1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận văn quản lý di tích lịch sử văn hóa đình phùng khoang, phường trung văn, quận nam từ liêm, thành phố hà nội

207 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý di tích lịch sử văn hóa đình Phùng Khoang (Phường Trung Văn, Quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội)
Tác giả Lê Ngọc Hải
Người hướng dẫn PGS.TS Văn Đức Thanh
Trường học Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương
Chuyên ngành Quản lý Văn hóa
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 207
Dung lượng 10,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử văn hóa (24)
    • 1.1.1. Một số khái niệm liên quan (30)
    • 1.1.2. Nội dung Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa (37)
  • 1.2. Cơ sở pháp lý về bảo tồn và phát huy giá trị di tích (38)
  • 1.3. Tổng quan về di tích đình Phùng Khoang (41)
    • 1.3.1. Giới thiệu chung về phường Trung Văn và sự hình thành, phát triển của đình Phùng Khoang (41)
    • 1.3.2. Những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của di tích đình Phùng Khoang (47)
  • Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH ĐÌNH PHÙNG KHOANG (24)
    • 2.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy và chức năng nhiệm vụ của cơ quan quản lý (54)
      • 2.1.1. Ủy ban nhân dân các cấp (54)
      • 2.1.2. Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội - Phòng Văn hóa và Thông tin quận Nam Từ Liêm (55)
      • 2.1.3. Ban quản lý di tích (59)
    • 2.2. Hoạt động công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa đình Phùng Khoang (60)
      • 2.2.1. Xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn phường (0)
      • 2.2.2. Tổ chức tuyên truyền, tổ chức các văn bản pháp luật bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa của di tích trong cộng đồng (70)
      • 2.2.3. Tổ chức thực hiện các hoạt động nghiệp vụ nhằm giữ gìn và phát (72)
      • 2.2.5. Tổ chức đào tạo, bồi dƣỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về công tác quản lý nhà nước về di tích lịc sử văn hóa (0)
    • 2.3. Nhận xét đánh giá chung (82)
  • Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH ĐÌNH PHÙNG KHOANG (54)
    • 3.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến phương hướng và nhiệm vụ quản lý di tích lịch sử văn hóa đình Phùng Khoang (89)
      • 3.1.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý di tích (89)
      • 3.1.2. Phương hướng (90)
      • 3.1.3. Nhiệm vụ (94)
    • 3.2. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích lich sử văn hóa đình Phùng Khoang (94)
      • 3.2.1. Nhóm giải pháp về chính sách (94)
      • 3.2.2. Nhóm giải pháp tăng cường tổ chức và triển khai thực hiện công tác quản lý, bảo tồn và phát huy các giá trị của di tích đình Phùng Khoang (98)
      • 3.2.3. Nhóm giải pháp tăng cường công tác Quản lý của Nhà nước đối với hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị tại di tích đình Phùng Khoang (101)
  • KẾT LUẬN (106)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (111)
  • PHỤ LỤC (116)

Nội dung

-Trên quan điếm kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa của cha ông và sáng tạo ra những giá trị văn hoá mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam đãban hành nhiều chính sách, văn bản pháp luật tạo

Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử văn hóa

Một số khái niệm liên quan

Trong Công ƣớc Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới của UNESCO năm 1972, khái niệm di sản văn hóa bao gồm các loại hình như di tích kiến trúc, nhóm công trình xây dựng và các di chỉ, phản ánh tính năng và giá trị của nền văn hóa của một xã hội cụ thể Trong các từ điển, di sản thường được hiểu đơn giản là những đặc điểm thuộc về nền văn hóa của một cộng đồng, như truyền thống, ngôn ngữ hoặc các công trình trong quá khứ còn giữ vai trò quan trọng về mặt lịch sử Tại Việt Nam, năm 2001, Luật Di sản văn hóa chính thức ghi nhận định nghĩa “di sản văn hóa” trong văn bản pháp luật, và đến năm 2009, luật này được sửa đổi, mở rộng về phạm vi bao gồm cả di sản phi vật thể và vật thể, là các sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được truyền lại qua các thế hệ ở Việt Nam.

Di tích lịch sử văn hóa theo Hiến chương Venice (1964) không chỉ là các công trình kiến trúc lớn mà còn bao gồm các khu đô thị hoặc nông thôn chứa đựng bằng chứng của nền văn minh, các sự kiện lịch sử quan trọng, phản ánh giá trị văn hóa qua các công trình khiêm tốn Tại Trung Quốc, thuật ngữ “văn vật bất động” dùng để chỉ các di tích đa dạng như di chỉ cổ, mộ táng, kiến trúc cổ, chùa hang động, điêu khắc đá, bích họa, các dấu tích lịch sử quan trọng cùng kiến trúc tiêu biểu của các thời kỳ khác nhau, thể hiện giá trị lịch sử và văn hóa đa chiều của các di tích này.

Di tích lịch sử văn hóa được hiểu là tổng thể các công trình, địa điểm, đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hoặc giá trị văn hóa được bảo tồn và lưu giữ Theo các cuốn Đại từ điển tiếng Việt, khái niệm này nhấn mạnh vai trò của việc bảo tồn các giá trị lịch sử và văn hóa qua các công trình và hiện vật quý giá còn tồn tại đến ngày nay Việc hiểu rõ về di tích lịch sử văn hóa giúp nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy giá trị lịch sử qua các địa điểm, tác phẩm nổi bật trong lịch sử Việt Nam.

Theo Luật di sản văn hóa, “Di tích lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.” Các công trình xây dựng và địa điểm này bao gồm các tòa nhà, đài tưởng niệm, quảng trường, khu phố, gắn liền với các sự kiện lịch sử, các di chỉ khảo cổ, cũng như các địa điểm liên quan đến hoạt động tôn giáo tín ngưởng, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử, văn hóa của quốc gia.

Quản lý được hiểu là việc tổ chức, điều khiển hoạt động của các đơn vị, cơ quan, trông coi, giữ gìn và theo dõi công việc nhằm đảm bảo hoạt động hiệu quả Các nhà nghiên cứu khoa học quản lý xác định quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục tiêu của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý để đạt được các mục tiêu đề ra Để thực hiện công tác quản lý hiệu quả, cần dựa trên các công cụ như chính sách pháp luật, chiến lược phát triển, quy hoạch, đề án bảo vệ và phát huy giá trị di sản, nguồn lực tài chính, cũng như các công trình nghiên cứu khoa học phù hợp.

Quản lý di tích lịch sử văn hóa là lĩnh vực đặc thù của quản lý văn hóa, liên quan đến việc hành chính và giám sát các hoạt động pháp lý nhằm phát triển kinh tế và xã hội tại địa phương cũng như toàn quốc Quản lý văn hóa bao gồm việc nhà nước ban hành và thực thi các văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời tác động chủ quan của các cơ quan và cá nhân có thẩm quyền nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử và văn hóa.

