định thành các nhóm chức năng khác nhau như: nhóm trợ từ cách kaku joshi chuyên biểu thị ý nghĩa ngữ pháp và các kiểu quan hệ ngữ pháp, nhóm trợ từ quan hệ kei joshi biểu thị dụng ý của
Trang 1TRO TU “WA” VA “GA” TRONG CAU TIẾNG NHẬT
rong ngữ pháp tiếng Nhật, trợ từ
đã tạo thành một tiểu hệ thống
với những đặc trưng riêng biệt Không
giống với giới từ của tiếng Anh, tiếp vĩ
ngữ, liên tù, thán từ, phó từ của tiếng
Nga, tiếng Pháp, cũng không ngang
hàng với các loại hư từ ngữ pháp, hư từ
hình thái trong tiếng Việt, phạm vị “trợ
từ tiếng Nhật" rộng hơn bất cứ quan
niệm nào về các loại từ bổ trợ nói trên
Có thể nói, trợ từ tiếng Nhật bao gồm tất
cả các loại này và được người Nhật gọi
chung bằng cái tên "Joshi" (trợ từ)
Vì bao gồm nhiều tiểu loại với những
chức năng riêng biệt, trợ từ được phân
định thành các nhóm chức năng khác
nhau như: nhóm trợ từ cách (kaku joshi)
chuyên biểu thị ý nghĩa ngữ pháp và các
kiểu quan hệ ngữ pháp, nhóm trợ từ
quan hệ (kei joshi) biểu thị dụng ý của
người nói muốn nhấn mạnh một thành
phần nào đó trong câu nhằm mục đích
so sánh, lựa chọn hoặc bác bỏ , nhóm
trợ từ định danh Quntai joshi) đùng để
đanh hoá các động từ, tính từ hay ngữ
đoạn động từ , nhóm trợ từ tiếp nối
(setsuzoku joshi) dùng để nối kết các
mệnh đề trong câu phức
Tuy nhiên, một hiện tượng phổ biến
trong tiếng Nhật là các trợ từ thuộc các
nhóm chức năng khác nhau có sự luân
phiên hoạt động trên điện rộng Trong
phạm vi bài viết này, tác giả chỉ khảo sát
hoạt động của hai trợ từ có tần số xuất
hiện cao trong câu tiếng Nhật, đó là trợ
ttt wa thuộc nhóm trợ từ quan hệ và trợ
từ gø thuộc nhóm trợ từ cách
Tuy nằm ở những nhóm chức năng
khác nhau, mang những ý nghĩa cú pháp
hoàn toàn khác nhau như: trợ từ wø¿ có
Ths NGO HUONG LAN Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản
chức năng đánh dấu "chủ đề", trợ từ ga
có chức năng đánh dấu "chủ ngữ ngữ pháp”, song hai trợ từ này lại có sự luân phiên hoạt động rộng, đưa đến nhiều khó khăn cho những người học và sử dụng tiếng Nhật với tư cách là một ngoại ngữ Vì vậy, bài viết này cũng hướng,tới mục đích: thông qua việc trình bày một cách khái quát các trường hợp sử dụng tiêu biểu của hai trợ từ wø và ga, giúp cho những người học tiếng Nhật phần
nào hiểu được những ý nghĩa cơ bản của
hai trợ từ này, tránh được sự nhầm lẫn trong khi sử dụng chúng
I TRG TU WA
Nam trong nhóm trợ từ quan hệ, cùng loại với các trợ từ mo (cũng), koso (chinh), dake (chi), bakari (toàn) biểu thị ý nghĩa quan hệ như: so sánh, lựa chọn, nhấn mạnh của yếu tố ngôn ngữ
mà chúng đi kèm với các yếu tố hiển
ngôn hoặc không hiển ngôn, trợ từ w#
có một chức năng quan trọng là "dán nhãn chủ để cho một thành phần cau"
Ví dụ:
© Watashi-wa gakusei desu
(Tôi là sinh viên.)
© Roosevelt-wa beikoku no daitòryò
datta (Ông Rooseveit đã từng là tổng
thống nước Mỹ.)
© Aki no tsuki-we kirei da
( Trăng mùa thu đẹp.) Các trợ từ wa trong câu một, hai, ba đều lần lượt biểu thị chủ để của mỗi câu
trên Tức là chúng chỉ ra rằng "tôi" trong
câu một, "ông Roosevelt” trong câu hai,
"trăng mùa thu” trong câu ba đang là đối
tượng nhận định của tư duy, là cái chủ
dé dẫn đất người đối thoại đi vào mục
NGHIÊN Cứu NHẬT BAN Va DONG BAC A, SỐ 3(39) 6-2002 43
Trang 2đích chính của cuộc thoại Người nĩi cĩ
thé chi mdi néi “aki no tsuki-wa" (trang
mùa thu) thì người nghe đã cĩ thể hình
dung ra một đêm trăng thu rất đẹp, như
vay “aki no tsuki-wa" chinh la chi dé
của phán đốn, là cái gợi mở cho nhận
thức tiếp theo của người nghe
Dưới đây là các ý nghĩa chức năng
chinh cua tro tit wa:
1 Trợ từ wa với chức năng đưa một
thành phần lên làm chủ đề câu
Ta hãy xem các ví dụ sau:
+ Yamada sạn-wa kazoku-ni kono
tegami-wo kaita
(Anh Yamada viết bức thư này cho
gia đình.)
