1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nội dung ôn tập hp tâm lí học hk2 (1)

26 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nội dung ôn tập hp tâm lí học hk2 (1)
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Tâm lí học
Thể loại Giáo trình ôn tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 104,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NỘI DUNG ÔN TẬP HP TÂM LÍ HỌC HK2 1 Trình bày các quy luật chung của sự phát triển tâm lý trẻ em? Từ đó rút ra những kết luận sư phạm cần thiết trong dạy học và giáo dục trẻ 2 Trình bày sự thay đổi đi.

Trang 1

NỘI DUNG ÔN TẬP HP TÂM LÍ HỌC HK2

1 Trình bày các quy luật chung của sự phát triển tâm lý trẻ em? Từ đó rút ra những kết luận sư phạm cần thiết trong dạy học và giáo dục trẻ

2 Trình bày sự thay đổi điều kiện sống của lứa tuổi học sinh trung học cơ sở và ảnh hưởng của nó đến sự phát triển tâm lý của các em Từ đó rút ra những kết luận sư phạm cần thiết trong giáo dục học sinh

3 Tư duy là gì? Trình bày các đặc điểm của tư duy Từ đó rút ra những kết luận vận dụngcần thiết vào trong dạy học

4 Sự ghi nhớ (tạo vết) là gì? Trình bày các loại ghi nhớ (tạo vết) Từ đó đề xuất các biện pháp để ghi nhớ (tạo vết) được tốt

5 Nhân cách là gì? Phân tích các đặc điểm của nhân cách Từ đó rút ra những kết luận vận dụng vào quá trình giáo dục học sinh Liên hệ việc hình thành và phát triển nhân cáchcho học sinh ở nhà trường phổ thông nước ta hiện nay

6 Tình cảm là gì? Cho ví dụ minh họa? Hãy phân tích các qui luật của đời sống tình cảm

Từ đó rút ra những kết luận ứng dụng vào cuộc sống và giáo dục học sinh

7 Trình bày đặc điểm hoạt động học tập của học sinh THPT Hãy chỉ ra những khó khăn

cơ bản trong học tập và hướng nghiệp mà các em đang gặp Từ đó rút ra những kết luận

sư phạm cần thiết giúp các em vượt qua những khó khăn đó

8 Trình bày đặc điểm hoạt động giao tiếp của học sinh THPT Hãy chỉ ra những khó khăn cơ bản trong hoạt động giao tiếp mà các em đang gặp Từ đó rút ra những kết luận

sư phạm cần thiết giúp các em vượt qua những khó khăn đó

9 Phân tích những đặc điểm của lao động sư phạm của người giáo viên Từ đó rút ra những kết luận sư phạm cần thiết

10 Phân tích nhhững yêu cầu về phẩm chất và năng lực của người giáo viên phổ thông Trong các phẩm chất và năng lực đó, theo em phẩm chất và năng lực nào là quan trọng nhất Hãy đề xuất kế hoạch và biện pháp rèn luyện để hình thành phẩm chất và năng lực đó

Trang 2

Câu 1 Trình bày các quy luật chung của sự phát triển tâm lý trẻ em? Từ đó rút ra những

kết luận sư phạm cần thiết trong dạy học và giáo dục trẻ.

1 Quy luật về sự phát triển không đồng đều trong sự phát triển tâm lý trẻ em:

Trong những điều kiện bất kỳ, thậm chí ngay trong những điều kiện thuận lợi nhất củaviệc giáo dục thì những biểu hiện tâm lý, nhữngchức năng tâm lý khác nhau… cũng khôngthể phát triển ở những mức độ như nhau Có những thời kỳ tối ưu đối với sự phát triển mộthình thức hoạt động tâm lý nào đó

Giữa các cá nhân không có sự phát triển đồng đều Các chức năng tâm lý và ngay cả cácnét tâm lý cá nhân của các trẻ em khác nhau cũng không đạt cùng một mức độ nhưnhau, ngay cả đối với trẻ trong cùng một độ tuổi