Quản lý di tích lịch sử văn hóa là quá trình định hướng và tổ chức nhằm bảo vệ, gìn giữ các di tích, phát huy giá trị của chúng theo hướng tích cực Các chủ thể quản lý như cơ quan chức năng và cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc tác động để bảo vệ và khai thác các giá trị của di tích, góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội Việc quản lý hiệu quả giúp bảo tồn các giá trị vật chất và tinh thần của di tích, đồng thời phục vụ nhu cầu phát triển của cộng đồng dân tộc.

Văn hóa quản lý được định nghĩa là hệ thống những ý nghĩa, giá trị và niềm tin chủ đạo, với các biểu tượng đa dạng, do các chủ thể tham gia quá trình quản lý cùng thống nhất, có tác động rộng lớn đến cách hành xử của thành viên trong tổ chức nhằm đạt mục tiêu quản lý đặt ra Trong quản lý di tích lịch sử văn hóa, văn hóa quản lý thể hiện qua cách các bên liên quan và cơ quan quản lý ứng xử với di tích, hướng tới sự hài hòa và hợp lý để đạt được các mục tiêu đã đề ra.

Cộng đồng được định nghĩa trong Đại từ điển tiếng Việt là tập hợp của những người có điểm giống nhau, tạo thành một khối như một xã hội Trong lĩnh vực bảo vệ Di sản Văn hóa, các chuyên gia của UNESCO đặc biệt quan tâm đến cộng đồng, họ xem cộng đồng là yếu tố cốt lõi có vai trò quyết định trong việc giữ gìn và phát huy giá trị của di sản.

Các cộng đồng là những mạng lưới gồm những người chia sẻ cùng nhận thức về bản sắc và sự gắn kết, hình thành từ các quan hệ lịch sử và dựa trên thực hành, chuyển giao hoặc ràng buộc với di sản văn hóa phi vật thể của họ.

Cộng đồng được hiểu là những người cùng hoặc không cùng địa bàn cư trú như làng, xã, quận, có sự gắn kết dựa trên các yếu tố văn hóa như tôn giáo, tín ngưỡng, và lòng tin Họ đóng vai trò quan trọng trong việc quan tâm và đóng góp tài chính, vật lực để bảo vệ và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, cộng đồng còn bao gồm các đối tượng có hoạt động ảnh hưởng trực tiếp tới công tác bảo tồn di tích, như các nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách, nhà khoa học, doanh nhân kinh doanh trong lĩnh vực du lịch, du khách tham quan di tích và cộng đồng cư dân địa phương.

Phát triển bền vững là quá trình kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba yếu tố chính: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường Trong đó, phát triển kinh tế tập trung vào tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội ưu tiên tiến bộ xã hội, công bằng, xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm, còn bảo vệ môi trường bao gồm xử lý ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường, phòng chống cháy rừng, chặt phá rừng và khai thác tài nguyên hợp lý Trong lĩnh vực di sản văn hóa, việc khai thác và phát huy giá trị di sản nhằm thúc đẩy phát triển xã hội cần đảm bảo tính bền vững, qua việc bảo vệ di sản, giảm thiểu tác động tiêu cực, đồng thời chú trọng đến nhu cầu và lợi ích của cộng đồng dân cư nơi có di sản.

Khái niệm Đình và đình làng: Danh từ "đình "trong tiếng Việt hiện nay có nguồn gốc từ một chữ Hán - Nôm Ngữ nghĩa của từ này khá rộng.

Chữ "đình" thể hiện một đơn vị hành chính trong hệ thống tổ chức của Trung Hoa cổ đại Thời Tần-Hán, mỗi "đình" gồm 10 lý, và 10 "đình" hợp thành một "hương," gọi là "thập lý nhất đình, thập đình vi hương." Theo ghi chép trong Hán thư - Bách quan công, mỗi "đình" có trưởng đình, còn mỗi "hương" gồm có tam lão và trật, thể hiện tổ chức hành chính rõ ràng của thời kỳ cổ đại.

Bang khi chém rắn khởi nghĩa đang làm chức Đình trưởng ở Phong Bái. Trong Từ hải, chữ đình có một nghĩa là: "Một loại cơ cấu hành chính dưới

Hương, thời Tần Hán "[34, tr.4]

Nghĩa phổ biến hơn của chữ đình là chỉ một loại hình kiến trúc Vẫn theo

Đình là nơi dừng chân của khách xa, thể hiện qua câu “hành nhân đình túc xứ sở”, phản ánh vai trò của đình như là điểm nghỉ chân và chia ly trên hành trình Các đình nhỏ cách nhau năm dặm, như Đoản đình, và các đình lớn cách nhau mười dặm, như Trường đình, đều đóng vai trò là nơi nghỉ ngơi và tiễn biệt, góp phần nâng cao giá trị văn hóa và lịch sử của các địa danh này.

Từ hải có định nghĩa chính về đình nhƣ sau:

Kiến trúc này là loại nhỏ, chủ yếu sử dụng các vật liệu như tre, gỗ và đá để xây dựng Mặt bằng thường có hình tròn, vuông, lục giác, bát giác hoặc hình quạt, phù hợp với nhiều không gian khác nhau Chúng thường được xây dựng trong rừng, vườn hoặc các khu vực có cảnh quan đẹp, nhằm phục vụ du khách tham quan, nghỉ ngơi và thưởng lãm cảnh quan Những công trình xây ở bên đường hoặc ven sông thường gọi là "lương đình" hoặc "trường đình", trong khi đó "tỉnh đình" thường dùng để chỉ các kiến trúc đặc trưng khác trong khu vực.

"bi đình"… Cũng chỉ những kiến trúc nhỏ xây vì sự tiện lợi quần chúng về mặt nghiệp vụ, ví dụ như "bưu đình", "thư đình" [34, tr 44]

Theo từ điển Từ điển Trung Việt thì đình có hai nghĩa: 1- Chỉ ngôi đình.Thứ 2 đình còn chỉ trạm, quán (trạm bưu điện, quán sách) [33, tr.114]

Từ điển Hán - Việt đã định nghĩa từ đình là: "nhà trạm cho người đi đường nghỉ".

Nội dung Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa

Di tích lịch sử – văn hóa là bộ phận quan trọng của Di sản Vật thể, vì vậy công tác quản lý di tích cần phải phù hợp với các nguyên tắc và nội dung của quản lý Di sản Vật thể Việc bảo tồn và phát huy giá trị của di tích lịch sử – văn hóa đòi hỏi phải có chính sách quản lý chặt chẽ, đồng bộ và phù hợp với các quy định về di sản vật thể Quản lý di tích lịch sử – văn hóa không chỉ nhằm giữ gìn giá trị lịch sử mà còn góp phần phát triển du lịch, giáo dục cộng đồng và thúc đẩy bảo tồn di sản lâu dài.