* Kazoku-ni-wa Yamada san-ga kono
tegami-wo kaita
(Dé cho gia dinh (ma) anh Yamada
đã viết bức thư này.)
* Kọno teegmi-wa Yamada san-ga
kazoku-ni kaita
(Bức thư này (1a) anh Yamada viét
cho gia dinh.)
Trong các câu trên, nhờ cĩ sự biểu thị
của trợ từ w¿ mà người ta cĩ thể hiểu
rằng người nĩi muốn để cập đến chủ đề
"anh Yamada", "gia đình" hay "bức
thư”
2 Trợ từ wøz với chức năng truyền
đạt thơng tỉn
2.1 Phan đoạn "cát cũ", “cái mới"
trong câu
Bình thường, một câu nĩi là "cái biểu
thị một nhận định trọn vẹn” nên bao giờ
cũng chứa đựng một phần thơng báo gì
đĩ mới đối với người nghe (ít nhất là
mới trong phạm vi tình huống lúc hội
thoại) Như vậy, câu thường được phân
đoạn thơng tin ra thành "cái cũ” và "cái
mới", "Cái cũ" là cái "đã biết", là cái mà
người nĩi căn cứ vào tình huống của đối
thoại mà ức đốn là đang cĩ mặt trong ý
Tro tu Wa va Ga
thức của người nghe lúc mình sắp nĩi Cịn "cái mới", cái "chưa biết" là cái người nĩi cho là khơng cĩ mặt trong ý thức của người nghe lúc bấy giờ Thơng thường, trong câu tiếng Việt, người nĩi
cĩ xu hướng chọn cái "cũ" làm xuất phát điểm cho sự nhận định và để phần cĩ giá trị thơng báo thực sự - cái "mới” ra sau Trong tiếng Nhật cũng cĩ một cấu trúc câu tương tự như vậy: khi phần thơng báo "mới" được đặt ở vị trí cuối
câu, tro ti wa sé duoc ding lam trợ từ
phân đoạn câu Câu sẽ cĩ mỏ hình như Sau:
Cái cũ - wa / cái mới
¢ Uchi-no ojiichan-wa // tsuri-ga daisuki da (Ong tơi / thích câu cá lắm.)
* Tdkyd-wa // jinkoo-ga ool
(Tokyo // rất đơng dan cư.) 2.2 Trợ từ wa trong câu cĩ vị ngữ là
từ nghĩ vấn
Câu cĩ vị ngữ là từ nghỉ vấn chính là câu hỏi ma thong tin cin biét ("cdi mdi") được đặt ớ vị trí cuối câu, do đĩ trợ từ wø được sử dụng với chức năng phân đoạn cau Vi du:
* Anata-no kasa-wa // dore desu ka?
(6 eta ban // ld edi ndo? )
Watashi-no kasa-wa // kore desu
(0 cia toi // là cái này.)
Song, trong trường hợp ngược lại, ki câu cĩ chủ ngữ là từ nghĩ vấn, tức là cấu trúc mà thơng tin "mới", cái "cần biết” nằm ở đầu câu và thơng tin "cũ" ở cuối câu, cĩ sự thay đổi trợ từ phân đoạn câu, lúc này trợ từ gœ được sử dụng Ví dụ:
* Dọe-ga jj anata-no kasa de§u ka?
(Cái nào /ƒ là ơ của bạn?)
Kore-ga // watashi-no kasa desu
(Cái này // là ð của tơi.)
3 Tro tit wa duoc ding trong cau nĩi về một sự việc đang diễn ra trước
44 NGHIÊN Cứu NHậT BảN Và ĐƠNG BắC A, SO 3(39) 6-2002
Trang 3Trợ từ Wa và Ga
mat người nói, hoặc một quy luật, tập
quán, phép tác hay một tính chất khó
thay đổi nào đó Ta hãy xem các ví dụ
sau:
¢ Tsuki-wa kyireki-no jiigo nichi-ni
naru-to, maruku naru
(Mặt trăng cứ đến ngày 15 âm lịch
lại tròn.) ( Quy luật )
¢ Nihonjin-wa dareka-ni au-to, ojigi-
wo suru
(Người Nhật cứ gặp ai đó là lại cúi
¢ Atsu, Sumisu san, sore-wa watashi-
no tekisuto desu kedo
(Ơ, anh Smith, đấy !¿ sách của tôi
chứ ( Nói về sự vật ở rước mắt )
A, gomenasai (à, xin lỗi nhé.)
