Tài liệu tham khảo kinh tế đầu tư: Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Viêt Nam giai đoạn 1996 – 2005
Trang 1CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Lý do chọn đề tài:
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hiện nay, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài ( Foreign Direct Investment – FDI) đã trở thành xu thế khách quan trong
chiến lược phát triển kinh tế của nhiều quốc gia và FDI được nhìn nhận như là mộttrong những nhân tố quan trọng để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng hiệu quả Cácnước G7 như Mỹ, Nhật Bản, Đức, Anh, các Nics như Hàn Quốc, Đài Loan,Singapore và đặc biệt là láng giềng như Trung Quốc, Ấn Độ là những điển hình dẫnđầu về tiếp nhận vốn FDI Nguyên nhân là do các nước trên đã tạo lập được một môitrường đầu tư thuận lợi, theo hướng khuyến khích và ưu đãi cho các nhà đầu tư nướcngoài Như một xu thế chung ngày nay, tất cả các nước trên thế giới đều cạnh tranhnhau để thu hút được nhiều nguồn vốn FDI bằng cách không ngừng cải thiện môitrường đầu tư quốc gia, tạo lập một môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi nhất chocác nhà đầu tư Hơn nữa các quốc gia thành viên của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới(WTO) thường có một môi trường đầu tư rất cạnh tranh để thu hút FDI Điều này tạo
ra nhiều thách thức lớn cho những nước đang phát triển như Việt Nam – thành viênchính thức của WTO từ tháng 1/2007
Từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới hầu giảm bớt thế tụt hậu ở Đông Á, ViệtNam đã tiến những bước dài trong lĩnh vực mở cửa và hội nhập quốc tế Việt Nam đãthành công trong vài năm đầu của quá trình đổi mới với sức hấp dẫn của một thịtrường mới còn bỏ ngõ Nhưng luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giảm đáng
kể trong những năm gần đây, mà nguyên nhân chính là những lý do yếu kém nội tại,mặc dù có sự châm ngòi của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á Một số hãng củanước ngoài đã rút đầu tư khỏi Việt Nam Nhưng đến cuối năm 2006, vốn đầu tư FDIvào Việt Nam lại đạt đến mức kỷ lục từ trước đến nay đạt 10,2 tỷ USD, đánh dấu sựtrở lại của các nhà đầu tư nước ngoài, các tập đoàn đa quốc gia lớn mạnh như Intel,Canon, đã trở lại đầu tư vào Việt Nam, và dự báo nguồn vốn FDI vào Việt Nam sẽtiếp tục tăng lên trong thời gian tới
Như vậy việc xem xét, nghiên cứu những vấn đề liên quan đến nguồn vốn FDI
là khách quan và cần thiết từ khi nước ta bắt đầu tiếp nhận nguồn vốn FDI đến nay.Nguồn vốn FDI có góp phần vào tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam không? Hay hiệuquả sử dụng vốn FDI như thế nào? Với những câu hỏi đặt ra và những lý do nêu trên
là cơ sở của việc lựa chọn đề tài “ Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ViêtNam giai đoạn 1996 – 2005” làm luận văn tốt nghiệp
1.2 Mục tiêu nghiên cứu:
Đề tài này có mục tiêu: Đánh giá tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vàoViệt Nam
1.3 Phương pháp nghiên cứu:
1.3.1 Phương pháp thu thập số liệu:
Đề tài được nghiên cứu trước hết bằng phương pháp thu thập số liệu, tài liệu cóliên quan Số liệu được thu thập từ những sách, báo, tạp chí kinh tế, và lấy từinternet
1.3.2 Phương pháp tổng hợp số liệu và so sánh đối chiếu:
Trang 2Số liệu sau khi thu thập được tổng hợp và so sánh qua các năm, qua từng giaiđoạn nhất định của một thời kỳ kinh tế, các ngành trong cơ cấu kinh tế, hay qua cácchỉ tiêu đặt ra để so sánh.
1.3.3 Phương pháp phân tích số liệu:
Sau khi tính toán, so sánh các số liệu theo chỉ tiêu đánh giá, phương pháp phântích số liệu được tiến hành để đưa ra những nhận xét phù hợp
1.4 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài chỉ nghiên cứu về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam từnăm 1996 đến 2005
Trang 3CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Khái niệm về đầu tư trực tiếp:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment – FDI) là hình thức
đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư bỏ vốn để xây dựng, hoặc mua phần lớn, thậm chí toàn
bộ các cơ sở kinh doanh ở nước ngoài để trở thành chủ sở hữu toàn bộ hay từng phần
cơ sở đó và trực tiếp quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm về hoạt động của đốitượng mà họ bỏ vốn đầu tư
2.2 Các hình thức đầu tư trực tiếp:
Có nhiều hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tùy theo luật đầu tư của cácnước và thường có các hình thức sau: hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệpliên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hợp đồng xây dựng- vận hành-chuyển giao (BOT)…Các hình thức này thường được thực hiện tại các khu vực đầu
tư đặc biệt như: khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, đặc khu kinh tế, thành phốmở…
2.2.1 Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Contractual business Co-operation):
Là văn bản được ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên (các bên tham gia) trong
đó quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên tham gia đểtiến hành đầu tư kinh doanh ở nước chủ nhà
2.2.2 Doanh nghiệp liên doanh (Joint Venture Enterprise):
Là doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở liên kết của các doanh nghiệptrong và ngoài nước theo luật pháp của nước chủ nhà; các bên tham gia liên doanh sẽchịu trách nhiệm lẫn nhau trong phạm vi phần vốn góp của mình vào liên doanh
2.2.3 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (Enterprise with one hundred
percent foreign owed capital) :
Là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại nước chủnhà, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh Dưới hình thức nàycũng có các dạng công ty: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty tư nhân…
2.2.4 Hợp đồng “xây dựng – kinh doanh - chuyển giao” (Building - Operate
2.3 Tác động của đầu tư trực tiếp:
Tác động của đầu tư trực tiếp cũng được đánh giá đối với hai phía: nước đi đầu
tư và nước nhận đầu tư về hai mặt: tích cực và tiêu cực
Đối với nước đi đầu tư:
Tác động của đầu tư trực tiếp đối với nước đi đầu tư thể hiện ở những điểmsau:
Trang 4-Về mặt tích cực:
Một là, FDI giúp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, công nghệ và thiết bị,
tăng cường bành trướng sức mạnh kinh tế và vai trò ảnh hưởng trên thế giới
Hai là, FDI giúp các công ty giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm
do khai thác được nguồn lao động rẻ, nguyên liệu và gần thị trường tiêu thụ
Ba là, FDI tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước.