Nội dung quản lý nhà nước về DSVH được đề cập cụ thể tại Điều

54 và Điều 55 Tại Điều 54, Mục 1, chương 5 của Luật di sản văn hóa ban hành năm 2001 và sửa đổi, bổ sung năm 2009, gồm

1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị DSVH.

2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về

3 Tô chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về DSVH;

4 Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dƣỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về DSVH;

5 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị DSVH;

6 Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trịDSVH;

7 Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;

8 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về DSVH [20, tr.65-66].

Các nội dung quản lý theo Điều 54 và Điều 55 của Luật Di sản văn hóa đã rõ ràng hóa chức năng và nhiệm vụ quản lý đối với di sản làng việc lược (DT LSVH) Quản lý di sản văn hóa là một lĩnh vực rộng, đòi hỏi phải vận dụng các phương pháp phù hợp để đảm bảo thực hiện hiệu quả chức năng quản lý nhà nước về di sản, đặc biệt là đối với DT LSVH cũng như di sản văn hóa nói chung.

Cơ sở pháp lý về bảo tồn và phát huy giá trị di tích

Để bảo tồn và trùng tu các di tích kiến trúc gỗ cổ truyền, người làm nghề cần dựa vào các hiến chương và công ước quốc tế về bảo tồn di tích Những văn bản quốc tế này cung cấp các nguyên tắc và hướng dẫn quan trọng nhằm duy trì giá trị lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật của các di tích cổ Việc tuân thủ các tiêu chuẩn này giúp đảm bảo quá trình bảo tồn diễn ra bền vững, phù hợp với các quy định quốc tế về trùng tu di tích lịch sử.

Hiến chương Athens 1931 về TTDT;

Hiến chương Venice 1964 về Bảo tồn và Tôn tạo các di tích, di chỉ là văn kiện quốc tế quan trọng nhằm hướng dẫn việc bảo tồn các giá trị lịch sử và kiến trúc của di tích, đảm bảo quá trình tôn tạo diễn ra phù hợp và bền vững Công ước về Bảo vệ Di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới, ban hành vào năm 1972, đã thiết lập các tiêu chuẩn quốc tế trong việc bảo vệ và duy trì các di sản độc đáo, góp phần nâng cao nhận thức toàn cầu về giá trị của các di tích và thiên nhiên Hiến chương Nara 1994 về Tính xác thực đưa ra các nguyên tắc về đảm bảo tính xác thực của các di tích qua các hoạt động bảo tồn và phục hồi, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giữ gìn giá trị nguyên bản của di sản văn hoá.

Hiến chương về bảo vệ và quản lý Di sản khảo cổ học (1990);

Hiến chương Burra 1999 nhấn mạnh rằng mục đích của bảo tồn là duy trì giá trị văn hóa của các địa điểm, đồng thời nhấn mạnh rằng bảo tồn là một phần không thể tách rời của quản lý tốt các địa điểm có giá trị văn hóa Trong quá trình bảo tồn, các kỹ thuật và chất liệu truyền thống được ưu tiên sử dụng, tuy nhiên trong những trường hợp đặc biệt, kỹ thuật và chất liệu hiện đại có thể phù hợp nếu mang lại lợi ích đáng kể cho việc bảo tồn Việc sử dụng các phương pháp hiện đại cần dựa trên luận cứ khoa học vững chắc hoặc do các cá nhân, tổ chức có kinh nghiệm thực hiện để đảm bảo tính hiệu quả và bền vững của công trình bảo tồn.

Nguyên tắc về Bảo tồn các kiến trúc lịch sử bằng gỗ đƣợc Uỷ ban

ICOMOS thông qua tháng 10 năm 1999 nêu rõ "Mọi đề xuất can thiệp phải được ưu tiên tuân thủ các phương pháp truyền thống ".

Văn bản, luật trong nước về bảo tồn di tích

Ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra sắc lệnh số 65/SL - CTP về việc bảo tồn cổ tích trên toàn quốc, tại điều 4 quy định:

“Cấm phá huỷ đình chùa, đền miếu, hoặc những nơi thờ tự khác nhƣ cung điện, thành quách cùng lăng mộ chƣa đƣợc bảo tồn.

Cấm phá huỷ các bia kỷ, đồ vật chiếu sắc, văn bằng, giấy má, sách vở mang tính chất tôn giáo nhưng có ích cho lịch sử và cần được bảo tồn nhằm giữ gìn giá trị văn hóa và di sản truyền thống Việc bảo vệ những tài liệu này giúp lưu giữ những giá trị lịch sử, góp phần nâng cao hiểu biết về quá khứ và phát triển nền văn hóa bền vững Các đồ vật mang tính tôn giáo nhưng mang ý nghĩa lịch sử cần được bảo tồn để duy trì nhân văn và giáo dục cộng đồng Chính sách này nhấn mạnh vai trò của việc gìn giữ các di vật có giá trị lịch sử, giúp phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong thời hiện đại.

Sau đó, hàng loạt Nghị định, Thông tư, Chỉ thị của Nhà nước ta về việc bảo vệ di sản văn hoá dân tộc đã đƣợc ban hành.

Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Nghị quyết chỉ rõ rằng, cần hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống cả bác học lẫn dân gian, đồng thời tôn trọng và phát triển văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể.

Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra sáu nhiệm vụ trọng yếu trong xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam, trong đó nhấn mạnh việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động văn hóa Nghị quyết nhấn mạnh việc huy động sức mạnh toàn xã hội để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, thúc đẩy sáng tạo các giá trị văn hóa mới và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại nhằm làm giàu văn hóa dân tộc Đồng thời, đề ra cơ chế giải quyết hợp lý giữa bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội, trong đó bảo tồn và tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa quan trọng để phục vụ giáo dục truyền thống và thúc đẩy phát triển kinh tế Các hoạt động này còn gắn kết việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa với phát triển du lịch, góp phần nâng cao vị thế của văn hóa Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.

Xuất phát từ thực tiễn bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, nhiều quy định của Nhà nước, Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã được ban hành nhằm đưa công tác này đi vào nền nếp Trong lĩnh vực bảo tồn và phát huy giá trị di tích, đặc biệt là đình làng Việt Nam, các quy định này đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn và thúc đẩy việc bảo tồn một cách hiệu quả Việc áp dụng các quy định về bảo tồn di tích giúp đảm bảo sự phát huy giá trị truyền thống và giữ gìn nét đẹp văn hóa dân tộc.

Pháp lệnh "Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hoá và Danh lam thắng cảnh" số 14 LCT-HĐHN ngày 4/4/1984 do Hội đồng Nhà nước ban hành là cơ sở pháp lý quan trọng về bảo vệ di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh tại Việt Nam Năm 2001, Quốc hội đã thông qua Luật di sản văn hoá nhằm quy định rõ về bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị các di sản văn hóa quốc gia Tiếp đó, vào năm 2009, Quốc hội đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa để nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ di sản, phù hợp với sự phát triển của đất nước.

Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành các điều khoản của Luật di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa Nghị định này hướng dẫn rõ các quy trình, thủ tục liên quan đến bảo vệ, quản lý và phát huy giá trị của di sản văn hóa tại Việt Nam Tấm Nghị định giúp các cơ quan chức năng và tổ chức liên quan thực hiện tốt các quy định về di sản văn hóa, đảm bảo sự kế thừa và phát triển bền vững của các giá trị văn hóa truyền thống Thông qua đó, Nghị định góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của bảo tồn di sản và thúc đẩy các hoạt động nhằm bảo vệ các di tích, lễ hội, và các giá trị văn hóa đặc sắc của Việt Nam.

Nghị định số 70/2012/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 18/9/2012 quy định rõ thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập và phê duyệt các quy hoạch, dự án về bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử - văn hóa cũng như danh lam thắng cảnh Định hướng này nhằm đảm bảo công tác bảo tồn di tích được thực hiện một cách chặt chẽ, đúng quy trình và phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành Nghị định cũng nhấn mạnh vai trò của chính quyền địa phương và các cơ quan liên quan trong việc quản lý và thực hiện các dự án bảo tồn di tích, góp phần giữ gìn giá trị văn hóa lịch sử quốc gia.

Thông tư số 18/2012/TT-BVHTTDL ngày 30/12/2012 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết về việc bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích Văn bản này hướng dẫn rõ các quy trình và tiêu chuẩn cần thiết để đảm bảo duy trì giá trị lịch sử, văn hóa của các di tích quốc gia Các quy định trong Thông tư giúp các cơ quan, tổ chức thực hiện công tác bảo quản và trùng tu di tích đúng quy trình, hạn chế tối đa tác động tiêu cực đến di tích Thông tư cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng phương pháp phù hợp và đảm bảo tính nguyên bản trong các hoạt động phục hồi di tích Được ban hành nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn di sản văn hóa, Thông tư số 18/2012/TT-BVHTTDL đóng vai trò là văn bản hướng dẫn pháp lý quan trọng trong lĩnh vực này.

Thông tư số 17/2013/TT-BVHTTDL ngày 30/12/2013 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về việc xác định chi phí lập quy hoạch, dự án, báo cáo kinh tế - kỹ thuật bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích Văn bản này hướng dẫn rõ các quy trình và tiêu chí để xác định chi phí phù hợp, đảm bảo công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa Việc tuân thủ Thông tư giúp các tổ chức, cá nhân đề xuất ngân sách chính xác, tối ưu hóa nguồn lực cho hoạt động bảo tồn di tích quốc gia Ngoài ra, Thông tư còn cung cấp các hướng dẫn cụ thể về cách lập báo cáo, tính toán kinh phí, đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong quá trình thực hiện dự án.

Quyết định số 1076/QĐ-BVHTT ngày 24/7/2001 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin phê duyệt quy hoạch tổng thể nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa cùng danh lam thắng cảnh đến năm 2020 Đây là bước ngoặt quan trọng trong việc xây dựng chiến lược bảo tồn di sản, hướng đến bảo vệ các giá trị văn hóa đặc sắc của đất nước Quy hoạch này góp phần thúc đẩy phát triển du lịch bền vững, đồng thời giữ gìn các di tích lịch sử, văn hóa thế giới và địa phương Việc phê duyệt này thể hiện cam kết của Chính phủ trong việc duy trì và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị di tích.

Bảo vệ di tích là trách nhiệm của toàn dân, đặc biệt là việc giữ gìn và bảo vệ ngôi đình làng như một phần quan trọng của di sản văn hóa cộng đồng Khi có sự tổ chức, hướng dẫn và tuyên truyền từ các chuyên gia, người dân sẽ trở thành những cộng sự chủ động trong công tác bảo vệ và phát huy giá trị di tích Việc này còn góp phần nâng cao đời sống của người dân trong khu vực di tích và vùng phụ cận thông qua mô hình "sự cộng sinh" giữa di tích và cộng đồng dân cư, giúp họ nhận thức rõ rằng di tích chính là nguồn sống của chính mình Bảo vệ di tích không chỉ là bảo vệ di sản văn hóa, mà còn là giữ gìn cuộc sống và tương lai lâu dài cho các thế hệ sau.

Tổng quan về di tích đình Phùng Khoang

Giới thiệu chung về phường Trung Văn và sự hình thành, phát triển của đình Phùng Khoang

Phường Trung Văn được thành lập theo quyết định số 132/NQ-CP ngày 27/12/2013 của Chính phủ, nhằm điều chỉnh địa giới hành chính quận Nam Từ Liêm để thành lập 02 quận mới và 23 phường thuộc thành phố Hà Nội Quá trình này dựa trên việc giữ nguyên trạng địa giới của xã Trung Văn và xã Phùng Khoang.

Phường Trung Văn nằm ở phía Tây Nam thủ đô Hà Nội, có vị trí địa lý thuận tiện với phía Bắc giáp phường Mễ Trì, phía Tây giáp phường Đại Mỗ, phía Đông giáp các phường Nhân Chính và Thanh Xuân Bắc, cùng với phía Tây Nam giáp phường Mộ Lao Vị trí này giúp phường Trung Văn trở thành khu vực kết nối giao thương và sinh hoạt chung của quận Thanh Xuân.

Phường Trung Văn ngày nay, trước kia được hình thành từ 2 làng cổ Phùng Khoang và Trung Văn (Phụ lục 2: Hình 2)

Thôn Phùng Quang, hay còn gọi là làng Quang, nằm trong vùng "Kẻ Mọc" phía tây đường Thiên lý Tây Đạo dẫn vào Kinh thành Thăng Long, cách các làng Mọc phía đông như Thượng Đình và Hạ Đình thuộc Nhân Mục Cựu Năm Bảo Thái thứ Tư (1723), xã Phùng Khoang được chuyển từ quận Nam Thanh Trì, trấn Sơn Nam sang quận Nam Từ Liêm, trấn Sơn Tây Đầu thế kỷ XIX, Phùng Khoang là một xã độc lập thuộc tổng Thiên Mỗ (Đại Mỗ), quận Nam Từ Liêm, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây; sau đó đến năm 1831, thuộc phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội, rồi đổi thành tỉnh Cầu Đơ năm 1902, và năm 1904 trở thành tỉnh Hà Đông.

Thôn Trung Văn xƣa có tên là thôn Trung Thƣ cùng thôn Thƣợng Thƣ thuộc xã Ngọc Trục Sau đổi tên là thôn Trung Văn, tên nôm là Dộc

Bé, thôn Thƣợng Thƣ đổi là Thƣợng Văn, tên nôm là Dộc Cả vẫn thuộc xã Ngọc Trục.

Cuối thời Lê, Tây Sơn và đầu thời Nguyễn, làng Phùng Khoang và Ngọc Trục nằm trong tổng Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, phủ Quốc Oai, xứ Sơn Tây Đến năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), toàn bộ quận Nam Từ Liêm được chia về phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội, đánh dấu sự thay đổi hành chính quan trọng của khu vực này.

