BÀI TẬP TÓM TẮT SÁCH Tên sách Tư duy nhanh và chậm Tác giả Daniel Kahneman Mở đầu, Daniel Kahneman nói về cơ chế tư duy nhanh Sự hình thành hai hệ thống tư duy là Hệ thống 1 và Hệ thống 2 Hệ thống 1 H[.]
Trang 1BÀI TẬP TÓM TẮT SÁCH
Tên sách: Tư duy nhanh và chậm Tác giả: Daniel Kahneman
Mở đầu, Daniel Kahneman nói về cơ chế tư duy nhanh Sự hình thành hai hệ thống tư duy
là Hệ thống 1 và Hệ thống 2
Hệ thống 1: Hoạt động theo cơ chế tự động và mau lẹ, với rất ít hoặc hầu như không cần
cố gắng và không tự động kiểm soát
Hệ thống 2: Tập trung chú ý đối với những hoạt động tư duy đòi hỏi sự nỗ lực, bao gồm những phép tính phức tạp Có thể hiểu rằng, hệ thống 2 đảm nhiệm phần tự chủ trong mỗi chúng ta
Chúng ta sẽ không thể vừa lái xe rẻ trái vừa thực hiện một phép tính nhân với nhiều con số
Hãy xem hai đoạn thẳng a b bên dưới, theo bạn đoạn nào sẽ dài hơn?
a
b
Đúng như tác giả kỳ vọng, thoạt nhìn mọi người đều cho rằng a<b và đó là kết luận từ hệ thống 1 của bạn Nếu đo đạc cẩn thận thì 2 đoạn này có độ dài như nhau
Câu trả lời đầu tiên bạn đưa ra không đòi hỏi sự cố gắng và đồng tử trong mắt bạn không giãn ra, nhưng khi đo đạc cẩn thận và so sánh thì bạn phải tập trung khiến đồng tử gian ra và
co lại khi kết thúc đo đạc
Quy luật phổ biến về việc “huy động ít sự nỗ lực” áp dụng được trong cả lĩnh vực nhận thức lẫn thể chất là nếu có nhiều cách để đạt được mục tiêu con người ta sẽ chọn thực Chỉ
có Hệ thống 2 mới hoạt động tuân theo các nguyên tắc, so sánh các đối tượng trên vài tiêu chí khác nhau và đưa ra những lựa chọn hợp lý nhất giữa các phương án Hệ thống 1 nó chỉ đơn giản là phát hiện ra các mối liên hệ và nổi trội hơn ở khoảng phân tích thông tin về một vấn đề, nhưng không thể xử lý nhiều chủ đề cùng một lúc
Để duy trì một hoạt động liên tục đòi hỏi sự nỗ lực tự chủ hơn nhiều so với khả năng tự nguyện tập trung Một khái niệm khác đặc sắc trong chương 3 này- dòng chảy Ở trong dòng chảy ta tập trung cao độ không biết mệt mỏi khiến họ đánh mất cảm giác về thời gian, về bản thân, về cả rắc rối cá nhân Ta sẽ cảm thấy vui sướng khi ở trong tình trạng ấy Rất nhiều hoạt động có thể tạo ra cảm giác dòng chảy như : vẽ tranh, đua mô tô hay viết sách,
HỆ THỐNG 2- BẬN RỘN VÀ SUY YẾU
Tự kiểm soát đòi hỏi sự tập trung và nỗ lực- nói cách khác kiểm soát suy nghĩ và hành vi
Trang 2do hệ thống 2 đảm nhiệm Nhóm nghiên cứu của Baumeister và đồng nghiệp đã chứng minh được việc bạn cố gắng nỗ lực hoặc tự chủ khiến bạn cảm thấy mệt mỏi Hiện tượng này được đặt tên là ego depletion (Sự suy yếu bản ngã) Không những thế, nhóm
Bausmeister còn phát hiện ra được vai trò khá quan trọng của đường Glucose Dự trữ một lượng đường phù hợp trong não bộ sẽ ngăn sự suy yếu
Thường mọi người tự tin thái quá, đặt quá nhiều lòng tin vào trực giác của bản thân
Hệ thống 2 khá “lười biếng” rõ ràng chúng ta có thể nỗ lực tư duy, dù ở mức độ tối thiểu, nhưng chúng ta lại khó chịu với việc tư duy và cố tránh đụng độ với nó càng ít càng tốt
Hệ thống 1 thì bốc đồng và trực giác; Hệ thống 2 thì có khả năng lý trí và rất thận trọng Những người có khả năng kiềm chế bản thân, tập trung tốt hơn về cơ bản sẽ đạt được những thành tích cao hơn trong các bài kiểm tra trí tuệ
Sự kích hoạt liên tưởng: ý tưởng này là điểm khởi phát cho rất nhiều ý tưởng khác, chúng xuất hiện ào ạt như thác đổ trong trí não của chúng ta Ba nguyên tắc của sự liên tưởng: sự tương đồng, sự liên tưởng về mặt thời gian, địa điểm và tính hệ quả Thật chất
“bạn hiểu về bản thân ít hơn nhiều so với bạn tưởng”
Ví dụ: Khi nói đến cụ già chúng ta có thể đi chậm hơn sau đó-hiệu ứng mồi Hiệu ứng mồi rất kì diệu, khi nghe “ dù có thế nào cũng hãy cố gắng cư xử bình tĩnh và hòa nhã” ta dường như được đền đáp bằng cảm giác bình tĩnh và hòa nhã vậy.