-Về mặt tiêu cực:
Thứ nhất, các công ty đầu tư vốn ra bên ngoài nhiều khiến cho tình hình thất
nghiệp trong nước gia tăng, tăng trưởng kinh tế trong nước có thể bị ảnh hưởng
Thứ hai, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài có nhiều rủi ro hơn trong nước, nhất là
các rủi ro về chính trị, nên các doanh nghiệp thương đầu tư phân tán ở nhiều nước đểhạn chế rủi ro
Đối với nước nhận đầu tư:
-Về mặt tích cực:
Một là, FDI giúp cho nước nhận đầu tư có được nguồn vốn từ bên ngoài để
làm tăng khả năng tổ chức sản xuất, kinh doanh
Hai là, FDI tạo điều kiện để tiếp nhận kỹ thuật và công nghệ tiến tiến, hiện đại
và kinh nghiệm quản lý kinh doanh của các công ty nước ngoài
Ba là, FDI tạo điều kiện để khai thác tốt nhất các lợi thế của quốc gia.
Bốn là, FDI giúp tạo thêm công ăn việc làm, góp phần giải quyết nạn thất
nghiệp, tăng thu nhập quốc dân, góp phần nâng cao đời sống của người dân
Năm là, FDI giúp bổ sung nguồn thu cho ngân sách quốc gia thông qua nghĩa
vụ thuế của các đơn vị đầu tư nước ngoài
Sáu là, FDI giúp góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế có lợi cho nền kinh tế
theo hướng mở, hội nhập kinh tế quốc tế
Bảy là, FDI giúp tạo điều kiện tiếp cận với thị trường bên ngoài, thông qua các
công ty liên doanh với nước ngoài với mạng lưới thị trường rộng lớn của các công tyđầu tư nước ngoài
Tám là, FDI tác động tích cực đến lĩnh vực giáo dục, đào tạo và tâm lý của
người lao động trong nước Nhất là, làm thay đổi tác phong, thói quen làm việc củalao động ở các nước nông nghiệp
Chín là, FDI góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
-Về mặt tiêu cực:
Thứ nhất là, nếu không có quy hoạch đầu tư tốt để dẫn đến đầu tư tràn lan,
khai thác tài nguyên bừa bãi, gây ảnh hưởng môi trường
Thứ hai là, nếu không thẩm định tốt để dẫn đến tiếp nhận những kỹ thuật, công
nghệ lạc hậu, trở thành bãi rác công nghiệp của các nước công nghiệp
Thứ ba là, các doanh nghiệp của các chủ đầu tư trong nước bị cạnh tranh, dễ
dẫn đến phá sản Xét về lâu dài việc này có thể dẫn đến làm giảm tỷ lệ tiết kiệm vàđầu tư nội địa, khiến cho nước nhận đầu tư ngày càng lệ thuộc vào nguồn vốn FDI
Trang 5Tổng GDP hằng năm Lao động bình quân năm
Thứ tư là, nếu không có trình độ quản lý tốt dễ dẫn đến bị thua thiệt trong việc
chuyển giá nội bộ trong các công ty đa quốc gia, đồng thời cũng dễ bị các công tynước ngoài trốn thuế, gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước
Thứ năm là, có thể làm tăng thâm hụt cán cân thanh toán khi các doanh nghiệp
FDI đi vào hoạt động do lượng ngoại tệ mất đi dưới dạng lợi nhuận của các doanhnghiệp FDI chuyển ra, hoặc lượng nguyên, nhiên, vật liệu, hàng hoá nhập khẩu phục
vụ sản xuất và các chi phí khác lớn hơn số vốn FDI được chuyển vào
Thứ sáu là, nếu quản lý đầu tư không tốt dễ dẫn đến làm tăng khoảng cách
phát triển giữa các vùng, miền trong nước, giữa thành thị và nông thôn, làm gia tăngkhoảng cách giàu nghèo, phân hoá sâu sắc các tầng lớp xã hội
2.4 Hệ số ICOR và ý nghĩa của nó:
Hệ số ICOR của một năm là hệ số thể hiện hiệu quả sử dụng vốn đầu tư củanăm đó
Ý nghĩa của hệ số ICOR:
Hệ số ICOR của một năm thể hiện hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của năm đó, cho ta biết được bao nhiêu đồng vốn bỏ ra để có được một đơn vị gia tăng GDP
2.5 Năng suất lao động: được tính bằng công thức:
Năng suất lao động cho ta biết được một lao động tạo ra được bao nhiêu giá trị GDP
2.6 Các chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động doanh nghiệp:
2.6.1 Mức độ thâm dụng vốn : được đo bằng tỷ số:
Tỷ số này cho biết cần bao nhiêu đồng vốn cho 1 lao động, tỷ số này càng lớnthì mức độ thâm dụng vốn càng cao và ngược lại
2.6.2 Hiệu quả sử dụng lao động: được thể hiện bằng tỷ số::
Tỷ số này cho thấy một lao động được sử dụng đem lại bao nhiêu đồng doanhthu thuần cho doanh nghiệp Tỷ số này càng cao thì hiệu quả sử dụng lao động càngcao và ngược lại
Vốn Lao động
Doanh thu thuần Lao động
Trang 62.6.3 Hiệu quả sử dụng tài sản cố định:
Hiệu suất sử dụng TSCĐ =
Tỷ số này cho biết một đơn vị giá trị TSCĐ được sử dụng đem lại bao nhiêuđồng doanh thu thuần cho doanh nghiệp Hiệu suất sử dụng TSCĐ càng cao khi tỷ sốnày càng cao và ngược lại
2.6.4 Hiệu quả sử dụng vốn:
Hệ số vòng quay vốn =
Hệ số này cho ta biết một đồng vốn được sử dụng mang lại bao nhiêu đồngdoanh thu thuần cho doanh nghiệp Hệ số này càng cao thì hiệu quả sử dụng vốncàng cao và ngược lại
2.6.5 Mức độ ổn định vốn đầu tư: được đo bằng tỷ số:
Tỷ số này cho biết một đồng vốn được sử dụng tạo ra bao nhiêu giá trị TSCĐ.Mức độ ổn định vốn đầu tư càng cao khi hệ số này càng cao và ngược lại
2.7 Vốn sản xuất và vốn đầu tư:
2.7.1.Vốn sản xuất: là giá trị của những tài sản được sử dụng làm phương tiện
trực tiếp phục vụ cho quá trình sản xuất và dịch vụ, bao gồm vốn cố định và vốn lưuđộng
Ở giác độ vĩ mô, vốn sản xuất luôn được biểu hiện dưới dạng hiện vật, phảnánh năng lực sản xuất của một nền kinh tế Khi đánh giá vốn sản xuất, chúng ta chỉxem xét phần hiện còn, tức là phần tài sản được tích lũy lại và chỉ tính đối với cácloại tài sản có liên quan trực tiếp đến sản xuất và dịch vụ
2.7.2.Vốn đầu tư: là toàn bộ những chi tiêu để làm tăng hoặc duy trì tài sản vật
chất trong một thời kỳ nhất định Vốn đầu tư thường thực hiện qua các dự án đầu tư
và một số chương trình mục tiêu quốc gia với mục đích chủ yếu là bổ sung TSCĐ vàtài sản lưu động
2.8 Tổng sản phẩm trong nước ( Gross Domestic Product – GDP):
Là giá trị mới của hàng hóa và dịch vụ được tạo ra của toàn bộ nền kinh tếtrong một khoảng thời gian nhất định Tổng sản phẩm trong nước được tính theo giáthực tế và giá so sánh
GDP theo giá thực tế thường được dùng để nghiên cứu cơ cấu kinh tế, mối