XX khi thành lập tỉnh Hà Đông thì hai làng thuộc phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và trong kháng chiến chống Pháp, thôn Phùng Khoang thuộc liên xã Tân Triều, sau đó năm 1949 thuộc xã Cương Kiên, thị xã Hà Đông Thôn Trung Văn ban đầu thuộc xã Ngọc Trục năm 1946, sau đó năm 1948 thuộc xã Hữu Hưng của quận Nam Liên Bắc, và đến năm 1949 mới về xã Cương Kiên tỉnh Hà Đông Năm 1961, khi mở rộng thành phố Hà Nội, xã Cương Kiên được chuyển về quận Nam Từ Liêm Đến năm 1965, xã Cương Kiên được đổi tên thành xã Trung Văn, tên gọi giữ nguyên đến ngày nay.

Trước Cách mạng Tháng Tám, nông dân chủ yếu sống dựa vào nghề nông, như cấy lúa nước và trồng hoa màu như khoai, đậu, lạc Do thiếu đất canh tác, Trung Văn phát triển nghề thủ công làm thừng để tạo việc làm trong thời gian nông nhàn Những hộ ít ruộng thường làm nghề này quanh năm, góp phần vào kinh tế địa phương.

Trải qua nhiều thế hệ, dù sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp lạc hậu, cuộc sống của người dân Trung Văn vẫn đầy khó khăn nhưng luôn cố gắng góp sức xây dựng quê hương Các di tích lịch sử, văn hóa cùng phong tục, tập quán, lễ hội đã làm phong phú đời sống tinh thần và giữ gìn bản sắc dân tộc Đình Trung Văn, được Bộ Văn hóa công nhận là di tích lịch sử – văn hóa từ năm 1991, từng là nơi hoạt động của cán bộ trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp Ngoài ra, Đình và Chùa Phùng Khoang ở phường Trung Văn đều là những địa điểm giữ gìn giá trị lịch sử và văn hóa của địa phương.

Bộ Văn hoá xếp hạng di tích lịch sử - văn hoá năm 1991, năm 2013 Chùa Trung Văn lại đƣợc công nhận là di tích cách mạng kháng chiến.

Lịch sử lâu đời của Phùng Khoang hình thành nên những tập quán truyền thống đặc trưng của dân tộc và nét độc đáo riêng của địa phương Hội làng được tổ chức theo các nghi lễ cổ truyền như rước giao hảo với các làng Mọc mỗi 5 năm để kết nối các cộng đồng, trong đó Phùng Khoang rước Thánh đến vùng Mọc và các làng Mọc rước Thành đến Phùng Khoang nhằm mở hội mùa xuân kéo dài nửa tháng Người dân tại đây đều coi đình là trung tâm văn hóa của làng, nơi tổ chức các hoạt động lễ hội, hội đồng kỳ mục, lý dịch đều được bầu chọn không phân biệt tôn giáo, góp phần thúc đẩy sự đoàn kết trong cộng đồng Người dân theo đạo Thiên chúa và các tín ngưỡng dân gian đều tham gia lễ hội và các hoạt động tâm linh vào ngày rằm, mồng 1 và các ngày lễ lớn như ngày 8 tháng Giêng và ngày 9 tháng 3, với các phong tục như mổ lợn, xôi, trầu cau, hoa quả để thể hiện lòng thành kính và gắn kết cộng đồng.

Trung Văn là một phần trong quy hoạch phát triển trọng điểm của Thành phố Hà Nội, với mục tiêu chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phát triển làng nghề và mở rộng các dịch vụ thương mại nhằm nâng cao đời sống nhân dân Hiện nay, phường đang trong quá trình đô thị hóa nhanh chóng, có dân cư đông đúc gồm 18 tổ dân phố và hơn 30 đơn vị kinh doanh, thuận lợi cho hoạt động giao thông và phát triển thương mại Sự nghiệp giáo dục tại địa phương được quan tâm và chú trọng, trong khi công tác y tế liên tục chuyển biến tích cực với đội ngũ y bác sĩ nhiệt tình và trình độ cao Công tác quân sự địa phương luôn được thực hiện đúng theo pháp lệnh, thể hiện sự ổn định và nỗ lực của chính quyền địa phương Đình Phùng Khoang, được xây dựng vào đầu thời Lê Trung Hưng, lưu giữ những giá trị lịch sử, trong đó điện thờ thành hoàng làng là Đức Thánh Đoàn Thượng, một tướng lĩnh thời Lý, đã có công lớn giúp vua chống lại các thế lực phản loạn và bảo vệ vương triều trong thời kỳ loạn lạc.

Sau khi nhà Lý mất, Đoàn Thượng trở về quê Hồng Châu, Hải Dương để lãnh đạo quân trung thành với triều cũ chống lại Trần Thủ Độ Ngài bị hại chết vào ngày mùng 8 tháng Giêng âm lịch năm Bính Thân (1228), và dân làng Phùng Khoang cùng hơn 70 làng khác đã lập điện thờ Ngài vào ngày kỵ của Ngài để tưởng nhớ Các vị vua sau này dành sự kính mộ và ban cho Ngài tước hiệu Đông Hải đại vương, Thượng đẳng Phúc thần.

Đình không chỉ là nơi thờ Thần Hoàng đình mà còn đóng vai trò trung tâm sinh hoạt văn hóa và chính trị của cộng đồng Trong thời kỳ cách mạng tháng Tám, đình đã trở thành địa điểm tổ chức mít tinh, cướp chính quyền trong xã và kéo cờ cùng nhân dân tiến ra Bắc Bộ phủ để thực hiện các hoạt động cách mạng Ngoài ra, đình còn là nơi các cán bộ cách mạng cao cấp họp bàn và là địa điểm tuyển quân đầu tiên của địa phương, góp phần vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Trong kháng chiến chống Pháp, cán bộ và du kích địa phương thường xuyên hoạt động tại cơ sở, bám trụ tại địa phương để duy trì phong trào cách mạng Sau khi hòa bình lập lại, đình làng được tận dụng làm trụ sở của các cơ quan đoàn thể, góp phần xây dựng cuộc sống mới Đồng thời, đình còn được sử dụng làm kho chứa vũ khí, hậu cần cho bộ đội, góp phần đảm bảo hiệu quả của công cuộc kháng chiến và sự phát triển của địa phương.

Mỹ Cứu Nước Đình vẫn thường được sử dụng như trước đây, tuy nhiên hiện tại đã có sự bổ sung thêm một số bộ phận của bộ đội phòng không để bảo vệ Đài phát thanh Mễ Trì và khu vực lân cận, nhằm đảm bảo an ninh, duy trì hoạt động liên tục và phòng ngừa các mối đe dọa tiềm tàng.

