ thiếu hệ thống, toàn diện về vai trò lãnh đạo của các chủ thể trong hệ thống
tổ chức Đảng bao gồm Đảng và đảng bộ địa phương đối với kết quả thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở địa phương Về địa bàn thực hiện xóa đói, giảm nghèo, nếu chỉ giới hạn nghiên cứu ở một địa phương, sự đánh giá có thể thiếu khách quan đối với thực hiện xóa đói, giảm nghèo theo phạm vi vùng
Từ thực trạng trên đây, yêu cầu hết sức cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn đặt ra là nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng (bao gồm Đảng và các đảng
bộ địa phương) đối với thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở một số địa phương theo phạm vi vùng miền núi phía Bắc trong những năm 1996-2010, đánh giá
ưu điểm, hạn chế, chỉ rõ nguyên nhân, từ đó rút ra kinh nghiệm, góp phần nâng cao hiệu quả lãnh đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo của Đảng Với ý
nghĩa đó tôi chọn đề tài “Đảng lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở một
số tỉnh miền núi phía Bắc từ năm 1996 đến năm 2010” làm Luận án tiến sĩ,
chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 102 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án
Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ chủ trương, chính sách về xoá đói, giảm nghèo và chỉ đạo của Đảng đối với triển khai thực hiện ở một số tỉnh miền núi phía Bắc từ năm
đảng bộ) ở một số tỉnh miền núi phía Bắc
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu
Sự lãnh đạo của Đảng đối với thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở một số tỉnh miền núi phía Bắc
Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung bao gồm chủ trương, chính sách về hỗ trợ đối tượng đói nghèo xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất, tiếp cận các dịch vụ giáo dục, y tế và chỉ đạo của Đảng đối với Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương thể chế hóa, cụ thể hóa và xây dựng kế hoạch triển khai xuống địa phương, một số đảng bộ ở miền núi phía Bắc vận dụng và chỉ đạo thực hiện
Trang 11Sự vận dụng chủ trương, chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng và chỉ đạo của một số đảng bộ ở miền núi phía Bắc đối với việc thực hiện của chính quyền, các tổ chức chính trị-xã hội, người dân và cộng đồng
Về không gian, một số tỉnh miền núi phía Bắc được lựa chọn để nghiên cứu về sự lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo của Đảng bao gồm Bắc Giang, Hà Giang, Hoà Bình và Sơn La vì có điều kiện tự nhiên-kinh tế-xã hội của vùng đặc biệt khó khăn như có vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tỉ lệ hộ đói nghèo cao, có nhiều xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn…
Về thời gian, thực hiện nghiên cứu từ năm 1996 (Đại hội Đảng lần thứ VIII đề ra chương trình xoá đói, giảm nghèo) đến năm 2010 (hoàn thành mục tiêu xoá đói, giảm nghèo trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2001-2010
do Đại hội Đảng lần thứ IX đề ra)
4 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Cơ sở lý luận
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, trong đó đối tượng nghiên cứu được đặt trong các mối quan hệ và sự biến đổi
Trong Luận án, các mối quan hệ và sự biến đổi được quan tâm bao gồm chủ trương, chính sách về xoá đói, giảm nghèo và sự chỉ đạo thực hiện của Đảng; chủ trương, chính sách xoá đói, giảm nghèo của Đảng, sự triển khai của Nhà nước và sự vận dụng, chỉ đạo thực hiện của một số đảng bộ ở miền núi phía Bắc; điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của địa phương và sự vận dụng của các đảng bộ; sự vận dụng của các đảng bộ địa phương và chỉ đạo thực hiện; các giai đoạn lãnh đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo của Đảng và các đảng bộ địa phương
Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu bao gồm phương pháp lịch sử, lô gích, phân tích, tổng hợp, thống kê được kết hợp trong quá trình thực hiện Luận án
Trang 12Thực hiện khảo sát ở một số tỉnh miền núi phía Bắc thông qua bảng hỏi
và phỏng vấn sâu nhằm khai thác thông tin từ các đối tượng bao gồm cán bộ của các tổ chức đảng, chính quyền, cán bộ và hội viên các tổ chức chính trị-xã hội và người dân tại các tỉnh Bắc Giang, Hà Giang, Hoà Bình và Sơn La
Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu của Luận án bao gồm:
Các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn kiện, tài liệu của Đảng, Nhà nước
Các công trình nghiên cứu trực tiếp và liên quan Đảng lãnh đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài
Nghị quyết, chỉ thị, quyết định, báo cáo tổng kết, lịch sử Đảng bộ của các tổ chức đảng, chính quyền, tổ chức chính trị-xã hội các tỉnh Bắc Giang,
Hà Giang, Hòa Bình, Sơn La và một số tỉnh miền núi phía Bắc khác
Tài liệu khảo sát thực tế ở các tỉnh Bắc Giang, Hà Giang, Hòa Bình và Sơn La
5 Đóng góp của luận án
Luận án hệ thống hoá chủ trương, chính sách về xóa đói, giảm nghèo
và chỉ đạo của Đảng đối với triển khai thực hiện ở một số tỉnh miền núi phía Bắc từ năm 1996 đến năm 2010, hệ thống hoá nội dung vận dụng và chỉ đạo thực hiện của một số đảng bộ ở miền núi phía Bắc, rút ra kinh nghiệm lãnh đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo của Đảng ở một số tỉnh miền núi phía Bắc
Luận án là tài liệu tham khảo về Đảng lãnh đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo ở các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng và các vùng đặc biệt khó khăn nói chung
Trang 136 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án gồm 3 chương:
Chương 1 Chủ trương về xoá đói, giảm nghèo của Đảng và vận dụng của các đảng bộ Bắc Giang, Hà Giang, Hòa Bình và Sơn La (1996-2000) Chương 2 Chủ trương mới về xoá đói, giảm nghèo của Đảng và vận dụng của các đảng bộ Bắc Giang, Hà Giang, Hòa Bình và Sơn La (2001-2010)
Chương 3 Nhận xét và kinh nghiệm
Trang 14TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN
1 Những công trình nghiên cứu liên quan và trực tiếp về xoá đói, giảm nghèo trên cả nước
1.1 Những công trình của tác giả nước ngoài
Công ty Aduki trong tác phẩm “Vấn đề nghèo ở Việt Nam” xuất bản
năm 1996 (NXB Chính trị quốc gia) [16] phân tích thực trạng các nhóm nghèo ở Việt Nam, đánh giá kết quả thực hiện chính sách giảm nghèo của Đảng và Nhà nước, trên cơ sở đó nêu lên một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện giảm nghèo ở Việt Nam
Công trình “Nghèo” xuất bản năm 2003 (Công ty in và văn hoá phẩm)