Ở tình huống sử dụng này, ta thấy có
sự khác biệt rất lớn giữa chức năng biểu
thị "cái đã xác định” của trợ từ wø và
chức năng biểu thị "cái chưa xác định"
của trợ từ gu Nếu như trợ từ wa được
dùng trong câu nói về quy luật, tập quán
đã xác định hoặc những sự vật, sự việc
đang bày ra trước mắt người nói, thì trợ
từ ga lại được sử dụng trong câu tường
thuật lại một sự việc, vấn để mới được
phát hiện Bởi vì, khi phát hiện được
một điều gì đó, người ta có xu hướng chỉ
miêu tả hiện tượng đó như nó vốn có,
chứ không dưa thêm phán đoán của
mình vào Có thể lấy ví dụ như sau:
* A, koko-gaq deguchi da
( A, lối ra đây rồi.)
¢ A, suifu-ga nai (O, mat vi rồi.)
4 Tro tir wa ding trong cau biểu
thị ý so sánh, phân biệt, hựa chọn hoặc
nhấn mạnh sự bác bỏ Các yếu tố nằm
trong trục liên tưởng so sánh được
"đánh dấu" bởi trợ từ wa Ví dụ:
* Ane-wa kashi de, imdto-wa joyii
da
(Chị tôi là ca sĩ, còn em tôi là diễn
viên.) (So sánh, đối chiếu )
* Ano resutoran-wa ryori-wa ii kedo,
saabisu-wa yokunai
(Nhà hàng đó món ăn thì ngon đấy nhưng mà phục vụ lại kém.) (Phản biệt)
* Shinjuku-e-wa ikimasu — ga,
Shibuya-e-wa ikimasen
(Shinjuku thi di, con Shibuya thi không di dau.)
(Lua chon)
* Kohi-wo nomimasu ka?
(- Uống cà phê không?)
le, kdhi-wa nomimasen
( Không, cà phê thi không uống đâu.) (Bác bở)
Bên cạnh trường hợp những yếu tố nằm trong trục liên tưởng so sánh được hiển ngôn như trên, cũng có những trường hợp các yếu tố này không được
hiển ngôn, nhưng thông qua việc người
nói sử dụng trợ từ wø, người nghe hiểu được dụng ý ngảm so sánh của người noi Vi du:
* Kanojo-wa do? (- Cô ấy thế nào?) Kakko-wa ii kedo ne
(- Dáng thì đẹp đấy nhưng mà ) Nếu thay tro tt) wa bang tro tir
ga, câu sẽ không còn ý nghĩa so sánh ngầm ẩn như vậy nữa Ví dụ:
* Kanojo-wa dò? (- Cô ấy thế nào?) Kakkò-ga ii ne (- Dáng đẹp đấy.)
5 Tro tit wa trong cau vita có chủ
dé vừa có chủ ngữ
Đây là một loại câu khá điển hình
trong tiếng Nhật, gọi là "câu wø - ga", câu vừa có chủ để vừa có chủ ngữ Trong đó, chủ đề được đánh dấu bằng
trợ từ wa, sau chủ đề là phần thuyết với
một kết cấu chủ vị mà chủ ngữ được đánh dấu bằng trợ từ gư Chủ để trong loại câu này có quan hệ ngữ nghĩa với
NGHIÊN Cử NHậT BảN Và ĐÔNG BắC đ, SỐ 3(39) 62007 45
Trang 4Trợ từ Wa và Ga
bộ phận chủ ngữ của mệnh đề nòng cốt
Có thể tổng kết mối quan hệ ngữ nghĩa
này ở các kiểu loại sau: "quan hệ toàn
thể - bộ phận", "quan hệ thượng danh -
hạ danh" (quan hệ giữa chủng loại và
một tiểu loại trong đó), "quan hệ chỉ loại
cho chủ ngữ" và "quan hệ giữa một sự
vật với những thuộc tính đặc trưng điển
bình của nó” Ví dụ:
* Zo-wa hana-ga nagai (Con voi
thì vòi dai.) (Quan hé todn thé-bé phdn)
* Sukuna-wa tai-gg ooishn (Cá thì
cá hồng ngon.) (Quan hệ thượng danh-
hạ danh.)
¢ Kono kurasu-wa minna-ga yoku
gambatteiru (Quan hệ củỉ loại cho chủ
ngữ)
(Lớp này mọi người đều cố gắng.)
* Tòkyò-wa jinkò-ga ool
(Quan hệ giữa một sự vật và một thuộc
tính)
(Tokyo thì đồng dân cư.)
6 Trợ từ wa trong câu biểu thị lý
do, nguyên nhân
Để biểu thị lý đo, nguyên nhân, trong
tiếng Nhật có mẫu câu được mô hình
hoá như sau:
A no - wđ // Ð kara desu
(Việc A // la do B)
Đứng trước trợ tit wa là trợ từ øø hoạt
động với chức năng đanh từ hoá ngữ
đoạn A đứng trước nó Có nghĩa là trước
wa là cụm từ chỉ kết quả của nguyên
nhân, sau w¿ là ngữ đoạn B chỉ nguyên
nhân Ví dụ:
* Gakkd-wo yasunda no-wa // kaze-
wo hiita kara desu „
(Nghỉ học // là do bị cảm.)