quan hệ tỷ lệ giữa các ngành trong sản xuất, mối quan hệ giữa kết quả sản xuất vớiphần huy động vào ngân sách
GDP theo giá so sánh đã loại trừ biến động của yếu tố giá cả qua các năm,
dùng để tính tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, nghiên cứu sự thay đổi về khốilượng hàng hóa và dịch vụ sản xuất
GDP bình quân đầu người: là chỉ tiêu phản ánh một cách tổng quan mức sống
dân cư và được tính bằng tỷ lệ giữa GDP với tổng dân số trung bình trong năm GDPbình quân đầu người có thể tính theo giá thực tế, giá so sánh, tính theo nội tệ hoặcngoại tệ
Doanh thu thuần TSCĐ
Doanh thu thuần Vốn
TSCĐ Vốn
Trang 7GDP tính theo ngoại tệ là chỉ tiêu phản ánh GDP theo nội tệ được tính chuyểnsang ngoại tệ Việc tính chuyển này được sử dụng cho các mục đích khác nhau, trong
đó có việc so sánh GDP của các quốc gia với nhau Có 2 phương pháp tính chuyển:+ Phương pháp tỷ giá hối đoái thực tế: Lấy GDP theo nội tệ chia cho tỷ giá hốiđoái chính thức bình quân năm giữa nội tệ và ngoại tệ
+ Phương pháp sức mua tương đương: Lấy GDP theo nội tệ chia cho tỷ giátheo sức mua tương đương
Tỷ giá theo sức mua tương đương (Purchasing Power Parity rate – PPP rate): là tỷ lệ giữa giá của một rổ hàng biểu thị bằng tiền trong nước với giá của rổ
hàng hóa tương tự ở nước ngoài biểu thị bằng ngoại tệ Dưới dạng công thức, tỷ giátheo sức mua tương đương được viết như sau:
Trong đó: S: tỷ giá định nghĩa theo số đơn vị tiền trong nước trên một đơn vị
ngoại tệ
P: giá của một rổ hàng biểu thị bằng tiền trong nước.
P*: giá của rổ hàng tương tự ở nước ngoài biểu thị bằng ngoại tệ.
Khi tương quan của mức giá trong nước so với mức giá nước ngoài tăng sẽ làmgiảm giá trị của tiền trong nước so với ngoại tệ Sức mua tương đương thường sửdụng để so sánh mức sống của dân cư giữa các quốc gia Tỷ giá hối đoái chịu ảnhhưởng của lưu lượng vốn trên thị trường tiền tệ, nên dùng tỷ giá hối đoái để tính cácchỉ tiêu GDP hoặc GDP bình quân đầu người: sẽ dẫn đến sai lệch
2.9 Chỉ số phát triển con người HDI ( Human Development Index):
Là thước đo tổng hợp về sự phát triển con người trên phương diện sức khỏe, tri thức và thu nhập HDI được tổng hợp từ ba chỉ tiêu thành phần phản ánh các khía cạnh khác nhau:
+ Mức độ sống lâu và khỏe mạnh, được đo bằng tuổi thọ trung bình từ lúc sinh ( hay còn gọi là tuổi hy vọng sống tại lúc sinh)
+ Mức độ tri thức, được đo bằng tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ nhập học của các cấp giáo dục tiểu học, trung học và đại học
+ Mức độ đầy đủ vật chất, được đo bằng GDP thực tế đầu người theo sức mua tương đương tính bằng đô-la Mỹ (PPP USD)
P
S = P*
Trang 8CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1996 - 2005
3.1 Thực trạng thu hút FDI vào Việt Nam từ 1988 – 2006:
3.1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo năm:
Bảng 01: Tình hình FDI tại Việt Nam từ 1988 – 2006
Năm Tổng vốn
đăng ký (Triệu USD)
Tổng vốn thực hiện ( Triệu USD)
Tỷ trọng vốn thực hiện/
vốn đăng ký (%)
Tốc độ gia tăng vốn thực hiện (%)
Trang 9Từ bảng 1 ta thấy giai đoạn 1988 – 1996, vốn đăng ký FDI tăng liên tục và đạtgiá trị cao nhất vào năm 1996 lên đến hơn 10,1 tỷ USD Đây là giai đoạn đầu ViệtNam mở cửa hội nhập kinh tế, khuyến khích đầu tư nước ngoài sau khi Luật đầu tưnước ngoài có hiệu lực năm 1987 Đối với các nhà đầu tư nước ngoài, Việt Nam làmột môi trường đầu tư mới có nhiều tiềm năng, sự ổn định về chính trị cùng vớinhững sửa đổi bổ sung về Luật Đầu tư nước ngoài năm 1990 và 1992, thay thế mớivào năm 1996 với mục đích đáp ứng tình hình thực tế và yêu cầu đổi mới của đấtnước, tạo môi trường pháp lý ổn định đề thu hút FDI Trong giai đoạn này, nước ta
đã mở rộng quan hệ quốc tế thông qua sự kiện gia nhập vào khối ASEAN năm 1995,tham gia diễn đàn hợp tác Á – Âu năm 1996
Giai đoạn 1997 – 1999, vốn FDI đăng ký bắt đầu giảm và giảm với tốc độnhanh, năm 1997 giảm 50% với năm 1996 và 1998 giảm 9% so với năm 1997 Đây
là thời kỳ khó khăn của nền kinh tế Việt Nam, cuộc khủng hoảng kinh tế- tài chínhChâu Á đã đẩy nhanh quá trình suy giảm của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ViệtNam, có lẽ một phần là do FDI đến từ Châu Á vẫn chiếm tỷ trọng cao trong tổng FDIđăng ký Về các khoản vốn cam kết trước năm 1998, mặc dù chúng vẫn tiếp tục đượctriển khai trong các năm 1998 – 1999, nhưng số dự án và tổng số vốn bị giải thể tănglên rất nhanh chứng tỏ các nhà đầu tư nước ngoài đã bắt đầu giảm nhịp độ đầu tư vàrút dần vốn ra khỏi Việt Nam kể từ năm 1997 Hậu quả là vốn đầu tư thực hiện tronggiai đoạn này đã giảm và tốc độ gia tăng vốn thực hiện ở mức âm vào 2 năm 1998;1999
Giai đoạn từ năm 2000 đến nay, vốn đăng ký đã tăng dần nhưng với tốc độchậm hơn so với giai đoạn 1988 – 1996 Sau cuộc khủng hoảng đó, các nước lánggiềng như Thái Lan, Hàn Quốc, Singapore,… bị ảnh hưởng nghiêm trọng, nước ta đã
có được những bài học kinh nghiệm từ các nước trong khu vực Cùng với sự cảithiện môi trường đầu tư trong nước thông qua Luật đầu tư sửa đổi năm 2000 và đặcbiệt là vào tháng 11 / 2005 Quốc Hội đã thông qua Luật đầu tư chung có hiệu lực từ1/ 7/ 2006, sự thông thoáng của hệ thống chính sách pháp luật trên một thị trườngmới đầy tiềm năng đã hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài trở lại đầu tư vào Việt Namtrong thời gian gần đây Đặc biệt là sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương MạiThế Giới (WTO) đã góp phần vào sự tăng trưởng tổng vốn đăng ký FDI lên đến 10,2
tỷ USD năm 2006 và có xu hướng tiếp tục gia tăng trong thời gian tới
Tốc độ gia tăng FDI thực hiện bình quân giai đoạn 1992 – 2005 là 22% và tỷtrọng vốn FDI thực hiện trong tổng FDI đăng ký giai đoạn 1991 – 2005 là 59%
Trang 10Những con số này cho thấy tốc độ gia tăng vốn FDI thực hiện hằng năm vẫn cònchậm và khoảng cách giữa vốn thực hiện và vốn đăng ký vẫn còn khá xa.