2 Quy luật về tính toàn vẹn và thống nhất trong sự phát triển tâm lý trẻ em:

Cùng với sự phát triển, tâm lí của con người ngày càng có tính trọn vẹn thống nhất

và bền vững Sự phát triển tâm lí và sự chuyển biến dần các trạng thái tâm lí thành các đặcđiểm tâm lí cá nhân Tâm lí trẻ nhỏ phần lớn là một tổ hợp thiếu hệ thống những tâm trạngrời rạc khác nhau Sự phát triển thể hiện ở chỗ những tâm trạng đó dần dần chuyển thànhcác nét của nhân cách Ví dụ, tâm trạng vui vẻ, thoải mái nảy sinh trong quá trình lao độngchung hợp với lứa tuổi, nếu được lặp đi lặp lại thường xuyên sẽ chuyển thành lòng yêu lao động

Tính trọn vẹn của tâm lí phụ thuộc khá nhiều vào động cơ chỉ đạo hành vi của trẻ Cùngvới giáo dục, cùng với sự mở rộng kinh nghiệm sống, những động cơ hành vi của trẻ ngàycàng trở nên tự giác, có ý nghĩa xã hội và ngày càng bộc lộ rõ trong nhân cách của trẻ Trẻ mẫu giáo thường hành động vì muốn thỏa mãn một điều gì đó và động cơ đó thay đổi luôntrong một ngày Những thiếu niên và thanh niên thường hành động do động

cơ xã hội, dotinh thần nghĩa vụ, do sự phát triển toàn diện của bản thân thúc đẩy

3 Quy luật về tính mềm dẻo và khả năng bù trừ trong sự phát triển tâm lý trẻ:

Hệ thần kinh của trẻ em rất mềm dẻo Dựa trên tính mềm dẻo của hệ thần kinh mà tácđộng của giáo dục có thể làm thay đổi tâm lí trẻ Tính mềm dẻo cũng tạo khả năng bù

Trang 3

trừ, khi một chức năng tâm lí hoặc sinh lí nào đó yếu hoặc thiếu thì những chức năng tâmlíkhác được tăng cường, phát triển mạnh hơn để bù đắp hoạt động không đầy đủ của chứcnăng bị yếu hay bị hỏng.

Đó là một số quy luật cơ bản của sự phát triển tâm lí trẻ em Nhưng những quy luật đóchỉ là một xu thế của sự phát triển tâm lí của trẻ có thể xảy ra Những quy luật đó có sauso với ảnh hưởng của môi trường (trong đó có giáo dục) Sự phát triển và ngay cả tínhđộcđáo của những xu thế đó cũng phụ thuộc vào điều kiện sống của trẻ em (trước hết

là giáo dục)

Sự phát triển tâm lí của trẻ em không tuân theo quy luật sinh học, mà tuân theo quyluật

xã hội Dù có bộ óc tinh vi đến đâu chăng nữa, nhưng không sống trong xã hội loạingười thì trẻ cũng không thể trở thành thực thể người với đầy đủ tính xã hội của nó

4 Sự phát triển tâm lý cá nhân diễn ra theo một trình tự nhất định, không nhảy cóc, không đốt cháy giai đoạn:

Sự phát triển và trưởng thành của cơ thể trải qua tuần tự các giai đoạn: Thai nhi, tuổithơ, dậy thì, trưởng thành, ổn định, suy giảm, già yếu và chết

Sự hình thành và phát triền ngôn ngữ nói của trẻ em diễn ra theo logic: Tiếng khóc > tiếng kêu gừ gừ > tiếng bập bẹ > phát âm theo khuôn mẫu của người lớn > câu một từ > câu vị ngữ > cụm từ > câu ba thành phần > câu phức hợp

5 Quy luật tiệm tiến và nhảy vọt:

- Sự hình thành và phát triển các cấu trúc tâm lí diễn ra theo cách tăng dần về số lượng (tăng trưởng) và đột biến (phát triển, biến đổi về chất)

- Trong quá trình phát triển các cấu trúc tâm lí thường xuyên diễn ra và đan xen giữahai quá trình: tiệm tiến và nhảy vọt Hai quá trình này có quan hệ nhân quả với nhau

Câu 2 Trình bày sự thay đổi điều kiện sống của lứa tuổi học sinh trung học cơ sở và ảnh

hưởng của nó đến sự phát triển tâm lý của các em Từ đó rút ra những kết luận sư phạm cần thiết trong giáo dục học sinh.