* Kyòto-e Ikitai no-wa // furui otera-
ga ooi kara desu
(Muốn di Kyoto // 1a vì có nhiều
chùa cổ.)
7 Trợ từ wø biểu thị sự nhấn mạnh
về mức độ hoặc giới hạn nào đó
Ví dụ:
¢* Watashi-wø yakvì_dake-wa nigate desu (Tôi chỉ kém có mỗi môn bóng
chày.)
* Nihon-de-wa kono sakka-wa mumei da (ở Nhát thì nhà văn này
vô danh.)
* Kind made-wa kono terebi-wa
kowareteinakatta
(Cho đến ngày hệm qua thì chiếc tivi này vẫn chưa bị hỏng.)
Trường hợp nêu ý nghĩa hạn định ở các câu trên, các từ mang ý nghĩa hạn định đều là các danh từ và được đánh dấu bơi trợ từ wa Song, y nghia han định cũng có thể nằm ở các từ loại khác
như động từ, tính từ, số từ, phó từ Đối
với động từ, có thể đưa ra rnột số ví dụ sau:
* Sensei, musuko-wa shindan desu
ka? (- Thưa bác sĩ, con tôi chết rồi
sao?) Shinde-wa-imasen ga, kiken na jotai desu (- Chét th? clara, nhung bệnh tình rất nguy kịch.)
Với số từ, trợ từ wœ thường đi kèm để biểu thị mức độ "như vậy hoặc hơn thế
nữa" Đặc biệt, trong cách nói về giá cả, trợ từ wøœ được sử dụng trong những câu
kiểu như:
*® Daiyamondo-wa kòka na mono-ni naru to, sen man en-wa suri,
(Kim cương thì, viên nào cao gid cũng phải đến mười triệu yên ấy chứ.)
* Shinjuku-kara Shibuya-made takushii-ni — notftara, sen en-wa harawanakerebanaranai
(Ti Shinjuku téi Shibuya, néu di bằng tắc xi cũng phải mất một nghìn yên.)
46 NGHIÊN Cứu NHẬT BAN Va DONG BAC ú, SỐ 3(39} 62002
Trang 5Tro tit Wa va Ga
8 Tro từ wa được dùng để nhấn
mạnh một hành động lặp lại nhiều
lần
Khi biểu thị một hành vi hay một
động tác được lặp lại nhiều lần như một
thói quen, bên cạnh những trạng ngữ chỉ
quá trình thời gian trùng lặp, người ta
còn sử dụng trợ từ wø đi kèm với động
từ để nhấn mạnh Ví dụ:
* Kobayashi san-wa maiban disko ni
itte-wa, odottari nondari shiteiru
(Anh Kobayashi rối nào cũng tới
sản nhảy, nhảy nhót, ăn uống.)
* Mainen Igirisu e itte-wa, kenkyuu
no shiryd atsumete kaette kuru
(Năm nào tôi cũng đi sang Anh, thu
thập tư liệu nghiên cứu rồi lại về nước.)
II TRỢ TỪ GA
Khác với trợ từ quan hệ wa, trợ từ
cách gø nằm trong nhóm trợ từ chuyên
dùng để biểu thị các kiểu quan hệ ngữ
pháp, cụ thể là trợ từ gư có chức năng
Chỉ ra "chủ thể" - kế thực sự gây ra hoặc
có các hành động, tính chất, trạng thái
được nói đến ở động từ vị ngữ Và, vì
đơn thuần chỉ biểu thị mối quan hệ giữa
chủ ngữ và vị ngữ nên những câu văn có
trợ từ g¿ sẽ trở thành câu "phi chủ để",
chỉ đơn thuần miêu tả sự việc hoặc
thuyết minh tình huống, quá trình chứ
không phải là câu biểu thị phán đoán
như câu văn có trợ tit wa Vi du:
¢ Usagi-ga san ba imasu Mimi-wa
zenbu de ikutsu aru deshò?
(Có ba con tho Hỏi có bao nhiêu cái
tai? )
Bài toán này, ở phần thuyết minh tình
huống của để bài, trợ từ gư được sử
dụng, còn ở phần nêu câu hỏi, trợ từ wø
được dùng với ý nghĩa nêu ra chủ đề cần
bàn tới
Dưới đây là các ý nghĩa chức năng
chính của trợ từ ga
1 Trợ từ ga biểu thị chủ thể của hành động, động tác, tính chất, trạng thái Vị ngữ của loại câu này có thể là động từ hoặc tính từ Vi du:
*1 Ame-ga furimasu (C6 mưa.) (Vị ngữ là động từ.)