[2] của các nhà tài trợ tại Hội nghị Tư vấn các nhà tài trợ Việt Nam đánh giá thực trạng đói nghèo và công tác tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo của Đảng, Nhà nước, trong đó nêu lên một số hạn chế về công tác tổ chức thực hiện như sự hiểu biết của đội ngũ cán bộ về chính sách chưa đầy đủ, quá trình lập kế hoạch được thực hiện từ trên xuống, sự tham gia của người dân vào việc lập kế hoạch, ra quyết định và thực hiện còn hạn chế
Công trình nghiên cứu “Cơ sở hạ tầng và xoá đói, giảm nghèo” năm
2005 của Pierre Jacquet (Tạp chí Lao động và xã hội) [89] đánh giá những lợi ích của thực hiện chính sách hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng đối với xoá đói, giảm nghèo, trong đó khẳng định rằng các hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam khi cư trú ở địa bàn có đường nhựa thì có thêm cơ hội để thoát nghèo cũng như tại các vùng có hệ thống thuỷ lợi thì đói nghèo cũng ít trầm trọng hơn Việc đầu tư mở rộng hệ thống thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp là một trong những khoản đầu tư của Nhà nước được đánh giá là có tính phân phối lại cao nhất về mặt xã hội
Trang 15Martin Ravallion, Dominique van de Walle với công trình “Đất đai
trong thời kỳ chuyển đổi - Cải cách và nghèo đói ở nông thôn Việt Nam” xuất
bản năm 2008 (Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên In Tiến bộ) [78] đánh giá kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ đất đai đối với người nghèo, trong đó cho rằng các viên chức nhà nước tiếp tục thực hiện tái phân bổ đất đai tại một số xã và từ đó tỷ lệ người nghèo không có đất sản xuất ngày càng gia tăng
Ngân hàng thế giới trong công trình “Tăng cường nông nghiệp cho
phát triển” năm 2008 (NXB Văn hoá thông tin) [87] nêu lên một thực tế là tỷ
lệ đói nghèo giảm đáng kể khi các hộ tiểu nông ở Việt Nam thực hiện sản xuất theo hướng thị trường và đa dạng hoá nguồn thu nhập ngoài nông nghiệp
1.2 Những công trình của tác giả Việt Nam
Nguyễn Hải Hữu với bài viết “Phát huy kết quả đạt được - vượt qua
thách thức - về sớm mục tiêu” năm 2004 (Tạp chí Lao động và xã hội) [71]
đánh giá kết quả thực hiện chủ trương, chính sách xoá đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước, từ đó nêu một số kinh nghiệm và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xóa đói, giảm nghèo
“Chương trình quốc gia xoá đói, giảm nghèo - một nhân tố mới trong quản lý của Nhà nước ta” của Phạm Đi, năm 2005 (Tạp chí Lý luận chính trị)
[46] phân tích những điểm mới của Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói, giảm nghèo của Chính phủ, trong đó cho rằng tầm quản lý và điều chỉnh chương trình ở cấp độ vĩ mô cho phép thực hiện những đầu tư lớn và đa dạng hơn về các nguồn lực Chương trình có những điểm nhấn ưu tiên, quan điểm tiếp cận chính xác và được chia sẻ rộng rãi hơn, đặc biệt là quan điểm về sự tham gia của người dân và cộng đồng
Trang 16“Về vấn đề phân công giúp đỡ xã nghèo ở địa phương” của Ngô Trường
Thi, năm 2006 (Tạp chí Lao động và xã hội) [121] phân tích sự cần thiết của việc phân công giúp đỡ các xã nghèo ở địa phương, trên cơ sở đó đề ra một số giải pháp nhằm thực hiện sự phân công giúp đỡ các xã nghèo hiệu quả
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Lộc “Cho vay đối với vùng nghèo, thuận
lợi, khó khăn và giải pháp”, năm 2006 (Tạp chí Thị trường tiền tệ) phân tích
những thuận lợi, khó khăn trong việc thực hiện chính sách cho vay vốn ở vùng nghèo, từ đó đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách cho vay vốn [74]
GS.TS Hoàng Chí Bảo với công trình nghiên cứu “Dân chủ và dân chủ
ở cơ sở nông thôn trong tiến trình đổi mới”, năm 2007 (NXB Chính trị quốc
gia) đánh giá vai trò, tác dụng của quy chế dân chủ ở cơ sở đối với thực hiện chính sách xoá đói, giảm nghèo ở nông thôn Việt Nam [11]
Trịnh Duy Luân trong bài viết “Xóa đói giảm nghèo, trao quyền và thực
hiện dân chủ cơ sở ở nông thôn”, năm 2007 (Tạp chí xã hội học) đánh giá
những tác động của việc trao quyền cho cơ sở trong thực hiện giảm nghèo và kết quả đạt được trên cơ sở đó rút ra một số bài học kinh nghiệm [75]
GS.TS Trần Văn Chử trong “Công cuộc xoá đói, giảm nghèo ở Việt
Nam - 60 năm nhìn lại”, năm 2007 (Tạp chí Lao động và xã hội) nêu quan
điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước về xoá đói, giảm nghèo, đánh giá kết quả thực hiện, từ đó rút ra bài học sau hơn 60 năm thực hiện xoá đói, giảm nghèo ở Việt Nam [19]
Chu Tiến Quang với “Nhìn lại thành tựu xoá đói, giảm nghèo của Việt
Nam giai đoạn 2001-2005 và những vấn đề đang đặt ra”, năm 2007 (Tạp chí
Cộng sản) đánh giá những kết quả đạt được về thực hiện chủ trương, chính sách xoá đói, giảm nghèo của Đảng trong những năm 2001-2005, chỉ ra
Trang 17nguyên nhân và nêu lên một số thách thức đối với thực hiện chủ trương, chính sách xoá đói, giảm nghèo của Đảng [90]
Nguyễn Trịnh trong “Công tác uỷ thác cho vay của Ngân hàng Chính
sách xã hội đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác”, năm 2008
(Tạp chí Lịch sử Đảng) đánh giá thực trạng tham gia nhận uỷ thác vay vốn của các tổ chức chính trị-xã hội từ đó khẳng định rằng các tổ chức chính trị-xã hội có vai trò là cầu nối đưa chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ đến các
hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác [127]
Hoàng Thị Hương trong bài viết “Các chương trình phát triển kinh
tế-xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số cần thực tế, cụ thể”, năm 2008 (Tạp
chí Tuyên giáo) phân tích những ưu điểm của chính sách xoá đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước, đồng thời chỉ ra một số bất cập như nội dung chính sách xoá đói, giảm nghèo còn chung chung, chưa sát với thực tế của các vùng đồng bào dân tộc thiểu số… từ đó khiến cho các địa phương khó có thể thực hiện được các mục tiêu xoá đói, giảm nghèo [69]
“Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay” của GS.TS Hoàng Chí Bảo,
năm 2009 (NXB Chính trị quốc gia) khái quát thực trạng đói nghèo của miền núi, đánh giá thành tựu, hạn chế trong thực hiện chính sách dân tộc nói chung và xoá đói, giảm nghèo nói riêng của Đảng, Nhà nước, trên cơ sở
đó đề ra giải pháp nhằm bảo đảm công bằng, bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế-xã hội nói chung và thực hiện xoá đói, giảm nghèo nói riêng tại các vùng đa dân tộc miền núi [12]
Nguyễn Thị Thanh Hà với công trình “Tăng cường cơ hội tiếp cận
nguồn lực cho người nghèo nông thôn”, năm 2009 (Tạp chí Lao động và xã