*Sự thay đổi điều kiện sống của lứa tuổi học sinh trung học cơ sở và ảnh hưởng của

nó đến sự phát triển tâm lý của các em:

Trang 4

Vị thế của thiếu niên trong xã hội: Thiếu niên có những quyền hạn và trách nhiệm xã hội lớn hơn so với HS tiểu học: 14 tuổi các em được làm chứng mình thư cùng với học tập, HS THCS tham gia nhiều hoạt động xã hội phong phú: giáo dục các em nhỏ; giúp đỡcác gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng; tham gia các hoạt động tập thể chống tệ nạn xã hội; làm tình nguyện viên; vệ sinh trường lớp, đường phố Điều này giúp cho HS THCS mở rộng các quan hệ xã hội, kinh nghiệm sổng thêm phong phú,

ý thức xã hội được năng cao

Vị thế của thiếu niên trong gia đình: Thiếu niên được thừa nhận là một thành viên tích cực trong gia đình, được giao một số nhiệm vụ như: chăm sóc em nhỏ, nấu ăn, dọn dẹp Ở những gia đình khó khăn, các em đã tham gia lao động thực sự, góp phần thu nhập cho gia đình HS THCS được cha mẹ trao đối, bàn bạc một số công việc trong nhà Các em quan tâm đến việc xây dựng và bảo vệ uy tín gia đình Nhìn chung, các em ý thứcđược vị thế mới của mình trong gia đình và thực hiện một cách tích cực Tuy nhiên, đa sốthiếu niên vẫn còn đi học, các em vẫn phụ thuộc vào cha mẹ về kinh tế, giáo dục Điều này tạo ra hoàn cảnh có tính hai mặt trong đời sống của thiếu niên trong gia đình

Vị thế của thiếu niên trong nhà trường THCS: Vị thế của HS THCS hơn hẳn vị thế của HS tiểu học HS THCS ít phụ thuộc vào giáo viên hơn so với nhi đồng Các em học tập theo phân môn Mỗi môn học do một giáo viên đảm nhiệm Mỗi giáo viên có yêu cầu khác nhau đối với HS, có trình độ, tay nghề, phẩm chất sư phạm và có phong cách giảng dạy riêng đòi hỏi HS THCS phải thích ứng với những yêu cầu mới của các giáo viên Sự thay đối này có thể tạo ra những khó khăn nhất định cho HS nhưng lại là yếu tổ khách quan để các em dần có được phương thức nhận thức người khác

* Rút ra những kết luận sư phạm cần thiết trong giáo dục học sinh:

- Nhà trường và gia đình nên gần gũi, chia sẻ với HS; tránh để các em thu nhận những thông tin ngoài luồng; tránh tình trạng phân hoá thái độ đối với môn học, học lệch để các

em có được sự hiểu biết toàn diện, phong phủ

- Cần giúp HS THCS hiểu được các khái niệm đạo đức một cách chính xác, khắc phục những quan điểm không đứng ở các em

Trang 5

- Nhà trường cần tổ chức những hoạt động tập thể lành mạnh, phong phú để HS THCS được tham gia và có được những kinh nghiệm đạo đức đứng đắn, hiểu rõ các chuẩn mực đạo đức và thực hiện nghiêm túc theo các chuẩn mực đó, để các em có được sự phát triển nhân cách toàn diện.

- Người lớn (cha mẹ, thầy cô giáo) cần tôn trọng tính tự lập của HS THCS và hướng dẫn, giúp đỡ để các em xây dựng được mối quan hệ đứng mục, tích cực với người lớn và mối quan hệ trong sáng, lành mạnh với bạn bè

- Có thể thành lập phòng tâm lý học đưững trong trường hoặc cụm trường (theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng chăm lo cho sự nghiệp giáo dục) để HS THCS được sựtru giúp thường xuyên về tâm lý và những vấn để khó khăn của lứa tuổi

do kết quả của sự biến đối cơ thể; của sự tự ý thức; của các kiểu giao tiếp với người lớn, với bạn bè; của hoạt động học lập, hoạt động xã hội

Câu 3 Tư duy là gì? Trình bày các đặc điểm của tư duy Từ đó rút ra những kết luận vận

dụng cần thiết vào trong dạy học.

