Nhận định xu hướng phát triển loại hình bao thanh toán xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Quốc tế VIB
Trang 1 Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thanh Nam
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA SEN
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA SEN KHOA KINH TẾ THƯƠNG MẠI
Đề tài:
NHẬN ĐỊNH XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH BAO THANH TOÁN XUẤT NHẬP KHẨU TẠI NGÂN HÀNG QUỐC TẾ VIB
Trang 2Đề
tài :
NHẬN ĐỊNH XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH BAO THANH TOÁN XUẤT NHẬP KHẨU TẠI NGÂN HÀNG QUỐC TẾ VIB
Trang 3thấy loại hình bao thanh toán còn khá non trẻ ở nước ta Tuy nhiên, một số ngân hàng đã triển khai được một số loại hình bao thanh toán như bao thanh toán từng lần, theo hạn mức hay đồng bao thanh toán Từ đó cho thấy nghiệp vụ bao thanh toán đã từng bước phát triển với mục đích là gia tăng tăng dòng tiền, tăng khả năng thanh toán, giảm thiểu rủi ro mất thanh khoản, giảm bớt chi phí quản lý Không những thế đơn vị bao thanh toán có thể gia tăng lợi nhuận thông qua các loại hình như trên Bên cạnh đó, ngoài những lợi ích thì cũng có những khó khăn như phí bao thanh toán còn khá cao hoặc có những hành vị gian lận trong phí Song song với những khó khăn như vậy thì nhóm chúng tôi cũng có đề xuất những biện pháp như đào tạo đội ngủ nhân viên chuyên môn
về bao thanh toán, chỉnh sửa khung pháp lý về bao thanh toán và tăng cường tạo mối quan hệ với phía đối tác nước ngoài Qua đề án này, nhóm chúng tôi cũng nhận thấy được loại hình bao thanh toán, hơn nữa là bao thanh toán quốc tế sẽ là một thị trường đầy tiêm năng vì nghiệp vụ rất cần thiết và đáp ứng được nhu cầu cũng cả bên mua, bên bán và bên đơn vị bao thanh toán
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Phân biệt bao thanh toán trong nước và bao thanh toán quốc tế.
Bảng 2: Ví dụ bảng cân đối kế toán rút gọn của công ty cổ phần xuất nhập khẩu
thủy sản Bến Tre.
Bảng 3: Bảng cân đối kế toán rút gọn của công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy
sản Bến Tre hậu bao thanh toán.
Bảng 4: Quy trình bao thanh toán nội địa của ngân hàng Eximbank.
Bảng 5: Phí thực hiện bao thanh toán của ngân hàng VIB.
Bảng 6: Phí thực hiện bao thanh toán của ngân hàng Agribank.
Bảng 7: Phí thực hiện bao thanh toán của ngân hàng Agribank.
Bảng 8: Thị phần lợi nhuận hoạt động bao thanh toán của các ngân hàng
thương mại năm 2011.
Bảng 9: Doanh số hoạt động bao thanh toán của các thành viên thuộc FCI của
nước ta năm 2011.
Bảng 10: Tỷ trọng doanh số bao thanh toán của nước ta so với Châu Á.
Bảng 11: Những điều kiện quan trọng để doanh nghiệp xuất khẩu phát triển Bảng 12: Những yếu tố gây cản trở nhất cho doanh nghiệp xuất khẩu phát triển.
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1: Doanh thu hoạt động bao thanh toán nội địa của VIB và một số ngân
hàng khác.
Hình 2: Quy trình bao thanh toán nội địa của ngân hàng Agribank.
Hình 3: Quy trình bao thanh toán nội địa của ngân hàng VIB
Hình 4: Biểu đồ doanh số tăng trưởng hoạt động bao thanh toán của nước ta
trong 7 năm qua.
Hình 5: Chênh lệch về doanh thu hoạt động bao thanh toán của nước ta với một
số nước trong khu vực Đông Nam Á.
Hình 6: Tốc độ tăng trưởng vốn điều lệ qua các năm của VIB.
Hình 7: Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận qua các năm của VIB.
Hình 8: Tốc độ tăng trưởng số lượng nhân viên của VIB.
Hình 9: Tình hình xuất nhập khẩu trong ba năm 2009, 2010, 2011 của Việt Nam Hình 10: Khác biệt giữa sự tăng trưởng số liệu với việc cung cấp thông tin của
trung tâm CIC.
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
VIB Ngân hàng quốc tế Vietnam International Bank
FCI Tổ chức bao thanh toán quốc tế Factors Chain International
NHNN Ngân hàng Nhà nước
CIC Trung tâm thông tin tín dụng Credit Information Center
của Ngân hàng Nhà Nước
Trang 7Cuồi cùng, chúng tôi gừi lời cảm ơn của cả nhóm đến các bạn bè, các sinh viên khóa trước đã truyền đạt nhiều kinh nghiệm bổ ích để nhóm hạn chế phần nào những thiếu sót trong khi thực hiện đề án này.
Chân thành cảm ơn!
Trang 8xu hướng phát triển của nghiệp vụ bao thanh toán quốc tế trong tương lai.
Qua bài báo cáo, nhóm chúng tôi nhắm đến các mục tiêu sau
1 Tích lũy thêm kiến thức thông qua quá trình nghiên cứu.
2 Cố gắng tìm hiểu thêm để hiểu rõ hơn về nghiệp vụ bao thanh toán nhằm gia tăng kiến thức nền tảng trước khi thực tập nhận thức.
3 Đặc biệt, nhóm chúng tôi nhắm đến mục tiêu là qua kiến thức có được sẽ có cơ hội tiếp cận và phát triển nghiệp vụ bao thanh toán sau này.
Bố cục bài báo cáo gồm 4 chương
• CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BAO THANH TOÁN.
• CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN DIỄN RA
TẠI VIB VÀ MỘT SỐ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI KHÁC.
• CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN CỦA NƯỚC
TA VÀ SO SÁNH VỚI CÁC NƯỚC KHÁC TRÊN THẾ GIỚI
• CHƯƠNG IV: NHẬN ĐỊNH KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH BAO
THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG VIB.
• CHƯƠNG V: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BAO THANH TOÁN QUỐC TẾ
TẠI NGÂN HÀNG VIB VÀ CHO HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NƯỚC TA.