hội) phân tích những hạn chế trong tiếp cận các chính sách kinh tế-xã hội nói
Trang 18chung và xoá đói, giảm nghèo nói riêng của người nghèo nông thôn, trên cơ
sở đó đề ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách [52]
Công trình “Xoá đói, giảm nghèo của Việt Nam đi từ mô hình đến
chương trình mục tiêu quốc gia” của Nguyễn Thị Hằng, năm 2009 (Tạp chí
Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông) đánh giá việc tổ chức thực hiện và kết quả thực hiện chính sách xoá đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước trong những năm 1992-1998 và 1998-2006 [55]
Công trình của Nguyễn Thị Thanh “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
thực hiện chính sách xã hội từ năm 1991 đến năm 2001”, năm 2004 (Luận án
Tiến sĩ) nêu một số chủ trương xoá đói, giảm nghèo và chỉ đạo thực hiện của Đảngtrong những năm 1991-1995 và 1996-2001, đánh giá thành tựu, hạn chế
từ đó rút ra kinh nghiệm lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội nói chung và xóa đói, giảm nghèo nói riêng ở Việt Nam [118]
Bài viết của Nguyễn Đình Tấn “Nhận thức của Đảng ta về vấn đề
xoá đói, giảm nghèo”, năm 2005 (Tạp chí Lịch sử Đảng) làm rõ quá trình
nhận thức của Đảng về xoá đói, giảm nghèo trong những năm đổi mới, trong đó khẳng định nhận thức của Đảng về vấn đề đói nghèo, xoá đói, giảm nghèo ngày càng trở nên hoàn thiện, sâu sắc và tiến sát với thực tiễn khách quan [94]
TS Hồ Tố Lương với công trình “Đảng lãnh đạo xoá đói, giảm
nghèo trong thời kỳ đổi mới”, năm 2009 (NXB Chính trị quốc gia) nêu chủ
trương, chính sách xoá đói, giảm nghèo của Đảng trong thời kỳ đổi mới và chỉ ra một số hạn chế trong tổ chức thực hiện ở Trung ương và địa phương
Ở Trung ương, nguồn kinh phí chưa đáp ứng đầy đủ, một số chính sách hỗ trợ chưa thực sự phù hợp, giải pháp hỗ trợ trực tiếp người nghèo vẫn là chính, hệ thống theo dõi, giám sát chưa được tổ chức một cách hệ thống và đồng bộ Ở địa phương, nhận thức về trách nhiệm đối với công tác giảm
Trang 19nghèo chậm và chưa rõ, việc tổ chức thực hiện không đồng đều ở một số địa phương, một số người dân còn có tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào cấp trên
và Nhà nước… [76]
Công trình của PGS.TS Đinh Xuân Lý “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo thực hiện chính sách xã hội trong 25 năm đổi mới (1986-2011)”, năm
2011 (NXB Chính trị quốc gia) làm rõ cơ sở hình thành, nội dung chủ trương, chính sách xã hội nói chung và chính sách xoá đói, giảm nghèo nói riêng của Đảng trong thời kỳ đổi mới, đánh giá kết quả thực hiện, từ đó rút ra một số kinh nghiệm [77]
2 Những công trình nghiên cứu liên quan và trực tiếp về xoá đói, giảm nghèo ở miền núi phía Bắc
Bài viết của Hoàng Công “Tây Bắc hôm nay có gì mới”, năm 1999
(Tạp chí Cộng sản) nêu rõ một số kết quả đạt được trong thực hiện chính sách xoá đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ở các tỉnh Sơn La và Lai Châu đồng thời chỉ ra một số hạn chế về tổ chức thực hiện như lựa chọn giống cây trồng, quy định suất đầu tư chưa hợp lý… Trên cơ sở đó tác giả nêu lên một
số định hướng về tổ chức thực hiện xoá đói, giảm nghèo như đầu tư thích đáng cho xây dựng cơ sở hạ tầng nhất là cơ sở hạ tầng về nước sinh hoạt và sản xuất, xác định cơ cấu cây trồng hợp lý cho từng vùng, cải tiến bộ máy và
cơ chế điều hành các chương trình, dự án để hạn chế việc nguồn vốn bị phân tán, chỉ đạo thực hiện tập trung hơn, tăng cường cán bộ nhiệt tình, có năng lực trực tiếp xuống cơ sở hỗ trợ người dân xóa đói, giảm nghèo [15]
Chu Thái Thành trong bài viết “Qua miền Tây Bắc”, năm 2001 (Tạp
chí Cộng sản) khẳng định chính sách đầu tư mạnh về cơ sở hạ tầng của Đảng, Nhà nước đã thật sự phát huy hiệu quả đối với các tỉnh Tây Bắc đồng thời nêu lên một số ưu điểm trong tổ chức thực hiện của các địa phương như đưa dân ở vùng thấp, sản xuất gặp khó khăn lên vùng cao, đất tốt, đưa dân vùng cao
Trang 20xuống ở xen kẽ các khu dân cư để các cộng đồng dân tộc có điều kiện giúp đỡ nhau phát triển sản xuất, phát triển phong trào xoá đói, giảm nghèo… nhờ đó
đã giúp cho số hộ khá và giàu ở địa phương không ngừng tăng lên, thu nhập của nhiều hộ gia đình được nâng cao [119]
PGS.TS Ngô Doãn Vịnh với công trình nghiên cứu “Hướng tới sự phát
triển của đất nước - một số vấn đề lý thuyết và ứng dụng”, năm 2006 (NXB
Chính trị quốc gia) phân tích một số khó khăn về kinh tế-xã hội của miền núi phía Bắc và những hạn chế của cơ chế, chính sách, quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước đã ảnh hưởng tới thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở miền núi phía Bắc, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện xóa đói, giảm nghèo [161]
Lê Minh Anh trong bài viết “Vài nét về tình trạng nghèo đói của
người Nùng ở xã Liên Sơn, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn”, năm 2006
(Tạp chí Xã hội học) phân tích thực trạng đói nghèo và tham gia xoá đói, giảm nghèo của người dân ở xã Liên Sơn, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn [1]
Lê Ngọc Sơn trong bài viết “Những giải pháp giảm nghèo tỉnh Tuyên
Quang giai đoạn 2006-2010”, năm 2006 (Tạp chí Lao động và xã hội) nêu lên
một số ưu điểm trong tổ chức thực hiện xoá đói, giảm nghèo ở Tuyên Quang như tạo được sự đồng thuận cao giữa cấp uỷ, chính quyền và nhân dân, huy động được nhiều nguồn lực cho thực hiện xoá đói, giảm nghèo, đặc biệt là đối với làm nhà ở cho hộ nghèo… đồng thời chỉ ra một số hạn chế như đội ngũ cán bộ làm công tác xoá đói, giảm nghèo ở cơ sở còn hạn chế về trình độ, năng lực, một bộ phận người nghèo có tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, chưa chủ động vươn lên… [92]
Bài viết của Hoàng Thị Hạnh “Xoá đói, giảm nghèo, nhiệm vụ chiến lược
Trang 21thực hiện xoá đói, giảm nghèo ở cấp cơ sở của Yên Bái đó là tổ chức thực hiện xoá đói, giảm nghèo thông qua đội ngũ cán bộ cấp xã và trưởng các thôn, bản, trong khi đó phần lớn họ chưa được được đào tạo kĩ năng một cách hệ thống nên ảnh hưởng đến tiến độ, hiệu quả thực hiện xóa đói, giảm nghèo [53]
“Kinh nghiệm xoá đói, giảm nghèo ở Lào Cai” của Giàng Thị Dung,
