so sánh điểm GIỐNG và KHÁC nhau giữa (a) Bồi thường thiệt hại trong trường hợp hợp đồng vô hiệu (cơ sở pháp lý Khoản 4, Điều 131 của Bộ Luật Dân sự số 912015QH13 (gọi tắt là “BLDS 2015”); (b)Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng (cơ sở pháp lý: Điều 360, 361, 362, 363, và 419 của BLDS 2015; Điều 302, 303, 304 và 305 của Luật thương mại số 362005QH11).
Trang 1(a) Bồi thường thiệt hại trong trường hợp hợp đồng vô hiệu (cơ sở pháp lý: Khoản 4, Điều 131 của Bộ Luật Dân sự số 91/2015/QH13 (gọi tắt là “BLDS 2015”);
(b) Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng (cơ sở pháp lý: Điều 360, 361, 362, 363, và 419 của BLDS 2015; Điều 302, 303, 304 và 305 của Luật thương mại số 36/2005/QH11).
BÀI LÀM
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời cùng với một hệ thống pháp luật với Hiến pháp là văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất và các Bộ luật, Luật, các văn bản dưới luật như Nghị định, Nghị quyết, Thông tư….Pháp luật là công cụ kiểm soát quyền lức Nhà nước, để Nhà nước tổ chức và quản lý mọi mặt đời sống kinh tế xã hội, là phương tiện để các chủ thể tiến hành các hoạt động có sự tuân thủ pháp luật
Trong đời sống hiện nay, các điều luật quy định về hợp đồng chiếm một vị trí rất quan trọng trong hệ thống pháp luật nước ta với mục đích khá đặc trưng nhằm bảo vệ quyền tự do ý chí giữa các bên trong khuôn khổ pháp luật Hợp đồng tồn tại trong nhiều khía cạnh, lĩnh vực của đời sống xã hội, dù có mục đích kinh doanh như các hợp đồng kinh tế (hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ…) hay nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt thông thường, mục đích khác như các hợp đồng dân sự mang tính xã hội (hợp đồng tặng cho, di chúc…)
Song song đó, các điều khoản về các biện pháp khắc phục hay những hậu quả pháp lý khi có thiệt hại xảy ra do hành vi vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng hay do hợp đồng vô hiệu rất quan trọng và cần thiết đối với các bên tham gia hợp đồng Việc quy định những điều khoản trên là thực sự cần để mà ngăn ngừa hành vi vi phạm xảy ra, bảo vệ lợi ích của chính mình khi là một trong các bên tham gia hợp đồng, đồng thời nâng cao trách nhiệm của các bên
Vấn đề bồi thường thiệt hại cũng vì đó mà được quan tâm Làm thế nào để được bồi thường thiệt hại? Liệu bồi thường thiệt hại trường hợp hợp đồng vi phạm và bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng có khác nhau không? Hay có sự tương tự nào với nhau không?
Bước đầu vào tìm hiểu vấn đề trên, ta dễ dàng nhận thấy có sự khác biệt về nguồn luật Nếu bồi thường thiệt hại trường hợp hợp đồng vô hiệu chỉ được nêu trong các quy định tại
Bộ luật dân sự năm 2015, thì với bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng lại được quy định trong cả Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật thương mại năm 2005 Trường hợp hợp đồng vô hiệu, vấn đề bồi thường thiệt hại chỉ được quy định bằng một câu duy nhất tại
Trang 2Khoản 4, Điều 131 Bộ luật dân sự năm 2015: “Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường”.
Trong khi đó, vấn đề bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng lại được quy định tại hàng loạt các Điều 360, 361, 362, 363 và 419 Bộ luật dân sự năm 2015 cùng với các Điều 302, 303, 304 và 305 Luật thương mại năm 2005
Vấn đề bồi thường thiệt hại phát sinh khi nào? Có sự khác biệt về căn cứ áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại giữa hai trường hợp: bồi thường thiệt hại trường hợp hợp đồng vô hiệu và bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng không?