Trang 9 Sự phân công trong nhóm
Trang 10CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BAO THANH TOÁN
Trong những năm trở lại đây, loại hình bao thanh toán bắt đầu được triển khai thực hiện ở một số ngân hàng thương mại như là một hình thức tài trợ cho doanh nghiệp xuất khẩu Sau đây, chúng ta sẽ tìm hiểu về những vấn đề tổng quát liên quan đến bao thanh toán
1 Khái niệm
1.1 Định nghĩa bao thanh toán
Hiện nay, chúng ta có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về bao thanh toán và mỗi quốc gia lại có những ngôn ngữ riêng, luật lệ riêng của mình Nhưng nhìn chung, chúng vẫn mang nhiều điểm tương đồng
Theo Công ước bao thanh toán quốc tế 1988
“Bao thanh toán là một dạng tài trợ bằng việc mua bán các khoản nợ ngắn hạn trong giao dịch thương mại giữa tổ chức tài trợ và bên cung ứng, theo đó tổ chức tài trợ thực hiện tối thiểu hai trong số các tổ chức năng sau: Tài trợ bên cung ứng gồm cho vay và ứng trước tiền, quản lý sổ sách liên quan đến khoản phải thu, thu nợ các khoản phải thu, bảo đảm rủi ro không thanh toán của bên mua hàng.”
Theo Hiệp hội bao thanh toán thế giới (FCI – Factors Chain International)
“Bao thanh toán là một loại hình dịch vụ tài chính trọn gói bao gồm sự kết hợp giữa tài trợ vốn hoạt động, bảo hiểm rủi ro tín dụng, theo dõi các khoản phải thu và dịch vụ thu hộ Đó là một sự thỏa thuận giữa người cung cấp dịch vụ bao thanh toán với người cung ứng hàng hóa dịch vụ hay còn gọi là người bán hàng trong quan hệ mua bán hàng hóa.Theo như thỏa thuận, đơn vị bao thanh toán sẽ mua lại các khoản phải thu của người bán dựa trên khả năng trả nợ của người mua.”
Theo pháp luật của nước ta
Vào ngày 06 tháng 9 năm 2004, thống đốc ngân hàng nhà nước đã kí ban hành
quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN về “Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng” Trong đó; khoản 1, điều 2 có nêu rõ về khái niệm của bao thanh toán.
“Bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa
Trang 11đã được bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa”.
Qua những định nghĩa trên, chúng ta thấy có nhiều cách diễn đạt khác nhau về nghiệp vụ bao thanh toán nhưng nhìn chung ta có thể hiểu về bao thanh toán như sau:
− Là hình thức tài trợ cho những khoản thanh toán chưa đến hạn
− Người bán sẽ chuyển nhượng cho đơn vị bao thanh toán các quyền và nghĩa vụ liên quan tới khoản phải thu đó
− Đơn vị bao thanh toán sẽ thực hiện các dịch vụ chủ yếu như: ứng trước tiền hàng cho bên bán, theo dõi các khoản phải thu, thu nợ, bảo đảm rủi ro tín dụng bên mua hàng
1.2 Đối tượng của bao thanh toán
Theo như định nghĩa vừa nêu, đối tượng của bao thanh toán chính là những khoản phải thu Đó là khoản tiền bên bán hàng được quyền thu từ bên mua hàng sau khi đã giao hàng cho bên mua hàng theo đúng quy định tại hợp đồng mua bán đã ký kết Việc chuyển nhượng khoản phải thu bao gồm việc chuyển nhượng toàn bộ các quyền và lợi ích liên quan đến khoản phải thu
1.3 Chức năng của bao thanh toán
Bao thanh toán có 3 chức năng:
− Chức năng theo dõi các khoản phải thu
Đơn vị bao thanh toán sẽ giữ sổ sách bán hàng của người bán, đồng thời phải phụ trách toàn bộ việc quản lý và theo dõi các khoản phải thu theo đúng cam kết trong hợp đồng bao thanh toán dựa trên các hóa đơn gửi tới người mua, xử lý các hóa đơn và theo dõi việc thanh toán tiền hàng khi đến hạn
− Chức năng tài trợ
Mỗi khi nhận được hoá đơn của người bán, đơn vị bao thanh toán sẽ cấp ngay cho người bán một số tiền theo tỷ lệ phần trăm xác định của giá trị hóa đơn Phần còn lại của giá trị hóa đơn sẽ được tổ chức tài trợ cam kết thanh toán cho người bán sau một thời hạn thỏa thuận sau khi trừ đi các khoản phí dịch vụ tài trợ và lãi chiết khấu
Trang 12− Chức năng đảm bảo rủi ro từ phía người mua
Khi bán các khoản phải thu cho đơn vị thực hiện bao thanh toán, người bán đã chuyển giao các rủi ro của bên mua cho đơn vị bao thanh toán dựa theo thoản thuận trong hợp đồng Việc chuyển giao rủi ro này sẽ là toàn bộ (nếu là bao thanh toán miễn truy đòi) hoặc một phần (nếu là bao thanh toán có truy đòi) Chúng ta sẽ tìm hiểu kĩ hơn về phần này ở bao thanh toán có truy đòi và miễn truy đòi
2 Các loại hình bao thanh toán
Phần sau đây nhóm xin giới thiệu về các loại hình bao thanh toán được quy định
tại khoản 1, điều 11 trong quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN về “Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng”.
2.1 Phân loại theo phạm vi thực hiện
2.1.1.Bao thanh toán trong nước:
Là loại hình bao thanh toán dựa trên hợp đồng mua bán, trong đó bên bán hàng và bên mua hàng đều là người cư trú theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối.Loại hình bao thanh toán này có đối tượng khách hàng thường là các doanh nghiệp thường xuyên bán hàng trả chậm nhưng lại cần vốn lưu động để phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh
2.1.2.Bao thanh toán quốc tế (bao thanh toán xuất-nhập khẩu)
Là loại hình bao thanh toán dựa trên hợp đồng xuất nhập khẩu được kí kết giữa bên bán hàng và bên mua hàng ở hai quốc gia khác nhau, theo đó, hoạt động mua bán của hai bên diễn ra vượt ra ngoài biên giới của một quốc gia
Trong xu thế hội nhập với nền kinh tế thế giới thì loại hình bao thanh toán quốc tế là rất có tiềm năng phát triển ở nước ta
Trang 13Bảng 1 Phân biệt bao thanh toán trong nước và bao thanh toán quốc tế
Bao thanh toán trong nước Bao thanh toán quốc tế
Cơ sở pháp lí Luật pháp nước sở tại Luật pháp hai nước xuất khẩu và nhập khẩu
Kỳ hạn Ngắn hạn, thường không quá 180 ngày Ngắn, trung và dài hạn
Đồng tiền bao thanh toán Thường là đồng bản tệ Tùy theo cam kết trong hợp đồng xuất nhập khẩu
2.2 Phân loại theo quyền của đơn vị bao thanh toán
2.2.1.Bao thanh toán có quyền truy đòi
“Là loại hình bao thanh toán mà đơn vị bao thanh toán có quyền truy đòi khoản tiền đã ứng trước cho bên bán khi bên mua không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán khoản phải thu.”