Khái niệm: Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những

mối liên hệ và quan hệ bên trong có tỉnh quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện khách quan mà trước đó ta chưa biết

Đặc điểm của tư duy:

– Tính có yếu tố của tư duy:

Trang 6

Vấn đề là những tình huống, hoàn cảnh có những mục đích nhất định, một vấn đề mới

xảy đến, tuy nhiên ứng phó với vấn đề đó là những những kiến thức cũ, những phương pháp hành động cũ tuy còn có thể dùng, song không đủ sức giải quyết

Tư duy sẽ xuất hiện khi gặp những hoàn cảnh, tình huống có vấn đề, những vấn đề này phức tạp và mới mẻ, nếu áp dụng cách giải quyết cũ thì kông thể Muốn giải quyết vấn đề

đó con người phải tìm cách thức giải quyết mới

Tuy nhiên Không phải bất kỳ thực trạng nào tư duy cũng Open Vấn đề chỉ trở nên trường hợp mới và chưa từng có, thực trạng có yếu tố khi chủ thể nhận thức được trường hợp có yếu tố, nhận thức được xích míc tiềm ẩn trong yếu tố, chủ thể phải có nhu yếu xử

lý và phải có những tri thức tương quan đến yếu tố

– Tính gián tiếp của tư duy:

Tư duy con người không nhận thức quốc tế một cách trực tiếp mà có năng lực nhận thức

nó một cách gián tiếp Tính gián tiếp của tư duy được biểu lộ ở chỗ để có được tư duy con người cần biết sử dụng ngôn từ, ngôn từ giúp con người sử dụng những tác dụng nhận thức (quy tắc, khái niệm, công thức, quy luật…) và những kinh nghiệm tay nghề vốn có của bản thân vào quy trình tư duy, hoàn toàn có thể kể đến là quy trình nghiên cứu

và phân tích, so sánh, khái quát … để từ đó có hiểu biết về thực chất của sự vật, hiện tượng kỳ lạ …

Tính gián tiếp của tư duy còn được thể hiện qua quá trình tư duy con người sử dụng những công cụ, phương tiện máy móc, công cụ để nhận thức đối tượng mà không thể trựctiếp tri giác chúng Tính dán tiếp của tư duy con giúp con người có được những phán đoán có tính khoa học đối với những sự vật xảy ra trong quá khứ và cả tương lai Ví dụ như dự báo thời tiết, dự báo về tính hình phát triển cua nền kinh tế, dự báo về biến đổi khíhậu…

– Tính trừu tượng và khái quát của tư duy:

Trừu tượng là dùng trí óc để gạt bỏ những thứ không thiết yếu và chỉ giữ lại những yếu tốthiết yếu quan trọng cho tư duy Khái quát là việc dùng tri thức để hợp nhất những đối tượng người dùng khác nhau vào cùng một nhóm, một loại, dựa trên những đặc thù những thuộc tính giống nhau Tính Trừu tượng và khái quát của tư duy có mối liên hệ

Trang 7

mật thiết với nhau ở mức độ cao Không có trừu tượng thì không hề thực thi khái quát, nhưng có trừu tượng mà không có khái quát thì hạn chế quy trình đảm nhiệm sự hiểu biết

về mọi vật…

– Tư duy quan hệ ngặt nghèo với ngôn từ:

Tư duy và ngôn từ có mối quan hệ mật thiết với nhau Nếu không nhờ có ngôn từ thì quy trình tư duy của con người không hề diễn ra được, đồng thời những tác dụng của quy trình tư duy ví dụ như khái niệm, Dự kiến … về những sự vật, hiện tượng kỳ lạ cũng không được chủ thể và người khác tiếp đón

Ngôn ngữ diễn đạt tác dụng của tư duy, là phương tiện đi lại miêu tả hiệu quả tư duy, do

