1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận văn hành vi tự chăm sóc sức khỏe tâm thần của người cao tuổi ở tỉnh thanh hóa

49 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hành Vi Tự Chăm Sóc Sức Khoẻ Tâm Thần Của Người Cao Tuổi Ở Tỉnh Thanh Hóa
Tác giả Nguyễn Minh Hải
Người hướng dẫn PGS.TS Hoàng Mộc Lan
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Tâm lý học
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 274 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Viết thuê đề tài giá rẻ trọn gói KB Zalo/Tele 0973 287 149 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN o0o NGUYỄN MINH HẢI HÀNH VI TỰ CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA NGƢỜI CAO TU[.]

Trang 1

HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-o0o -NGUYỄN MINH HẢI

HÀNH VI TỰ CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA NGƯỜI CAO TUỔI Ở TỈNH THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Tâm lý học

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-NGUYỄN MINH HẢI

HÀNH VI TỰ CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA NGƯỜI CAO TUỔI Ở TỈNH THANH HÓA

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Tâm Lý Học

Mã số : 60310401

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Mộc Lan

Hà Nội - 2016

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sựhướng dẫn của PGS.TS Hoàng Mộc Lan – Đại Học Khoa Học Xã Hội &Nhân Văn Các số liệu điều tra và kết quả trong luận văn là trung thực vàchưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Minh Hải

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, em xin cảm ơn các thầy cô khoa Tâm lýhọc đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy em trong suốt quá trình em đã học tập,nghiên cứu và rèn luyện ở Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Emcũng xin cảm ơn các thầy cô Khoa Sau đại học - Trường Đại học Khoa học

xã hội và Nhân văn đã hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong thời gian

em theo học tại trường!

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Hoàng MộcLan đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt thời gian qua, để em cóthể hoàn thành đề tài này!

Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể những người caotuổi, những cụ Ông, cụ Bà đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho quá trìnhnghiên cứu, đồng thời cho em những ý kiến quý báu để giúp em hoàn thànhluận văn!

Do điều kiện và năng lực của bản thân nên luận văn của em chắc chắnkhông tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được sự nhận xét và góp ý củacác thầy cô và các bạn để đề tài của em được hòn thiện hơn

Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn !

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI

STT Chữ viết tắt Nội dung chữ viết tắt

1 NCT Người cao tuổi

2 SKTT Sức khỏe tâm thần

3 CSSKTT Chăm sóc sức khỏe tâm thần

4 TCSSKTT Tự chăm sóc sức khỏe tâm thần

5 BLHS Bộ luật hình sự

6 WHO Tổ chức y tế Thế giới

7 ADL Các hành vi sinh hoạt hàng ngày

8 AIDL Các hành vi phương tiện cho sinh hoạt hàng ngày

10 r Hệ số tương quan

11 ĐTB Điểm trung bình

12 ĐLC Độ lệch chuẩn

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1 Đặc điểm của khách thể nghiên cứu ( Vẽ lại theo thông tin về bản

thân người được hỏi) 41

Bảng 3.1 Nhận thức về sự cần thiết tự CSSKTT của NCT 52

Bảng 3.2: Quan tâm đến các mối liên hệ xã hội mang tính tích cực 55

Bảng 3.2 Quan tâm đến các mối liên hệ xã hội mang tính tiêu cực của người cao tuổi 56

Bảng 3.3 Làm việc, thể thao, giải trí phù hợp với sức khỏe và khả năng của người cao tuổi 57

Bảng 3.4 Tham gia hoạt động xã hội, cộng đồng của người cao tuổi 61

Bảng 3.5 Tìm hiểu thông tin chăm sóc sức khỏe tâm thần của người cao tuổi 63

Bảng 3.6: Người cao tuổi chăm sóc sức khỏe tâm thần theo sự hướng dẫn của bác sĩ 66