(Trích “Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng”)
Điều này có nghĩa rằng, trong trường hợp có rủi ro không thanh toán các khoản phải thu từ phía người mua, đơn vị bao thanh toán sẽ được quyền truy đòi lại bên bán số tiền mà họ đã ứng trước đó cho bên bán
Đây là loại hình bao thanh toán giảm bớt được rủi ro cho đơn vị thực hiện
2.2.2.Bao thanh toán không có quyền truy đòi (miễn truy đòi)
“Là hình thức mà đơn vị bao thanh toán phải chịu toàn bộ rủi ro khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán khoản phải thu Đơn vị thực hiện bao thanh toán chỉ quyền đòi lại số tiền đã ứng trước cho bên bán trong trường hợp bên mua từ chối thanh toán khoản phải thu do bên bán giao hàng không đúng như thỏa thuận tại hợp đồng mua-bán hàng hóa hoặc vì một lí do khác không liên quan đến khả năng thanh toán của bên mua hàng.”
(Trích “Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng”)
Điều này có nghĩa rằng, ngoại trừ trường hợp có xảy ra tranh chấp giữa người bán và người mua (như bên mua không đồng ý thanh toán các khoản phải thu do bên bán giao hàng không đúng theo cam kết trong hợp đồng, hay vì các lý do khác không liên quan đến khả năng thanh toán của bên mua) thì trong mọi trường hợp còn lại, đơn vị
Trang 14bao thanh toán không được quyền truy đòi lại số tiền mà họ đã ứng trước đó cho bên bán
Đây là loại hình bao thanh toán mà đơn vị thực hiện phải chịu mọi rủi ro về tín dụng So với bao thanh toán có truy đòi thì bao thanh toán miễn truy đòi bao gồm cả bảo hiểm rủi ro trả nợ
3 Các phương thức bao thanh toán:
Phần sau đây nhóm xin giới thiệu về các phương thức bao thanh toán được quy
định tại điều 12 trong quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN về “Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng”.
3.1 Bao thanh toán từng lần
“Là hình thức mà đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng thực hiện các thủ tục cần thiết và ký hợp đồng bao thanh toán đối với các khoản phải thu theo từng lần phát sinh.”
(Trích “Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng”)
Khi thực hiện hình thức này, bên bán hàng bắt buộc phải nộp bộ hồ sơ và ký vào hợp đồng đề nghị cung cấp dịch vụ bao thanh toán mỗi khi có nhu cầu
3.2 Bao thanh toán theo hạn mức
“Là hình thức mà đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng thỏa thuận và xác định một hạn mức bao thanh toán duy trì trong một khoảng thời gian nhất định”.
(Trích “Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng”)
Điều này có nghĩa rằng, đơn vị bao thanh toán sẽ cấp cho bên bán hàng một hạn mức bao thanh toán trong một khoảng thời gian xác định và tổng số dư bao thanh toán của bên bán hàng không vượt quá hạn mức này Theo đó, bên bán hàng chỉ lập và ký hợp đồng bao thanh toán một lần trong suốt thời gian thực hiện như theo cam kết với ngân hàng
Các ngân hàng thường chỉ cung cấp phương thức bao thanh toán này cho những doanh nghiệp có uy tín tín dụng cao, doanh nghiệp có tầm vóc lớn nhằm hạn chế những rủi ro khi thực hiện phương thức này
3.3 Đồng bao thanh toán
Trang 15“Là hình thức mà có hai hay nhiều đơn vị bao thanh toán cùng thực hiện hoạt động bao thanh toán cho một hợp đồng mua-bán hàng hóa, trong đó, một đơn vị bao thanh toán làm đầu mối thực hiện việc tổ chức đồng bao thanh toán.”
(Trích “Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng”)
4 Quy trình thực hiện bao thanh toán
Hiện nay, theo điều 13 trong quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN về “Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng” và khoản 6, điều 1 trong quyết định số 30/2008/QĐ-NHNN về việc “Sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng” đã quy định rõ về quy trình cho hai
phương thức bao thanh toán trong nước và bao thanh toán xuất-nhập khẩu Sau đây, nhóm xin đưa ra cơ chế hoạt động của hai hình thức này
“ Điều 13 Quy trình hoạt động bao thanh toán:
1.
Hoạt động bao thanh toán được thực hiện theo các bước chính như sau:
A Bên bán hàng đề nghị đơn vị bao thanh toán thực hiện bao thanh toán các khoản phải thu.
B Đơn vị bao thanh toán thực hiện phân tích các khoản phải thu, tình hình hoạt động và khả năng tài chính của bên bán hàng và bên mua hàng.
C Đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng thoả thuận và ký kết hợp đồng bao thanh toán
D Bên bán hàng gửi văn bản thông báo về hợp đồng bao thanh toán cho bên mua hàng và các bên liên quan, trong đó nêu rõ việc bên bán hàng chuyển giao quyền đòi
nợ cho đơn vị bao thanh toán và hướng dẫn bên mua hàng thanh toán cho đơn vị bao thanh toán.
Đ Bên mua hàng gửi văn bản cho bên bán hàng và đơn vị bao thanh toán xác nhận về việc đã nhận được thông báo và cam kết về việc thực hiện thanh toán cho đơn
vị bao thanh toán Trường hợp bên mua hàng không có văn bản cam kết thực hiện thanh toán cho đơn vị bao thanh toán thì việc tiếp tục thực hiện bao thanh toán giữa bên bán và đơn vị bao thanh toán sẽ do hai bên quyết định và tự chịu trách nhiệm khi
có rủi ro phát sinh.
E Bên bán hàng chuyển giao bảng kê kèm bản gốc hợp đồng mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ; chứng từ mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ và các chứng từ khác liên quan đến các khoản phải thu cho đơn vị bao thanh toán Nếu tài liệu nêu trên là
Trang 16bản sao có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền thì sẽ do bên bán hàng, đơn vị bao thanh toán thoả thuận và tự chịu trách nhiệm về quyết định của mình khi có rủi ro phát sinh.
G Đơn vị bao thanh toán chuyển tiền ứng trước cho bên bán hàng theo thoả thuận trong hợp đồng bao thanh toán.
H Đơn vị bao thanh toán theo dõi, thu nợ từ bên mua hàng.
I Đơn vị bao thanh toán tất toán tiền với bên bán hàng theo quy định trong hợp đồng bao thanh toán.
K Giải quyết các vấn đề tồn tại phát sinh khác
2.
Đối với hoạt động bao thanh toán xuất-nhập khẩu : qui trình nghiệp vụ bao thanh toán có thể được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều này hoặc được thực hiện thông qua đơn vị bao thanh toán nhập khẩu Đơn vị bao thanh toán nhập khẩu chịu trách nhiệm phân tích khoản phải thu, tình hình hoạt động, khả năng tài chính của bên mua hàng là bên nhập khẩu trong hợp đồng xuất-nhập khẩu; thực hiện việc thu nợ theo uỷ quyền của đơn vị bao thanh toán xuất khẩu và cam kết sẽ thanh toán thay cho bên nhập khẩu trong trường hợp bên nhập khẩu không có khả năng thanh toán khoản phải thu
Trường hợp hoạt động bao thanh toán thực hiện qua đơn vị bao thanh toán nhập khẩu, đơn vị bao thanh toán xuất khẩu và đơn vị bao thanh toán nhập khẩu phải thoả thuận và ký kết một hợp đồng riêng phù hợp với quy định của pháp luật, trong đó quy định cụ thể về quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên ”
(Trích “Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN” và “Quyết định số
30/2008/QĐ-NHNN”).