đó hoàn toàn có thể khách quan hóa hiệu quả tư duy cho người khác và cho bản thân chủ thể tư duy trái lại, nếu không có tư duy thì ngôn từ cũng là thứ không có ý nghĩa Tuy nhiên, ngôn từ cũng không phải là tư duy mà chỉ là phương tiện đi lại của tư duy

Ngôn mà tất cả chúng ta đang sử dụng lúc bấy giờ là tác dụng của quy trình tăng trưởng

tư duy vĩnh viễn trong lịch sử dân tộc tăng trưởng của quả đât, do đó ngôn từ luôn bộc lộ tác dụng tư duy của con người

Câu 4 Sự ghi nhớ (tạo vết) là gì? Trình bày các loại ghi nhớ (tạo vết) Từ đó đề xuất các

biện pháp để ghi nhớ (tạo vết) được tốt.

*Sự ghi nhớ (tạo vết): Sự ghi nhớ là quá trình trí nhớ đưa tài liệu nào đó vào ý thức, gắn

tài liệu đó với những kiến thức hiện có, làm cơ sở cho quá trình gìn giữ về sau đó, nói cách khác là tạo ra dấu vết, ấn tượng cũa đối tượng mà ta đang tri giác

Sự ghi nhớ con người được quyết định bởi hành động, nói cách khác, động cơ, mục đích,

và phương tiện đạt mục đích đó quy định chất lượng của sư ghi nhớ sự ghi nhớ thường diễn ra theo hai hướng: ghi nhớ có chủ định và ghi nhớ không chủ định

a) Ghi nhớ không chủ định:

Là ghi nhớ không có mục đích đặt ra từ trước không đòi hỏi một sự nổ lực nào đó mà dường như thực hiện một cách tự nhiên loại ghi nhớ này được thực hiện trong trường hợpnội dung của tài liệu trở thành mục đích chính của hành động, hơn nữa hành động đã lặp

đi lặp lại nhiều lần dưới hình thức nào đó

Trang 8

Ghi nhớ có chủ định đặc biệt nó gắn liền với những cảm xúc rõ ràng và mạnh mẽ, Hứng thú có vai trò to lớn với ghi nhớ không chủ định.

b) Ghi nhớ có chủ định:

Là ghi nhớ theo một mục đích đã định từ trước nó đòi hỏi một sự nổ lực ý chí nhất định

và cũng như những thủ thuật và phương pháp xác định Hoạt động học tập và giảng dạy của giáo viên chủ yếu là ghi nhớ có chủ định

Trong ghi nhớ có chủ định việc sử dụng phương pháp hợp lý là rất quan trọng để đạt hiệuquả cao Có hai trường hợp chính như sau:

– Dùng nhiều biện pháp để nhớ tài liệu trên cơ sở không hiểu nội dung tài liệu Tâm lý

học gọi là ghi nhớ máy móc

– Dùng biện pháp để nắm lấy bản thân lô gíc tài liệu, tức là nhớ tài liệu trên cơ sở hiệu nội dung tài liệu Gọi là biện pháp ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ lô gíc ( ghi nhớ có ý nghĩa)

*Các biện pháp ghi nhớ lô gíc

– Biện pháp quan trọng là lập dàn bài cho tài liệu học tập, Muốn vậy phải làm những việcsau đây:

+ Phân chia tài liệu thành từng đoạn

+ Đặt cho mỗi đoạn một tên thích hợp vớii nội dung tài liệu

+ Nối liền những điểm tực thành một tổng thể phức hợp bằng một tên thích hợp nhất.– Phân tích, tổng hợp, mô hình hoá, khái quát hoá so sánh và phân loại tài liệu Học sinh cần sử dụntg thành thạo những biện pháp này khi làm việc với tài liệu ghi nhớ

– Biện pháp tái hiện dưới hình thức nói thầm Nói thầm 2 đến 3 lần và nên ghi chép ra giấy khi dùng biện pháp này có thể tiến hành theo tình tự sau đây

+ Cố gắng tái hiện tòan bộ tài liệu một lần

+ Tiếp tục tái hiện từng phần, đặc biệt là tài liệu khó

+ Lại tái hiện toàn bộ tài liệu

– Ôn tập cũng là một biện pháp quan trọng để ghi nhớ một cách vững chắc và lâu dài.Học sinh phải sử dụng tất cả các biện pháp ghi nhớ trên

*Đề xuất các biện pháp ghi nhớ:

Trang 9

Câu 5 Nhân cách là gì? Phân tích các đặc điểm của nhân cách Từ đó rút ra những kết

luận vận dụng vào quá trình giáo dục học sinh Liên hệ việc hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh ở nhà trường phổ thông nước ta hiện nay.