Thả lỏng là dấu hiệu cho thấy mọi thứ đang diễn ra bình thường Căng thẳng là dấu hiệu cho thấy có vấn đề xuất hiện, đòi hỏi hệ thống 2 phải tăng cường cảnh giác Căng thẳng và nỗ lực: người ta nhận thấy sự xuất hiện của nhận thức căng khi bộ máy nỗ lực của hệ thống 2 tham gia vào quá trình nhận thức Khi con người cảm thấy căng thẳng, bộ não có xu hướng khởi động hệ thống 2, biến đổi cách tiếp cận của cá thể từ chế độ bản năng thông thường sang chế độ bản năng phân tích cẩn thận hơn
Thả lỏng, tâm trạng và trực giác: Tâm trạng có ảnh hưởng đến hệ thống 1; khi chúng ta cảm thấy không thỏa mái, không vui chúng ta đánh mất sự nhạy cảm của trực giác
từ khi sinh ra chúng ta đã có ấn tượng về quan hệ nhân quả, mà không phụ thuộc vào ý thức về sự tồn tại của nó Chúng ta thường không chấp nhận được sự thật đơn giản-thiếu may mắn, ta luôn cần một nguyên nhân cụ thể lí giải cho sự thật đó
Một quyết định rõ ràng đã được đưa ra nhưng ta không hề biết Hệ thống 1 không có những phương án thay thế, thậm chí nó còn không nhận thức được thực ra còn có những phương án khác Ý thức về hoài nghi vốn không có trong danh mục của Hệ thống 1; Sự
mơ hồ và hoài nghi thuộc về chức phận của Hệ thống 2
Sai lệch trong niềm tin và khẳng định:
Khi Hệ thống 2 đang bận rộn với một nhiệm vụ nào đó, chúng ta sẽ tin tưởng hầu hết mọi thứ Hệ thống 1 vốn có xu hướng cả tin vào những sai lệch mang tính hệ thống, còn
Hệ thống 2 thì đảm nhận vai trò hoài nghi và ngờ vực, nhưng đôi khi Hệ thống 2 bị bận rộn và thường xuyên lười biếng Thực vậy, thực tế con người dường như bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi những thông điệp vô nghĩa, như các quảng cáo thương mại, nhất là khi họ đang mệt mỏi và kiệt sức
Hệ thống 2 chịu trách nhiệm, với khả năng phản kháng lại những đề xuất từ Hệ thống
1, chậm rãi xử lý mọi thứ và áp đặt những phân tích logic Suy nghiệm là một trong
Trang 3những chức năng của Hệ thống 2 Trong những hoàn cảnh nhất định, Hệ thống 2 giống nhà biện hộ cho xúc cảm của Hệ thống 1 hơn là một nhà chỉ trích những cảm xúc ấy và
nó giống một nhà bảo lãnh hơn là một người thúc ép
Hệ thống 1 vô cùng quen thuộc với một dạng thức tư duy được nhận diện một cách tự động và dễ dàng liên kết nhân quả giữa các biến cố Chúng ta có thể thất bại trong việc kiểm định một giả thuyết mà trong thực tế giả thuyết này đúng Việc sử dụng một lượng mẫu đủ lớn là cách duy nhất nhằm giảm thiểu rủi ro này Hệ thống 1 chạy trước thực tế trong hoạt động tạo lập một hình ảnh sống động dựa trên sự phiên giải của những dấu hiệu rời rạc Một cách vô thức đối với việc đi tới các kết luận sẽ diễn ra như thể nó đã tin vào quy luật số nhỏ
Có hai cơ chế khác nhau tạo ra hiệu ứng mỏ neo-mỗi cơ chế dành cho một hệ thống Một dạng thức của mỏ neo diễn ra trong quá trình điều chỉnh thận trọng, hoạt động của hệ thống 2 và có một loại neo đậu xảy ra bởi một hiệu ứng mồi, một biểu hiện tự động của
hệ thống 1 Mỏ neo để điều chỉnh: nó bao hàm sự điều chỉnh hệ thống 2 có chủ đích trong
sự định hướng trên lý thuyết từ một điểm mỏ neo Mỏ neo tạo hiệu ứng mồi: Sự gợi ý và neo đậu cùng được lý giải bởi cùng một sự vận hành tự động của hệ thống 1
Cho tới thời điểm này, bạn có thể được cam đoan rằng các hiệu ứng mỏ neo đôi lúc do hoạt động mồi (gợi ý), đôi lúc do sự điều chỉnh không đủ có ở khắp nơi sinh ra Các vận hành về mặt tâm lý này sản sinh ra sự mỏ neo, khiến chúng ta dễ bị ảnh hưởng nhiều hơn những gì phần lớn chúng ta mong muốn Và dĩ nhiên chỉ có số ít người có khả năng và thích thú khai thác sự cả tin của chúng ta
Chúng tôi đã thấy trong thảo luận về “quy luật số nhỏ” rằng một thông điệp, trừ khi nó
bị loại bỏ ngay lập tức như thể một lời nói dối, sẽ có cùng một tác động lên hệ thống liên tưởng bất chấp độ tin cậy của chúng Tuy nhiên, bạn nên thừa nhận rằng bất cứ con số nào xuất hiện trên bàn đàm phán đều có một hiệu ứng neo đậu lên bạn và nếu những tỷ lệ