Trên đây chính là quy trình chuẩn của Ngân hàng Nhà nước đưa ra để cho các Ngân hàng thương mại áp dụng Ở chương II, nhóm sẽ minh họa thực tiễn về sơ đồ thực hiện hai loại hình bao thanh toán này ở ngân hàng VIB và một số ngân hàng thương mại
5 Lợi ích của hoạt động bao thanh toán
5.1 Đối với người bán
Với bản chất là loại hình tài trợ thương mại, bao thanh toán đã mang lại nhiều lợi thế ưu việt cho người bán Đó là:
5.1.1.Cải thiện dòng tiền, tăng khả năng thanh toán.
Trang 17Trong hoạt động kinh doanh thương mại ngày nay thì việc phát sinh các khoản phải thu là điều rất bình thường và trở thành một điều hiển nhiên đối với mọi doanh nghiệp Song, việc phát sinh ra các khoản phải thu lại làm chậm đi vòng quay tài sản lưu động và ảnh hưởng lớn đến hoạt động tái sản xuất của doanh nghiệp.
Chúng ta đã biết công thức tính tỷ số thanh khoản hiện thời là:
Tỷ số thanh khoản hiện thời = (Tài sản ngắn hạn) / (Nợ ngắn hạn)
Trong đó, tài sản ngắn hạn gồm có các khoản mục sau: tiền và các khoản tương đương tiền, đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác
Tỷ số trên thể hiện phần nào khả năng thanh toán của một doanh nghiệp Nếu tỷ số càng cao thì khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng tốt Tuy nhiên, tỷ số này quá cao cũng là một điểm yếu cho doanh nghiệp bởi nó có thể được hiểu rằng khoản mục khoản phải thu của doanh nghiệp chiếm tỉ lệ nhất định trong tài sản ngắn hạn Ta biết rằng, các khoản phải thu có tính thanh khoản không cao và việc có thu nợ được hay không phụ thuộc rất lớn vào khả năng thanh toán của người mua Vì thế, việc giảm thiểu các khoản phải thu cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có thêm một lượng vốn bằng tiền, từ đó làm tăng khả năng thanh toán cho doanh nghiệp
Chính điều này đã giúp cho bao thanh toán được xem là phương pháp tài trợ cho doanh nghiệp khi doanh nghiệp được ứng trước tiền hàng đến 80-90% giá trị hóa đơn Nó đặc biệt có ý nghĩa khi giúp cho vốn kinh doanh của doanh nghiệp không bị ứ đọng trong các khoản phải thu chờ thanh toán, góp phần tăng tốc độ lưu chuyển tiền tệ và tăng khả năng thanh toán cho doanh nghiệp
5.1.2 Góp phần giảm thiểu rủi ro cho người bán
Đây có lẽ là lợi ích lớn nhất cho người bán khi sử dụng bao thanh toán
Với nền kinh tế luôn có những chuyển động không ngừng và khó lường trước như hiện nay thì bài toán quản trị rủi ro cho doanh nghiệp thật sự là một vấn đề nan giải Và việc sử dụng bao thanh toán sẽ giúp cho người bán có thể hạn chế phần nào rủi ro cho mình
− Trường hợp người bán sử dụng loại hình bao thanh toán miễn truy đòi
Mọi rủi ro tín dụng sẽ do đơn vị bao thanh toán đảm nhận khi người mua mất khả năng thanh toán hoặc không thanh toán trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày đến hạn của khoản phải thu, với điều kiện không có tranh chấp xảy ra giữa bên xuất khẩu và bên nhập khẩu cũng như với bên thứ ba bất kỳ
Trang 18− Trường hợp người bán sử dụng bao thanh toán có truy đòi
Tuy rằng đơn vị bao thanh toán có quyền truy đòi lại khoản tiền đã ứng trước cho người bán khi không nhận được khoản tiền thanh toán từ người mua nhưng trước đó, người bán cũng đã được cấp một dịch vụ thu nợ và thẩm định tín dụng chuyên nghiệp từ đơn vị bao thanh toán
Hơn nữa, với khoản tiền đã được ứng trước từ đơn vị bao thanh toán, người bán có thể tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh của mình để tạo thêm doanh thu và khi có rủi ro trong hợp đồng bao thanh toán thì người bán cũng đã có một phần doanh thu để chi trả cho khoản đã ứng trước đó
Thêm nữa, người bán cũng có thể xin gia hạn hợp đồng bao thanh toán nhằm có thêm thời gian để tạo thêm doanh thu với hoạt động tái sản xuất từ khoản tiền đã được ứng trước đó
− Trường hợp người bán không ký kết hợp đồng sử dụng bao thanh toán
Khi đó, người bán cũng được cung cấp thông tin về rủi ro của các khoản phải thu,
về người mua (nhất là với các khách hàng mới của doanh nghiệp) Nhờ đó, người bán có thể nắm được phần nào uy tín tín dụng của người mua để có cơ sở ra những quyết định sau này
Trang 195.1.3 Giảm thời gian, chi phí trong việc quản lí và thu hồi các khoản phải thu
Với nghiệp vụ bao thanh toán, toàn bộ trách nhiệm về khoản phải thu sẽ được chuyển giao cho đơn vị bao thanh toán nên người bán không cần phải mất thời gian để theo dõi các khoản thu Từ đó, giúp cho người bán tiết kiệm được chi phí cho nhiều công việc riêng lẻ như: gửi hóa đơn, thông báo đòi nợ, v.v…
5.1.4 Là biện pháp giúp doanh nghiệp làm đẹp bảng cân đối kế toán
Hiện nay, bảng cân đối kế toán là một bộ phận cực kỳ quan trọng trong báo cáo tài chính quyết định doanh nghiệp có thể thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà đầu
tư hay không Vì thế, việc “làm đẹp” bảng cân đối kế toán cho doanh nghiệp của mình cũng là một biện pháp hữu hiệu để doanh nghiệp có thể kêu gọi thêm vốn từ các nhà đầu tư
Khi nhìn vào bảng cân đối kế toán của một doanh nghiệp, chúng ta có thể thấy được tình hình tài chính của doanh nghiệp đó Nếu bảng cân đối có khoản phải thu quá cao thì sẽ là một rào cản khi doanh nghiệp kêu gọi nhà đầu tư hay khi doanh nghiệp muốn tiếp cận với nguồn vốn vay của ngân hàng Lý do là vì khoản phải thu là khoản mục ảnh hưởng lớn khả năng thanh toán của doanh nghiệp Giả sử, ngân hàng đang xem xét tài trợ vốn vay cho một doanh nghiệp có khoản phải thu cao thì chắc chắn ngân phải thẩm định rất kỹ khả năng thu hồi của các khoản phải thu này, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thu hồi nợ gốc và lãi vay mà doanh nghiệp phải trả
Để minh họa cho điều này, chúng ta hãy phân tích ví dụ sau:
Trang 20Bảng 2: Ví dụ bảng cân đối kế toán rút gọn của công ty cổ phần xuất nhập khẩu
thủy sản Bến Tre
Đơn vị tính: Đồng
A.Tài sản ngắn hạn 421.220.484.403 A Nợ phải trả 135.921.444.210
I Tiền và các khoản
tương đương tiền
89.403.273.800 I Nợ ngắn hạn
1 Vay và nợ ngắn hạn
2 Các khoản phải trả
135.996.829.627 86.310.640.206 49.686.189.421
II Các khoản đầu tư
tài chính ngắn hạn 107.863.020.187 II Nợ dài hạn (75.385.417)III Các khoản phải thu
IV Hàng tồn kho 128.045.912.138
V Tài sản ngắn hạn
B Tài sản dài hạn 114.312.155.781 B Vốn chủ sở hữu 399.611.195.974
Tổng tài sản 535.532.640.184 Tổng nguồn vốn 535.532.640.184
(Trích “Báo cáo tài chính quý III năm 2012” của công ty).