*Nhân cách là gì?

Nhân cách là đối tượng nghiên cứu của nhiều khoa học (triết học, xã hội học, đạo

đức học, thẩm mỹ học, văn hóa giáo dục học, tâm lý học…) Việc nghiên cứu nhân cách

là vấn đề trọng tâm của tâm lý học

Các định nghĩa về nhân cách hiện nay trong tâm lý học có nhiều ý kiến khác nhau Để thống nhất, cần nắm một số khái niệm có liên quan:

Con người: là khái niệm rộng và chung nhất dùng để chỉ mọi cá thể từ trẻ sơ sinh đến

người lớn, từ người có trí tuệ chậm phát triển đến những người thông minh lỗi lạc Con người là một thực thể sinh vật ở bậc cao nhất của sự tiến hóa vật chất ở động vật

Cá nhân: là cá thể đại diện cho loài người, bất kỳ người nào.

Cá tính: là đặc điểm độc đáo của cá nhân, không lặp lại ở các cá nhân, Để phân biệt

người này với người khác

Chủ thể: là cá nhân thực hiện một hoạt động có ý thức nhất định, có mục đích, có nhận

thức cải tạo thế giới xung quanh trong quá trình hoạt động

Nhân cách: Là nói về con người có tư cách là một thành viên của xã hội nhất định; là

chủ thể của các mối quan hệ, của giao tiếp và của hoạt động có ý thức; là toàn bộ những đặc điểm, phẩm chất tâm lý của cá nhân qui định giá trị xã hội và hành vi xã hội của người đó

Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lí của cá nhân, quy định hành vi xã hội và giá trị xã hội của cá nhân đó.

Nhân cách không phải sự tổng hoà các đặc điểm cá thể của con người mà chỉ là những đặc điểm quy định con người như là một thành viên của xã hội, nói lên bộ mặt tâm lí – xãhội, giá trị và cốt cách làm người của mỗi cá nhân

Từ đây ta thấy chỉ có thể dùng từ nhân cách cho con người và chỉ từ một giai đoạn phát triển nhất định nào đó Vì thế người ta không nói “nhân cách của con vật” hay “nhân cách

Trang 10

của một trẻ sơ sinh, một trẻ hai tuổi” Nhưng lại có thể nói đến nhân cách của một học sinh tiểu học, nhân cách của một sinh viên Con người được sinh ra chưa phải đã là một nhân cách, mà trong quá trình sinh sống và hoạt động, giao lưu của mình trong xã hội, con người trở thành một nhân cách Nhân cách được hình thành không dừng lại, không cốđịnh, nó có thể được phát triển đi đến hoàn thiện, có thể bị suy thóai.

X.L Rubinstêin đã viết: “Con người là nhân cách do nó xác định quan hệ của mình với những người xung quanh một cách có ý thức” và ông cũng nêu ý tưởng rằng, nhân cách

là sản phẩm tương đối của sự phát triển xã hội – lịch sử và của sự tiến hóa cá thể của con người

*Các đặc điểm của nhân cách:

Hiện nay, trong các tài liệu, giáo trình tâm lí học thường nêu lên bốn đặc điểm cơ bản củanhân cách: tính ổn định, tính thống nhất, tính tích cực và tính giao lưu của nhân cách

Tính ổn định của nhân cách:

Dưới ảnh hưởng của cuộc sống và giáo dục, từng thuộc tính tạo nên nhân cách có thể được biến đổi, được chuyển hóa, nhưng trong tổng thể thì chúng tạo thành một cấu trúc trọn vẹn của nhân cách Cấu trúc này tương đối ổn định nói lên bộ mặt tâm lí – xã hội của

cá nhân ấy trong một khoảng thời gian nào đó của cuộc đời con người Nhờ có tính ổn định tương đối này của nhân cách, người ta có thể đánh giá được giá trị xã hội của một nhân cách nào đó ở thời điểm hiện tại và có thể dự đoán trước được hành vi của nó trong những tình huống nhất định

Chẳng hạn, tinh thần dũng cảm của một chiến sĩ cảnh sát làm nhiệm vụ bảo vệ dân khác

xa với sự dũng cảm của một kẻ trong một băng cướp, khi đánh giá về mặt đạo đức của

Trang 11

nhân cách Vì vậy, không được giáo dục nhân cách theo “từng phần”, từng thuộc tính riêng lẻ tách bạch mà phải giáo dục con người như một nhân cách hoàn chỉnh.

Tính tích cực của nhân cách

Nhân cách là một sản phẩm của xã hội Nhân cách không chỉ là khách thể chịu sự tác động của các mối quan hệ xã hội, mà điều quan trọng hơn là nó chủ động tham gia vào các mối quan hệ đó, là chủ thể của các mối quan hệ xã hội ấy, nghĩa là nó có tính tích cựccủa mình Tính tích cực của nhân cách biểu hiện ở những hoạt động muôn hình muôn vẻ với mục đích cải tạo thế giới xung quanh và cải tạo chính bản thân mình Nếu không hoạtđộng, con người không thể tồn tại, nhân cách của họ không thể được hình thành và phát triển Giá trị đích thực của nhân cách, chức năng xã hội và cốt cách làm người của cá nhân thể hiện rõ nét ở tính tích cực của nhân cách

Như vậy, cá nhân được coi là nhân cách khi nó tích cực hoạt động và giao lưu trong xã hội một cách có ý thức

Do đâu có được tính tích cực của nhân cách Theo quan niệm của tâm lí học thì nguồn gốc tính tích cực của nhân cách chính là nhu cầu Tính tích cực của nhân cách thể hiện trong quá trình thỏa mãn nhu cầu của nó Khác với động vật, bằng hoạt động lao động của mình, con người không thỏa mãn nhu cầu bằng các đối tượng có sẵn mà luôn luôn sáng tạo ra những đối tượng mới, các phương thức mới để thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng phong phú, đa dạng và ngày càng cao của mình

Tính giao tiếp của nhân cách:

Nhân cách chỉ có thể tồn tại trong sự giao lưu với những nhân cách khác Vì lí do nào đó

mà ngay từ lúc mới sinh con người bị tách khỏi xã hội loài người thì không thể tồn tại và phát triển như một nhân cách

Chẳng hạn, một đứa trẻ mới sinh bị bỏ rơi ở ngoài rừng được các con vật nuôi hay một đứa trẻ bị nuôi ở dưới hầm từ lúc còn rất bé không được tiếp xúc, giao lưu với những nhân cách khác thì không thể trở thành một nhân cách

Như vậy, nhân cách không thể tồn tại, không thể hình thành và phát triển bên ngoài sự giao tiếp, bên ngoài xã hội loài người Nhu cầu giao lưu hay giao tiếp được xuất hiện rất sớm và có thể coi như một nhu cầu bẩm sinh của con người

Trang 12

Nhu cầu của con người trước hết là nhu cầu về người khác Vì sao vậy? Bởi vì chỉ có thông qua giao tiếp cá nhân mới có thể gia nhập các mối quan hệ với các cá nhân khác trong các nhóm xã hội và quan hệ với toàn xã hội Qua giao tiếp, cá nhân lĩnh hội được các chuẩn mực đạo đức và hệ thống giá trị xã hội và cũng nhờ có giao tiếp, mỗi cá nhân được nhìn nhận, được đánh giá theo quan niệm về giá trị, đạo đức của thời đại cá nhân đóđang sống Trên cơ sở đó, cá nhân tự điều chỉnh, điều khiển bản thân theo các chuẩn mực

xã hội và cũng qua giao tiếp mỗi cá nhân có thể tham gia đóng góp những giá trị phẩm chất nhân cách của mình cho sự phát triển xã hội

Đặc điểm này của nhân cách là cơ sở tâm lí học cho nhiều phương pháp biện pháp giáo dục trẻ, đặc biệt là nguyên tắc giáo dục trong tập thể và bằng tập thể do nhà giáo dục NgaA.X.Macarencô đề xướng

*Rút ra kết luận:

*Liên hệ:

Câu 6 Tình cảm là gì? Cho ví dụ minh họa? Hãy phân tích các qui luật của đời sống

tình cảm Từ đó rút ra những kết luận ứng dụng vào cuộc sống và giáo dục học sinh.