Nhìn từ góc độ tăng trưởng kinh tế, vốn FDI đăng ký là quan trọng, thể hiệnkhả năng huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế, nhưng lượng vốn FDI thực hiện mới
có ý nghĩa và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế Ở Việt Nam, trong giai đoạn này,tốc độ gia tăng vốn thực hiện tuy đã tăng lên nhưng vẫn còn ở tốc độ chậm Vấn đềđặt ra là làm thế nào để tăng tỷ lệ vốn FDI thực hiện để thúc đẩy sự tăng trưởng kinhtế
Các yếu tố ảnh hưởng đến FDI thực hiện tại Việt Nam bao gồm việc phân cấpcấp phép đầu tư, tạo cơ sở hạ tầng ban đầu cho doanh nghiệp có vốn FDI, ví dụ bằngcách xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất Ngoài ra, một số đặc điểm về lĩnhvực hoạt động của dự án cũng tác động tới lượng vốn FDI thực hiện Vì lĩnh vực hoạtđộng có liên quan trực tiếp đến sử dụng nguồn lực tại chỗ ( nguyên vật liệu đầu vào,lao động, trình độ tay nghề…) và tìm thị trường cho đầu ra ( như thị trường tiêu thụsản phẩm, xuất khẩu,…) Ngoài ra còn có những yếu tố khác, nếu các yếu tố này đềuthuận lợi và hấp dẫn sẽ đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án FDI và tăng tỷ lệ vốn thựchiện
3.1.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành:
Xét theo ngành, lĩnh vực Công nghiệp và xây dựng chiếm 69% tổng vốn thựchiện, kế đến là lĩnh vực dịch vụ chiếm 20% còn lại là lĩnh vực Nông, lâm nghiệp chỉchiếm 11% tổng vốn thực hiện
Đầu tư trực tiếp nước ngoài không đồng đều giữa các ngành, lĩnh vực Nguồnvốn FDI được tập trung cho lĩnh vực Công nghiệp và xây dựng, đây là những ngànhcần khai thác tài nguyên và đem lại nhiều lợi nhuận được Nhà nước khuyến khích đểthực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Ngoài một số dự án vềdầu khí, công nghệ thông tin, điện tử, các ngành công nghiệp nặng, thời gian qua FDIđược tập trung chủ yếu vào các ngành công nghiệp nhẹ, lĩnh vực dịch vụ, khách sạnnhà hàng… không đòi hỏi vốn lớn, thu hồi vốn nhanh, tận dụng lợi thế về lực lượngnhân công giá rẻ của nước ta, trong khi lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp thu hútđược rất ít vốn FDI, không tương xứng với tiềm năng và nhu cầu của ngành
Ngành xây dựng có 256 dự án với tổng vốn thực hiện chiếm 11% tổng vốn thựchiện của lĩnh vực công nghiệp, xây dựng Trong lĩnh vực này chủ yếu là đầu tư vàosản xuất ximăng, sứ vệ sinh, gạch men, sự tham gia của FDI vào công nghiệp khaikhoáng (trừ dầu khí), xây dựng đô thị và nhà ở còn rất thấp
Trang 11Bảng 02: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành từ 1988 – 2006
(Tính tới ngày 18/12/2006 – chỉ tính các dự án còn hiệu lực)
STT Chuyên ngành Số dự án Tổng vốn đăng ký (USD) Đầu tư thực hiện (USD)
Tỷ trọng đầu tư thực hiện ( %)
Trang 12Công nghiệp và xây dựng;
69%
Nông, lâm nghiệp; 7%
Dịch vụ;
24%
Hình 1: Biểu đồ thể hiện tình hình FDI theo ngành
Trong lĩnh vực dịch vụ, ngành kinh doanh khách sạn – du lịch chiếm tỷ trọngcao nhất 33% tổng vốn thực hiện của ngành dịch vụ, ngành xây dựng văn phòng –căn hộ cho thuê, kinh doanh siêu thị… dần dần có xu hướng tăng lên với sự xuất hiệncủa các siêu thị, cao ốc văn phòng trên toàn quốc Cơ cấu lĩnh vực dịch vụ đã chuyểndịch theo hướng tập trung cho các ngành thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế, kỹ thuật như:bưu chính – viễn thông, giao thông vận tải, tài chính – ngân hàng Điều đáng lưu ý làFDI trong các ngành văn hóa – y tế - giáo dục còn rất thấp, chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏtrong tổng FDI đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ
Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản được sử dụngvào hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, chế biến thức ăn gia súc, chế biến nông sản, thựcphẩm, trồng rừng và chế biến gỗ Các dự án trong lĩnh vực này quy mô vốn tươngđối nhỏ nhưng lại triển khai khá chậm và phần lớn kém hiệu quả mà biểu hiện rõnhất là các dự án mía đường, đánh bắt thủy sản, lâm nghiệp
Nước ta là một nước nông nghiệp, hằng năm vẫn là một trong những nướcđứng đầu về xuất khẩu gạo và hàng nông sản, nhưng tỷ lệ đầu tư cho lĩnh vực nông –lâm nghiệp còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng của lĩnh vực này Nông nghiệpnước ta còn nghèo, còn phát triển ở trình độ thấp, kết cấu hạ tầng cơ sở ở nông thôncòn nghèo nàn, khả năng cạnh tranh của nông sản thấp Các chính sách nông nghiệpchưa hoàn chỉnh, đang trong quá trình phải liên tục điều chỉnh cho phù hợp với điềukiện cụ thể Hiện nay nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa nông thôn, cầnnguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước để phát triển ngành nông nghiệp nước nhà.Các ngành công nghiệp và xây dựng luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổngvốn FDI thực hiện phù hợp với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cùaNhà nước ta, lĩnh vực dịch vụ ngày càng thu hút được nhiều nguồn vốn FDI, đây làlĩnh vực năng động nhất, thể hiện sự phát triển của một nền kinh tế, được Nhà nướckhuyến khích đầu tư và còn phát triển hơn nữa khi độ mở cửa tự do thương mại ởnước ta càng rộng
3.1.3 Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo đối tác đầu tư:
Hiện nay có khoảng 71 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư trực tiếp tại ViệtNam Đứng đầu là Đài Loan, Singapore, Hồng Kông, Nhật bản, Hàn Quốc, Quần đảoVirgin (Anh), Pháp, Hà Lan Từ khi Luật Đầu tư nước ngoài của nước ta đươc ban
Trang 13BritishVirgin Islands; 5%