Nhìn vào ví dụ trên ta thấy các khoản phải thu trong phần tài sản chiếm một tỷ lệ khá lớn (gần bằng 16,8%) Bây giở giả sử doanh nghiệp sử dụng dịch vụ bao thanh toán và bán một phần khoản phải thu (giả định là 60.000.000.000 đồng), ngân hàng đồng ý tài trợ cho doanh nghiệp 85% trị giá hóa đơn Khi này, số tiền mà doanh nghiệp nhận được là 60.000.000.000 x 85% = 51.000.000.000 đồng Giả sử doanh nghiệp dùng số tiền trên để chi trả các khoản vay và nợ ngắn hạn (20.000.000.000 đồng) và các khoản phải trả (31.000.000.000 đồng)
Khi này, bảng cân đối kế toán của của doanh nghiệp hậu bao thanh toán sẽ là
Bảng 3: Bảng cân đối kế toán rút gọn của công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy
sản Bến Tre hậu bao thanh toán.
Đơn vị tính: Đồng
Trang 21Tài sản Trị giá Nguồn vốn Trị giá
A.Tài sản ngắn hạn 370.220.484.403 A Nợ phải trả 84.921.444.210
I Tiền và các khoản
tương đương tiền 89.403.273.800 I Nợ ngắn hạn 1 Vay và nợ ngắn
hạn
2 Các khoản phải trả
84.996.829.627 66.310.640.206 18.686.189.421
II Các khoản đầu tư
tài chính ngắn hạn 107.863.020.187 II Nợ dài hạn (75.385.417)III Các khoản phải thu
IV Hàng tồn kho 128.045.912.138
V Tài sản ngắn hạn
B Tài sản dài hạn 114.312.155.781 B Vốn chủ sở hữu 399.611.195.974
Tổng tài sản 484.532.640.184 Tổng nguồn vốn 484.532.640.184
Từ ví dụ trên, chúng ta thấy được rằng khi doanh nghiệp sử dụng bao thanh toán thì các khoản phải thu sẽ được giảm xuống, doanh nghiệp có thể dùng khoản tiền ứng trước để chi trả các khoản nợ của mình hoặc tái sản xuất kinh doanh Một doanh nghiệp có khoản phải thu thấp sẽ tạo được ấn tượng tốt hơn so với doanh nghiệp có khoản phải thu cao trong mắt các nhà đầu tư cũng như ngân hàng.
Tóm lại khi sử dụng bao thanh toán, người bán có hai lợi ích chính là nhận được tiền ngay và trách nhiệm thu nợ được chuyển cho đơn vị bao thanh toán, từ đó phần nào giảm thiểu rủi ro và giúp cho hoạt động kinh doanh của người bán hiệu quả hơn Trên đây chính là những lợi ích mà người bán thu được từ dịch vụ bao thanh toán, phần tiếp theo chúng ta sẽ bàn về những lợi ích mà bao thanh toán mang lại cho các đơn vị thực hiện.
5.2 Đối với đơn vị bao thanh toán
5.2.1 Đa dạng hóa dịch vụ
Với những tính năng ưu việt của loại hình bao thanh toán, các tổ chức tín dụng có thể dựa vào bao thanh toán để đa dạng hóa dịch vụ cung ứng của mình nhằm phục vụ khách hàng tốt hơn Trong xu thế hội nhập với nền kinh tế thế giới như hiện nay thì phát triển dịch vụ mới là điều mà các tổ chức tín dụng cần cân nhắc
Trang 225.2.2 Gia tăng lợi nhuận
Thông qua nghiệp vụ bao thanh toán, tổ chức tín dụng có thể thu được các loại phí và lãi, cung cấp thêm các dịch vụ kèm theo Khi khách hàng sử dụng dịch vụ này càng nhiều thì nguồn thu của ngân hàng từ việc cung ứng dịch vụ càng tăng
Ngoài ra, khi đưa dịch vụ bao thanh toán đi vào hoạt động thì tổ chức tín dụng cũng có thể phát triển được các dịch vụ khác như: chuyển tiền, kinh doanh ngoại hối, phí đếm tiền, v.v…
Hơn nữa, để khách hàng có thể sử dụng dịch vụ bao thanh toán thì ngoài việc xem xét mối quan hệ tín dụng thì ngân hàng còn đánh giá lịch sử giao dịch của khách hàng thông qua tài khoản tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng Khi khách hàng có tài khoản tại ngân hàng thì việc thu lợi từ những dịch vụ mà khách hàng sử dụng cũng là điều mà các ngân hàng không nên bỏ qua
5.3 Đối với người mua
Chúng ta biết rằng, bao thanh toán là một loại hình tài trợ cho doanh nghiệp xuất khẩu nhưng doanh nghiệp nhập khẩu cũng có thể thu được những khoản lợi cho Đó là:
− Các khó khăn về ngôn ngữ sẽ được giải quyết bởi đơn vị bao thanh toán.
− Người mua được nhận hàng và sử dụng hàng mà không cần phải thanh toán tiền ngay.
− Không phải trả phí bao thanh toán.
− Người mua có quyền chỉ thanh toán tiền hàng khi hàng hóa tuân theo đúng như tiêu chuẩn ghi trong hợp đồng.