ấy quá cao bạn nên vận động bản thân (Hệ thống 2 của bạn) chiến đấu với hiệu ứng ấy Quá trình dẫn tới phán quyết thông qua tính sẵn có dường như có liên quan tới một chuỗi lập luận phức hợp Các chủ thể có được một sự trải nghiệm về tính liền mạch giảm dần khi họ sản sinh ra các tình huống Họ hiển nhiên có những kỳ vọng về thang điểm mà tại
đó tính liền mạch bị suy giảm, và những kỳ vọng này là sai: Nỗi khó khăn của việc bắt kịp với những tình huống mới gia tăng nhanh chóng hơn họ dự tính Đó là tính liền mạch thấp bất ngờ khiến cho những người đã được yêu cầu liệt kê mười hai tình huống để mô
tả bản thân mình như là kém quyết đoán Khi điều bất ngờ được loại bỏ, tính liền mạch thấp không còn ảnh hưởng tới sự xét định Quy trình này có vẻ như bao hàm một chuỗi các kết luận phức tạp Liệu Hệ thống 1 tự động có đủ khả năng? Câu trả lời đó là trong thực tế không có bất cứ lập luận phức hợp nào được dùng đến Đặc trưng cơ bản của Hệ thống 1 là có khả năng thiết lập ra các kỳ vọng và bị làm cho ngạc nhiên khi những kỳ vọng này bị xâm phạm Cơ chế này cũng tìm ra các lý do có thể đối với một điều ngạc nhiên Hơn thế nữa, Hệ thống 2 có thể điều chỉnh nhanh chóng những kỳ vọng của Hệ thống 1, bởi vậy một biến cố mà thông thường đã có thể gây ngạc nhiên thì giờ đây gần như là rất đỗi bình thường
Những phương pháp suy nghiệm dựa trên giá trị sẵn có và tác động nó dẫn dụ niềm tin của công chúng và những quan điểm ấy chắc hẳn bị sai lệch, ngay cả khi họ thường được
Trang 4chỉ đúng đường Tâm lý học nên cảnh báo về ý định của các chính sách rủi ro vốn được kết hợp từ sự am tường của các chuyên gia với các cảm xúc và khả năng trực giác của công chúng Đây là một tầng (thác) giá trị sẵn có: một điều trái với dự đoán, nó bị thổi phồng bởi giới truyền thông và công luận cho tới khi nó tràn ngập trên màn hình TV của chúng ta và trở thành vấn đề bàn luận của tất thảy mọi người
Khi một phân tích không chính xác thuộc về trực giác được tạo ra, Hệ thống 1 và Hệ thống 2 đều nên bị quy kết Hệ thống 1 đã gợi ra trực giác không chính xác và Hệ thống 2
đã tán thành theo nó và đã thể hiện nó trên một phân tích Tuy nhiên, ở đây có hai lý do giải thích hợp lý cho sự thất bại của Hệ thống 2, đó là do vấn đề này nằm ngoài khả năng của nó hoặc do nó lười biếng không chịu vận động
Để ngăn chặn phản đối tiềm tàng mà sự liên tưởng ngụy biện cũng có thể là do một sự hiểu sai về xác suất, chúng tôi đã dựng nên một luận đề đòi hỏi có những phân tích về xác suất, nhưng tại đó các biến cố đã không được miêu tả bằng lời và thuật ngữ xác suất đã không hề xuất hiện Cho thấy, cái ít hơn là cái giá trị hơn, đôi lúc ngay cả trong sự đánh giá chung
Trong hầu hết các tình huống, một sự so sánh trực tiếp khiến người ta cẩn trọng hơn và logic hơn Nhưng không phải luôn luôn vậy Đôi lúc khả năng trực giác đánh bại tính logic ngay cả khi câu trả lời đúng đã hiện rõ trước mắt bạn
Nói về quan hệ nhân quả lấn át thống kê:
Có hai dạng hệ số gốc: Hệ số gốc thống kê là những hiện thực về độ phổ biến nói chung của một đối tượng, nhưng không thích hợp để miêu tả về một trường hợp cá biệt, ít được coi trọng; Hệ số gốc nhân quả thay đổi quan điểm của bạn về một tình huống cá biệt nảy sinh như thế nào?
Về mặt đạo đức, khi đánh giá về một nhóm, nên tính đến các hệ số gốc như những thực
tế mang tính thống kê, thay vì dựa trên những thực tế giả định về một số cá nhân Nói cách khác là sự phản đối các hệ số gốc nhân quả Hệ thống 1 dàn xếp với những câu chuyện tại đó các yếu tố được liên kết với nhau theo quan hệ nhân quả, nhưng lại yếu thế trong lập luận thống kê Hệ số gốc nhân quả được vận dụng; các hiện thực thống kê bị bỏ qua
Người ta sẽ không đưa ra một kết luận dựa trên hệ số gốc mà nó lại bị mâu thuẫn với những niềm tin khác Qua đó các chủ thể miễn cưỡng rút ra kết luận về một trường hợp
cụ thể từ tổng thể nhưng lại sẵn lòng suy ra vấn đề tổng thể từ một trường hợp cụ thể Tiếp nối một màn trình diễn kém thương là một màn trình diễn tiến bộ và ngược lại, kết quả đó chẳng liên quan đến thưởng phạt Đó là hồi quy về mức trung bình
Thành công = may mắn + tài năng.