*2 Sora-gq aoi (Bầu trời xanh ) ( Vị ngữ là tính từ )
*3 A upaato-ga go gatsu-ni kaiten shita (Vào tháng 5 cửa hàng bách hoá A
đã khai trương.) Đây là loại câu trần thuật, thuật lại một sự việc, sự thực nào đó (như câu*3), (thường gặp cấu trúc câu kiểu này trong
các bản tin tivi, đài phát thanh ) hoặc
miêu tả những sự vật đang nhìn thấy trước mắt (như câu*I và câu*2) Điểm khác biệt của loại câu này với câu có trợ
từ wz là trong những câu này, người nói không đưa phán đoán của mình vào mà chỉ thuật lại sự việc, hiện tượng y như nó vốn có Nếu người nói đưa phán đoán của mình vào, các câu trên có thể
chuyển thành câu có đạng như:
*1' Ame-wa furimasu ga (kind hodo dewa arimasen.)
(Mưa thì có mưa (nhưng không đến như hôm qua đâu ).)
*2ˆA, kyò no sorad-wa aoi.(A, — bầu
trời hôm nay xanh (khác với mọi hôm).)
*3’ A apdto-wa go gatsu-ni kuiten Shita
((Nếu nói về cửa hàng bách hoá A thì) cửa hàng bách hoá A đã khai trương vào tháng 5 rồi.)
2 Trợ từ gz chỉ chủ ngữ trong câu tồn tại
Câu tổn tại là câu nhận định rằng ở
một nơi nào đó có một cái gì Trong
tiếng Việt, nếu phân định loại câu này theo cấu trúc chủ vị thì có thể thấy đây
là câu có trạng ngữ đứng đầu câu và một cụm chủ vị mà trong đó vị ngữ là động
NGHIÊN Cứu NHậT BảN Và ĐÔNG Bắc á, SỐ 3(39) 62002 47
Trang 6từ tồn tại "có", "còn" đứng trước, chủ
ngữ đứng sau Ví dụ:
- Trên bàn có sách; - Trong ví còn
tiền
Còn trong tiếng Nhật, loại câu này có
mô hình: trạng ngữ đứng đầu câu được
biểu thị bằng trợ từ nỉ, chủ ngữ được
"đánh dấu" bằng tro tit ga và vị ngữ là
động từ "aru" hoặc "tru" đứng cuối câu,
Ví dụ:
* Tsukue no ue-ni hon-ga arimasu
(Trên bàn có sách.)
Tuy nhiên, đối với những học viên
mới học tiếng Nhật, thường rất hay có sự
nhầm lẫn giữa câu tôn tại có trợ tir ga
chỉ chủ ngữ và câu chỉ vị trí với trợ từ
wa chỉ chủ đề Ví đụ:
Khi sử dụng loại câu hỏi: ”- Nhà bạn
ở đâu?" "- Nhà tôi ở tỉnh Chíba.”, rất
nhiều người ngộ nhận với kiểu câu tồn
tại:
* Doko-ni atana no uchi-ga arimasu
ka? (- 6 dau có ngôi nhà của bạn?)
Chiba ken-ni watashi no uchi-ga
arimasu (- 6 tinh Chiba có nhà tôi.)
Trong khi đó, câu đúng phải là:
¢ Anata no uchi-wa doko-ni
arimasuka? (- Nha ban ở đâu?)
Watashi ne uchi-wa Chiba ken-ni
arimassu (- Nhà tôi ở tinh Chiba.)
3 Trợ từ gø biểu thị "đối thé"
trong câu chỉ trạng thái (ức là chỉ đốt
tượng của trạng thái tình cẩm, cẩm
giác, năng lực, hy vọng )
Cau chỉ trạng thái nhìn chung là
những câu biểu thị tính chất và những
tình trạng của sự vật
Những vị từ chỉ trạng thái thường là
những vị từ đơn trị (ví dụ: vui, mừng, lo,
sợ, buồn, nóng, lạnh ) và câu chỉ trạng
thái thường là câu một điển tố - diễn tố
chỉ chủ thể mang tính chất, trạng thái đó
(ví dụ: Tôi lạnh; Anh ấy buồn )
Tro tit Wa và Ga
Nhưng, bên cạnh loại vị từ đơn trị này còn cé vi ti song tri như: thích, yêu, ghét Câu chỉ trạng thái tam lý này có hai điễn tố, diễn tố thứ nhất là kẻ mang
hay thể nghiệm tình cảm mà vị từ biểu
thị > gọi là nghiệm thể, và diễn tố thứ hai là đối tượng gây nên tình cảm đó
gọi là đối thể
Trong ngữ pháp tiếng Việt, câu chỉ trạng thái hai diễn tố này được trình bày
như cách trình bày mét hanh động
chuyển tác Câu "A yêu B” được biểu
hiện trên bể mặt không khác gì “À giúp B" Trong khi đó, thực ra B chính là ke tác động đến A một cách có ý thức hoặc
vô ý thức, còn A là đối thể của sự tác động
Nhưng trong tiếng Nhật thì khác, "kể tác động" và "đối thể” thục sự được đánh dấu bằng những tiêu chí hình thức
cụ thể - các trợ từ Ta hãy xem các ví dụ:
* Watashi-wu amai mono-ga suki desu (Tôi thích đồ ngọt.)