− Không cần phải mở thư tín dụng cho từng lần nhập hàng, do đó không phải ký quỹ.Chúng ta biết rằng, thư tín dụng vẫn là phương tiện thanh toán được sử dụng phổ biến nhất hiện nay Tuy nhiên, khi sử dụng thư tín dụng, nhằm tạo sự tin tưởng đảm bảo việc thanh toán cho người bán, người mua thường yêu cầu ngân hàng của mình phát hành thư tín dụng cho người bán Song, thủ tục mở thư tín dụng rất tốn kém và mất thời gian Đó là lý do vì sao khi sử dụng bao thanh thì người mua sẽ giảm được những chi phí này, cũng như không phải ký quỹ và nhận được hàng một cách nhanh chóng Đây chính là ưu điểm lớn nhất của bao than toán mà nhóm nghĩ người mua có được khi sử dụng dịch vụ
Rõ ràng, qua những gì mà nhóm vừa trình bày thì cả người bán, người mua cùng đơn vị bao thanh toán đều có thể thu được những khoản lợi cho mình khi tham gia thực hiện Tuy nhiên, bất kì một nghiệp vụ nào cũng mang đến những rủi ro nhất định và bao thanh toán cũng không phải là ngoại lệ.
Trang 23Phần tiếp theo, nhóm sẽ trình bày về những rủi ro mà các bên có thể gặp phải khi tham gia thực hiện bao thanh toán.
6 Rủi ro của hoạt động bao thanh toán
Tuy có rất nhiều điểm thuận lợi song hoạt động bao thanh toán cũng ẩn chứa nhiều rủi ro đối với các bên liên quan Rủi ro này có thể đến từ người bán, từ người mua, từ các đơn vị bao thanh toán hay các yếu tố khác
6.1 Rủi ro cho người bán
sẽ tự đặt câu hỏi cho chính mình rằng: “Tình hình tài chính của người bán có tốt không? Liệu người bán có thể cung cấp hàng theo đúng như tiêu chuẩn đã cam kết trong hợp đồng không khi người bán phải tìm đến phương thức tài trợ là bao thanh toán?”…
Những lý do này có thể sẽ dẫn đến nguy cơ rằng, người mua sẽ tìm đến nhà cung cấp khác ổn định hơn và từ đó người bán có thể mất đi hợp đồng của mình
6.1.2 Nguy cơ rò rỉ thông tin
Chúng ta biết rằng, để sử dụng bao thanh toán thì người bán phải giao sổ cái bán hàng cho đơn vị bao thanh toán để đơn vị bao thanh toán quản lý việc theo dõi khoản phải thu và thu hồi nợ Song chính điều này cũng có thể gây khó khăn cho doanh nghiệp khi toàn bộ dữ liệu thông tin về khoản phải thu đã bị ngân hàng nắm giữ Đây có thể là kẻ hở để cho ngân hàng có thể trục lợi từ những thông tin này
Chẳng hạn như một cán bộ ngân hàng tiến hành công việc thẩm định bộ hồ sơ đề nghị bao thanh toán thì những thông tin mà người cán bộ đó nắm giữ chính là sổ cái bán hàng, tính năng của sản phẩm, trị giá khoản phải thu Đó chính là mối nguy hại cho người bán nếu như toàn bộ những thông tin đó bị tiết lộ ra ngoài
6.1.3 Năng lực thẩm định của đơn vị bao thanh toán
Trang 24Rủi ro này xảy ra do sự yếu kém trong khâu thẩm định người mua của đơn vị bao thanh toán dẫn đến gây thiệt hại cho người bán, đặc biệt trong phương thức bao thanh toán có truy đòi Đó có thể là do trình độ của cán bộ thẩm định còn yếu kém, thông tin người mua cung cấp không tin cậy và cũng có thể là do ý thức, trách nhiệm của cán bộ thẩm định, thậm chí là có những hành vi cố tình thẩm định một cách sơ sài nhằm trục lợi cho bản thân từ khoản tiền “lót tay” của người mua.
Chúng ta giả sử rằng: người bán rất có thiện chí trong việc cung ứng và giao hàng đúng hạn như theo cam kết trong hợp đồng nhưng lại gặp phải rủi ro mất khả năng thanh toán từ phía người mua sẽ khiến người bán đặt dấu hỏi về năng lực thẩm định của đơn vị bao thanh toán Và khả năng người bán tìm đến đơn vị bao thanh toán khác có năng lực thẩm định chuyên nghiệp và tin cậy hơn là điều họ hoàn toàn có thể cân nhắc
Trên đây chính là những rủi ro mà nhóm nghĩ người bán có thể sẽ gặp phải trong quá trình sử dụng nghiệp vụ bao thanh toán Phần sau nhóm xin trình bày về những rủi
ro của đơn vị đóng vai trò rất quan trọng trong việc quyết định bao thanh toán có được thực hiện hay không _ đơn vị bao thanh toán.
Trang 256.2 Rủi ro cho đơn vị thực hiện bao thanh toán
Bao thanh toán là một nghiệp vụ mang tính rủi ro cho đơn vị bao thanh toán vì những lý do sau:
6.2.1 Nguồn thu nợ của đơn vị bao thanh toán khá hạn chế
Chúng ta biết rằng, trong cho vay thông thường, nguồn thu chính của ngân hàng là thu nhập của người vay, nguồn thu thứ hai là từ tài sản đảm bảo Nếu như đơn vị bao thanh toán tiến hành ký kết hợp đồng bao thanh toán miễn truy đòi thì nguồn thu chính của đơn vị bao thanh toán chính là nguồn thu thứ hai Khi không thể thu từ nguồn này thì mọi tổn thất sẽ do đơn vị bao thanh toán gánh chịu
Trường hợp ký kết hợp đồng bao thanh toán có quyền truy đòi, mặc dù ngân hàng có quyền truy đòi lại người bán khi người mua không thanh toán hợp đồng nhưng đó cũng là một vấn đề khó khăn Vì nếu ngân hàng không thu hồi được nợ từ người mua thì cũng sẽ gặp khó khăn trong việc truy đòi người bán Rõ ràng, sự hạn chế trong nguồn thu nợ là một bài toán quản trị rủi ro rất khó cho đơn vị bao thanh toán
Do đó, khi thực hiện bao thanh toán đối với người bán thì ngân hàng cũng cần phải thẩm định người bán về tình hình tài chính, về tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và quan trọng nhất là việc thẩm định các khoản phải thu Bên cạnh đó, đơn vị bao thanh toán cũng cần phải có mối quan hệ rộng rãi, khả năng am hiểu thị trường, có nhiều nguồn thông tin và phải có một đội ngũ nhân viên giỏi về nghiệp vụ
6.2.2 Rủi ro trong vấn đề gian lận tín dụng
Chúng ta biết rằng, điểm mạnh của loại hình bao thanh toán đối với người bán là một hình thức tài trợ có thể cung ứng vốn nhanh với những thủ tục nhanh gọn, không quá khắt khe Song, với những điều kiện như thế thì việc đơn vị bao thanh toán phải đối mặt với các đối tượng khách hàng cố tình lừa đảo nhằm trục lợi từ những khoản tiền ứng trước là điều hoàn toàn có thể xảy ra
Trong thực tế, người mua và người bán hoàn toàn có khả năng thông đồng với nhau nhằm làm giả hợp đồng mua bán và lập nên các hóa đơn ảo Cho nên, nếu đơn vị bao thanh toán không có những biện pháp kiểm tra chặt chẽ thì rủi ro xảy ra là điều hiển nhiên
Ngoài ra, vấn đề cung cấp dịch vụ bao thanh toán cho công ty “ma” cũng là điều mà các đơn vị bao thanh toán lưu tâm Vấn đề gặp phải khách hàng là những công ty có giấy phép kinh doanh hợp pháp, có con dấu rõ ràng, song lại không có bất cứ một hoạt động kinh doanh nào hoặc đã ngừng sản xuất kinh doanh nhưng lại cố tình sử dụng
Trang 26những hóa đơn giả để trục lợi từ hợp đồng bao thanh toán là chuyện hoàn toàn có thể xảy ra.