Bạn quan sát thấy sự hồi quy khi bạn dự đoán một biến cố trước đó và từ một biến cố sau đó sẽ có thể thuyết phục rằng sự hồi quy không phải là lời giải thích cho nguyên nhân
Các lí giải mang tính nhân quả sẽ lộ diện khi sự hồi quy bị phát hiện Hệ thống 2 khó để hiểu và lĩnh hội mối quan hệ giữa hệ số tương quan và sự hồi quy bởi sự lí giải nhân quả của hệ thống 1 Nhiều phán đoán được chi phối bởi sự kết hợp giữa các phân tích và trực giác Hệ thống 1 gây ra sự hoán đổi giữa việc đưa ra dự đoán và đánh giá Quá trình này
Trang 5đảm bảo sinh ra những dự đoán sai lệch mang tính hệ thống, chúng phớt lờ quy luật hồi quy về mức trung bình Phương pháp điều chỉnh trực giác khi dự đoán sẽ xây dựng dựa trên trực giác của bạn nhưng nó tiết chế và chuyển dịch về mức trung bình
Nếu dự đoán của bạn không sai lệch, bạn sẽ không bao giờ có được trải nghiệm thỏa mãn hoàn toàn khi đưa ra dự đoán cực đoan mà hoàn toàn chính xác Các dự đoán cực đoan và sự sẵn sàng dự đoán các biến cố hiếm từ bằng chứng kém xác thực là biểu hiện của hệ thống 1 Hệ thống 2 cần có sự tôi luyện đặc biệt về sự hồi quy
Đối với ảo tưởng về sự hiểu biết:
Taleb cho rằng chính loài người tự lừa dối bản thân bằng cách tạo dựng cho quá khứ những giá trị mơ hồ và tin tưởng rằng đó là sự thật Hiệu ứng hào quang giải thích việc bạn không xử lí được với lượng thông tin giới hạn và bạn xây dựng một câu chuyện khả thi, đơn giản dễ hiểu, mạch lạc Chúng ta tự an ủi rằng mọi thứ có nghĩa xuất phát từ sự tìm kiếm an toàn: chúng ta vô tri trước sự vô tri của chính chúng ta
Hệ quả của việc không thể khôi phục hoàn toàn niềm tin cũ là bạn sẽ đánh giá thấp những biến cố từng khiến bạn ngạc nhiên trong quá khứ Sai lệch nhận thức muộn khiến những nhà quan sát đánh giá chất lượng của một quyết định không dựa trên quá trình mà dựa trên kết quả Chúng ta lên án những người ra quyết định vì những lí do chính đáng nhưng kết quả không như mong muốn và ít ghi nhận cho những nước cờ thành công Đó
là sai lệch vị kết quả
Mọi người luôn phóng đại tầm ảnh hưởng của các nhà lãnh đạo lên kết quả của các doanh nghiệp Đứng trước vòng quay may mắn và sự hồi quy, các mô hình thành công có thể chỉ là những ảo tưởng Ta biết các dự đoán chỉ khá hơn những phỏng đoán ngẫu nhiên một chút nhưng vẫn tiếp tục tin tưởng và hành động như thể nó là đúng Đó là ảo tưởng
về tính xác thực
Lĩnh vực chứng khoán (CK) được xây dựng phần lớn dựa trên một ảo tưởng kĩ năng Rất ít trong số những tay chơi CK hiểu được họ đang chơi trò may rủi Các nghiên cứu thống kê hành vi cung cấp thông tin cơ bản mà người ta thường lờ đi khi chúng xung đột với những ấn tượng có được từ sự trải nghiệm của cá nhân họ Những lí do hổ trợ cho ảo tưởng là: những nhà tư vấn CK đang thực hành những kỹ năng cấp cao nhưng điều đó là chưa đủ để thành công và văn hóa nghề nghiệp
Không thể tránh khỏi sai lầm trong dự báo vì thế giới quá khó lường, không thể coi sự chắc chắn mang tính chủ quan là một dụng cụ đo lường chính xác Không trông đợi các
dự đoán dài hạn của các học giả, dù các dự đoán ngắn hạn của họ có giá trị
Trong “Môi trường có độ chắc chắn thấp”, độ chính xác của các chuyên gia chỉ bằng hoặc kém hơn kết quả do thuật toán đưa ra Lí do là: suy nghĩ phức tạp của các chuyên gia có lẽ hiệu quả trong trường hợp riêng lẻ, nhưng làm giảm đi sự chắc chắn; sự mâu thuẫn khi phải đưa ra các ý kiến tức thời trước những thông tin phức tạp Trong môi
Trang 6trường có độ chắc chắn thấp, các quyết định nên đặt vào công thức Sự thiên vị đối với tự nhiên và sự truy xét nguyên nhân gây ra các dự đoán sai là những lí do con người ác cảm với thuật toán Không nên tin tưởng dễ dàng vào thuật toán nhưng cũng không được bỏ qua nó