năm 2006 (Tạp chí Lao động và xã hội) nêu lên một số kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện xoá đói, giảm nghèo ở Lào Cai Đó là các cấp uỷ Đảng, chính quyền cần cập nhật thông tin thường xuyên về các hộ nghèo, phân tích nguyên nhân và đề ra các giải pháp đối với hộ nghèo, theo dõi, giúp đỡ các xã nghèo, thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể cần chủ động, tích cực tổ chức nhiều cách làm hay, sáng tạo nhằm khai thác các nguồn lực trong nhân dân Đối với thực hiện các chính sách hỗ trợ, cần tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng, coi trọng việc nâng cao kiến thức và kinh nghiệm làm ăn cho hộ nghèo [29]
Đinh Thị Khánh, Trần Đình Tuấn với “Thực trạng và giải pháp xoá
đói, giảm nghèo cho các hộ nghèo ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên’,
năm 2007 (Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) phân tích một số nguyên nhân ảnh hưởng đến thực trạng đói nghèo ở huyện Phú Lương, Thái Nguyên [72]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Hà “Nghèo đói và các hoạt động
nhằm xoá đói, giảm nghèo của vùng Tây Bắc thời kỳ 1993-2004”, năm 2007
(Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển bền vững) phân tích thực trạng, nguyên nhân đói nghèo của vùng Tây Bắc từ đó đề xuất giải pháp thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở Tây Bắc [51]
Trần Chí Thiện về với công trình “Nguyên nhân nghèo đói và một số
giải pháp xoá đói, giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta”, năm
2007 (Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) chỉ ra nguyên nhân đói
Trang 22nghèo của các dân tộc thiểu số ở Thái Nguyên trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện xoá đói, giảm nghèo [122]
Công trình của Nguyễn Anh Dũng “Chương trình mục tiêu quốc gia
xoá đói, giảm nghèo với đời sống kinh tế - xã hội của người Mường tỉnh Phú Thọ”, năm 2009 (Luận án Tiến sĩ Lịch sử) làm rõ một số ưu điểm trong tổ
chức thực hiện xoá đói, giảm nghèo ở vùng người Mường tỉnh Phú Thọ như
đề ra được nghị quyết, thành lập Ban chỉ đạo xoá đói, giảm nghèo, Ban giám sát xã đồng thời chỉ ra một số hạn chế như các công trình có ngân sách từ vài trăm triệu đồng trở lên do huyện làm chủ đầu tư, thường có sự thông đồng ngầm trong đấu thầu, ý chí vươn lên thoát nghèo của một bộ phận dân cư còn hạn chế… [30]
Trịnh Hoàng Thăng trong bài viết “Xây dựng, củng cố tổ chức Đảng
gắn với xoá đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân ở Điện Biên”, năm
2009 (Tạp chí Xây dựng Đảng) nêu những ưu điểm trong tổ chức thực hiện xoá đói, giảm nghèo của các cấp ủy đảng ở Điện Biên Đó là cấp uỷ cấp trên phân công các cấp uỷ viên phụ trách từng tổ chức cơ sở Đảng, đồng thời giao nhiệm vụ cụ thể cho từng tổ chức cơ sở Đảng về chỉ tiêu xoá đói, giảm nghèo, coi đó là căn cứ để đánh giá, phân loại tổ chức cơ sở Đảng, đảng viên Trước khi ra nghị quyết chuyên đề, nhiều cấp uỷ cơ sở đã tổ chức cho một số cấp uỷ viên, cán bộ chính quyền, đoàn thể tham gia khảo sát các mô hình sản xuất trong và ngoài tỉnh, sau đó chỉ đạo làm điểm trước khi nhân rộng Sau khi có nghị quyết, các cấp uỷ cơ sở chỉ đạo chính quyền, đoàn thể xây dựng chương trình hành động cụ thể, phát huy tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên [120]
Trần Thị Thuý Hạnh trong công trình nghiên cứu “Đảng bộ tỉnh Tuyên
Quang lãnh đạo thực hiện công tác xoá đói, giảm nghèo (1996-2005)”, năm
2008 (Luận văn Thạc sĩ Lịch sử) phân tích nguyên nhân đói nghèo của tỉnh
Trang 23Tuyên Quang, đánh giá thành tựu, hạn chế và rút ra kinh nghiệm lãnh đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang [54]
Lương Thị Thuần với nghiên cứu “Quá trình thực hiện chính sách xoá
đói, giảm nghèo của Đảng ở tỉnh Yên Bái từ năm 1996 đến năm 2010”, năm
2011 (Luận văn Thạc sĩ Lịch sử) đánh giá thực trạng đói nghèo của Yên Bái, trình bày chủ trương, chính sách và chỉ đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Yên Bái, kết quả đạt được và kinh nghiệm [123]
Lê Hương Giang với nghiên cứu “Đảng bộ tỉnh Điện Biên lãnh đạo
thực hiện xoá đói, giảm nghèo từ năm 2004 đến năm 2011”, năm 2012
(Luận văn Thạc sĩ Lịch sử) phân tích chủ trương và chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Điện Biên về xóa đói, giảm nghèo, trên cơ sở đó đánh giá thành tựu, hạn chế và rút ra kinh nghiệm lãnh đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo ở Điện Biên [50]
Ma Thị Tuyền với nghiên cứu “Quá trình thực hiện chính sách xoá đói,
giảm nghèo của Đảng ở tỉnh Cao Bằng từ năm 2001 đến năm 2010”, năm
2013 (Luận văn Thạc sĩ Lịch sử) khái quát chủ trương, chính sách xoá đói, giảm nghèo của Đảng và Đảng bộ tỉnh Cao Bằng, làm rõ quá trình chỉ đạo của đảng bộ và kết quả đạt được, từ đó rút ra một số kinh nghiệm [126]
Công trình của Nguyễn Thị Nhung “Giải pháp xoá đói, giảm nghèo
nhằm phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam”, năm 2012
(Luận án Tiến sĩ Kinh tế) khái quát chủ trương, chính sách xoá đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước, làm rõ đặc điểm đói nghèo, các nhân tố ảnh hưởng đến xoá đói, giảm nghèo và tình hình tổ chức thực hiện chính sách xoá đói, giảm nghèo ở Tây Bắc [85]
Trang 243 Những công trình nghiên cứu về xoá đói, giảm nghèo ở các tỉnh Bắc Giang, Hà Giang, Hòa Bình và Sơn La
Nguyễn Công Đồn với “Kinh nghiệm xoá đói, giảm nghèo ở huyện
Lục Ngạn, Bắc Giang”, năm 1999 (Tạp chí Cộng sản) [49] làm rõ vai trò
của các cấp uỷ đảng, chính quyền huyện Lục Ngạn trong tổ chức thực hiện chính sách xoá đói, giảm nghèo như phát động phong trào trồng cây ăn quả, quyết định chuyển ruộng ở vùng cao cấy lúa một vụ sang trồng cây ăn quả, phân công xã vùng thấp đỡ đầu xã vùng cao Trên cơ sở đó, tác giả nêu một số kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện xoá đói giảm của các cấp
uỷ đảng, chính quyền như xác định tiềm năng, thế mạnh cụ thể của địa phương để lựa chọn cây con phù hợp, xây dựng những mô hình sản xuất hiệu quả để thuyết phục người dân làm theo, chú ý huy động vốn trong nhân dân dưới nhiều hình thức
Bài viết của Nguyễn Quốc Cường “Bắc Giang với các chương trình
phát triển kinh tế-xã hội”, năm 2002 (Tạp chí Cộng sản) làm rõ nội dung
Chương trình phát triển kinh tế-xã hội miền núi gắn với xoá đói, giảm nghèo của tỉnh uỷ Bắc Giang, trong đó nhấn mạnh đối tượng xoá đói, giảm nghèo trọng điểm của Bắc Giang là 44 xã khu vực III đặc biệt khó khăn của Tỉnh [28]
Nguyễn Huy Toán với “Mô hình xoá đói, giảm nghèo từ nghề trồng
lanh dệt vải ở một xã miền núi đặc biệt khó khăn”, năm 2004 (Tạp chí Nông
thôn mới) [125] giới thiệu mô hình xoá đói, giảm nghèo hiệu quả của người dân và cộng đồng trong thực hiện chính sách xoá đói, giảm nghèo của Đảng
và Nhà nước ở xã Lùng Tám, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang
“Tình trạng và vị thế của người nghèo ở một xã nông thôn miền núi”
của Mai Thị Lan Hương, Lê Hữu Ảnh, năm 2006 (Tạp chí Khoa học kỹ thuật
Trang 25nông nghiệp) đánh giá thực trạng đói nghèo ở xã Trường Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình, trên cơ sở đó phân tích những ảnh hưởng đối với việc tham gia xoá đói, giảm nghèo của người nghèo [70]
“Vấn đề rút ra qua hoạt động trên địa bàn vùng cao” của Lê Thành Ý,
Lưu Đức Khải, năm 2008 (Tạp chí Thông tin và Phát triển) [162] đánh giá một số thành tựu đạt được trong tổ chức thực hiện dự án giảm nghèo ở huyện
Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình như phát huy cao độ sức mạnh của cộng đồng, thu hút được sự tham gia và đóng góp tích cực của các hộ dân, nâng cao nhận thức của số đông hộ nghèo
“Công tác xoá đói, giảm nghèo ở cộng đồng các dân tộc thiểu số tỉnh Hoà Bình” của Nguyễn Thanh Thuỷ, năm 2009 (Tạp chí Lý luận chính trị xã
hội) nêu lên những hạn chế của cơ chế, chính sách của Nhà nước như chưa thật sự phù hợp với người nghèo, xã nghèo, còn mang tính bao cấp kéo dài… Đồng thời tác giả cũng đề cập những hạn chế trong tổ chức thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở địa phương như một số cấp uỷ đảng, chính quyền chưa chủ động xây dựng chương trình, giải pháp xoá đói, giảm nghèo từ xã, thôn, bản đến hộ gia đình, còn lúng túng trong xây dựng và thực hiện kế hoạch lồng ghép giữa các chương trình xoá đói, giảm nghèo với các chương trình kinh tế
- xã hội khác, một số cấp uỷ đảng cơ sở chưa quan tâm thường xuyên và sâu sát công tác tuyên truyền, đội ngũ cán bộ làm công tác xoá đói, giảm nghèo vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về chất lượng, công tác giám sát, đánh giá, tổng kết chưa được tổ chức một cách hệ thống, các ban, ngành và tổ chức đoàn thể chưa thật sự gắn trách nhiệm trong phối hợp tổ chức thực hiện…
Từ những hạn chế trên đây, tác giả chỉ ra một số vấn đề cần quan tâm đối với xây dựng cơ chế, chính sách của Nhà nước cũng như tổ chức thực hiện xoá đói, giảm nghèo ở địa phương [124]
Trang 26Thanh Phúc với “Hà Giang: lựa chọn giảm nghèo trọng điểm, không
dàn hàng ngang”, năm 2011 (Tạp chí Lao động và Xã hội) nêu rõ ưu điểm
trong tổ chức thực hiện xoá đói, giảm nghèo ở Hà Giang đó là lựa chọn các xã
có tỷ lệ hộ nghèo cao để tập trung đầu tư với định mức cao hơn so với các xã khác mà không thực hiện đầu tư một cách dàn trải [88]
4 Kết luận
Những công trình đã thể hiện các khía cạnh nghiên cứu liên quan và trực tiếp về Đảng lãnh đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo ở một số tỉnh miền núi phía Bắc sau đây:
Những công trình nghiên cứu liên quan và trực tiếp về xoá đói, giảm nghèo trên cả nước đánh giá thực trạng đói nghèo trên phạm vi cả nước và phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng đói nghèo; đánh giá chủ trương, chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước, công tác tổ chức thực hiện ở Trung ương và địa phương và kết quả thực hiện; phân tích nguyên nhân, rút ra kinh nghiệm và đề xuất giải pháp đối với thực hiện xóa đói, giảm nghèo
Những công trình nghiên cứu liên quan và trực tiếp về xoá đói, giảm nghèo ở miền núi phía Bắc nói chung và các tỉnh Bắc Giang, Hà Giang, Hòa Bình và Sơn La nói riêng đánh giá thực trạng đói nghèo ở miền núi phía Bắc
và của từng địa phương, phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng đói nghèo; đánh giá chủ trương xóa đói, giảm nghèo của Đảng, vận dụng của các đảng bộ, chính quyền địa phương và kết quả thực hiện; phân tích nguyên nhân, rút ra kinh nghiệm và đề xuất giải pháp thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở miền núi phía Bắc nói chung và từng địa phương
Qua các công trình nghiên cứu trên đây cho thấy còn những khoảng trống:
Trang 27Việc hệ thống hoá chủ trương, chính sách xoá đói, giảm nghèo và chỉ đạo thực hiện của Đảng chưa được tập trung nghiên cứu làm rõ
Việc hệ thống hoá nội dung vận dụng chủ trương, chính sách xoá đói, giảm nghèo của Đảng và chỉ đạo thực hiện của các đảng bộ theo phạm vi vùng, trong đó có miền núi phía Bắc chưa được tập trung nghiên cứu làm rõ Việc đánh giá vai trò lãnh đạo của hệ thống tổ chức Đảng (bao gồm Đảng và các đảng bộ địa phương) đối với thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở các địa phương theo phạm vi vùng, trong đó có miền núi phía Bắc còn ít được quan tâm nghiên cứu
Từ những khoảng trống trên đây đặt ra những nội dung cần tiếp tục nghiên cứu:
Đánh giá về vai trò lãnh đạo của Đảng (bao gồm Đảng và các đảng bộ địa phương) đối với thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở các địa phương theo phạm vi vùng miền núi phía Bắc bao gồm:
Vai trò lãnh đạo của Đảng thông qua việc đề ra chủ trương, chính sách xoá đói, giảm nghèo và chỉ đạo Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương và các đảng bộ địa phương triển khai thực hiện ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Vai trò lãnh đạo của các đảng bộ đối với thực hiện xóa đói, giảm nghèo
ở một số tỉnh miền núi phía Bắc thông qua việc vận dụng chủ trương, chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng và chỉ đạo chính quyền, các tổ chức chính trị-xã hội… thực hiện
Nhận xét ưu điểm, hạn chế và rút ra kinh nghiệm lãnh đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo ở một số tỉnh miền núi phía Bắc của Đảng (Đảng và các đảng
bộ địa phương)
Trang 28Thực hiện nghiên cứu đề tài “Đảng lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm
nghèo ở một số tỉnh miền núi phía Bắc từ năm 1996 đến năm 2010”, các công
trình nghiên cứu trên đây cung cấp khối lƣợng thông tin lớn, có giá trị
Trang 29Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VỀ XOÁ ĐÓI, GIẢM NGHÈO CỦA ĐẢNG VÀ VẬN DỤNG CỦA CÁC ĐẢNG BỘ BẮC GIANG, HÀ GIANG,
HÕA BÌNH VÀ SƠN LA (1996-2000)
1.1 Những nhân tố tác động đến thực hiện xoá đói, giảm nghèo ở các tỉnh Bắc Giang, Hà Giang, Hòa Bình và Sơn La và chủ trương, chỉ đạo của Đảng về xoá đói, giảm nghèo
1.1.1 Những nhân tố tác động đến thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở các tỉnh Bắc Giang, Hà Giang, Hòa Bình và Sơn La
1.1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội
* Điều kiện tự nhiên
Tây giáp Lào, phía Nam giáp đồng bằng Bắc bộ và phía Đông là biển đông
Xét theo các địa phương trong vùng, Bắc Giang, Hà Giang, Hoà Bình và Sơn La là các tỉnh nằm trong vùng đặc biệt khó khăn, có vị trí địa lý cách xa thủ đô Hà Nội, nhất là hai tỉnh Hà Giang và Sơn La Bắc Giang cách Hà Nội 50