*Khái niệm tình cảm: Tình cảm là những thái độ thể hiện sự rung cảm của con người

đối với những sự vật, hiện tượng có liên quan tới nhu cầu và động cơ của họ

*Ví dụ: Hoa là một học sinh nhút nhát, luôn rụt rè trước mọi người Mỗi lần bị giáo viên

gọi dậy trả lời câu hỏi, Hoa đều tỏ ra lúng túng và đỏ mặt Nhưng một thời gian sau, việc Hoa luôn phải đứng dậy trả lời lặp đi lặp lại nhiều lần và nhờ sự khuyến khích động viên của bạn bè thầy cô thì Hoa đã tự tin trả lời những câu hỏi trước lớp

*Các qui luật đời sống tình cảm:

a) Qui luật thích ứng:

-Một xúc cảm, tình cảm được lặp lại nhiều lần một cách không thay đổi thì cuối cùng sẽ

bị suy yếu, bị lắng xuống Đó là hiện tượng “chai sạn” tình cảm

-Biểu hiện: ‘Gần thường xa thương”

Dao năng mài thì sắc, người năng chào thì quen

Trang 13

-Ví dụ: Một người thân trong gia đình đột ngột qua đời, làm cho ta đau khổ, nhớ nhung,

… Nhưng năm tháng và thời gian cũng lui dần vào dĩ vãng, ta cũng phải nguôi dần, … đểsống tiếp

-Ứng dụng: Tránh thích ứng và tập thích ứng Biết trân trọng những gì mình đang có.-Trong cuộc sống hằng ngày qui luật này được ứng dụng như phương pháp ‘Lấy độc trị độc” học sinh

b) Qui luật lây lan:

-Xúc cảm, tình cảm của người này có thể truyền, lây sang cho người khác

-Biểu hiện: Vui lây, buồn lây, đồng cảm

-Ví dụ: Bạn A nhập được giấy báo trúng tuyển đại học, bạn vui mừng báo cho người nhà biết cả nhà ai cũng vui mừng

-Ứng dụng: Các hoạt động tập thể của con người Đây là cơ sở tạo ra các phong trào, hoạtđộng mang tính tập thể

-Ví dụ:

c) Qui luật tương phản:

-Trong quá trình hình thành và biểu hiện tình cảm, sự xuất hiện hoặc suy yếu của một tình cảm này có thể tăng hoặc giảm của một hiện tượng khác diễn ra đồng thời

-Biểu hiện: Càng yêu nước, càng căm thù giặc

-Ví dụ: Khi chấm thi sau khi chấm 1 loạt bài kém, gặp đc bài khá ổn, giáo viên sẽ thấy rấthài lòng, nếu bình thường bài này được điểm 7 thì tại thời điểm chấm bài đó giáo viên sẽ cho học sinh đó điểm 9

-Ứng dụng: Trong dạy học, giáo dục tư tưởng, tình cảm người ta sử dụn qui luật này như một biện pháp “ôn nghèo nhớ khổ, ôn cố tri ân” và nghệ thuật xây dựng nhân vật phản diện Cần có cái nhìn khách quan hơn

-Ví dụ: Càng yêu mến nhân vật Tấm thì càng cảm ghét 2 mẹ con nhà Cám

d)Qui luật di chuyển:

-Là hiện tượng tình cảm, cảm xúc có thể di chuyển từ người này sang người khác

-Biểu hiện: “Giận cá chém thớt”

“Yêu nhau yêu cả đường đi

Ngày đăng: 21/02/2023, 07:30

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w