Hơn nữa, việc phải đối diện với rủi ro khi bên bán chỉ sử dụng một giao dịch bán nhưng lại đem hồ sơ đến xin tài trợ ở nhiều nơi cũng là điều mà các đơn vị bao thanh toán phải lưu ý Khi đó, đơn vị bao thanh toán sẽ bị vướng mắc thủ tục pháp lý khi không phải là chủ sở hữu duy nhất khoản phải thu này
mua-Vì thế, khi thương thảo hợp đồng, đơn vị bao thanh toán phải tiến hành thẩm định một cách kỹ càng cũng như bắt buộc người bán chứng minh được rằng: người bán là chủ sở hữu hợp pháp, có quyền chuyển nhượng khoản nợ này và chưa chuyển nhượng khoản nợ này cho một tổ chức hay cá nhân nào khác
6.2.3 Rủi ro do người mua gây nên
− Do năng lực tài chính
Trong bao thanh toán, trách nhiệm trả nợ thuộc về người mua Vì thế, rủi ro do người mua mất khả năng thanh toán chính là rủi ro cao nhất có thể xảy ra thi thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán
Nếu đơn vị bao thanh toán không đánh giá đúng chất lượng của khoản phải thu thì việc không thu hồi được nợ và chịu tổn thất là điều hoàn toàn có khả năng (đặc biệt là trong bao thanh toán miễn truy đòi)
Chính vì thế, đơn vị bao thanh toán cần đặc biệt chú trọng trong khâu thẩm định
uy tín tín dụng của người mua (như thẩm định tình hình tài chính, lịch sử quan hệ tín dụng, quá trình sản xuất kinh doanh) cũng như chất lượng thu hồi của khoản phải thu (như thị hiếu của người tiêu dùng về sản phẩm, thị trường đầu ra cho sản phẩm, nhu cầu của sản phẩm trong tương lai, thời gian thu hồi được nợ, v.v…)
− Do thiếu đạo đức kinh doanh
Đặc biệt, trong phương thức bao thanh toán quốc tế thì một rủi ro rất lớn chính là
từ đạo đức kinh doanh của người mua (nhà nhập khẩu) Bởi những lí do như khác nhau về vị trí địa lý, luật pháp, tập quán kinh doanh mà việc tiếp cận cũng như thẩm định nhà nhập khẩu gặp rất nhiều khó khăn Khi đó, nếu nhà nhập khẩu có những hành vi như cố tình lừa đảo, chiếm đoạt hàng mua bất hợp pháp, trốn tránh hoặc trì hoãn nghĩa vụ trả
nợ cũng là một rào cản rất lớn cho sự phát triển của loại hình bao thanh toán quốc tế so với loại hình bao thanh toán trong nước
Chính vì thế, các đơn vị bao thanh toán thường nhờ đến đơn vị đại lý ở nước của nhà nhập khẩu nhằm hỗ trợ trong việc đánh giá tín dụng cũng như tiếp cận với nhà nhập
Trang 27giảm thiểu rủi ro khi tiến hành hoạt động bao thanh toán quốc tế là điều mà các đơn vị bao thanh toán nhất thiết phải chú trọng.
Tóm lại, qua quá trình nghiên cứu, nhóm nhận thấy rằng với tính năng là một công cụ tài trợ cho người bán trong hoạt động thương mại, bao thanh toán đã đem lại cho người bán, cũng như đơn vị bao thanh toán những lợi ích nhất định nhưng cũng mang theo nhiều rủi ro
Phần tiếp theo nhóm sẽ trình bày thực trạng hoạt động bao thanh toán tại ngân hàng VIB và một số ngân hàng thương mại khác để nắm rõ hơn những vấn đề quy trình thực hiện, biểu phí bao thanh toán cũng như những kết quả mà ngân hàng thu được từ hoạt động bao thanh toán
Trang 28CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN DIỄN
RA TẠI VIB VÀ MỘT SỐ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI KHÁC
Sau quá trình nghiên cứu, thu thập thông tin cũng như được sự hướng dẫn của thầy Nguyễn Thanh Nam, nhóm đã quyết định chọn thêm hai ngân hàng là Ngân Hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam (Agribank) và Ngân Hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Eximbank) để làm công cụ so sánh về hoạt động bao thanh toán với Ngân Hàng Quốc Tế (VIB) minh họa cho phần này
Sở dĩ, nhóm chọn hai ngân hàng này làm công cụ để so sánh với ngân hàng VIB bởi trong suốt quá trình thu thập thông tin thực tế cũng như tìm kiếm các dữ liệu trên Internet, nhóm đã tìm được những số liệu cần thiết cho việc so sánh với ngân hàng VIB về tình hình doanh thu, quy trình thực hiện cũng như biểu phí bao thanh toán để làm cơ sở cho việc so sánh
Trước tiên, nhóm xin giới thiệu về tình hình hoạt động bao thanh toán của ba ngân hàng trên
Trang 291 Tình hình bao thanh toán tại tại VIB và một số ngân hàng thương mại khác
1.1 Về bao thanh toán nội địa
Đối với ngân hàng VIB
Trong xu thế hội nhập với nền kinh tế thế giới như hiện nay, để đáp ứng được nhu cầu cạnh tranh cũng như hỗ trợ các doanh nghiệp thì Ngân hàng VIB đã là một trong những ngân hàng tiên phong trong việc cung cấp dịch vụ bao thanh toán nội địa Không dừng lại ở đó, VIB tiếp tục tăng cường những tính năng và tiện ích mới cho dịch vụ Bao thanh toán nội địa nhằm mang đến giải pháp tài chính tốt nhất cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Đặc điểm nổi bật của dịch vụ bao thanh toán nội địa mà VIB cung cấp là không cần có tài sản đảm bảo khi bên mua hàng có thể đáp ứng được các điều kiện theo quy định của VIB Điều này cũng chính là tính hấp dẫn của dịch vụ bao thanh toán do VIB cung cấp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) thường gặp vấn đề khó khăn
về tài sản đảm bảo
“ Sau hơn 5 năm triển khai và cung cấp dịch vụ bao thanh toán nội địa cho các doanh nghiệp, VIB đã cung cấp dịch vụ bao thanh toán cho hơn 300 doanh nghiệp và
đã đáp ứng nhu cầu về vốn với giá trị hơn hai nghìn tỷ đồng…”
(Nguồn: Trích “Báo cáo thường niên năm 2010 của ngân hàng VIB”) Đối với ngân hàng Eximbank
Nhận thức được sự tiện ích mang lại từ hoạt động bao thanh toán, ngân hàng Eximbank đã chính thức triển khai dịch vụ bao thanh toán nội địa nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp đang cần vốn, hạn chế rủi ro, giảm chi phí quản lý
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai dịch vụ bao thanh toán, ngân hàng Eximbank đã yêu cầu các khách hàng phải cung cấp tài sản đảm bảo cho việc thực hiện giao dịch của mình Chính điều này đã phần nào hạn chế số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ
bao thanh toán nội địa của Eximbank so với VIB (xem Hình 1: Lợi nhuận hoạt động bao thanh toán nội địa của VIB và một số ngân hàng khác).