km, phía Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Ðông giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây giáp tỉnh Thái Nguyên và phía Nam giáp tỉnh Bắc Ninh Hà Giang cách thủ đô
Hà Nội 320km, phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam và Quảng Tây Trung Quốc, phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Ðông giáp tỉnh Cao Bằng và phía Tây giáp tỉnh Yên Bái, Lào Cai Hoà Bình cách thủ đô Hà Nội 73 km, phía Bắc giáp tỉnh
Trang 30Bình và phía Tây giáp tỉnh Sơn La, Thanh Hoá Sơn La cách thủ đô Hà Nội
320 km, phía Bắc giáp tỉnh Yên Bái và Lào Cai, phía Đông giáp tỉnh Lai Châu
và phía Nam giáp tỉnh Thanh Hoá và Lào
Trong 4 tỉnh trên đây chỉ có Bắc Giang là có điều kiện hơn cả về giao lưu
để phát triển kinh tế-xã hội do tiếp giáp với các địa phương trong nước có điều kiện phát triển là Bắc Ninh và Quảng Ninh, các tỉnh còn lại ít có cơ hội hơn, nhất
là Hà Giang và Sơn La Trong phạm vi địa phương, với nhiều địa bàn là vùng sâu, vùng xa, vùng cao tuy ít bị tác động của cơ chế thị trường hơn nhưng do cách xa các trung tâm phát triển của địa phương nên cũng ít cơ hội giao lưu để phát triển
Địa hình
Địa hình của các tỉnh rất phức tạp [132, tr 8], được phân định thành các vùng như vùng núi và vùng trung du của Bắc Giang, vùng cao núi đá, vùng cao núi đất và vùng thấp của Hà Giang, vùng núi cao và vùng trung du của Bắc Giang, vùng núi và vùng có các bãi bằng nhỏ của Sơn La Với địa hình phức tạp, trong đó có các dãy núi cao tạo ra bề mặt dốc, bị chia cắt sâu và mạnh đặc biệt là
ở các tỉnh Hà Giang và Sơn La
Đặc điểm trên đây tạo nên tiềm năng phát triển các loại cây trồng, vật nuôi
đa dạng, phù hợp với từng loại địa hình, tuy nhiên sự phức tạp về địa hình gây ra nhiều khó khăn đối với công tác quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội nói chung và thực hiện xóa đói, giảm nghèo nói riêng của các địa phương Địa hình dốc, núi cao, chia cắt, hiểm trở gây ra nhiều trở ngại cho việc thực hiện các hỗ trợ xóa đói, giảm nghèo như xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất và tiếp cận các dịch vụ xã hội của người dân như xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng thường tốn kém hơn rất nhiều bởi các chi phí vận chuyển nguyên vật liệu, thi công, giám sát, đầu tư phát triển sản xuất phải mất nhiều chi phí, thời gian, lao động, tiếp cận các dịch vụ xã hội của người dân gặp nhiều khó khăn về đi lại, thời gian, chi phí Những khó khăn, trở ngại về địa hình đối với thực hiện xóa
Trang 31đói, giảm nghèo đã được các địa phương xác nhận Người dân xã Thèn Phàng,
huyện Xín Mần, Hà Giang: Do đến các cơ sở y tế quá xa, đi lại khó khăn nên
nhiều người tự chữa trị tại nhà [Điều tra của tác giả, 2010] Người dân huyện Đà
Bắc, Hoà Bình: Canh tác trên địa hình đồi núi dốc, đi lại khó khăn, cách xa
đường giao thông nên ít có lãi vì vậy nhiều người không muốn đầu tư sản xuất, thậm chí bỏ hoang diện tích đất sản xuất được giao [Điều tra của tác giả, 2011]
Khí hậu
Nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa lớn tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương phát triển một số loại cây trồng, vật nuôi phù hợp Tuy nhiên mưa thường tập trung trong một thời gian ngắn (Bảng 1.1) dẫn đến thiên tai thường xuyên xảy ra [44, tr 97; 103, tr 11] như lũ quét, sụt lở đất, mưa đá Đặc biệt là những trận lũ quét đã xảy ra ở nhiều địa phương gây ra những thiệt hại lớn về người và của như phá huỷ, cản trở tiến độ thi công các công trình cơ sở hạ tầng, làm ngừng trệ các hoạt động sản xuất, gây ra mất mùa trên diện rộng… Vào mùa đông, nhiều nơi có sương muối, rét đậm kéo dài và mùa hè có gió Lào ảnh hưởng nghiêm trọng tới năng suất cây trồng, vật nuôi
Bảng 1.1 Lượng mưa các tháng trong năm của Hà Giang
Trang 32Tài nguyên đất, rừng và nước
Diện tích đất tự nhiên của các tỉnh tương đối lớn bao gồm đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đất ở, đất chưa sử dụng và sông suối…, trong đó diện tích đất trống, đồi núi trọc còn rất lớn Theo thống kê, năm 2005, Hà Giang có tổng diện tích là 792.321 ha, trong đó diện tích đất trống, đồi núi trọc là 197,503,02 ha (chiếm 24,92%) [27, tr 49]
Với diện tích đất đai lớn, nhất là đất trống, đồi núi trọc tạo thuận lợi cho các tỉnh khai thác để mở rộng diện tích sản xuất, tuy nhiên đòi hỏi phải đầu
tư nhiều lao động và chi phí tốn kém Thêm vào đó chất lượng đất kém do bạc màu, trong đất có nhiều đá nên canh tác kém hiệu quả Trên vùng cao núi đá việc canh tác còn khó khăn hơn nhiều do thiếu đất sản xuất nên người dân phải gùi đất từ nơi khác đổ vào các hốc đá để canh tác, nhưng chỉ sau một thời gian
do đất thoái hóa hoặc bị mưa cuốn trôi lại phải tiếp tục bổ sung lượng đất mới
Các địa phương có diện tích đất tương đối bằng phẳng thuận lợi cho phát triển sản xuất như cao nguyên Mộc Châu của Sơn La… nhưng chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ còn phần lớn là đất dốc nên canh tác ít thuận lợi (Sơn La chỉ có 15,4 vạn ha diện tích đất bằng phẳng trong tổng diện tích tự nhiên là 1.405.500 ha, còn lại là đất dốc [140, tr 1])
Rừng của các tỉnh bao gồm rừng tự nhiên và rừng trồng, trong đó diện tích rừng tự nhiên còn lớn từ đó mở ra khả năng khai thác và tận dụng các sản phẩm tự nhiên của rừng như gỗ, tre, nứa, các loại động vật… để phục
vụ sản xuất và đời sống, tuy nhiên trên thực tế các sản phẩm này đã cạn kiệt nhiều và chất lượng kém do quản lý việc khai thác chưa tốt
Hệ thống sông ngòi của các địa phương khá phong phú Bắc Giang có 3 sông lớn là Sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam, Hà Giang có 2 sông chính chảy qua là sông Lô và sông Gâm, Hoà Bình có sông Đà là con sông lớn nhất và Sơn La có 2 sông chính chảy qua là sông Đà, sông Mã Ngoài các sông trên đây còn nhiều hồ, suối phân bố trên khắp địa bàn các tỉnh Hệ thống
Trang 33sông, suối phong phú tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương có thể khai thác nguồn nước phục vụ sản xuất trồng trọt, chăn nuôi và sinh hoạt cũng như diện tích mặt nước để phát triển nuôi trồng thủy sản
Bên cạnh đó ở các địa bàn vùng cao núi đá của các tỉnh nguồn nước rất khan hiếm, tình trạng thiếu nước sản xuất, sinh hoạt diễn ra thường xuyên [132, tr 8] và để đáp ứng được đầy đủ nhu cầu nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt cho các địa bàn này đòi hỏi những đầu tư rất lớn về cơ sở hạ tầng
* Điều kiện kinh tế-xã hội