Mô hình “Quyết định nhận thức Mồi” gồm hai giai đoạn: 1 phương pháp chưa chắc chắn ập đến bởi chức năng của bộ nhớ liên tưởng-hệ thống 1; giả định trong đầu xem phương án có hiệu quả hay không-hệ thống 2 Trực giác không phải cái gì khác mà là nhân thức Biết mà không biết là phẩm chất của trực giác, là 1 phạm trù bình thường Một số trực giác có thể tôi luyện và đạt được nhờ khả năng lĩnh hội của sợ hãi: gán 1 trực giác cho cảm giác nếu nó gắn với trải nghiêm xấu và nhờ vào ngôn từ
Hai điều kiện hình thành kỹ năng: môi trường có đủ quy luật để đưa ra dự báo, cơ hội
để học hỏi những quy luật thông qua luyện tập Cơ hội để bồi đắp trực giác phụ thuộc vào chất lượng, tốc độ phản hồi, tình huống thích đáng để thực hành Không biết giới hạn bản thân lí giải tại sao các chuyên gia thường quá tự tin ở bản thân
Cái nhìn từ bên trong của Daniel Kahneman và Amos nói đến đó là sự quyết định của
họ, tự nguyện, ‘chấp thuận nhận định về tương lai của dự án mà chúng tôi theo đuổi’ Ngoại suy là một sai lầm, họ đã dự báo dựa trên thông tin trước mắt: sách - vài chương đã được soạn trước đó nhưng chúng dễ hơn những chương sau, tinh thần và trách nhiệm, sự tận tâm đối với dự án ở đỉnh cao và từ đó dẫn đến sai lầm trong suy nghĩ ‘không có cách nào để chúng tôi có thể đoán trước được dự án phải kéo dài quá lâu vì có những biến cố xuất hiện (ví dụ :ly hôn, ốm đau, thủ tục hành chính ) khi đối diện với cái nhìn từ bên ngoài và cái nhìn bên trong thì cái nhìn từ bên ngoài luôn bị phớt lờ hoặc được chú ý nhưng ở vị trí yếu thế, có thể nói là không chút cơ hội để cái nhìn bên ngoài có thể giành chiến thắng
Mọi người đã đưa ra quyết định của mình dựa trên sự lạc quan ảo tưởng hơn là cân nhắc lý trí về lợi ích có được khi thành công và tổn thất ( cái giá phải trả) cho sự thất bại
và khả năng xảy ra của từng trường hợp Có lẽ là tất cả mọi người đều ước tính rất cao về lợi ích và đánh giá rất thấp về chi phí mà họ phải trả, chỉ nghĩ đến thành công mà không nghĩ sẽ thất bại và bỏ qua rất rất nhiều sai sót tiềm ẩn hiện tại và tương lai và đén cuối cùng dẫn đến sự sai lầm
Con người luôn thực hiện những hành động và ra quyết định quá chủ quan Chỉ dựa vào những thông tin trước mắt mà không nhìn đến những nguồi thông tin khác đã có quyết định chủ quan dựa trên sự lạc quan quá mức Họ luôn đặt mình vào những trường hợp không chắc phần thắng với sự ngoan cố, chỉ nghĩ đến thắng mà không nghĩ đến thua
Đó là biểu hiện của sự ‘Quá liều lĩnh’ Khi đặt chân vào thị trường, mọi người điều chăm chút đến sự sinh lợi,tồn tại và làm sao phát triển cái mà mình đang thực hiện nhưng lại quên mất rằng xung quanh họ cũng không ít người cũng muốn điều tương tự con người luôn đặt sự liều lĩnh của mình lên hàng đầu và luôn nghĩ ‘ số mệnh của họ gần như nằm trong tay họ’ điều họ nghĩ là đúng nhưng họ hầu hết điều không nhìn, nghĩ đến việc
Trang 7mình có bao nhiêu đối thủ ngoài kia và họ mạnh hay yếu hơn mình, sự cạnh tranh có gọi
là công bằng với họ ??? Đó gọi là sự sao nhãng cạnh tranh- là yếu tố làm nên việc ‘số
mệnh của họ gần như nằm trong tay họ’ Họ quên đi việc mình phải cạnh tranh và sao
nhãng nó có thể làm bạn mất đi tất cả và dẫn đến thất bại
Xem ví dụ của Bernoulli :
‘Tài sản hôm nay của Jack và Jill là 5 triệu như nhau.
Ngày hôm qua, Jack có 1 triệu và Jill có 9 triệu
Câu hỏi là ‘ mức thỏa mãn của họ có như nhau ?’
Theo học thuyết của Bernoulli giả thiết rằng thỏa dụng của khối tài sản là những gì khiến người ta thỏa mãn hơn hoặc ít thỏa mãn hơn thì ở trường hợp này cả Jack và Jill đều có thỏa mãn như nhau, đúng như vậy không? Tất nhiên là không vì Jill của ngày hôm nay không vui, thấy chán nản vì hụt 4 triệu và Jack vui khi có thêm 4 triệu Có ai cảm thấy vui khi tài sản hao hụt, thất thoát? có thể học thuyết Bernoulli sai trong trường hợp này Thử ví dụ khác:
‘Hiện tại Anthony và Betty có lượng tài sản lần lượt là 1 và 4 triệu.