ở nước ta là Nhật Bản, chủ yếu đầu tư vào các ngành công nghiệp hiện đại, chiếm tỷtrọng 17% tổng vốn thực hiện Kế đến là Singapore chiếm 13%, Đài Loan đầu tưnhiều vào lĩnh vực khách sạn, cao ốc văn phòng, nông nghiệp và công nghiệp giacông, Hồng Kông đầu tư nhiều vào lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, chiếm tỷ trọng7% tổng đầu tư thực hiện
Bảng 03: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo đối tác đầu tư
(Tính tới ngày 18/12/2006 – chỉ tính các dự án còn hiệu lực)
STT Nước, vùng lãnh thổ
Số dự án
Tổng vốn đăng ký (USD)
Đầu tư thực hiện(USD)
Tỷ trọng đầu tư thực hiện ( %)
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Hình 2: Biểu đồ thể hiện FDI theo đối tác đầu tư
Trang 14Số quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia đầu tư tại Việt Nam rất đa dạng, ở mọichâu lục, gồm cả các nước phát triển và các nước đang phát triển, các công ty đaquốc gia và các doanh nghiệp vừa và nhỏ Tuy nhiên đa số các đối tác đầu tư đến từChâu Á do các công ty vừa và nhỏ hoạt động chủ yếu trong các lĩnh vực dịch vụ,khách sạn, nhà hàng, công nghiệp nhẹ, trong khi đầu tư của những nước công nghiệpphát triển như Mỹ, khối EU, Úc… và các công ty đa quốc gia – những đối tác có qui
mô vốn lớn, công nghệ nguồn và hiện đại… chỉ chiếm một tỷ trọng khiêm tốn.Nhưng đã và đang có những thay đổi đáng chú ý trong thời kỳ 2001 – 2005, đặc biệt
là vào năm 2006 Qui mô vốn FDI của các nước Nhật, Mỹ, Hàn Quốc tăng lên nhanhchóng và có nhiều dự án đầu tư lớn do những tập đoàn đa quốc gia thực hiện như dự
án về công nghệ thông tin của tập đoàn Intel 1 tỷ USD, dự án của Công ty thépPOSCO đầu tư 1,12 tỷ USD, dự án mở rộng sàn xuất của tập đoàn Canon, tăng thêm
70 triệu USD, Công ty TNHH thép Tycool Steel 556 triệu USD, Công ty TNHHBooyung 171 triệu USD,… Điều này cho thấy, nhiều nhà đầu tư lớn đã và đang đặcbiệt quan tâm đến Việt Nam
Đến hết năm 2006, hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu tại Việt Nam
là hình thức 100% vốn nước ngoài, tiếp theo là hình thức liên doanh, và vị trí thứ 3 làhình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh Các hình thức như công ty quản lý vốn,BOT là hình thức đầu tư chiếm tỷ lệ không đáng kể cả về số dự án, vốn đăng ký vàvốn thực hiện
Thực tế cùng với thời gian, Luật Đầu tư tại Việt Nam đã có nhiều thay đổi và
do đó vị trí của từng hình thức đầu tư nước ngoài cũng thay đổi theo Giai đoạn 1991– 1995, các hình thức liên doanh chiếm tỷ trọng chủ yếu (61,6% vốn đăng ký), đếngiai đoạn 2001 – 2006, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài lại trở thành hình thứcđầu tư chủ yếu tại Việt Nam( chiếm 68,5% vốn đăng ký) (Trần Xuân Tùng, 2005)
3.1.4 Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức đầu tư:
Bảng 04: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức đầu tư từ 1988 – 2006
(Tính tới ngày 18/12/2006 – chỉ tính các dự án còn hiệu lực)
STT Hình thức đầu
tư
Số dự án
Tổng vốn đăng ký ( USD)
Đầu tư thực hiện (USD)
Tỷ trọng đầu tư thực hiện ( %)
Trang 15Hợp đồng hợp tác kinh doanh;
21%
Liên doanh;
38%
100 % vốn nước ngoài; 40%
Các hình thức khác;
1%
Từ những chính sách Nhà nước, trong những năm đầu mở cửa hội nhập, nước
ta với trình độ kinh tế thấp mà các hình thức đầu tư còn hạn chế và đơn điệu, chủ yếu
là hình thức 100% vốn nước ngoài, liên doanh, hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh,các hình thức này mang tính ràng buộc hơn để các nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu
tư lâu dài ở Việt Nam Gần đây đã có chính sách cho thành lập công ty cổ phần và thíđiểm cho thành lập công ty Mẹ - Con ( như công ty Panasonic Việt Nam), chưa chophép đầu tư theo hình thức mua lại hoặc sáp nhập, hạn chế mua cổ phần của doanhnghiệp cổ phần hóa đối với các nhà đầu tư nước ngoài
Nước ta đã là thành viên của WTO, mức độ tự do hóa thương mại ngày càngrộng nên trong tương lai các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng đa dạnghơn để đáp ứng nhu cầu và tạo cơ hội cho các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.Hiện nay nước ta đang khuyến khích hình thức cổ phần hóa đối với các doanh nghiệptrong nước cũng như nước ngoài, đáp ứng nhu cầu phát triển và xu thế khách quancủa tiến trình hội nhập
Hình 3: Biểu đồ thể hiện FDI theo hình thức đầu tư
3.1.5 Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo địa phương:
Bảng 05: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo vùng
(Tính tới ngày 18/12/2006 – chỉ tính các dự án còn hiệu lực)
(Không kể dầu khí)
Vùng kinh tế Số dự
án
Vốn đăng ký (USD)
Vốn thực hiện (USD)
Trang 16Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Vùng Đông Nam Bộ dẫn đầu cả nước về số dự án lẫn nguồn vốn đầu tư chiếm65% tổng số dự án và 60% tổng vốn thực hiện, tiếp đến là vùng Đồng bằng sôngHồng chiếm 21% tổng số dự án và 26% tổng vốn thực hiện Hầu hết các dự án có qui
mô lớn trong các ngành kinh tế đều tập trung ở 2 vùng này Đây là 2 vùng có cơ sở
hạ tầng và điều kiện kinh tế thuận lợi nên luôn là điểm thu hút nguốn vốn FDI caonhất nước
Vùng có số dự án và nguồn vốn phân bố thấp nhất là Tây Bắc, chỉ chiếm 0,3%
số dự án và 0,12% tổng vốn thực hiện, tiếp đến là vùng Bắc Trung Bộ chỉ chiếm1,4% số dự án và 3% tổng số vốn thực hiện Đây là 2 vùng gặp nhiều khó khăn trongthu hút FDI Các vùng khác như Đông Bắc, Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Longchỉ ở mức trên dưới 1 tỷ USD/ vùng với qui mô bình quân mỗi dự án cũng chỉ dưới
10 triệu USD