Đình Phùng Khoang là di tích có ý nghĩa lịch sử và kiến trúc quan trọng của địa phương, đã trải qua nhiều lần trùng tu lớn vào thời Lê rồi thời Nguyễn, đảm bảo giữ gìn giá trị văn hóa Sau chiến tranh, đình vẫn là trung tâm diễn ra các kỳ đại hội đoàn thể và được sử dụng tạm thời làm nhà mẫu giáo, văn phòng hợp tác xã nông nghiệp, mua bán, góp phần phát triển cộng đồng Tiến trình bảo tồn và chỉnh trang đình diễn ra liên tục, từ việc giải phóng mặt bằng năm 1986 đến trùng tu khang trang, rồi sửa sang tôn tạo lớn gần đây, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với di tích Năm 1991, đình chính thức được xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia, khẳng định giá trị đặc biệt của công trình này trong nền văn hóa.

Trong đình Phùng Khoang, ba vị Đại vương là Đông Hải Đoàn Thượng Đại vương, Thạch Hải Linh Ứng Đại vương và Trung Thành Phổ tế Đại vương đều được tôn phong là thượng đẳng thần và thờ cúng làm Thành hoàng, thể hiện tín ngưỡng thờ thần và văn hóa tâm linh của người dân địa phương Thần phả làng còn ghi rõ, dưới thời Trần Thánh Tông, vua giao cho lễ quan viết sắc phong thần cho 72 điểm thờ tự, mỗi nơi đều được cấp đất phụng thờ, thể hiện sự quan tâm của triều đình đối với các đình làng Các lễ nghi, lễ lễ, rước sắc phong và lập miếu vẫn được duy trì qua các triều đại, nhằm cầu mong Thành hoàng phù trì, mang lại bình yên, mùa màng bội thu và phát triển thịnh vượng cho người dân Phùng Khoang và vùng châu thổ sông Hồng.

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH ĐÌNH PHÙNG KHOANG

Cơ cấu tổ chức bộ máy và chức năng nhiệm vụ của cơ quan quản lý

lý di tích lịch sử văn hóa đình Phùng Khoang

Cơ cấu tổ chức quản lý di tích lịch sử văn hóa tại Việt Nam được thiết lập thống nhất từ trung ương đến địa phương, đảm bảo tính đồng bộ trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích Mỗi cấp quản lý đều có chức năng và nhiệm vụ riêng biệt, góp phần thúc đẩy hiệu quả công tác quản lý và phát huy giá trị văn hóa lịch sử của di tích Việc phân cấp quản lý di tích lịch sử văn hóa của thành phố giúp nâng cao hiệu quả bảo tồn, quản lý chặt chẽ và phát huy giá trị lịch sử, góp phần quảng bá văn hóa địa phương tới cộng đồng trong và ngoài nước.

Hà Nội đƣợc quy định cụ thể tại quyết định số 1706/2001/ QD-BVHTT, ngày

24 tháng 7 năm 2001 của bộ trưởng bộ Văn hóa - Thông tin phê duyệt quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích Lịch sử

Văn hóa và danh lam thắng cảnh tại Hà Nội đã được quy định rõ ràng đến năm 2020 cùng với Quy chế quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh ban hành năm 2016 theo Quyết định số 48/2016/QĐ-UBND ngày 17/11/2016 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Các cấp ủy chính quyền địa phương có trách nhiệm thực thi các quy hoạch, chính sách, nhằm bảo tồn và phát huy giá trị các di tích, danh lam thắng cảnh trên địa bàn thành phố Việc quản lý, bảo vệ này nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của văn hóa và du lịch Hà Nội, góp phần nâng cao giá trị lịch sử, văn hóa của thành phố.

Theo quy định của Luật di sản văn hóa năm 2016, UBND tỉnh Hà Nội chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về di sản văn hóa tại địa phương theo phân cấp của Chính phủ, bao gồm quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị các di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh UBND thành phố Hà Nội có trách nhiệm chỉ đạo xây dựng quy hoạch, lập kế hoạch bảo vệ và phát huy giá trị di tích, tiến hành kiểm kê, nghiên cứu di tích và cổ vật, đồng thời cấp phép, giám sát và thanh tra các hoạt động liên quan đến bảo tồn và phát huy giá trị di tích để đảm bảo thực hiện đúng pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng và xử lý vi phạm về di tích theo quy định.

UBND cấp quận, thị xã chịu trách nhiệm quản lý, xây dựng và tổ chức thực hiện công tác bảo tồn, phát huy giá trị của di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia trong phạm vi địa bàn quản lý Họ cũng thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất với UBND tỉnh về tình hình quản lý các di tích, di vật, cổ vật, và bảo vật quốc gia Bên cạnh đó, UBND cấp quận, thị xã tổ chức các hoạt động thanh tra, kiểm tra, khen thưởng và xử lý vi phạm liên quan đến các di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia theo thẩm quyền được giao.

Các UBND cấp xã, phường có trách nhiệm thành lập Ban Quản lý di tích cấp xã để quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị các di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia tại địa phương Họ có nhiệm vụ thu nhận và bảo vệ các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia được phát hiện trên địa bàn, đồng thời phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời mọi hành vi vi phạm gây ảnh hưởng đến các giá trị này Ngoài ra, UBND cấp xã còn kiến nghị việc xếp hạng di tích, tiến hành thanh tra, kiểm tra, khen thưởng hoặc xử lý vi phạm theo thẩm quyền nhằm đảm bảo công tác quản lý di tích hiệu quả.

2.1.2 Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội - Phòng Văn hóa và Thông tin quận Nam Từ Liêm

Cơ quan quản lý di tích cấp tỉnh/thành phố đảm nhận chức năng trực tiếp quản lý di sản văn hóa (DSVH) và di tích lịch sử văn hóa theo phân công của UBND tỉnh Sở VHTT chịu trách nhiệm tổ chức, biên chế và hoạt động của cấp tỉnh, đồng thời nhận sự chỉ đạo, hướng dẫn, thanh tra và kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ từ Bộ VHTT.

Theo Quyết định số 48/2016/QĐ-UBND ngày 9/12/2016 của UBND thành phố Hà Nội, Sở Văn hóa Thể thao là cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, có nhiệm vụ tham mưu, giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về di sản văn hóa trên địa bàn.

Trách nhiệm của Sở VHTT trong quản lý di tích lịch sử văn hóa được quy định rõ trong Quy định về quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh tại Hà Nội, bao gồm 7 nội dung chính về quản lý nhà nước đối với các di tích trên địa bàn thành phố Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý di tích, UBND Hà Nội đã ban hành quyết định số 403/QĐ-VHTT&DL ngày 21/5/2009 về việc thành lập Ban Quản lý di tích - danh thắng Hà Nội Ban Quản lý di tích là đơn vị sự nghiệp có thu, chịu trách nhiệm tổ chức các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị các di tích, danh thắng trên địa bàn, trực thuộc Sở Văn hóa - Thông tin (nay là Sở VHTT), có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng theo quy định pháp luật Với chức năng và nhiệm vụ rõ ràng, Ban Quản lý di tích - danh thắng góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa tại thành phố Hà Nội.