Cơ sở hạ tầng
Hệ thống đường giao thông của các tỉnh vừa thiếu, vừa kém chất lượng [137, tr 14] gây ra nhiều khó khăn đối với các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của người dân Hệ thống đường giao thông của các tỉnh bao gồm đường nhựa, đường cấp phối, đường đá dăm, nhưng trong đó đường nhựa chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ còn phần lớn là đường cấp phối, đường đá dăm và đặc biệt là đường đất tồn tại phổ biến ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng cao Vào mùa mưa, nhiều nơi chỉ có đường đất nên giao lưu rất khó khăn vì lầy lội khó đi lại, thậm chí gần như bị cô lập với bên ngoài Nhiều xã chưa có đường ô tô đến trung tâm xã, hoặc có thì chủ yếu là đường đất
Giao thông không thuận lợi, thêm vào đó là người dân sống không tập trung [157, tr 1] ảnh hưởng lớn đến thực hiện chức năng, nhiệm vụ xóa đói, giảm nghèo của các chủ thể ở địa phương, trong đó có đội ngũ cán bộ các cấp
ủy đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị-xã hội, nhất là khi phải trực tiếp xuống cơ sở, thôn, bản, hộ dân để triển khai công tác xóa đói, giảm nghèo Khó khăn này đã được cán bộ địa phương xác nhận Cán bộ Mặt trận Tổ quốc huyện
Mai Sơn, Sơn La: Mỗi lần đi công tác rất vất vả, mất nhiều thời gian vì đường
xuống xã, thôn, bản rất xấu, nếu gặp mưa có khi hôm sau mới về được [Điều
tra của tác giả, 2009]
Trang 34Các công trình thuỷ lợi xuống cấp, chưa đáp ứng tốt nhu cầu tưới tiêu phục vụ sản xuất đã ảnh hưởng tới năng suất cây trồng cũng như mở rộng diện tích canh tác của các địa phương Nhiều nhiều người dân chỉ chăm sóc diện tích canh tác hiện có mà không quan tâm tới việc mở rộng diện tích cũng
là ví lý do trên đây Nhiều thôn, bản chưa có điện lưới quốc gia ảnh hưởng tới việc sử dụng các máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất và sinh hoạt Đến năm
2004, Sơn La mới có 46/201 xã có điện lưới quốc gia [139, tr 10]
Hệ thống trường, lớp, trạm y tế ở cơ sở còn thiếu, chất lượng kém, nhất
là ở các thôn, bản vùng sâu, vùng xa, vùng cao Tình trạng mượn nhà dân, nhà văn hóa thôn, bản để tổ chức lớp học, lớp học làm bằng tranh, tre còn khá phổ biến Trang thiết bị của các trạm y tế xuống cấp, chưa bảo đảm chất lượng khám chữa bệnh Đến năm 2004, 105/195 số xã của Hà Giang chưa có trường trung học cơ sở, 22/195 xã chưa có trạm y tế xã [27, tr 164, tr 171]
Cơ cấu kinh tế và trình độ sản xuất
Trong cơ cấu kinh tế của các tỉnh, giá trị sản phẩm nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm tỷ trọng lớn (Bảng 1.2) do đó khó có thể tạo ra tốc độ tăng trưởng nhanh để tăng cường nguồn nội lực cho xoá đói, giảm nghèo và cũng
từ đó dẫn đến sự phụ thuộc lớn vào ngân sách hỗ trợ của Nhà nước trong thực hiện xóa đói, giảm nghèo (kinh phí Trung ương hỗ trợ cho Sơn La hàng năm
Công nghiệp
và xây dựng Dịch vụ
Bắc Giang 5.536,00 49,9 14,7 35,4
Hà Giang 1.061,30 49,5 20,8 29,7 Hoà Bình 1.835,30 48,5 17,1 34,4
Trang 35Thu nhập của người dân chủ yếu vẫn là từ lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản (Bảng 1.3), trong khi đó trình độ sản xuất nông nghiệp rất thấp, nhất là ở vùng sâu, vùng xa Phương thức canh tác của người dân lạc hậu, trồng trọt, chăn nuôi theo kiểu tự nhiên, dựa vào kinh nghiệm là chủ yếu,
ít quan tâm chăm sóc, sản xuất một vụ, độc canh còn khá phổ biến nên năng suất thường không cao (Bảng 1.4) Thực trạng trên đây được cán bộ địa phương xác nhận Cán bộ Trung tâm dạy nghề huyện Lạc Thuỷ, Hoà Bình:
Một số hộ dân được hỗ trợ con giống những ít quan tâm đến việc chăm sóc theo quy trình hướng dẫn mà chăn thả theo kiểu tự nhiên [Điều tra của tác
giả, 2011] Quy mô sản xuất nông nghiệp nhỏ bé, manh mún, sản xuất theo kiểu tự cung, tự cấp là chủ yếu [130, tr 14; 140, tr 2] nên việc tạo tích luỹ để
mở rộng đầu tư sản xuất của người dân là rất hạn chế
Bảng 1.3 Cơ cấu thu nhập bình quân nhân khẩu 1 tháng chia theo nguồn
thu năm 2002
Tỉnh Chung
(%)
Tiền lương tiền công
Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản
Phi Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản
Khác
Bắc Giang 100,0 24,8 45,9 13,2 16,2
Hà Giang 100,0 15,4 63,4 9,2 12,0 Hoà Bình 100,0 26,0 47,6 11,2 15,3
Nguồn: Tổng cục thống kê, 2011 [117]
Bảng 1.4 Năng suất lúa của Hà Giang
Trang 36Dân số, dân tộc và trình độ học vấn
Các tỉnh có thành phần dân tộc rất đa dạng, trong đó bao gồm nhiều dân tộc thiểu số Bắc Giang với 27 dân tộc bao gồm dân tộc Kinh, dân tộc Nùng, dân tộc Tày, dân tộc Sán Chay, dân tộc Sán Dìu, dân tộc Hoa, dân tộc Dao và các dân tộc khác Hà Giang với 22 dân tộc bao gồm dân tộc Mông, dân tộc Tày, dân tộc Dao, dân tộc Kinh, dân tộc Nùng, dân tộc Giáy, dân tộc
La Chí, dân tộc Hoa và các dân tộc khác Hoà Bình với 30 dân tộc bao gồm dân tộc Mường, dân tộc Kinh, dân tộc Thái, dân tộc Dao, dân tộc Tày, dân tộc Mông và các dân tộc khác Sơn La với 12 dân tộc bao gồm dân tộc Thái, dân
tộc Kinh, dân tộc Mông, dân tộc Mường và các dân tộc khác
Ngoại trừ Bắc Giang, các tỉnh Hà Giang, Hòa bình, Sơn La có tỷ lệ người dân tộc kinh rất nhỏ, chủ yếu là người dân tộc thiểu số Năm 2001, Hà Giang có tỷ lệ người dân tộc kinh là 12,13% [27, 24], Hòa Bình có tỷ lệ người dân tộc Kinh là 28% [136, tr 1], Sơn La có tỷ lệ người dân tộc Kinh là 17,29% [140, tr 2] trên tổng dân số toàn tỉnh
Với thành phần dân tộc đa dạng tạo cơ hội giao lưu, hỗ trợ về nhiều mặt, nhất là kiến thức, kinh nghiệm sản xuất giữa các thành viên trong các cộng đồng Tuy nhiên trong môi trường mà người dân tộc thiểu số chiếm đa
số, mặt bằng về trình độ sản xuất nhìn chung còn thấp kém [137, tr 22] thì người dân sẽ không có nhiều cơ hội học hỏi để nâng cao trình độ sản xuất so
với các khu vực có mặt bằng về trình độ sản xuất phát triển
Trình độ học vấn của đội ngũ cán bộ các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị-xã hội và người dân hạn chế, nhất là ở cơ sở
Theo thống kê, Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang có 1.301 cán bộ, trong đó trình độ học vấn cấp II là 750, cấp III là 184, trung cấp là 69, đại học là 7; có 33 cán bộ thường trực uỷ ban nhân dân của 10 huyện, trong đó trình độ học vấn cấp III là 31, đại học là 26; có 191 chủ tịch uỷ ban nhân dân của 191 xã, phường, thị
Trang 37trấn, trong đó trình độ học vấn cấp II là 115, cấp III là 28, trung cấp là 17, đại học là 4 [101, tr 210] Cán bộ lãnh đạo và quản lý các sở, ban, ngành tỉnh Hoà Bình có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học là 72,9%; cán bộ cấp huyện, thị có trình độ trung học và đại học là 58,3%; cán bộ cấp xã, phường có trình độ trung cấp trở lên đạt 21,2% [7, tr 721] Ở Sơn La, nhiều cán bộ chủ chốt ở cơ sở