Bảng 3.7 Chăm sóc sức khỏe tâm thần của NCT không hợp tác với các chuyên gia 67

Bảng 3.8 Dấu hiệu lo âu của NCT theo giới tính 71

Bảng 3.9 Mức độ khả năng vận động thể chất của NCT 76

Bảng 3.10 Khả năng chăm sóc sức khỏe tích cực của NCT 77

Bảng 3.11 Chăm sóc sức khỏe tiêu cực của NCT 81

Bảng 3.12 Mức độ lạc quan, hài lòng về bản thân của NCT 85

Biểu đồ 3.1 Thực trạng mức độ lo âu ở NCT 69

Biểu đồ 3.2 Thực trạng mức độ stress của NCT 73

Trang 8

MỤC LỤC

Mở đầu 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI TỰ CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA NGƯỜI CAO TUỔI 4

1.1 Vài nét về nghiên cứu hành vi tự chăm sóc sức khỏe tâm thần của người cao tuổi 4

1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài 4

1.1.2 Nghiên cứu trong nước 10

1.2 Một số vấn đề lý luận về hành vi tự chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi 20

1.2.1 Khái niệm hành vi 18

1.2.2 Khái niệm tự chăm sóc 22

1.2.3 Khái niệm về người cao tuổi 23

1.2.4 Khái niệm về sức khỏe tâm thần 26

1.2.5 Khái niệm hành vi tự chăm sóc sức khỏe tâm thần 27

1.2.6 Vài nét về đặc điểm sức khỏe tâm thần ở người cao tuổi 35

CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41

2.1 Tổ chức nghiên cứu 41

2.1.1 Một vài nét về khách thể nghiên cứu 41

2.1.2 Tổ chức nghiên cứu 42

2.2 Phương pháp nghiên cứu 43

2.2.1 Nghiên cứu lý luận 43

2.2.2 Khách thể nghiên cứu của đề tài và chọn mẫu: 45

2.2.3 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 45

2.4 Tiêu chí và thang đo 49

CHƯƠNG 3: THƯC TRẠNG HÀNH VI TỰ CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA NGƯỜI CAO TUỔI 52

Trang 9

3.1 Nhận thức về sự cần thiết tự chăm sóc sức khỏe tâm thần của người cao

tuổi 52

3.2 Cách thức tự chăm sóc sức khỏe tâm thần của người cao tuổi 53

3.2.1 Quan tâm đến các mối liên hệ xã hội 53

3.2.2 Làm việc, thể thao, giải trí phù hợp với sức khỏe và khả năng của người cao tuổi 57

3.2.3 Tham gia hoạt động xã hội, cộng đồng của người cao tuổi 61

3.2.4 Hợp tác với chuyên gia chăm sóc sức khỏe tâm thần của người cao tuổi 63

3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chăm sóc sức khỏe tâm thần của người cao tuổi 69

3.3.1 Lo âu ở người cao tuổi 69

3.3.2 Stress của người cao tuổi 72

3.3.3 Tự đánh giá về sức khỏe thể chất của người cao tuổi 75

3.3.4 Sự hài lòng, lạc quan về cuộc sống của người cao tuổi 84

TIỂU KÊT CHƯƠNG 3 90

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 10

Mở ĐầU

1 Lý do chọn đề tài

Theo số liệu báo cáo của Tổng cục thống kê ( Điều tra dân số và nhà ởgiữa kỳ 2014) [25], cả nước có hơn 9,4 triệu người cao tuổi, chiếm 10,45%dân số Dự báo dân số của Tổng cục Thống kê năm 2010 (GSO, 2010) chothấy tỷ lệ dân số từ 60 tuổi trở lên ở Việt Nam sẽ chạm ngưỡng 10% tổng dân

số vào năm 2017, tức là dân số Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn “giàhóa” từ năm 2017 Bùng nổ dân số già đặt ra nhiều thách thức mới cho mỗiquốc gia trên các mặt xã hội, kinh tế và phục vụ y tế Việt Nam là một trong

số những quốc gia già hóa dân số nhanh nhất trong khu vực Trong năm 2013

tỷ lệ người cao tuổi (NCT) đã lên tới 10,5% tổng dân số Với tỷ lệ này, ViệtNam được đánh giá là một trong 10 nước có tốc độ già hóa dân số nhanh nhấtthế giới Người cao tuổi phải đối mặt với những thách thức sức khỏe thể chất