Đầu tiên để xét đến căn cứ áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì điều hiển nhiên là phải có quan hệ hợp đồng Có quan hệ hợp đồng mới có thể tiếp tục xét đến khi nào thì bồi thường thiệt hại trường hợp hợp đồng vô hiệu và khi nào thì bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng
Căn cứ vào Khoản 4, Điều 131 Bộ luật dân sự năm 2015: “Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải
bồi thường” Dễ dàng nhận thấy, trường hợp hợp đồng vô hiệu, vấn đề bồi thường thiệt hại chỉ
đặt ra khi có thiệt hại xảy ra do hợp đồng vô hiệu và bên có lỗi làm hợp đồng bị tuyên vô hiệu
mà gây ra thiệt hại phải bồi thường thiệt hại cho bên bị thiệt hại Tức là, trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi hợp đồng vô hiệu phát sinh khi có thiệt hại xảy ra do hợp đồng vô hiệu và lỗi của các bên liên quan đến thiệt hại phát sinh Hay hiểu là nếu hợp đồng vô hiệu có xảy ra thiệt hại nhưng thiệt hại đó không có yếu tố lỗi của bất kì bên nào trong hợp đồng thì không phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại Yếu tố lỗi có vai trò rất quan trọng trong trường hợp hợp đồng
vô hiệu
Tuy nhiên, căn cứ vào Điều 303 Luật thượng mại năm 2005 quy định về căn cứ phát sinh
trách nhiệm bồi thường thiệt hại: “Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294
của Luật này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây:
1 Có hành vi vi phạm hợp đồng;
2 Có thiệt hại thực tế;
3 Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại.”
Vậy đối với trường hợp vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi thõa mãn đủ các điều kiện sau: Có thiệt hại xảy ra, có hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại với thiệt hại xảy ra Yếu tố lỗi trong trường hợp này không phải là điều được cân nhắc đên để làm căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại Một sự khác biệt nữa là ở hành vi gây thiệt hại, trường hợp hợp đồng vô hiệu là hành vi khiến cho hợp đồng vô hiệu, còn với trường hợp vi phạm nghĩa vụ thì hành vi gây thiệt hại là hành vi vi phạm nghĩa vụ
Từ đó, dễ dàng nhận thấy có sự khác biệt nhất định về căn cứ áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại giữa hai trường hợp này Nếu bên trường hợp hợp đồng vô hiệu, yếu tố lỗi là điều kiện bắt buộc để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì ngược lại bên trường hợp vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng, yếu tố lỗi không được cân nhắc đến Yếu tố hành vi gây thiệt hại cũng đánh dấu sự khác biệt về căn cứ áp dụng
Trang 3Trường hợp hợp đồng vô hiệu loại bồi thường thiệt hại không được quy định cụ thể trong luật Tuy nhiên theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, loại bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng, thiệt hại có thể bồi thường phải là thiệt hại thực tế
và trực tiếp Do vậy, áp dụng pháp luật trên cơ sở tương tự, bồi thường thiệt hại trong trường hợp hợp đồng vô hiệu cũng là thiệt hại thực tế và trực tiếp Đây có thể xem là điểm tương đồng về loại thiệt hại bồi thường giữa trường hợp hợp đồng vô hiệu và trường hợp vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng
Thiệt hại thực tế và trực tiếp là thiệt hại phải có thực, tồn tại, xác định được tại thời điểm bồi thường và là thiệt hại mà có mối quan hệ trực tiếp với hành vi vi phạm làm cho hợp đồng vô hiệu hay vi phạm nghĩa vụ gây ra thiệt hại
Như đã phân tích, Bộ luật dân sự năm 2015 không quy định các loại thiệt hại thức tế và trực tiếp trong trường hợp hợp đồng vi phạm mà chỉ quy định về các loại thiệt hại này trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng
Tuy nhiên, tại Nghị quyết 01/2003 và Nghị quyết 02/2004 có quy định về loại thiệt hại thực
tế và trực tiếp đối với hai loại hợp đồng khi bị vô hiệu: hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng mua bán nhà ở Tuy những Nghị quyết này đã không còn hiệu lực song trên thực
tế tinh thần quy định tại các Nghị quyết này vẫn được tiếp tục áp dụng trên thực tế Cụ thể, các loại thiệt hại thực tế và trực tiếp của hai loại hợp đồng này khi bị vô hiệu gồm: (i)khoản chênh lệch giá trị tài sản tại thời điểm xét xử sơ thẩm so với giá trị thỏa thuận ban đầu, (ii)khoản tiền
mà bên bán phải bỏ ra để khôi phục lại tình trạng ban đầu của tài sản được hoàn trả lại và (iii)khoản tiền mà bên mua đã đầu tư để cải tạo làm tăng giá trị tài sản so với giá trị ban đầu Dựa trên cơ sở tượng tự, các quy định về cách tính thiệt hại thực tế và trực tiếp này cũng có thể áp dụng đối với giao dịch mua bán mọi loại tài sản vô hình và hữu hình khác tuy nhiên cần được xem xét trong từng trường hợp cụ thể
Thiệt hại trường hợp vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng còn bao gồm thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần quy định tại Điều 361 Bộ luật dân sự năm 2015:
“1 Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần.
2 Thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.
3 Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể.”