Đối với ngân hàng Agribank
Xuất hiện vào khoảng đầu năm 2006 nhưng tốc độ tăng trưởng doanh thu bao thanh toán nội địa của Agribank là thấp nhất so với hai ngân hàng VIB và Eximbank
Trang 30Điều này là do những quy định khá khắt khe về việc áp dụng tài sản đảm bảo cho loại hình này Agribank yêu cầu khách hàng phải thực hiện một trong các hình thức bảo đảm cho hoạt động bao thanh toán nội địa như: ký quỹ, cầm cố, thế chấp tài sản, bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba, v.v…
Ngoài ra, khi khách hàng muốn sử dụng dịch vụ bao thanh toán nội địa thì phải
thỏa mãn các yêu cầu về uy tín tín dụng của Agribank như: “…có tín nhiệm được xếp loại A theo quy định của Agribank hoặc có lãi 02 năm liền kề (đối với quan hệ lần đầu)
mình (xem Hình 1: Lợi nhuận hoạt động bao thanh toán nội địa của VIB và một số ngân hàng khác).
Đánh giá chung về hoạt động bao thanh toán nội địa
Để có cái nhìn cụ thể về lợi nhuận kiếm được cũng như tốc độ tăng trưởng lợi nhuận thu về từ hoạt động bao thanh toán nội địa của ba ngân hàng, chúng ta hãy xem xét biểu đồ sau:
Trang 31Hình 1: Lợi nhuận hoạt động bao thanh toán nội địa của VIB và một số ngân hàng
khác
(Nguồn: Trích từ “Báo cáo thường niên” qua 3 năm của 3 ngân hàng).
Dựa vào biểu đồ này, chúng ta dễ dàng nhận thấy trong ba ngân hàng thì VIB là ngân hàng có tốc độ tăng trưởng lợi nhuận tốt nhất Điều này cũng là do chính sách thực hiện triển khai hoạt động bao thanh toán nội địa của VIB được đánh giá là thông thoáng và điều kiện thuận để cho các doanh nghiệp có nhu cầu về tài trợ vốn có thể dễ dàng tiếp cận
Rõ ràng, việc áp đặt những quy định không quá khắt khe mà vẫn tuân thủ đúng những thủ tục cần thiết sẽ tạo tiền đề cho hoạt động bao thanh toán ngày càng trở nên phát triển
Ngoài ra, chúng ta cũng cần lưu ý rằng, trong biểu đồ trên thì cả ba ngân hàng tuy có mức tăng lợi nhuận từ hoạt động bao thanh toán nội địa là khác nhau nhưng nhìn chung qua ba năm, không có ngân hàng nào có giai đoạn bị sụt giảm lợi nhuận thu được từ hoạt động bao thanh toán nội địa Đây thật sự là tín hiệu đáng mừng cho hoạt động bao thanh toán nội địa bởi lẽ nó nói lên được nhu cầu sử dụng bao thanh toán nội địa của doanh nghiệp hiện đang khá lớn và khả năng loại hình bao thanh toán này vẫn còn phát triển là rất lớn
1.2 Về bao thanh toán quốc tế
Hiện nay, trong ba ngân hàng trên thì duy nhất chỉ có Eximbank là đã cung cấp dịch vụ bao thanh toán quốc tế nhưng những số liệu cụ thể về doanh thu vẫn chưa có vì Eximbank chỉ mới cung cấp dịch vụ này từ cuối năm 2011.
Thực trạng trên cũng đã phần nào nói lên được các ngân hàng hiện rất hạn chế trong việc đưa loại hình bao thanh toán quốc tế đi vào hoạt động mặc dù nước ta vẫn đang trên đà phát triển và hội nhập một cách mạnh mẽ với nền kinh tế thế giời thì lẽ ra một công cụ tài trợ cho xuất khẩu vốn mang nhiều điểm ưu việt như bao thanh toán quốc tế phải rất phát triển mới đúng.
Đây cũng chính là một trong những lý do vì sao nhóm lại chú trọng đến giải pháp pháp phát triển loại hình bao thanh toán quốc tế ở chương sau.
Phần tiếp theo, chúng ta sẽ bàn về quy trình chi tiết thực hiện bao thanh toán tại ba ngân hàng trên để có những đánh giá cụ thể.
2 Phân tích quy trình bao thanh toán tại VIB và một số ngân hàng thương mại
Trang 32Như đã trình bày ở phần giới thiệu của chương II, sau đây nhóm xin được giới thiệu quy trình hoạt động bao thanh toán của ngân hàng Agribank, Eximbank và VIB.
Trang 33Đối với ngân hàng Agribank
Hình 2: Quy trình bao thanh toán nội địa của ngân hàng Agribank
Bước 1: Bên bán giao hàng cho bên mua.
Bước 2: Bên bán xuất trình chứng từ tại Agribank.
Bước 3: Agribank ứng trước cho bên bán.
Bước 4: Agribank tiến hành các thủ tục thu nợ từ bên mua khi đến hạn.
Bước 5: Bên mua thanh toán tiền hàng cho Agribank.
Bước 6: Agribank tất toán phần ứng trước và thanh toán phần còn lại cho bên bán.
(Nguồn: “Quy trình bao thanh toán” của ngân hàng Agribank
www agribank com.vn/layout/Pages/DownloadFile.aspx?fileId=83).