và tâm thần Hiện nay, các hành vi chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tạicộng đồng còn ít Tại nhiều địa phương, các hành vi này chủ yếu mang tínhđơn lẻ, tự phát Việc tổ chức các câu lạc bộ người cao tuổi, câu lạc bộ dưỡngsinh…sẽ rất có ích cho sức khỏe của người cao tuổi, song hình thức này cònnhiều hạn chế và bị chi phối bởi kinh phí hạn hẹp và đối tượng tổ chức Côngtác khám, chữa bệnh cho người cao tuổi vẫn chưa được quan tâm đúng mức,tình trạng người phải tự bỏ tiền để khám chữa bệnh vẫn còn phổ biến Do vậychi phí khám chữa bệnh đã, đang là một gánh nặng cho người cao tuổi và giađình Đặc biệt công tác chăm sóc, trợ giúp về tâm thần cho người cao tuổi lạicàng hiếm hoi Người cao tuổi chưa được quan tâm một cách đúng mức cả

về thể chất và tinh thần Mỗi người cao tuổi cũng tự ý thức và có những hànhđộng chăm sóc bản thân cả về thể chất và tinh thần, tuy nhiên những việc nàychưa phổ biến và đồng bộ do nhiều nguyên nhân khác nhau

Trang 11

Nhu cầu về chăm sóc sức khỏe tăng lên cùng với quá trình lão hóa,trong đó tự chăm sóc sức khỏe tâm thần đóng một vai trò quan trọng bởi 2 lý

do chính Thứ nhất, khả năng tự chăm sóc và tiếp tục tự chăm sóc sức khỏe ởgia đình ngay cả trong tuổi già là một khía cạnh rất quan trọng trong chăm sócsức khỏe tâm thần Tự chăm sóc sức khỏe tại nhà được cho là giúp cải thiệnchất lượng công cuộc tự chăm sóc sức khỏe của NCT Thứ hai, việc tự chămsóc cũng như chăm sóc ở gia đình ít tốn kém hơn so với chăm sóc tại bệnhviện hay trung tâm chăm sóc Do đó, tự chăm sóc sức khỏe của NCT nên trởthành một vấn đề đáng quan tâm hơn Nghiên cứu về tự chăm sóc sức khỏe,trong đó có sức khỏe tâm thần của NCT đã được đề cập khá nhiều trong cáctài liệu khoa học ở nước ngoài Tuy nhiên ở Việt Nam vấn đề này chưa đượcnghiên cứu một cách có hệ thống Xuất phát từ những điều trên nên tôi chọn

vấn đề: “Hành vi tự chăm sóc sức khỏe tâm thần của người cao tuổi ở tỉnh

Thanh Hóa” làm đề tài nghiên cứu.

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận và thực trạng hành vi tự chăm sóc sức khỏe tâmthần, các yếu tố ảnh hưởng tới hành vi tự chăm sóc sức khỏe tâm thần củangười cao tuổi, trên cơ sở đó đưa ra kiến nghị nâng cao hiệu quả hành vi tựchăm sóc sức khỏe tâm thần cho người cao tuổi

3 Đối tượng nghiên cứu

Hành vi tự chăm sóc sức khỏe tâm thần của người cao tuổi

Trang 12

- Địa bàn: xã Trường Giang, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa

- Thời gian: từ tháng 5-9/2016

5 Giả thuyết khoa học

- Phần lớn NCT trên địa bàn nghiên cứu có nhận thức tích cực về việc

tự CSSKTT đối với bản thân

- NCT thường có hành vi tự CSSKTT tập trung nhiều vào các mối liên

hệ xã hội và lựa chọn việc làm phù hợp sức khỏe bản thân

- Mức độ hài lòng với cuộc sống của NCT là yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất đến CSSKTT của họ, sau đó là Sức khỏe thể chất

- Những căng thẳng, lo âu ít ảnh hưởng đến hành vi CSSKTT của NCT

6 Nhiệm vụ của đề tài

- Nghiên cứu một số vấn đề lí luận về hành vi tự chăm sóc sức khỏetâm thần của người cao tuổi

- Nghiên cứu thực trạng mức độ và biểu hiện của hành vi tự chăm sócsức khỏe tâm thần của người cao tuổi

- Đề xuất một số kiến nghị nâng cao hiệu quả hành vi tự chăm sóc sức khỏe tâm thần để người cao tuổi tự chăm sóc sức tâm thần tốt hơn