Thiệt hại vật chất và thiệt hại trực tiếp cũng phải là loại thiệt hại thực tế và trực tiếp, phải phát sinh do nguyên nhân trực tiếp là vi phạm của bên vi phạm Trường hợp vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng, thiệt hại thực tế và trực tiếp bao gồm: (i)tổn thất về tài sản; (ii)chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại; (iii)thu nhập thực tế bị mất và giảm sút; (iv)lợi ích đáng lẽ được hưởng do hợp đồng mang lại; (v)chi phí khác phát sinh do không hoàn thành nghĩa
vụ hợp đồng mà không trùng lặp với lợi ích đáng lẽ được hưởng do hợp đồng mang lại
Trang 4Từ những điều trên, ta thấy có sự tương tự cũng như có những điểm khác biệt nhất định về loại thiệt hại bồi thường, thiệt hại thực tế và trực tiếp giữa trường hợp hợp đồng vô hiệu và trường hợp vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng
Khái niệm “Tổn thất tài sản” gần giống với “khoản chênh lệch giá trị tài sản tại thời điểm xét
xử sơ thẩm so với giá trị thỏa thuận ban đầu”, “khoản tiền mà bên mua đã đầu tư để cải tạo làm tăng giá trị tài sản so với giá trị ban đầu” Hay “khoản tiền mà bên bán phải bỏ ra để khôi phục lại tình trạng ban đầu của tài sản được hoàn trả lại” tương tự với “chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại”; “thu nhập thực tế bị mất và giảm sút”
Bên cạnh những khía cạnh tương đồng, “thu nhập thực tế bị mất và giảm sút”, “lợi ích đáng
lẽ được hưởng do hợp đồng mang lại”, “chi phí khác phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lặp với lợi ích đáng lẽ được hưởng do hợp đồng mang lại” lại không
có khái niệm tương đồng nào trong trường hợp hợp đồng vô hiệu Vì rõ ràng khi hợp đồng vô hiệu, nghĩa là không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập và các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận thì việc bồi thường các lợi ích giả định căn bản sẽ không xảy ra nếu hợp đồng được thực hiện sẽ không hợp lý Đây là một điểm khác biệt rõ ràng giữa hai trường hợp trên
Để được hưởng các loại bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ Bên bị vi phạm cũng phải có nghĩa vụ áp dụng các biện pháp cần thiết và hợp lý để thiệt hại không xảy ra
hoặc hạn chế thiệt hại xảy ra cho mình quy định tại Điều 362 Bộ luật dân sự năm 2015: “Bên có
quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để thiệt hại không xảy ra hoặc hạn chế thiệt hại cho mình.” và tại Điều 305 Luật thương mại năm 2005: “Bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất kể cả tổn thất đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra; nếu bên yêu cầu bồi thường thiệt hại không áp dụng các biện pháp đó, bên vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu giảm bớt giá trị bồi thường thiệt hại bằng mức tổn thất đáng lẽ có thể hạn chế được.” Nghĩa vụ ngăn chặn và hạn
chế thiệt hại cũng áp dụng với “khoản lợi” trực tiếp đáng lẽ được hưởng Đây là nghĩa vụ phải làm sau khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ để bảo vệ quyền lợi của mình Đồng thời, bên bị vi phạm còn có nghĩa vụ chứng minh tổn thất với trường hợp bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa
vụ của hợp đồng như quy định tại Điều 304 Luật thương mại năm 2005: “Bên yêu cầu bồi
thường thiệt hại phải chứng minh tổn thất, mức độ tổn thất do hành vi vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.” Nhưng với
bồi thường thiệt hại trường hợp hợp đồng vô hiệu lại không quy định cụ thể về những điều này Ngoài ra, bồi thường thiệt hại trường hợp vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng, các bên tham gia hợp đồng có thể thỏa thuận cụ thể về loại thiệt hại được bồi thường như phí, chi phí và thiệt hại khác của bên bị vi phạm trong việc giao kết và thực hiện hợp đồng; phí, chi phí và thiệt hại khác của bên bị vi phạm liên quan đến việc khởi kiện bên vi phạm tại tòa án và trọng tài; phí chi phí
và thiệt hại khác phải trả cho bên thứ ba do bên thứ ba kiện bên bị vi phạm liên quan đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng trong phạm vi hợp lý Nhưng lại không có quy định nào đề cập đến vấn đề thỏa thuận bồi thường thiệt hại trường hợp hợp đồng vô hiệu
Trang 5Những yếu tố ảnh hưởng đến việc xác định, mức bồi thường thiệt hại trong hai trường hợp này liệu có sự khác biệt nào không?