Theo cơ cấu địa phương, FDI tập trung hầu hết ở địa bàn các tỉnh, TP lớn, còncác địa phương thuộc trung du, miền núi, nơi xa các trung tâm thì FDI thu hút đượccòn rất thấp
Khu vực phía Bắc: Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh,Vĩnh Phúc, Phú Thọ là những địa phương có nhiều dự án và nguồn vốn FDI đượcphân bố lớn nhất
Khu vực miền Trung: dẫn đầu là Đà Nẵng, Quảng Ngãi, mỗi tỉnh có mức vốntrên 1 tỷ USD Miền Trung chỉ thu hút được một tỷ lệ nhỏ FDI so với miền Bắc vàmiền Nam và so với cả nước Chính phủ đã nhận thấy khoảng cách phát triển giữamiền Trung và các vùng kinh tế phía Bắc và phía Nam cũng như chênh lệch về điềukiện kinh tế giữa khu vực thành thị và nông thôn, do đó đã cố gắng khuyến khích cácnhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào khu vực duyên hải miền Trung Tuy nhiên, hầu hếtcác nhà đầu tư nước ngoài đã không có một bước tiến đáng kể nào vào duyên hảimiền Trung Quảng Ngãi là tỉnh có vốn đăng ký cũng như vốn thực hiện dẫn đầutrong vùng, đó là do tác động từ dự án xây dựng nhà máy lọc dầu của chính phủ chứkhông phải do môi trường đầu tư tốt, vì số lượng dự án đầu tư rất ít (15 dự án), nếukhông có dự án 1,3 tỷ USD năm 1998 thì vốn đăng ký vào Quảng Ngãi chỉ hơn 43triệu USD
Nhìn chung thời gian qua khu vực kinh tế có vốn FDI chưa có tác động lớn đến
sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng do tỷ trọng thu hút vốn FDI trên địa bàn cònrất khiêm tốn Tuy nhiên, có thể thấy trong những năm gần đây, tình hình thu hút vốnFDI đã có nhiều chuyển biến tích cực Nhiều dự án lớn cũng đang trong quá trình lập
hồ sơ xin cấp phép với số vốn đầu tư lên đến hàng tỷ USD như: dự án xây dựngTrung tâm sửa chữa máy bay hạng nặng tại sân bay Chu lai, Quảng Nam (500 triệuUSD), dự án đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi theo hình thức BOT (550 triệuUSD), dự án thép của tập đòan Tycoons (Đài Loan) tại khu chế xuất Dung Quất,Quảng Ngãi (trên 1 tỷ USD)… Với tiềm năng và lợi thế của vùng cùng với việc tíchcực giải quyết một số hạn chế về cơ chế chính sách, môi trường đầu tư, cơ sở hạtầng… có thể dự báo rằng trong vài năm tới tình hình thu hút FDI trên địa bàn vùngchắc chắn sẽ có nhiều khởi sắc tích cực
Các tỉnh phía Nam: TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – VũngTàu là những địa phương đứng đầu cả nước về dự án và nguồn vốn đầu tư Điều kiện
Trang 17Bà Rịa – Vũng Tàu;
58 tỉnh còn lại; 36%
Hải Phòng;
4%
Bình Dương; 7%
tự nhiên thuận lợi, cơ sở hạ tầng, kinh tế đầy đủ là lợi thế để thu hút FDI của các tỉnhphía Nam
Bảng 06: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo địa phương
(Tính tới ngày 18/12/2006 – chỉ tính các dự án còn hiệu lực)
Địa phương Số dự
án
Vốn đăng ký (USD)
Vốn thực hiện (USD)
Tỷ trọng đầu tư thực hiện ( %)
TP Hồ Chí Minh 2057 148.535.638 6.369.884.073 22
Hà Nội 757 10.123.771.781 3.526.297.026 12Đồng Nai 780 9.063.710.469 4.092.308.781 14Bình Dương 1256 6.038.289.952 2.029.302.621 7
Bà Rịa – Vũng Tàu 140 4.604.922.896 1.270.694.513 4Hải Phòng 218 2.190.160.585 1.247.991.624 4
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Hình 4: Biểu đồ thể hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài theo địa phương
Như vậy, nguồn vốn FDI đã được phân bố sử dụng khắp các vùng, miền, địaphương trong cả nước, song sự phân bố khá chênh lệch giữa các vùng và địa phương,thành thị với nông thôn, đồng bằng và miền núi, giữa nơi có điều kiện phát triển kinh
tế với nơi còn gặp nhiều khó khăn Thực tế này đòi hỏi quy hoạch vùng và lãnh thổphải có sự điều chỉnh đi đôi với chính sách khuyến khích thu hút thật sự phù hợp mớiphát huy hết được tính tích cực của FDI đối với chiến lược phát triển kinh tế - xã hộicủa các vùng lãnh thổ và cả nước
3.2.Tình hình đóng góp của FDI vào sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ 1996 2005:
-3.2.1 Đóng góp của FDI vào GDP:
Trang 18Bảng 07: Cơ cấu vốn đầu tư phát triển phân theo thành phần kinh tế
ĐVT: %
Năm 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 Tổng vốn
Nguồn: Kinh tế Việt Nam và Thế Giới 2006 – 2007, trang 70
Vì đầu tư là động lực của quá trình tăng trưởng kinh tế , nên khi nói đến sự tăngtrưởng kinh tế thì phải nói đến yếu tố vốn đầu tư Bảng 7 cho thấy nguồn vốn đầu tưcủa khu vực kinh tế Nhà Nước luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong 3 thành phần kinh
tế, trên 50% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, kế đến là sự đóng góp vốn của khu vựckinh tế ngoài quốc doanh và khu vực kinh tế có vốn FDI chiếm tỷ trọng thấp nhất Tuy tỷ lệ vốn đầu tư của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh thấp hơn nhiều sovới khu vực kinh tế Nhà Nước nhưng tỷ trọng đóng góp vào GDP của khu vực kinh
tế này lại cao hơn so với khu vực kinh tế Nhà Nước và chiếm tỷ trọng cao nhất trongGDP cả nước
Bảng 08: Đóng góp của FDI trong GDP (theo giá thực tế)
NQD 52,7 50,45 49,9 49,1 48,20 47,84 47,86 46,45 45,77 45,69Khu
vực
FDI
7,4 9,07 10,0 12,2 13,28 13,7 13,76 14,47 15,13 15,89
Trang 19Nguồn: Niên Giám Thống Kê 1999; 2000; 2005
Tỷ lệ GDP của khu vực kinh tế Nhà Nước tăng giảm không đều, với tốc độchậm Nguồn vốn đầu tư rất nhiều nhưng tạo ra mức tăng trưởng GDP hầu như giậmchân tại chỗ Điều này cho thấy sự kém hiệu quả trong việc sử dụng vốn đầu tư củaNhà Nước Tỷ trọng GDP của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh thì lại giảm dần quacác năm
Ngược lại, khu vực kinh tế có vốn FDI lại có sự đóng góp tích cực cho nền kinh