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp chuyên gia

Trang 13

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI TỰ CHĂM SÓC SỨC

KHỎE TÂM THẦN CỦA NGƯỜI CAO TUỔI Vài nét về nghiên cứu hành vi tự chăm sóc sức khỏe tâm thần của người cao tuổi

Nghiên cứu ở nước ngoài

Trong thời kỳ phát triển của tâm lý học (cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷXX) sự phát triển mạnh mẽ của khoa học tự nhiên tạo điều kiện cho các thựcnghiệm khoa học và một số lý luận về sức khỏe tâm thần của người cao tuổiđược xây dựng Vào cuối những năm 1970, một chuyên ngành tâm lý học gọi

là tâm lý sức khỏe được hình thành Các mục tiêu hướng đến của khoa họcnày là thúc đẩy và duy trì sức khỏe tốt, điều trị bệnh và nghiên cứu các yếu tốsinh lý, tâm lý gây bệnh, cải thiện thông lệ và các chính sách của hệ thốngchăm sóc sức khỏe Các công trình nghiên cứu về hành vi tự chăm sóc sứckhỏe của người cao tuổi có thể chia thành 2 xu hướng sau đây:

- Tự chăm sóc sức khỏe của những người cao tuổi suy nhược, ốm yếu:

Sự ốm yếu ở người cao tuổi thường tập trung ở các hành vi sinh hoạt hàngngày (Donmez và cs 2005) Một trong những tiêu chí chính được sử dụng để

đo mức độ khỏe mạnh của người cao tuổi là tình trạng ốm yếu (Guralnik và

cs 1996, Yang & George 2005) Sự xuất hiện của các suy nhược ảnh hưởngđến chất lượng công cuộc tự chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi (Calmels

và cs 2003, Peruzza và cs 2003) Người cao tuổi ốm yếu cũng thường cónhận thức kém về mức độ sức khỏe của họ (Johnson & Wolinsky 1993,Holmes và cs 2005) và họ ngày càng trở nên phụ thuộc hơn vào công cuộc tựchăm sóc sức khỏe tại nơi ở (Inoue & Matsumoto 2001)

Nghiên cứu mang tên "Khảo sát quốc gia về Tự Chăm sóc và Tuổi già" củaĐại học Bắc Carolina tại Chapel Hill năm 1990-1991 với 3.485 người caotuổi phi tổ chức từ 65 tuổi trở lên, đã được lựa chọn từ các hồ sơ người được

Trang 14

hưởng chăm sóc y tế Điều tra phỏng vấn cá nhân đã được sử dụng để mô tả

về những thói quen tự chăm sóc ở cộng đồng người cao tuổi Mẫu ngẫu nhiênphân tầng của nghiên cứu này bao gồm số lượng xấp xỉ ngang bằng về giớitính trong ba nhóm tuổi, 65 đến 74, 75 đến 84 và 85 tuổi trở lên Phân tích đầutiên của những dữ liệu được tập trung vào một phạm vi cụ thể của các hành vi

có mục đích, trong đó người cao tuổi tham gia và thông qua đó họ bù đắp chosuy giảm thể chất, chức năng nhận thức hoặc tâm thần có thể làm giảm chấtlượng của công cuộc tự chăm sóc sức khỏe (sử dụng các thiết bị hỗ trợ, một

số thay đổi hệ thống của môi trường tự chăm sóc sức khỏe của cá nhân, hành

vi thích nghi tâm lý xã hội) Tập trung chủ yếu thứ hai của cuộc điều tra quốcgia về tự chăm sóc sức khỏe và tuổi già là các loại hành vi hạn chế suy giảmsức khỏe, phòng ngừa và tăng cường sức khỏe, thực hành lối tự chăm sóc sứckhỏe lành mạnh Một trong những tính năng độc đáo của nghiên cứu quốc gianày là các hạng mục mô tả mô hình hành động tự chăm sóc sức khỏe Một sốnghiên cứu về tự chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi khác như nghiên cứu

về vai trò sức khỏe trong việc duy trì tự chăm sóc ở những người cao tuổi(Smits và Kee 1992), các chiến lược đối phó (Burke & Flaherty 1993) và sứcchịu đựng (Nicholas 1993) Niềm tin và suy nghĩ của người cao tuổi về sứckhỏe của họ, sự quan tâm đến bản thân có ảnh hưởng đến các dịch vụ y tế họ