Phòng Văn hóa và Thông tin quận Nam Từ Liêm có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Quy chế quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn Hà Nội Quy chế này được ban hành kèm theo Quyết định số 48/2016/QĐ-UBND ngày 17/11/2016 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội nhằm hướng dẫn công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh tại địa phương.

Phòng Văn hoá và Thông tin là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận Nam Từ Liêm, đảm nhiệm chức năng tham mưu, giúp Uỷ ban quản lý nhà nước về các lĩnh vực văn hoá, gia đình, thể dục, thể thao, du lịch và quảng cáo Phòng cũng thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn theo sự ủy quyền của Uỷ ban nhân dân quận Nam Từ Liêm và theo quy định của pháp luật Chức năng quản lý nhà nước về thông tin và truyền thông của Phòng được quy định tại Thông tư liên tịch của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông và Bộ trưởng Bộ Nội vụ, đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ trong hoạt động của ngành.

Phòng Văn hoá và Thông tin có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản ngân hàng, chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức và công tác của Ủy ban nhân dân cấp quận Nam Từ Liêm Đồng thời, phòng còn chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch cùng Sở Thông tin và Truyền thông để đảm bảo hoạt động hiệu quả.

Nhiệm vụ và quyền hạn:

Ủy ban nhân dân cấp quận Nam Từ Liêm có trách nhiệm ban hành các quyết định, chỉ thị, kế hoạch dài hạn, 05 năm và hàng năm về phát triển văn hóa, gia đình, thể thao, du lịch và quảng cáo Đồng thời, họ đề ra các đề án, chương trình nhằm thúc đẩy các lĩnh vực này, đồng thời triển khai các biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến cải cách hành chính nhà nước và xã hội hóa trong quản lý nhà nước.

Vào thứ hai, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Nam Từ Liêm sẽ dự thảo các văn bản liên quan đến lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục thể thao, du lịch và quảng cáo, nhằm đảm bảo các quy định phù hợp với thẩm quyền ban hành của chính quyền địa phương.

Thứ ba: Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, đề án, chương trình đã được phê duyệt để đảm bảo quản lý hiệu quả lĩnh vực phát triển sự nghiệp văn hoá, gia đình, thể dục thể thao, du lịch và quảng cáo Đồng thời, cung cấp hướng dẫn, thông tin tuyên truyền và phổ biến giáo dục pháp luật về các hoạt động này nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng Phối hợp thực hiện các chủ trương xã hội hoá hoạt động văn hoá, thể dục thể thao để thúc đẩy sự phát triển bền vững, đồng thời tích cực phòng chống bạo lực gia đình, góp phần xây dựng môi trường sống an toàn và lành mạnh.

Ngày thứ tư hướng dẫn các tổ chức, đơn vị và nhân dân quận Nam Từ Liêm thực hiện phong trào văn hoá, văn nghệ, phong trào luyện tập thể dục thể thao và xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội Các hoạt động này nhằm thúc đẩy phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, xây dựng gia đình, làng, khu phố và đơn vị văn hóa Đồng thời, cần bảo vệ các di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, và khai thác hợp lý tài nguyên du lịch, môi trường du lịch, đồng thời bảo tồn và phát huy giá trị các điểm du lịch trên địa bàn quận.

Hoạt động công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa đình Phùng Khoang

huy các giá trị văn hóa của di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn phường Xây dựng kế hoạch bảo tồn di tích

Việc bảo tồn di tích lịch sử Văn hóa đình Phùng Khoang được thực hiện thông qua các kế hoạch cụ thể nhằm phát huy tối đa giá trị của di tích Các hoạt động giữ gìn và phát huy di tích không chỉ giúp bảo tồn nét đẹp truyền thống mà còn nâng cao ý thức cộng đồng về giá trị văn hóa lịch sử Nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và cộng đồng địa phương, đình Phùng Khoang ngày càng được bảo vệ an toàn và phát triển bền vững Điều này góp phần quảng bá giá trị văn hóa độc đáo của di tích tới du khách trong và ngoài nước, thúc đẩy du lịch địa phương phát triển.

Nó được coi là “bảo tàng" đặc biệt, nơi lưu giữ những giá trị vật thể và phi vật thể của vùng đất và con người Phùng Khoang Trong công tác bảo tồn giá trị vật thể, cần giữ lại tối đa các thành phần nguyên gốc, chỉ thay thế khi thật sự cần thiết và vật liệu thay thế phải phù hợp, đã qua thử nghiệm Các thành phần và công trình không có cơ sở khoa học để phục dựng cần được giữ nguyên hoặc làm mới dựa trên mô hình giả tưởng Giải pháp khoa học cho việc tu bổ cần đề cao và phát huy các giá trị của di tích, nhằm bảo vệ và phát huy tác dụng của di tích như một trung tâm văn hóa, lịch sử của địa phương Để đạt được mục tiêu này, ưu tiên lập quy hoạch tổng thể cho di tích làm nền tảng cho công tác bảo tồn và tôn tạo hiệu quả.

Đầu tư nghiên cứu để giải mã giá trị ẩn chứa trong di tích là bước quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả quy hoạch, bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng của di tích Đối với kiến trúc gỗ, cần xây dựng dự án thiết kế tu bổ khoa học trong tương lai để đảm bảo tính bền vững và nguyên vẹn Theo PGS.TS.KTS Hoàng Đạo, việc trùng tu các ngôi đình nên tập trung vào việc duy trì lâu dài các di tích như những chứng tích lịch sử chân thực, giữ gìn nguyên vẹn cấu trúc và thành phần ban đầu mà không cố gắng khôi phục về dạng ban đầu hoặc đã từng có Việc duy trì hiện trạng và tuổi tác của di tích, thể hiện dấu ấn thời gian, giúp bảo vệ giá trị lịch sử một cách bền vững.

Nên chỉ thực hiện khôi phục từng phần khi thật sự cần thiết và dựa trên đầy đủ bằng chứng khoa học, tốt nhất là khai thác tại chỗ để tránh gây tổn hại không đáng có Trong công tác bảo tồn di tích, ưu tiên bảo quản hơn là tu sửa, và hãy tập trung vào các chỉnh sửa nhỏ hơn thay vì can thiệp lớn để giữ gìn giá trị nguyên bản của di tích Việc hạn chế can thiệp giúp giảm thiểu mất mát và duy trì tính toàn vẹn của di tích lịch sử.