Họ sẽ từ bỏ tài sản hiện tại để nhận lấy một lựa chọn trong hai rằng : nếu
không tham gia may rủi thì sẽ nhận giá trị chắc chắn là 2 triệu và nếu tham
gia may rủi thì với tỷ lệ 50/50 họ sẽ nhận 1 trong 2 giá trị là 1 triệu với 4
triệu.’
Ở trường hợp này bạn có nghĩ Betty sẽ tham gia lựa chọn không trong khi tài sản sẽ bị mất ? Betty sẽ mất 2 triệu nếu chọn giá trị chắc chắn và có thể mất 3 triệu hoặc tài sản giữ nguyên nếu tham gia may rủi Betty sẽ không tham gia lựa chọn trong tình huống này Còn Anthony thì chắc chắn có vì cơ hội nhận thêm tài sản là chắc chắn Nếu lựa chọn may rủi thì Anthony không mất tiền mà có 50% tăng thêm 3 triệu nếu Anthony nhận giá trị chắc chắn thì lượng tài sản cũng tăng thêm 1 triệu đứng trên lập trường của mỗi người thì với Anthony sẽ nghĩ giá trị mình đạt được và Betty sẽ nghĩ mình bị mất bao nhiêu Từ
đó ta thấy được cùng ở trạng thái tài sản như nhau nhưng tâm lý là khác nhau Học thuyết Bernoulli vẫn thiếu sót
Bàn về lý thuyết triển vọng:
Lý thuyết triển vọng phức tạp hơn học thuyết thoả dụng Thuyết triển vọng giữ một vai trò thiết thực khi đánh giá về những kết quả tài chính và trở nên phổ biến đối với rất nhiều quy trình tự động về nhận thức, phán quyết và cảm xúc Các đặc điểm vận hành: Sự đánh giá có liên quan đến một điểm tham chiếu trung lập, đôi khi được biết đến như là một " mức thích nghi" Nguyên lý về việc làm giảm độ nhạy được áp dụng trong cả khía cạnh cảm giác lẫn sự đánh giá về khả năng thay đổi tổng tài sản Tâm lý sợ sự mất mát, bao giờ con người cũng cảm thấy cái mất đi luôn lớn hơn cái được Đứng trước mọi sự việc, con người luôn có phản ứng rất mạnh mẽ với sự thất bại hơn là phản ứng với sự thành công, lợi ích có được
Con người luôn có tâm lý sợ sự mất mát là do sự tổn thất, mất đi trong sự việc luôn hiện hình rõ hơn những lợi ích mà ta thu được Ví dụ: Trò chơi may rủi với 50% mất
Trang 8100$ và 50% có được 200$ Con người sẽ không tham gia Hay ví dụ khác là 50% mất 200$ và 50% nhận 20.000$ thì trường hợp này lại khác, con người sẽ không bỏ qua trò chơi này vì giá trị nhận được hiện thị rất rõ và lôi cuốn sự nhiệt huyết trong con người để tham gia
Khi trong tay của mỗi người sở hữu một thứ gì đó mà đối với họ có giá trị và được xem
là quan trọng với họ nhưng có người lại đề nghị trao đổi hoặc mua bán lại với thứ khác
mã bạn cũng cần hay giá trị cao hơn thì nay lúc này con người xuất hiện trạng thái phân vân, cân đo đong đếm để ra quyết định nhưng khi quyết định thì tâm trạng rất miễn cưỡng với cuộc trao đổi hay mua bán vì tâm lý sợ sự mấy mát vẫn hiện hữu trong họ Một thương gia, góc nhìn của họ luôn hướng về lợi nhuận tối đa mà họ được nhận Họ chỉ thực hiện giao dịch, cuộc trao đổi khi họ cảm thấy họ có lợi còn đối với sự mất mát của họ, họ luôn cân nhắc rất kỹ để quyết định của họ không gây thổn thất cho họ Không chỉ những thương gia mới có suy nghĩ đó mà bất kì ai cũng có suy nghĩ như thế, không ai muốn mình bị thổn thất, mất mát Thực tế thì vẫn có những người ra quyết định đều phải nhận lấy tổn thất vì chi phí của họ bỏ ra lúc nào cũng là tổn thất nên những việc chọn lấy hay từ bỏ cũng là tổn thất cho dù cái họ suy nghĩ là lợi ích như những thương gia, họ là những người nghèo
Chúng ta luôn bị thôi thúc mạnh mẽ để tránh những tổn thất hơn là để đạt được mục tiêu, những lợi ích Điểm tham chiếu là điểm thể hiện ranh giới của sự mất mát và những lợi ích Con người thường bị sự sợ hãi với tổn thất, họ luôn hướng đến điểm tham chiếu bằng cách làm thế nào để tránh được sự tổn hại còn hơn là duy nghĩ làm sao để đạt được mục tiêu và những lợi ích