sử dụng, góp phần vào hành vi của tự chăm sóc ((Strain 1991, Orem 2001).Backman năm 2001 nghiên cứu về mối liên hệ giữa khả năng chức năng vàhành vi tự chăm sóc sức khỏe Ông đưa ra hai xu hướng chính của tự chăm

sóc sức khỏe là tự chăm sóc rõ ràng, bản chất (internal, unambiguous

self-care) và tự chăm sóc mơ hồ bề ngoài (external, ambiguous self-self-care) Các

kiểu tự chăm sóc sức khỏe có trách nhiệm và độc lập đại diện cho tự chăm sóc

rõ ràng bản chất Các loại tự chăm sóc sức khỏe có hướng dẫn (chính thức) và

bỏ mặc đại diện cho tự chăm sóc mơ hồ bề

Trang 15

ngoài (Backman & Hentinen 1999) Theo Backman & Hentinen (1999), tự chăm

sóc có trách nhiệm (responsible self-care) bao hàm sự thực hiện và trách nhiệm

trong tất cả các hành vi của công cuộc tự chăm sóc sức khỏe hàng ngày cũngnhư chăm sóc sức khỏe và bệnh tật Tự chăm sóc có hướng dẫn (chính thức)

(formally guided self-care) bao gồm việc thực hiện thường xuyên không phê

phán các hướng dẫn y tế và hành vi bình thường của công việc hàng ngày Tự

chăm sóc độc lập (independent self-care) dựa trên mong muốn lắng nghe tiếng

nói nội tâm của người cao tuổi Họ chăm sóc các hành vi hàng ngày, sức khỏe vàbệnh tật theo cách riêng đã có của mình Tự chăm sóc sức khỏe bỏ mặc

(abandoned self-care) đặc trưng bởi sự bất lực và thiếu trách nhiệm Những

người cao tuổi này không quan tâm đến sức khỏe của bản thân

- Tự chăm sóc sức khỏe tâm thần của người cao tuổi

Các vấn đề sức khỏe tâm thần có liên quan đến tự chăm sóc (Hansebo &Kihlgren 2002) Chức năng cảm giác thay đổi, các thay đổi bất lợi, gia tăngbệnh làm xuất hiện một loạt các vấn đề sức khỏe tâm thần ở người cao tuổi(Beekman và cs 1995, Beekman và cs 1997, Hatcher và cs 2005) Suy giảmnhận thức liên quan đến tuổi tác là một yếu tố dự báo của chứng mất trí và rấtphổ biến ở người cao tuổi (Arvidsson và cs 2001, Okumiya và cs 2005).Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng việc chăm sóc người già loạn thần thường tạo

ra những gánh nặng (Eloniemi-Sulkava và cs 2002) Một trong những yếu tốquan trọng đối với tự chăm sóc của người cao tuổi là trầm cảm (Daly 2001,Minardi 2004) Trầm cảm gia tăng mức độ phổ biến và cường độ theo tuổi tác(Chesney 1993, Flaherty và cs 1998) Nghiên cứu của Arve đã xác định tỷ lệtrầm cảm của người cao tuổi ở các nhóm tuổi khác nhau Nghiên cứu pháthiện trầm cảm, phân biệt trầm cảm và không trầm cảm của bệnh nhân cao tuổi(Bultema và cs 1996, Ford và cs 1997, Mead và cs 1997, Arve 1999) Một

số tác giả cho rằng, sự gia tăng tuổi tác có thể được liên kết với bệnh lo âu và

Trang 16

sự thể hiện trầm cảm ở người cao tuổi có thể biến thiên nhiều hơn (Kivela &Pahkala 1989, Caine và cs 1993, Neikrug 2003) Hầu hết các triệu chứng điểnhình lo âu và trầm cảm rất phổ biến trong dân số già tự chăm sóc sức khỏe tạicác cơ sở y tế hay cộng đồng Một số nghiên cứu (Salvatore 2000) đã chỉ rarằng tần số của trầm cảm nhẹ tăng theo tuổi trong một kiểu đường cong: giảm