vùng sâu, vùng xa “chưa có trình độ học vấn hết cấp II” [142, tr 30]
Sự hạn chế về trình độ học vấn làm hạn chế năng lực của đội ngũ cán
bộ [44, tr 144, 150], nhất là cơ sở trong việc tiếp thu và vận dụng chủ trương, chính sách xoá đói, giảm nghèo của Đảng, địa phương cũng như trong tổ chức thực hiện
Theo thống kê, trình độ học vấn của đội ngũ cán bộ phụ trách các tổ chức chính trị-xã hội, đặc biệt là ở cơ sở rất hạn chế Trình độ học vấn của cán bộ phụ trách các tổ chức chính trị-xã hội huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang:
xã Nấm Dẩn, Chủ tịch Hội Nông dân có trình độ 9/12, Chủ tịch Hội phụ nữ là 12/12, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh là 7/10, Bí thư đoàn thanh niên là 12/12;
xã Xín Mần, Chủ tịch Hội Nông dân có trình độ là 12/12, Chủ tịch Hội Phụ
nữ, Bí thư đoàn thanh niên đang học đại học; xã Thèn Phàng, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc có trình độ là 7/10, Chủ tịch Hội Nông dân là 10/12, Chủ tịch Hội Phụ nữ là 10/12, Bí thư Đoàn Thanh niên là 12/12; xã Khuôn Lùng, Chủ tịch Hội Nông dân có trình độ 7/10, Chủ tịch Hội Phụ nữ là 7/10, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh là 7/10 [Điều tra của tác giả, 2010] Hạn chế về trình độ học vấn trên đây ảnh hưởng không nhỏ tới nhận thức của các tổ chức chính trị-xã hội về chủ trương, chính sách xoá đói, giảm nghèo của Đảng và địa phương cũng như năng lực phối hợp tham gia xây dựng chương trình, kế hoạch, tập hợp, tổ chức đoàn viên, hội viên và người dân Cán bộ Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc xã Thèn Phàng, huyện Xín Mần, Hà Giang: Người dân có nhu
cầu tiếp cận với giống cây trồng có chất lượng cao nhưng không có cán bộ tư vấn do năng lực còn hạn chế (Điều tra của tác giả, 2010)
Trang 38Trình độ học vấn của người dân còn rất hạn chế, nhất là ở các vùng cao, vùng sâu, vùng xa [136, tr 6, 142, tr 29], tỷ lệ học lên cao thường là thấp và đáng chú ý là tình trạng mù chữ khá phổ biến ở người dân tộc thiểu
số Năm 2001, Hà Giang có 25/195 xã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở [27, tr 164] Với trình độ học vấn thấp kém gây ra nhiều khó khăn, trở ngại đối với việc nhận thức của người dân về chủ trương, chính sách xoá đói, giảm nghèo của Trung ương và địa phương cũng như ảnh hưởng đến năng lực tham gia xóa đói, giảm nghèo như áp dụng kiến thức khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tiếp cận các dịch vụ giáo dục, y tế…
Tâm lý, phong tục, tập quán
Là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc thiểu số có thể khai thác được đức tính cần cù, chịu khó, ý thức cộng đồng cao và sự quan tâm giúp đỡ nhau trong cuộc sống Bên cạnh đó, trong cộng đồng các dân tộc thiểu số, ý thức cạnh tranh thường không cao, có tâm lý bình quân, bằng lòng với mức sống hiện tại, một bộ phận người dân trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng, thiếu động lực vươn lên Hạn chế trên đây của người dân được cán bộ cơ sở các địa phương xác nhận Cán bộ tổ chức chính trị-xã hội xã Mãn Đức, huyện Tân Lạc,
tỉnh Hoà Bình: Một số người dân chỉ mong được hỗ trợ để tiêu dùng mà không
quan tâm đến làm thế nào để phát triển sản xuất (điều tra của tác giả, 2009) Cán
bộ đảng uỷ xã Xín Mần, huyện Xín Mần, Hà Giang: Nhiều người dân không
muốn phấn đấu vươn lên, chỉ cần đủ ăn, có tích trữ được một ít gạo, dầu, muối trong nhà… [Điều tra của tác giả, 2010]
Một số phong tục lạc hậu trong sinh hoạt như tín ngưỡng [130, tr 15 ;
137, tr 20], ma chay, cưới xin… còn khá phổ biến trong các cộng đồng dân tộc thiểu số từ đó gây ra tốn kém tiền của, lãng phí thời gian, công sức của nhiều hộ gia đình và ảnh hưởng đến việc đầu tư phát triển sản xuất
Trang 391.1.1.2 Thực trạng đói nghèo và thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở các tỉnh Bắc Giang, Hà Giang, Hòa Bình và Sơn La
* Khái niệm đói nghèo và thực trạng đói nghèo ở các tỉnh Bắc Giang,
Hà Giang, Hòa Bình và Sơn La
Cho đến nay, khái niệm đói nghèo đã được đề cập tại Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á-Thái Bình Dương tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan (tháng 9-1993) [24, tr 16] và trong nhiều công trình nghiên cứu như công trình của Nguyễn Anh Dũng [31], công trình của Nguyễn Thị Nhung [85]
Từ các khái niệm về đói nghèo trên đây có thể hiểu đói nghèo là tình trạng
một bộ phận dân cư không được thoả mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu về
ăn, mặc, ở, giáo dục, y tế và văn hoá mà đã được xã hội thừa nhận dựa trên trình độ phát triển kinh tế-xã hội
Với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có nhiều bất lợi trong phát triển, các vùng đặc biệt khó khăn như miền núi phía Bắc có tỷ lệ đói nghèo cao so với nhiều vùng khác trên cả nước (Bảng 1.5)
Bảng 1.5 Tỷ lệ đói nghèo phân theo vùng
Đồng bằng sông Cửu Long 47,1 36,9
Nguồn: Báo cáo Phát triển Việt Nam, 2004 [2]
Trang 40Tỷ lệ đói nghèo của các tỉnh trong vùng cao hơn nhiều so với các tỉnh ở những vùng có điều kiện phát triển Bắc Giang có tỷ lệ đói nghèo là 23,9% [96,
tr 6], Hà Giang là 35% [101, tr 10], Hoà Bình là 20% [5, tr 670] và Sơn La là 31,4% [6, tr 218] Trong khi đó ở đồng bằng Bắc bộ, các tỉnh có tỷ lệ đói nghèo cao nhất như Ninh Bình là 13,69%, Vĩnh Phúc là 17,88% [16, tr 42])
Trong phạm vi từng tỉnh, nhiều xã có tỷ lệ hộ nghèo cao trên 40% và nhiều xã thuộc chương trình 135 (Bảng 1.6)
Bảng 1.6 Số xã có tỷ lệ đói nghèo trên 40% và xã thuộc chương trình 135
Tỉnh
Số xã có tỷ lệ đói nghèo trên 40%
(1998)
Số xã thuộc chương trình 135 (1999)
Nguồn: Bộ Lao động thương binh và xã hội, 2004 [16]
Trong phạm vi từng xã, tỷ lệ hộ giàu, khá ít, chủ yếu là hộ trung bình và
hộ nghèo như xã Khuôn Lùng, huyện Xín mần, Hà Giang có tổng số 526 hộ, bao gồm 2 hộ giàu, 68 hộ khá, 344 hộ trung bình và 112 hộ nghèo [154, tr 5]
Sự đói nghèo diễn ra trên diện rộng và mức độ đói nghèo trầm trọng trên đây một mặt làm hạn chế hiệu quả huy động nguồn nội lực xoá đói, giảm nghèo từ phía người dân và cộng đồng địa phương, nhất là nguồn vốn, mặt khác đặt ra nhu cầu nguồn lực lớn để thực hiện xóa đói, giảm nghèo
* Khái niệm Đảng lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo và thực hiện chủ trương xóa đói, giảm nghèo của Đảng ở các tỉnh Bắc Giang, Hà Giang, Hòa Bình và Sơn La