Đối với mỗi người sẽ đối mặt với những lựa chọn mà trong đó sự tổn thất không hề giống nhau, những con người vẫn phải chấp nhận những sự tổn thất đó trong một số trường hợp bắt buộc bởi do có sự bảo vệ của pháp luật cũng như sự tác động ngược lại từ những hành vi đó của con người đến pháp luật hiện hành
Con người sẽ không bao giờ chấp nhận đầu hàng khi còn chút cơ hội để lật ngược tình thế Đó là tâm lý muốn thay đổi, tìm kiếm vận may khi đối mặt với sự mất mát Mô hình bốn phần là một mô hình thể hiện các hướng mà con người có thể đưa ra lựa chọn, dựa trên tâm lý trốn tránh, tránh né sự tổn thất và muốn đạt được những lợi ích hay các mục tiêu đã đưa ra Con người bị ám ảnh với sự mất mát và sự được hơn là tài sản, họ đánh giá kết quả theo các trọng số không đồng nhất với xác suất
Việc đặt trọng số quá mức lên nguy cơ nhỏ của một vụ thua kiện lớn thiên về sự ác cảm rủi ro và sự dàn xếp một khoản tiền vừa phải tương đương với việc mua bảo hiểm nhằm đối phó với biến cố không chắc xảy ra là một phán quyết bất lợi Phép phân tích tương tự được ứng dụng vào từng ô trong mô hình bốn phần: Những sai lệch có hệ thống với giá trị dự tính thật tốn kém trong thời gian dài và quy tắc này ứng dụng cho cả sự ác cảm rủi
ro lẫn tìm kiếm rủi ro Việc đặt trọng số quá mức một cách kiên định vào những kết quả không chắc, một đặc thù của hoạt động ra quyết định theo trực giác kết cục là dẫn tới những kết quả bi đát
Gần đây, Isarel hay xảy ra các vụ đánh bom trên xe buýt, có khảng 1.3 triệu người đi xe buýt nên nguy cơ đánh bom là rất cao Và như vậy tác giả phải lái xe và đi né những chiếc xe buýt mỗi khi gặp đèn đỏ Đây là sự đánh giá cao và trọng số vượt mức về vụ tai
Trang 9nạn có thể xảy ra trên xe buýt Bên cạnh đó, Các xác suất sinh động như đặt ra hai phần thưởng A lọ có 10 viên bi và trong đó 1 viên bi màu đỏ chiếm 0.1%, lọ có 100 viên bi trong đó có 8 viên bi màu đỏ chiếm 0.08% Như trường hợp này người ta thường chọn lọ chứa 100 viên bi vì có nhiều kết quả thắng hơn
Góc nhìn bó hẹp và bao quát trong một trò chơi tung con xúc sắc, nếu bạn thắng bạn có
$200 và nếu bạn thua bạn mất $100 Đa số mọi người đều không thích rủi ro và tất nhiên thõa mãn từ việc nhận $200 sẽ nhỏ hơn so với việc mất đi $100 với 50% thắng 50% thua Tuy nhiên, ở góc nhìn bao quát, khi tung đồng xu lên 2 lần 3, lần thì tại lần 3 kết quả 12.5% thua 300 - 37.5% hòa - 37.5 thắng $300 - 12.5% thắng 600 Kết quả đã khả quả hơn Đây là góc nhìn bao quát Khi tung càng nhiều lần thì rủi ro thua cuộc sẽ càng thấp dần
Có 2 người bạn đều hâm mộ thể thao, một người bỏ $200 để mua một vé xem trận chung kết bóng rổ một người bạn còn lại được người quen tặng cho một vé xem trận chung kết bóng rổ Hôm đó trời bão tuyết lớn, để xem được trận bóng rổ thì cả hai phải vượt qua quãng đường 40 dặm Như vậy theo bạn ai sẽ là người đi? Tất nhiên người bạn trả tiền cho tấm vé chung kết sẽ quyết tâm đi và anh ta đã bỏ qua nguy hiểm liên quan đến tính mạng khi vượt qua cơn bão tuyết vì $200 và đây là chi phí anh ta đã bỏ ra trước
đó được xem như là chi phí chìm Theo các nhà kinh tế, các gì đã qua đừng nên nhắc đến Như vậy, anh ta có thêm xem trận chung kết lần sau và không nên đối diện với nguy hiểm
từ chi phí chìm của tấm vé $200
Khi xem xét hai tình huống một cách riêng lẻ (1) một em bé bị bỏng ở mức độ vừa phải do bộ quần áo bắt lửa trong lúc em ấy nghịch diêm Công ty sản xuất đồ ngủ đã không làm ra những bộ đồ chống lửa một cách thõa đáng (2) những giao dịch lừa đảo của ngân hàng gây tổn thất cho một ngân hàng khác là 10 triệu đô la
Với sự đánh giá đơn lẻ, các thành viên bồi thẩm đoàn đã quyết định mức bồi thường cho ngân hàng bị lừa đảo với mức phạt cao hơn so với đứa trẻ Nhưng khi xem xét cùng lúc, sự đồng cảm cho nạn nhân bị chấn thương về thể chất chiếm ưu thế hơn và gấp đôi