ở tuổi trung niên, gia tăng ổn định trong tuổi già và gia tăng rất nhanh ởnhững người trên 80 tuổi (Snowdon và cs năm 1996, Sesso và cs 1998).Trầm cảm nhẹ thường là một phản ứng đối với sự trải nghiệm căng thẳngthường có trong tuổi già và thường liên quan đến sức khỏe thể chất(Beekman và cs 1997, Tannock & Katona 1995) Mendes de Leon và cs.(1998) phát hiện ra rằng trầm cảm có thể làm gia tăng các yếu tố nguy cơ ởphụ nữ lớn tuổi tương đối khỏe mạnh, nhưng nó không phải là một yếu tốnguy cơ độc lập trong những người cao tuổi nói chung Tỷ lệ cao hơn củatrầm cảm ở phụ nữ vẫn có thể có nghĩa rằng tác động của trầm cảm là quantrọng hơn đối với họ (DeFriese & Gordon 1993, Jorm 1995, Johnson &Wolinsky 1993, Johnson và cs 2000, Selb-Šemrl và cs 2004) Kempen và cs.(2006), khẳng định rằng các vấn đề của người cao tuổi trở nên phổ biến hơncùng với sự lão hóa của dân số Sự xuất hiện của các suy nhược ốm yếu vàảnh hưởng của nó đến việc tự chăm sóc sức khỏe là hai trong số những yếu tốchính quyết định chất lượng công cuộc tự chăm sóc sức khỏe của người caotuổi (Wenger & Burholt 2003) Điều quan trọng là những gì người cao tuổi cóthể nhìn nhận về sức khỏe vì sức khỏe là một trong những yếu tố quan trọngnhất đối với tự chăm sóc (Ferraro 1980, Kaplan & Camacho 1983, Svanborg

và cs 1988, Idler & Angel 1990, Petek-Stern & Kersnik 2004) Các nghiêncứu cho thấy, khả năng chức năng, nhận thức về sức khỏe, các điều kiện nhà ởtốt, một phong cách tự chăm sóc sức khỏe tích cực, và các mối quan hệ xã hộitốt là một trong những yếu tố giải thích sự hài lòng với công cuộc tự chăm sóc

Trang 17

sức khỏe và chất lượng chăm sóc sức khỏe (McKevitt và cs 2003, Kamper và

cs 2005, Ozcan và cs 2005, Ramovš 2003) Định nghĩa sức khỏe của WHO

là phổ quát và toàn thể đồng thời tập trung vào các lĩnh vực hành vi xã hội khinói đến chăm sóc sức khỏe (Aydin và cs 2006) Theo Juvani và cs (2005),khi một người già đi, tầm quan trọng của gia đình và quan hệ gần gũi nhấtảnh hưởng lớn đến sức khỏe của người cao tuổi Hellström & Hallberg(2001), điều tra những người cao tuổi (độ tuổi từ 75 đến 99) và thấy rằng tâmtrạng chán nản, cô đơn, mệt mỏi, mất ngủ có liên quan đáng kể tới tự chămsóc sức khỏe Jakobsson và cs (2004) đã chứng minh rằng trong số nhữngngười lớn tuổi (từ 85 trở lên) đau đớn (về thể xác), những hạn chế chức năng,mệt mỏi, mất ngủ và tâm trạng chán nản, có liên quan tới chăm sóc sức khỏethấp Các nhà nghiên cứu đồng tình với đánh giá chất lượng công cuộc tựchăm sóc sức khỏe của người già (Bowling và cs 2003) Dựa trên sự kết hợpcủa các yếu tố: các quan điểm của cá nhân người già, gia đình và cán bộchăm sóc của mình (Calmes và cs 2003, Andersson & Gottfries 1991) Chămsóc sức khỏe của một người cao tuổi bao gồm, bên cạnh sự chăm sóc, còn làquyền của họ về cảm giác hạnh phúc, những nguyên tắc đạo đức, sự hài lòngvới công cuộc tự chăm sóc sức khỏe và cảm giác chủ quan của họ(Cocherman 1996) Theo Lantz (1985), hầu hết các tài liệu chỉ ra rằng phụ nữ

có xu hướng tự chăm sóc hơn nam giới và phụ nữ tự cảm thấy bản thân cósức khỏe tốt hoặc rất tốt, họ có những đặc điểm tự thực hiện và bộc lộ/ thểhiện hạnh phúc ở một mức độ cao