Việc xác định thiệt hại phát sinh từ hợp đồng vô hiệu dựa trên thiệt hại thực tế và trực tiếp phải xét đến yếu tố lỗi và tỷ lệ thực hiện hợp đồng trên thực tế Nếu một bên hoặc các bên có lỗi trong việc làm hợp đồng vô hiệu và gây ra thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình Theo Nghị quyết 01/2003 và 02/2004, yếu tố hợp đồng đã được thực hiện trên thực tế hay không cũng cần được tính đến trong trường hợp bồi thường thiệt hại khi hợp đồng vô hiệu Đây là điều cần thiết và cũng là thực tiễn áp dụng trong xét xử, khi các bên chỉ thực hiện một phần nghĩa vụ của hợp đồng thì thiệt hại được xác định theo tỷ lệ thực hiện nghĩa
vụ trên thực tế thay vì toàn bộ giá trị hợp đồng mà các bên đã thỏa thuận Quan điểm trên được thể hiện trên thực tế qua các bản án: Quyết định giám đốc thẩm số 319/2011/DS-GĐT ngày 28 tháng 3 năm 2011 của Tòa án dân sự TANDTC
Căn cứ Điều 360 Bộ luật dân sự năm 2015: “Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ
gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác” Nguyên tắc cơ bản của bồi thường thiệt hại theo pháp luật về hợp
đồng là nguyên tắc bồi thường thiệt hại toàn bộ, nghĩa là bên vi phạm phải bồi thường toàn bộ (không cao hơn và cũng không thấp hơn) thiệt hại trực tiếp và trực tiếp phát sinh cho bên bị vi phạm theo hợp đồng Đồng thời, các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại và bồi thường thiệt hại ước tính một cách hợp lý
Việc xác định, mức bồi thường thiệt hại trong hai trường hợp này có sự khác biệt rõ ràng Nếu trường hợp hợp đồng vô hiệu, mức bồi thường phụ thuộc vào yếu tố lỗi và tỷ lệ thực hiện hợp đồng thì với trường hợp vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng, mức này được xác định dựa trên nguyên tắc bồi thường thiệt hại toàn bộ và ngoại lệ là có thỏa thuận khác
Yếu tố lỗi đối với bồi thường thiệt hại trường hợp hợp đồng vô hiệu và trong trường hợp
vị phạm nghĩa vụ của hợp đồng có vai trò khác biệt hoàn toàn
Lỗi là một yếu tố quan trọng để xác định liệu có áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp hợp đồng vô hiệu Nhưng vấn đề lỗi lại không được đặt ra để xác định có hay không có vi phạm nghĩa vụ để là căn cứ áp dụng bồi thường thiệt hại đối với trường hợp vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng Bên bị vi phạm không cần chứng minh bên vi phạm có lỗi gây ra thiệt hại mà chỉ cần chứng minh vi phạm tồn tại
Khi hợp đồng bị tuyên vô hiệu, lỗi có thể xuất phát từ một hoặc các bên hoặc không do bên nào Đây là một trong các điểm khác biệt khi mà lỗi đối với trường hợp vi phạm nghĩa vụ phải xuất phát một hoặc các bên trong hợp đồng
Đối với trường hợp vô hiệu, yếu tố lỗi cùng với tỷ lệ lỗi của các bên là căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại như sau: (i)nếu bên bị thiệt hại không có lỗi trong việc làm hợp đồng vô hiệu, bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ giá trị thiệt hại phát sinh từ hợp đồng vô hiệu; (ii)nếu bên bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi trong việc làm hợp đồng vô hiệu, bên còn lại sẽ không phải bồi thường thiệt hại; (iii)nếu cả bên thiệt hại và bên bị thiệt hại đều có lỗi thì, trách
Trang 6nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định theo mức độ lỗi của mỗi bên, nếu các bên có lỗi ngang nhau, mỗi bên chịu trách nhiệm tương đương nhau về thiệt hại
Đối với trường hợp vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng, tại Điều 363 Bộ luật dân sự năm 2015:
“Trường hợp vi phạm nghĩa vụ và có thiệt hại là do một phần lỗi của bên bị vi phạm thì bên vi phạm chỉ phải bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình.”
Vấn đề bồi thường thiệt hại giữa trường hợp hợp đồng vô hiệu và trường hợp vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng có nhiều điểm tương đồng nhưng cũng rất khác biệt qua các khía cạnh như: nguồn luật áp dụng, căn cứ áp dụng, loại thiệt hại bồi thường, xác định mức bồi thường thiệt hại, lỗi,…trong nét tương đồng lại tồn tại sự khác biệt Giữa bồi thường thiệt hại trường hợp hợp đồng vô hiệu và bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng có nhiều sự tương đồng về căn cứ áp dụng như: có thiệt hại xảy ra do hành vi vi phạm, và mối quan
hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi vi phạm nhưng cũng có sự khác biệt nhất định khi mà trường hợp hợp đồng vô hiệu yếu tố lỗi là một điều kiện quan trọng để áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại Với loại thiệt hại bồi thường tuy đối với hai trường hợp này đều là loại thiệt hại thực tế và trực tiếp, nhưng đi sâu vào phân tích thì lại rất khác nhau…