so với đánh giá đơn lẻ, như vậy khi bạn đánh giá một cách riêng lẻ sẽ dễ bị dẫn dắt bởi phản ứng xúc cảm của hệ thống 1
Adam chuyển từ một xe ngốn nhiên liệu 12mpg sang một chiếc xe ít ngốn hơn ở mức
14 dặm/ga-lông và Beth người có ý thức bảo vệ môi trường, chuyển từ một chiếc xe chạy
30 dặm/ga-lông ssng một chiếc xe với 40 dặm/ ga-lông Giả định 2 bác tài chạy quãng đường như nhau Người nào sẽ tiết kiệm nhiều nhiên liệu hơn khi chuyển đổi Bằng trực giác hệ thống 1 bạn thấy Adam giảm được 1/6 nhiên liệu và còn Beth giảm được 1/3 nhiên liệu của mình Vì vậy, bạn nghĩ là Beth sẽ tiết kiệm nhiều hơn Bây giờ, với hệ thống 2, với quãng đường 1 năm là 10 000 dặm Adam sẽ tiết kiệm được 119 ga-lông xăng, Beth tiết kiệm được 83 ga-lông Như vậy, Adam là người tiết kiệm được nhiều hơn Beth
Hai phác đồ điều trị hiệu quả như nhau nhưng thời gian mỗi phác đồ sẽ khác Nếu mục tiêu là giảm thiểu ký ức của bệnh nhân về sự đau đơn sẽ kéo dài thời gian, sự đau đớn sẽ dừng lại ở điểm nhỏ khi kết thúc Nếu mục đích là giảm thiểu tổng lượng đau đớn thì sẽ tiến hành nhanh gọn Nhưng sự đau đớn sẽ dừng lại ở đỉnh điểm khi kết thúc Khi kết thúc phác đồ điều trị, người bệnh nhân kết thúc sự đau đớn điểm nhỏ sẽ thấy ca phẫu
Trang 10thuật vừa rồi dễ chịu Nhưng còn người bệnh nhân còn lại sẽ thấy ca phẫu thuật này thật
sự rất đau đớn và không muốn quay lại sử dụng phác đồ điều trị đó nữa
Một vở kịch người một cô gái phải giả vờ từ bỏ người mình yêu để theo sự sắp đặt của cha mẹ, nàng sống trong buồn bã và dẫn đến bệnh nặng Một ngày, chàng trai người yêu
cũ đã nghe tin và trở về tìm nàng Trong mười phút ngắn ngủi họ bên nhau, cô gái đã thấy những hy vọng sự hạnh phúc tình yêu cô vui vẻ tuyệt đỉnh trong mười phút cuối ấy cùng người mình yêu Dù bắt đầu câu chuyện có bi thảm buồn rầu, nhưng đoạn cuối câu
chuyện đã làm cho người xem với nhiều cung bật cảm xúc và khó quên nhất, như vậy nếu
cô ấy chết đi và không được gặp người yêu như một cuộc sống bình dị thì sẽ không có gì
để nói sau đó Chúng tôi gọi tỷ lệ phần trăm mà một cá nhân ở trạng thái khó chịu Nếu một người có 4 giờ đồng hồ trải qua trạng thái khó chịu so tổng giờ hoạt động liên tục trong một ngày là 16 giờ , thì sẽ có chỉ số U là 25% Ngoài ra chỉ số U này còn cho các hoạt động khác
Ví dụ, khảo sát 1 000 phụ nữ Mỹ thì chỉ số U lfa 29% cho việc đi lại buổi sáng, 27% cho công việc, 24% cho việc trông trẻ, 18% cho việc nội trợ, 12% cho việc giao tiếp xã hội và 5% cho việc tình dục Đối với ngày nghỉ thì chỉ số U cao hơn khoảng 6%
Thu nhập cao không phản ánh được mức thõa mãn cao Vì chúng ta đã bỏ qua dần những niềm vui nhỏ hơn của cuộc sống bình dị Tình yêu đến hôn nhân, sẽ có được bao nhiêu người cảm thấy hạnh phúc sau hôn nhân và bao nhiêu người cảm thấy hôn nhân là một sai lầm Sinh viên ngay từ giảng đường đại học đã có nhiều tham vọng về làm giàu,
tự do tài chính, sau 20 năm ra trường bao nhiêu người trong số đạt được mục tiêu tự do tài chính, những người không đạt được mục tiêu của mình thì họ có cảm thấy hài lòng với thu nhập và của cải hiện tại của họ Liệu rằng họ có cảm thấy hạnh phúc cho 20 năm sau
dù đạt và không đạt được những kết quả, mục tiêu mà họ mong muốn Hạnh phúc không mang lại một ý nghĩa giản đơn và nó không nên được dùng với ý nghĩa mà mọi người vẫn dùng Đôi khi tiến bộ khoa học khiến cho chúng ta bối rối hơn
Trên đây là bài tóm tắt của nhóm chúng em, chắc chắn sẽ có nhiều sai sót Mong thầy ghi nhận sự cố gắng của chúng em Chúng em chân thành cảm ơn!
Thành viên nhóm:
1 Cao Phong Hào (trưởng nhóm)
2 Hồ Thị Kim Nguyên
3 Lê Phan Phi Long
4 Trần Thị Hương Trà
5 Lê Hoài Diễm Phúc