* Watashi-wa osake-ga kirai desu
(Tôi ghét rượu.)
Trong các câu trên, "đồ ngọt” (amai mono), "rượu" (osake) chính là “kể tác động tình cảm", là “nguồn cẩm: giác” cho "tôi" (watashi), và trong tiếng Nhật
ý nghĩa đó đã được ngửời Nhật hình thức hoá bằng cách đặt "amai mono”, "osake
ở vị trí chủ ngữ với sự biểu thị của trợ từ cách ga Còn đối thể thực sự, kẻ thể nghiệm những tình cảm đó - "tôi" (watashi) thì lại được đặt ở bên ngoài cấu trúc cú pháp này Thực chất vai trò chủ dé của từ "tôi" (watashi-w4) là khoanh vùng phạm vi mà tình cảm đó
được thể nghiệm Ta lại xem tiếp các ví
dụ sau:
+ Watashi-wa jJsu-ga nomitai
(Tôi muốn uống nước ngọt)
thích
48 NGHIÊN cửu NHẬT BAN Va DONG BAC A, SỐ 3(39) 61002
Trang 7Trợ từ Wa và Ga
* Rin san-wa nihongo-ga hanaseru
(Anh Linh nói được tiếng Nhật)
Trạng thái tình cảm mong muốn như
"muốn uống", và trạng thái khả năng
như "có thể nói" trong tiếng Nhật cũng
được xử lý như các câu chỉ trạng thái
"yêu", "ghét" trên
Ngoài ra, câu chỉ quá trình trì giác
cũng được xử lý như câu chỉ trạng thái,
Ví dụ:
* Ookina yuma-ga mietekimashita
( Nhìn thấy một dãy núi lớn)
* Niban dori no koe-ga kikoemasu
(Nghe thấy tiếng gà gáy canh hai)
4 Trợ từ ga trong câu vừa có chủ
đề vừa có chủ ngữ
Như đã trình bày ở phần trợ từ wa,
trong cấu trúc của loại câu vừa có chủ đề
vừa có chủ ngữ, trợ từ g¿ giữ chức năng
biểu thị chủ ngữ của phần thuyết và có
quan hệ về mặt ngữ nghĩa với chủ dé
trong câu Ví dự:
* Tokyd-wa // bukka-ga takai
(Quan hệ giữa sự vật và thuộc tính)
(Tokyo thì // giá cả đất đỏ.)
+ Kanojo-wa // kaminoke-ga Nagai
(Quan hệ toàn thể - bộ phận)
(Cô ấy // tóc đài.)
Š Trự từ ga với chức năng truyền
dat thong tin
5.1 Khi một phần của câu là thông
tin mdi
3.1.1, Trong câu trần thuật
Ngược lại với trợ tit wa, tro từ ga
được dùng trong câu có trọng tâm thông
báo (tức là phần thông tin "mới") nằm ở
đầu câu với kiểu cấu trúc sau:
Cái mới - ga // Cái cũ
Ví dụ: cùng là câu "Anh Ali đến"
trong tiếng Nhật có hai cách nói:
© Ari_san-ga kimashita và @ Ari
san-wa kimashita
Tuy nhiên tình huống sử dụng của hai câu này hoàn toàn khác nhau:
Cau O"Ari_san-ga kimashita" (Có
anh Ali đến) có thể được phát ngôn lên
trong tình huống như sau: mọi người đang ngồi trong phòng, bỗng nghe có tiếng gõ cửa, một người ra mở cửa, nhận
ra anh Ali thì bèn reo lén "Ari san-ga kimashita" Sở đĩ anh ta nói câu này là
vì, lúc đó đối với anh ta và những người
trong phòng thi "dén” (kimashita) không phải là một thông tin mới (ai cũng Biết
có người đến vì đều nghe thấy tiếng gõ cửa), song "anh Ali"(Ari san) thì lại là thông tin mới (mọi người đêu chưa biết
ai dén), Còn câu @"Ari san-wa kimashita” (Anh Ali đến rồi) được phát ngôn trong tình huống: mọi người đang chờ anh Ali, nhưng vẫn chưa thấy anh ta đến, có tiếng
gõ cửa và người ra mở cửa reo lên "Ari san-wa kimashita" Théng tin moi lúc này không phải là "anh Ali" (Ari san) vi mọi người đang chờ anh ta (trong ý thức của mọi người đã có tên của anh ta), mà
là "đã đến" (kimashia) vì mọi người đều quan tâm xem anh ta để đến hay là chưa
3.1.2 Trong câu hổi
Trợ từ ga được sử dụng trong câu hỏi
mà ứ nghĩ vấn là chủ ngữ, tức là từ nghỉ vấn hoặc mệnh đề biểu thị sự nghỉ vấn được đặt ở vị trí đầu câu Điều này có quan hệ với tính chất nhấn mạnh phần
thông tin đứng đầu câu của trợ từ g¿ như
dã phân tích ở phần trên Ta hãy xem các ví dụ sau:
* Dare-ga shiken-ni gòkaku shita no đesu ka? (Ai đã thi đỗ thế?)