Mọi công việc trùng tu đều dựa trên quá trình nghiên cứu và khảo sát kỹ lưỡng, hướng đến phương pháp phù hợp và khác biệt so với xây dựng mới GS.TS.KTS Hoàng Đạo Kính nhấn mạnh rằng, về nội dung và kỹ thuật trùng tu, quá trình này cần tuân thủ các nguyên tắc chuyên môn cao để đảm bảo giữ gìn giá trị lịch sử và kiến trúc ban đầu Phương pháp trùng tu phải dựa trên sự khảo sát chính xác, kết hợp giữa kiến thức kỹ thuật và các yếu tố bảo tồn truyền thống Điều này giúp đảm bảo nâng cao giá trị văn hóa, kiến trúc của công trình mà vẫn đáp ứng yêu cầu sử dụng hiện đại.

Đầu tiên, cần bảo quản các công trình kiến trúc gỗ bằng cách vệ sinh, chăm sóc định kỳ và áp dụng các biện pháp phòng chống rêu phong, mối mọt để giữ gìn độ bền và giá trị của di tích Quá trình bảo tồn bao gồm gia cố, tu sửa, khôi phục và cuối cùng là tôn tạo nhằm nâng cao điều kiện tồn tại của di tích và phát huy tối đa các giá trị văn hóa của nó Đối với các di tích kiến trúc gỗ tại Việt Nam, tu sửa được xem là giải pháp phù hợp nhất, tuy nhiên cần lưu ý thực hiện đúng quy trình và phương pháp để tránh gây tổn hại cho di tích.

Hạn chế tối đa mọi sự thay thế, chỉ thay thế khi không còn khả năng cứu vãn, thay thế bằng vật liệu tương tự gốc.

Để duy trì và tối đa hóa giá trị của các thành phần trong cấu trúc gỗ bị hư hỏng, phương pháp nhồi bít các khoảng trống và chắp vá được sử dụng hiệu quả Phương pháp này giúp phục hồi tính toàn vẹn của kết cấu gỗ, bảo vệ các phần còn lại và kéo dài tuổi thọ của công trình Việc tận dụng tối đa các phần còn lại của cấu trúc gỗ không chỉ giảm thiểu lãng phí mà còn mang lại lợi ích kinh tế và môi trường Nhờ vào kỹ thuật chắp vá chính xác và phương pháp bít các khoảng trống, các cấu trúc gỗ bị hư hại có thể được phục hồi một cách bền vững và chắc chắn.

-nối các cấu kiện bị mục nát từng phần.

Để đảm bảo tính chính xác và đầy đủ của hồ sơ, cần lặp lại chính xác các đặc điểm cấu tạo và liên kết vốn có của đối tượng Mọi sự thay thế hoặc bổ sung đều phải được ghi nhận rõ ràng trong hồ sơ, nhằm duy trì tính minh bạch và theo dõi đầy đủ các thay đổi đã thực hiện.

Quá trình tu sửa thường tập trung vào việc khôi phục từng phần của di tích, bao gồm phục hồi các thành phần đã mất hoặc loại bỏ những phần muộn và không phù hợp Các công việc này cần thực hiện một cách cẩn trọng và dựa trên phương pháp khoa học khách quan để đảm bảo tính chính xác và nguyên vẹn của di tích Đặc biệt, cần đặt nặng việc bảo tồn và duy trì lâu dài di tích, tránh chạy theo sự hoàn chỉnh cực đoan, vì điều này có thể làm mất đi giá trị nguyên gốc và tính thuyết phục của di tích.

Các hiện vật cổ quý hiếm trong di tích là tài sản vô giá do ông cha để lại, vì vậy việc bảo vệ chúng là công việc cực kỳ quan trọng Để đảm bảo an toàn, cần tiến hành kiểm kê và lập danh mục chi tiết, xác định giá trị của cổ vật Ngoài ra, việc xây dựng các phương án linh hoạt, dự kiến các tình huống có thể xảy ra và chuẩn bị cách xử lý phù hợp giúp tạo ra sự chủ động trong công tác bảo vệ, ứng phó kịp thời khi có sự cố xảy ra.

Một vấn đề nữa cũng cần đặt ra là nâng cao về chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ làm công tác tu bổ, bảo vệ di tích.

Việc bảo tồn và tu bổ định kỳ các ngôi đình là điều thiết yếu để duy trì giá trị lịch sử và văn hóa của di tích "sống" này trong đời sống hàng ngày Sửa chữa kịp thời những hư hỏng nhỏ giúp giảm thiểu chi phí, ngăn ngừa xuống cấp nghiêm trọng, mở rộng tuổi thọ của công trình và tránh lãng phí tài nguyên.

Việc bảo tồn và tu bổ các công trình cần được thực hiện bài bản và khoa học theo các hướng dẫn cơ bản phù hợp với tinh thần của công ước quốc tế và điều kiện thực tế tại Việt Nam Đối với loại hình xây dựng đặc thù này, việc chỉ định thầu và dành quyền thi công cho các đơn vị chuyên môn, có nhiều kinh nghiệm là yếu tố then chốt để đảm bảo quá trình bảo tồn đạt hiệu quả cao.

Bảo vệ di tích là trách nhiệm của toàn dân, góp phần giữ gìn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử, đặc biệt là đình làng Khi có sự tổ chức, hướng dẫn và tuyên truyền của các chuyên gia văn hoá, người dân sẽ trở thành lực lượng quan trọng trong công tác bảo vệ và phát huy giá trị di tích Việc này không chỉ bảo đảm sự tồn tại của di tích mà còn nâng cao đời sống cộng đồng qua hình thành mối quan hệ “sự cộng sinh” giữa di tích và cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, giúp nhân dân nhận thức rõ di tích là nguồn sống của họ Bảo vệ di tích chính là bảo vệ cuộc sống hiện tại và tương lai lâu dài của các thế hệ sau.

Lễ hội truyền thống của địa phương gắn liền với di tích đình làng là một giá trị phi vật thể đặc trưng, thể hiện qua các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng và nghệ thuật linh thiêng nhưng rất đời thường Đây là hình thức sinh hoạt cộng đồng đáp ứng nhu cầu “trở về cội nguồn”, khơi dậy ý thức uống nước nhớ nguồn của dân tộc Để bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá truyền thống này, cần kết hợp linh hoạt giữa sức mạnh nội sinh và yếu tố ngoại sinh, nhằm giữ gìn nét đẹp văn hóa truyền thống qua các lễ hội truyền thống – biểu hiện rõ nét của sự gắn bó cộng đồng và di sản văn hóa địa phương.

Việc xây dựng một cơ chế và mô hình văn hóa phù hợp đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống Chính sách văn hóa cần tập trung vào việc nâng cao nhận thức của thế hệ trẻ về các giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời thúc đẩy quá trình tiếp nhận các sản phẩm văn hóa nước ngoài một cách chủ động và phù hợp Ngoài ra, tăng cường hoạt động giao lưu quốc tế giúp mở rộng hiểu biết và thúc đẩy sự giao thoa văn hóa, góp phần xây dựng nền văn hóa đa dạng và bền vững.

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH ĐÌNH PHÙNG KHOANG

Ngày đăng: 20/02/2023, 22:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w