Nhiều nghiên cứu ở các nước cho thấy, vai trò của các thầy thuốcchuyên khoa tâm thần và nhà tâm lý học là rất quan trọng để hỗ trợ tâm lý vàchăm sóc sức khoẻ tâm thần cho người cao tuổi có vấn đề tâm thần Hỗ trợ xãhội đề cập đến sự tồn tại của một mạng lưới của những người mà người caotuổi có thể dựa vào, đặc biệt là trong thời gian khủng hoảng Nó có thể bao

Trang 18

gồm gia đình và bạn bè, nhà thờ, các câu lạc bộ xã hội, tổ chức nghề nghiệp,hoặc thậm chí sử dụng lao động của người cao tuổi Havighurst, Neugarten &Tobin, 1968; Lemon, Bengtson, và Peterson, 1972, Neugarten và Gutman 1950,Veroff, Reuman & Feld (1957, 1976), B.G Ananhiev (1969), A.X.Averbukh(1969) nghiên cứu về hành vi của người cao tuổi cho rằng, hành vi là cơ sở choviệc bảo vệ và duy trì sức khỏe thể chất và tinh thần của người cao tuổi Thái độtích cực có hiệu quả đối với công cuộc tự chăm sóc sức khỏe có thể tạo ra nhữngđiều kiện thuận lợi cho sự phát huy tính năng động của bản thân mình để tạo ra

sự cân bằng về tâm lý, ứng phó với những thay đổi của tuổi già Trong giai đoạntuổi già nhu cầu nghỉ ngơi, chăm sóc sức khỏe nổi lên hàng đầu và tương ứngvới các nhu cầu đó là các hành vi chủ đạo nghỉ ngơi và chăm sóc sức khỏe đượcđịnh hình rõ ràng Trong những thập kỷ gần đây, Rowe và Kahn (1987) và môhình sự lão hóa tối ưu của Baltes (1990) đã nghiên cứu sự lão hóa trong một bốicảnh tích cực như mô hình sự lão hóa thành công Nghiên cứu của Dubbert(1992) cho thấy, các hành vi hỗ trợ tâm lý và chăm sóc sức khoẻ tâm thần chongười cao tuổi ở gia đình, xã hội, cộng đồng như chăm sóc người cao tuổi ốmđau bị hoảng loạn về tinh thần: giúp họ đoàn tụ trong tình yêu thương, tăng hành

vi thể chất và nhận thức và tối ưu hóa hạnh phúc, phát hiện và xử lý các triệuchứng hành vi (challenging behavioural) và khó khăn tâm lý; cung cấp thông tin,

hỗ trợ lâu dài tới người chăm sóc người cao tuổi và người cao tuổi tự chăm sócsức khỏe tâm thần giúp duy trì sức khỏe thể chất và tinh thần của người cao tuổi.Chăm sóc hiệu quả sức khỏe tâm thần ban đầu ở mức cộng đồng (community-level primary mental health care) cho người cao tuổi rất quan trọng là các hành

vi tự chăm sóc sức khỏe, đồng thời cộng đồng tập trung vào việc chăm sóc lâudài cho người cao tuổi bị rối loạn tâm thần cũng như cung cấp cho người chămsóc kiến thức và hỗ trợ chăm sóc sức khỏe tâm thần cho người cao tuổi

Trang 19

Sức khỏe tâm thần của những người cao tuổi có thể được cải thiện thông quaviệc thúc đẩy người cao tuổi thực hiện hành vi vừa sức và có lối tự chăm sócsức khỏe lành mạnh Nâng cao sức khỏe đặc biệt là sức khỏe tâm thần chongười cao tuổi còn liên quan đến việc tạo ra điều kiện và môi trường tự chămsóc sức khỏe có hỗ trợ phúc lợi cho họ.