* Kudgmono-wa nani-ga ichiban suki desu ka? (Hoa quả thì thích thứ gì
nhất?)
3.2 Khi toàn bộ câu là thông tin mới Khi một việc không ngờ tới xảy ra hay khi người nói phát hiện ra một điều
NGHIÊN Cứu NHẬT BẢN Và ĐÔNG BẮC đ, SỐ 3(39) 62007 49
Trang 8gì đó và muốn thông báo y nguyên sự
tình đó cho người nghe (toàn bộ thông
tin trong câu đều là mới) thì cấu trúc có
trợ từ gư sẽ được sử dung để đảm bảo
tính "khách quan" của thông báo (tức là
trong câu không có ý kiến chủ quan của
người phát ngôn) Ví du:
¢ Densha-ga kimashita yo
Có xe điện tới đấy.)
+ Aretsu, saifu-ga nai Okashii naa
(Thôi chết, cái ví đâu rồi Lạ thật!)
6 Trợ từ ga biểu thị đối tượng được
lựa chọn trong câu so sánh
Khi so sánh hai đối tượng nào đó,
tiếng Nhật sử dụng trợ từ gø Ví dụ:
+ Kobayashi santo Kimu san-to,
dochira-ga sake-ga tsuyoi desu ka?
(Anh Kobayashi va anh Kim, anh
nào từu tượng khá hơn?)
+ Fujisan-te Monburan-to de-wa,
dochira-ga takai desu ka?
(Núi Phú Sĩ và núi Monblank, nui
nào cao hơn?)
Mặt khác, khi nêu đối tượng được lựa
chọn, trợ từ gư cũng được sử dụng để chỉ
ra rằng đối tượng đó là hơn, Ví dự:
+ Kimu_san-no ho-ga sake ga tsuyoi
desu (Anh Kim tửu lượng khá hơn.)
+ Monburansno hò-ga takal desu
(Núi Monblank cao hơn.)
Đặc biệt, câu khuyên nhủ trong tiếng
Nhật cũng sử đụng cấu trúc này Vi du:
¢ Ame no hi-ni kuruma-de dekakenai
ho-ga ii desu yo
(Vào những ngày trời mưa, không
nên ra ngoài bằng ôtô đâu.)
7 Phạm vi ảnh hưởng của trợ từ ga
Đối lập với tro tit wa, tro tit ga cé
phạm vi ảnh hưởng rất hẹp, chỉ tới động
từ gần nó nhất mà thôi Có nghĩa là, trợ
tir ga chỉ biểu thị từ mà nó đi kèm có
quan hệ ngữ pháp với động từ gần nó
nhất Ta hãy so sánh hai câu:
© Tard-wa daigaku-ni
shiteitara, denwa shimasu
gokaku
Tro ti Wa va Ga
(Néu Taro dé dai hoc, thi (cau ta) sé
goi dién.)
© Turò-gg daigaku-mi
shiteitara, denwa shimasu
(Nếu Taro đỗ đại học, thì (tôi) sẽ
gọi điện.)
Qua hai ví dụ trên, có thể thấy một
điểm không tương đồng nữa giữa hai trợ
tit wa va ga, đó là sự khắc nhau về phạm
vi anh hưởng: trợ từ wø có phạm ví ảnh hưởng đến tận động từ đứng cuối câu (như trong ví dụ 8), trong khi trợ từ ga chỉ có ảnh hưởng tới động từ gần nó nhất (như trong ví dụ ®) Từ đây đưa đến chức năng thứ tám cha tro tir ga, chức năng biểu thị chủ ngữ trong mệnh
đề phụ của câu
8 Trợ từ gz biểu thị chủ ngữ trong
mệnh đề phụ
8.1 Mệnh đề phụ tu sức danh từ
Mệnh để tu sức danh từ là mệnh đề phụ bổ nghĩa cho đanh từ Trong mệnh
để tụ sức danh tit, tro tir gu dugc ding dé biểu thị chủ ngữ, và do phạm vi ảnh hưởng hẹp, nó có khả năng đảm bảo được kết cấu ngữ nghĩa của toàn câu Ví dụ:
+ Sensei-wa kimi-ga kaita nikki-wo
yondeita yo (Thầy giáo đã đọc quyển
hat ky ma cậu viết rồi.) :
* Tanaka san-ga kita hi-wa nannichi deshita ka?(Ngày md anh Tanaka đến là ngày mùng mấy nhỉ?)
8.2 Mệnh để phụ chỉ điều kiện
Câu điều kiện là câu có hai mệnh đề: mệnh đẻ phụ chỉ điểu kiện và mệnh đề chính chỉ kết quả của điều kiện đó Chủ ngữ của mệnh đề phụ chỉ điều kiện được
biểu thị bằng trợ từ ga Ví đụ:
© Anuta-ga kaeba, watashi-mo kaimasu (Nếu cậu mua thì tớ cũng
mua.)