tế trong suốt thời gian qua, mặc dù tỷ trọng vốn đầu tư phát triển của khu vực FDIkhông cao nhưng lại đóng góp vào GDP với tỷ lệ tăng liên tục và khu vực kinh tếnăng động nhất, tốc độ tăng tỷ lệ đóng góp vào GDP cả nước nhanh hơn mức tăngcủa khu vực kinh tế Nhà nước và ngoài quốc doanh Như vậy việc sử dụng vốn đầu
tư FDI có hiệu quả hơn 2 khu vực kinh tế còn lại
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởng cao hơn các thànhphần kinh tế khác nhờ số doanh nghiệp của khu vực này tăng mạnh, các dự án FDI
đã được triển khai thực hiện và đi vào hoạt động, có lợi thế về vốn, về thiết bị, kỹthuật – công nghệ, về tiếp thị quảng cáo, về tiêu thụ, có sự hỗ trợ của các tập đoàn đaquốc gia, nay được các nước cắt giảm thuế suất thuế nhập khẩu khi nước ta đã trởthành thành viên của Tổ chức thương mại Thế Giới ( WTO)
Có thể tóm tắt sự đóng góp của 3 thành phần kinh tế trên vào GDP trong giaiđoạn 1996 – 2005 qua bảng tóm tắt dưới đây:
Nguồn: Tính toán từ Niên Giám Thống Kê 1999; 2000; 2005
Bảng số liệu cho thấy, trong giai đoạn này, tỷ trọng đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước là cao nhất nhưng tỷ trọng đóng góp vào GDP lại đứng sau mức của khu vực kinh tế ngoài Nhà nước Tỷ trọng đầu tư của khu vực kinh tế ngoài Nhà nước đứng vị trí thứ 2 nhưng đóng góp vào GDP với một tỷ lệ cao nhất Khu vực FDI chiếm tỷ lệ nhỏ nhất về vốn đầu tư và GDP
3.2.2 Đóng góp của FDI vào sự gia tăng xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu: 3.2.2.1 Xuất khẩu của khu vực FDI:
Xuất khẩu cũng là một nhân tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, là một kênh tiêuthụ sản phẩm quan trọng của sản xuất, góp phần tăng dự trữ ngoại tệ, ổn định tỷ giáVNĐ/ USD,
Qua bảng số liệu, kim ngạch xuất khẩu cả nước tăng liên tục qua các năm vàđạt giá trị cao nhất vào năm 2005, tăng gần gấp 6 lần năm 1995 và gấp 2,2 lần năm
Trang 202000 Quy mô xuất khẩu bình quân một tháng trong năm 2005 đạt trên 2,7 tỷ USDcao hơn mức cả năm của những năm từ 1992 trở về trước
Bảng 10: Trị giá xuất khẩu hàng hóa phân theo thành phần kinh tế:
Kinh tế trong nước
Tốc độ tăng trưởng (%)
Khu vực có vốn FDI
Tốc độ tăng trưởng (%)
Nguồn: Niên Giám Thống Kê 1999; 2000; 2005
Xuất khẩu đạt được sự tăng trưởng liên tục như trên là do nhiều nguyên nhân,
có nguyên nhân do xuất khẩu tăng trưởng cao ở cả hai khu vực: khu vực kinh tếtrong nước và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Khu vực kinh tế trong nước, giá trị xuất khẩu tăng đều qua các năm, tuy cógiảm 14% vào năm 2000, nhưng đây là một tỷ lệ nhỏ, sau đó lại tiếp tục tăng trưởng
và cao nhất là năm 2005, tăng 15,7% so với năm 2004, tăng gấp 2,7 lần năm 1995 vàgấp 1,8 lần năm 2000 Như vậy, khu vực kinh tế trong nước đã trưởng thành khánhiều, dần dần len lỏi vào thị trường thế giới lớn mạnh
Năm 1996, tốc độ tăng của khu vực FDI là 79 %, tăng gần 2 lần năm 1995,góp phần vào tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu cả nước Năm 1997, tốc độ tăng củakhu vực FDI là 128%, tăng hơn 2 lần so với năm 1996.Năm 1998, xuất khẩu khu vực
Trang 21kinh tế Nhà nước giảm 0,2% so với năm 1997, sự tăng trưởng của khu vực FDI đã bùđắp cho sự suy giảm đó và đóng góp vào sự tăng trưởng xuất khẩu cả nước 1,9% sovới năm 1997, điều này được lặp lại vào năm 2000 Vào năm 2001, xuất khẩu khuvực FDI đã giảm 0,2% so với năm 2000, một sự biến động nhỏ nhưng đã kéo theo
sự suy giảm tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cả nước chỉ còn 3,7% so với năm 2000 là25,5% Nhìn chung tốc độ tăng trưởng của khu vực FDI luôn cao hơn của khu vựckinh tế Nhà nước
Khu vực kinh tế có vốn FDI lại chiếm tỷ trọng cao hơn so với khu vực kinh tếtrong nước trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước trong những năm gần đây
Bảng 11: Tỷ trọng xuất khẩu của khu vực FDI trên xuất khẩu cả nước:
ĐVT: %
Năm 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 XK
Nguồn: Tính từ Niên Giám Thống Kê 1999;2000; 2005
Mặc dù tỷ trọng xuất khẩu của kinh tế Nhà nước luôn giữ một vị trí quan trọngtrong xuất khẩu cả nước nhưng lại giảm liên tục từ 1995 đến nay, ngược lại xuấtkhẩu của khu vực FDI lại tăng liên tục từ 1995 đến nay, từ một tỷ trọng nhỏ 8,1%trong tổng xuất khẩu cả nước năm 1995 đến năm 2003, con số này đã là 50,4%, vượtqua tỷ trọng của khu vực kinh tế Nhà nước và hiện nay là 57,2% tổng xuất khẩu cảnước Như vậy xuất khẩu của khu vực FDI đang giữ một vị trí quan trọng trong việcgóp phần vào sự tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cả nước
Với tỷ trọng lớn hơn và tốc độ tăng cao hơn, khu vực FDI đã trở thành động lựccủa tăng trưởng xuất khẩu chung cả nước Khu vực FDI có nhiều ưu thế về vốn, vềtrình độ kỹ thuật - công nghệ, quản lý, về quảng cáo, tiếp thị, có sự hậu thuẫn củacác công ty mẹ là các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia hùng mạnh, được khuyếnkhích ưu đãi khi đầu tư, trong thời gian tương đối dài được bảo hộ, nay đã tận dụngtốt hơn cơ hội khi các nước hạ thấp hàng rào thuế quan và phi thuế quan theo camkết hội nhập
3.2.2.2 Hoạt động xuất nhập khẩu của khu vực FDI:
Giá trị xuất khẩu của khu vực FDI trên vốn thực hiện FDI tăng đều qua cácnăm Những năm đầu, giá trị xuất khẩu được tạo ra không nhiều nhưng đến năm
2005, nó đã gấp 5,6 vốn FDI thự hiện, nghĩa là một đồng vốn đầu tư thực hiện FDItạo ra 5,6 đồng giá trị xuất khẩu của khu vực FDI Việc sử dụng đồng vốn có hiệuquả như trên đã thúc đẩy sự tăng trưởng xuất khẩu của cả khu vực đồng thời làm tăngtrưởng tổng kim ngạch xuất khẩu, nhân tố này lại có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tăng