* Ano hito-ga kuru-fo, 1stumo ya na koto ga arimasu (Hễ người ấy đến là lại
có chuyện phiền phức.)
gòkaku
50 NGHIÊN Cứu HHậT BảN Vũ ĐỒNG BAC đ, SỐ 3(39) 62007
Trang 9Trợ từ Wa và Ga
8.3 Mệnh đề phụ chỉ nguyên nhân
Cau chỉ nguyên nhân cũng có hai
mệnh để: mệnh đề phụ chỉ nguyên nhân
và mệnh để chính chỉ kết quả của
nguyên nhân đó Chủ ngữ trong mệnh để
,chỉ nguyên nhân được đánh dấu bằng trợ
tte ga Vi du:
*Otdsan-wa watashi-ga isshokenmei-
ni benkyd suru ka do ka shiritai-node,
tegami-wo dashimashita (Vì muốn biết
tôi có học hành chăm chỉ không nên bố
đã viết thư.)
Tuy nhiên, nếu như chủ ngữ của
mệnh để phụ trùng với chủ ngữ của câu
thì lúc này phải sử dụng trợ từ wa, nếu
không sẽ gây ra sự mơ hồ về nghĩa Ví
dụ, câu “Vì chúng tôi lần đầu tiên gặp
mùa đông nên (chúng tôi) không chịu
được rét” là câu đồng chủ ngữ trong cả
hai mệnh đề chính-phụ nên nếu dùng trợ
từ gơ ở mệnh để phụ sẽ gây nên sự sai
lạc về nghĩa như sau:
*® Wutashi tachi-gq fuyu-wa hajimete
desu kara, mada samusa-ni tarimasen
(Vì chúng tôi lần đầu tiên gặp mùa
đông, nên (¿¿ đó) không chịu được rét.)
Câu đúng phải là:
¢ Watashi tachi-wa fuyu-wa hajimete
desu kara, mada samusa-ni tarimasen
9 Trợ từ ga được sử dụng trong
một số cụm từ cố định
Trong tiếng Nhật tồn tại một số tập
hợp từ hay mệnh để mang ý nghĩa cố
dinh nhu: chéshi-gu ii (tinh trạng tốt),
kibun-ga warii (khó chịu, mệt mỏi),
memui-ga suru (hoa mắt, chống mặt),
ki-ga mijikai (néng tinh), ki-ga au (hợp
nhau), kuchi-ga umai (có duyên nói
chuyén), nioi-ga suru (cé mii), aji-ga
suru (CÓ vi), oto-ga suru (cé tiéng
động)
* Nan da ka kibun-ga warui na
(Không hiểu sao (tôi) thấy khó
chịu quá.)
¢ Kanojo-wa kuchi-ga umai
(Cô ta có duyên nói chuyện.) + Bara-wa ii nici-ga suru
(Hoa héng cé mii thom.) Hai tro tit wa va ga tuy thuée cac
nhóm chức năng khác nhau và biểu đạt
những ý nghĩa khác nhau, nhưng thường
bị người sử dụng nhầm lẫn do có khả năng luân phiên thay thế nhau trong một
số trường hợp Trình bày một cách khái
quát những trường hợp sử dụng điển
hình của hai trợ từ này, có so sánh, đối
chiếu với các hình thức biểu đạt trong tiếng Việt ở cấp độ câu, bài viết hy vọng phần nào cung cấp được những tư liệu giúp cho những người học tiếng Nhật tránh được lỗi khi sử dụng chúng./
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
1 Kitagawa Chino Trợ r NXH Arau Take, 1988 (Tiếng Nhật)
2 Chino Naoko Cách dạy trợ từ cho người nước ngoài Thư viện Pusashino,
1992 (Tiếng Nhật)
3 Tạp chí Tiếng Nhật (Nihongo
Journal) Cac s6 nim 1995 NXB Space
ALC, 1995 (Tiéng Nhat)
4 Cao Xuân Hạo Tiếng Việt Sơ thdo
ngữ pháp chúc năng (tập 1) NXB Khoa học
Xã hội, 1901
5 Nguyễn Thị Việt Thanh Một số nét khái quát về thành phần chủ đề trong câu tiếng Nhật Tạp chí Ngôn ngữ số 1, 1997
6 Nguyễn Minh Thuyết Máy ý kiến về
chủ ngữ trong tiếng Việt Những vấn đề ngữ văn trong nhà trường Sở Văn hoá thông tin Bắc Thái, 1983 :
7 Ngô Hương Lan Trợ từ tiếng Nhật trong câu (so sánh tương ứng với tiếng Việt) Luận án thạc sĩ ngôn ngữ học, 1998
8 Lé Thi Thuy Duong Tro tit wa va ga Luận văn cử nhân, 2000 (Tiếng Nhat)
NGHIEN COU NHAT BAN V4 DONG BAC 4, SỐ 3(39) 6-2007 51