Trang 22trưởng kinh tế Việt Nam Khu vực FDI có vai trò ngày càng quan trọng đối với pháttriển thương mại
Bảng 12: Giá trị xuất khẩu được tạo ra trên một đồng vốn FDI
Năm (a) Xuất khẩu của khu
vực FDI ( Triệu USD) hiện FDI (Triệu USD) (b) Tổng vốn thực Tỷ số (a) /(b)
Nguồn: Tính toán từ Niên Giám Thống Kê 2005
Khu vực trong nước bao gồm khu vưc kinh tế Nhà nước và ngoài Nhà nướcluôn bị thâm hụt với một tỷ lệ không nhỏ kéo theo sự thâm hụt cán cân thương mạicủa cả nước Liên tục từ 1995 đến 2006 khu vực FDI luôn xuất siêu, vì vậy nó đã gópphần đáng kể làm giảm thâm hụt cán cân thanh toán của Việt Nam
Bảng 13: Cán cân xuất nhập khẩu
ĐVT: % của kim ngạch xuất khẩu
Trang 23Nguồn: Nghiên cứu kinh tế số 345 – Tháng 2/ 2007, trang 7
Qua phân tích trên, ta thấy nguồn vốn FDI đã đóng góp rất nhiều vào sự giatăng xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu, làm giảm thâm hụt cán cân thương mại, gópphần vào tăng trưởng kinh tế Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giữ một vai trò quantrọng vào phát triển thương mại quốc tế, phát triển theo hướng công nghiệp hóa vàtheo định hướng xuất khẩu
3.2.3 Đóng góp của FDI trong việc giải quyết việc làm:
Lao động là nguồn nội lực của nước ta, sẵn có đến mức dư thừa, giá nhân cônglại rẻ Lao động tạo ra thu nhập, tạo ra sức mua có khả năng thanh toán, làm tăngdung lượng thị trường trong nước vừa là một yếu tố quan trọng của tăng trưởng kinh
tế, vừa có tác động mời gọi các nhà đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài…
Số lượng lao động đang làm việc đã tăng liên tục qua các năm Năm 2005, tổng
số lao động đang làm việc cả nước đã tăng lên 5.099,5 nghìn người so với năm 2000.Khu vực kinh tế Nhà nước chiếm tỷ trọng bình quân là 9,6% tổng lao động cả nước,khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là khu vực chủ yếu thu hút số lao động của cảnước, đồng thời cũng là khu vực chủ yếu giải quyết việc làm cho số lao động tăngthêm Năm 2000, khu vực này chiếm 90,1% tổng lao động làm việc, năm 2004 là88,7% và năm 2005 là 88,8% Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ lệ thấpnhất, số lượng lao động trong khu vực này liên tục tăng lên, đến năm 2005 lao độnglàm việc trong khu vực này là 676,1 nghìn người, chiếm 1,6% Mặc dù chỉ chiếm tỷ
lệ nhỏ nhưng khu vực FDI đã góp phần giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng laođộng, đây là nhân tố quan trọng góp phần làm cho môi trường đầu tư của Việt Namnâng cao khả năng cạnh tranh
Bảng 14: Lao động đang làm việc tại thời điểm 1/7 hàng năm theo TPKT:
Nguồn:Tổng Cục Thống Kê - Niên Giám Thống Kê 2005
Ngoài ra các dự án FDI thông qua lương mang lại thu nhập cho người lao động,góp phần cải thiện đời sống người dân, người lao động được đào tạo, nâng cao taynghề, tiếp thu công nghệ tiên tiến, rèn luyện tác phong công nghiệp Lương bìnhquân của công nhân Việt Nam trong các dự án đầu tư nước ngoài là 76 – 80 USD /
Trang 24USD / tháng Tổng thu nhập của người lao động trong các dự án FDI hàng năm trên
500 triệu USD, đây là nhân tố góp phần tăng sức mua cho thị trường xã hội (VõThanh Thu, 2005)
3.2.4 Đóng góp của FDI vào sự phát triển công nghệ:
Thông qua các dự án đầu tư FDI nhiều công nghệ mới, hiện đại đã được đưavào sử dụng ở Việt Nam trong các ngành như tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí,ngành bưu chính viễn thông, sản xuất vi mạch điện tử, thiết kế các phần mềm,…những dự án này đóng góp đáng kể để tăng khả năng cạnh tranh của công nghệ ViệtNam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Khu vực kinh tế có vốn FDI có tỷ lệ những thiết bị hiện đại cao nhất chiếm44,4 % và mức độ hiện đại trung bình so với thiết bị hiện đại nhất là 55,6 % cao hơnhai khu vực kinh tế còn lại Sau khi Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được banhành ( ngày 29-12-1987), việc chuyển giao công nghệ qua FDI đã có sự chuyển biếntích cực Nhìn vào hoạt động chuyển giao công nghệ của các nhà đầu tư nước ngoài
và những kết quả mà nó mang lại cho Việt Nam, đồng thời so sánh với thực trạngcông nghệ ở nước ta sẽ thấy được sự đóng góp của FDI là rất lớn
Bảng 15: Mức độ hiện đại của máy móc thiết bị sử dụng trong các khu vực kinh tế trên địa bàn TP HCM so với tiêu chuẩn thế giới (năm 1999)
ĐVT: %
thiết bị hiện đại nhất
Mức độ hiện đại trung bình ( so với thiết bị hiện đại nhất )
Khoảng cách trung bình (so với thiết bị hiện đại nhất )
Nguồn: Tạp chí kinh tế phát triển ( Economics Development Review – 2/2000)
Tạp chí Nghiên cứu kinh tế 344 – Tháng 1/2007 đã cho biết:
Tính đến hết năm 2005, có khoảng trên 70 % dự án có nội dungchuyển giao công nghệ Chuyển giao công nghệ chủ yếu tập trung tronglĩnh vực công nghiệp, chiếm 50,7 % trong tổng số các hợp đồng chuyểngiao công nghệ Chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp chiếm 5,3 %;dịch vụ: 2,3 %; các lĩnh vực khác: 41,75 % Cho đến năm 2005, 90% sốhợp đồng chuyển giao công nghệ tại Việt Nam là qua FDI
Qua hoạt động của khu vực FDI, nhiều công nghệ mới đã được nhậpvào nước ta như: thiết kế, chế tạo máy và sản phẩm cơ khí điều khiểnchương trình, sản xuất ống thép bằng phương pháp cuốn và hàn tự độngtheo đường xoắn ốc, sản xuất ống gang chịu áp lực băng graphit cầu, sảnxuất đồ trang sức theo quy mô công nghiệp bằng đúc khuôn mẫu chảy…Nhiều dây chuyền sản xuất tự động đã được đưa vào như: dây chuyền lắpráp hàng điện tử, mạch điện tử, lắp ráp tổng đài điện thoại tự động kỹ