Tổng quan sơ bộ các nghiên cứu về tự chăm sóc sức khỏe của người caotuổi nêu trên cho thấy, có mối liên hệ giữa sức khỏe và hành vi tự chăm sóc sứckhỏe của người cao tuổi, có các yếu tố chi phối và điều khiển tiến trình pháttriển tăng cường sức khỏe của người cao tuổi Tính tích cực, chủ động tự chămsóc sức khỏe thể chất và tâm thần đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng caochất lượng công cuộc tự chăm sóc sức của người cao tuổi

Nghiên cứu trong nước

Vào năm 1977, chương trình nghiên cứu Y học tuổi già đã thực hiệnmột cuộc khảo sát lớn đầu tiên về sức khỏe của người cao tuổi ở các tỉnh phíaBắc (trên mẫu gồm 13.399 người từ 60 tuổi trở lên) Cuộc khảo sát cung cấpmột bức tranh về sức khỏe và bệnh tật của người cao tuổi ở miền Bắc Kếtquả nghiên cứu cho thấy phần lớn trợ cấp hưu không đủ chi dùng, rất nhiềungười nghỉ hưu mang tâm trạng bị bỏ rơi, không được Nhà nước quan tâmđúng mức

Một khảo sát của Viện xã hội học (năm 1990) về đời sống và và việc tựchăm sóc sức khỏe của người nghỉ hưu ở quận Hai Bà Trưng (Hà Nội) chothấy: phần lớn người cao tuổi nghỉ hưu đều băn khoăn làm sao để dễ hòanhập với môi trường mới? Làm gì để có thêm thu nhập Nghiên cứu cũngcho thấy, người cao tuổi thường tìm những người những người có cùng sởthích, cảnh ngộ gần giống nhau để giao tiếp

Nghiên cứu của Lê Hà (1990) với tiêu đề “Vài nét về đời sống tự chămsóc sức khỏe tâm lý của người cao tuổi” qua khảo sát đời sống và việc tự

Trang 20

chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi ở quận Hai Bà Trưng – Hà Nội chothấy: khoảng 80% người cao tuổi băn khoăn nhiều về vấn đề làm sao để dễhòa nhập với môi trường mới? Làm gì đề có thu nhập? Nền kinh tế thị trườnggây nhiều khó khăn đối với người cao tuổi, nhất là những người cô đơn.Người nghỉ hưu có nguyện vọng được làm việc, được tiếp tục cống hiến cho

xã hội phù hợp với hoàn cảnh và khả năng của mình

Năm 1990, Viện Khoa học Lao động và các vấn đề xã hội, Bộ Lao động– Thương binh và Xã hội đã thực hiện một cuộc khảo sát trên 250 người nghỉhưu tại Hà Nội và 100 người nghỉ hưu tại Hà Bắc (cũ) Năm 1992, Vụ Bảo trợ

xã hội, Bộ lao động – Thương binh và Xã hội thực hiện một phân tích thống kênhóm người nghỉ hưu ở Việt Nam Nội dung của các nghiên cứu trên chủ yếutập trung vào vấn đề cơ cấu, sự phân bố, thực trạng đời sống và việc tự chăm sócsức khỏe và các chính sách xã hội có liên quan đến người nghỉ hưu

Năm 1991, Viện Xã hội học thực hiện một nghiên cứu về người caotuổi ở An Điền (Hải Hưng) Mục đích của nghiên cứu quan tâm đến các đặctrưng dân số học và xã hội học của nhóm người cao tuổi (cấu trúc lớp tuổi vàgiới tính, trạng thái sức khỏe và bệnh tật, địa vị kinh tế và nghề nghiệp, địnhhướng giá trị và tâm trạng, vai trò của người cao tuổi trong gia đình, cộngđồng và xã hội, hệ thống an sinh xã hội và tác động của hệ thống đó vào hoàncảnh tự chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi) Nghiên cứu cho thấy, về tinhthần 40% người cao tuổi cho rằng,công cuộc tự chăm sóc sức khỏe tinh thầnsau khi nghỉ hưu kém đi Một số người nhất là những người có lương hưucao, có chức vụ khi tại chức, cảm thấy công cuộc tự chăm sóc sức khỏe hưutrí cô đơn, buồn tẻ Nghiên cứu cho thấy, vai trò và vị thế của người cao tuổitrong cộng đồng và gia đình giảm đáng kể so với trước đây

Trong hai năm 1991 đến 1992, Viện Xã hội học đã triển khai đề tài

“Người cao tuổi và an sinh xã hội” nghiên cứu khá công phu về đời sống và

Trang 21

tự chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi ở nông thôn và thành thị nước ta từgóc độ xã hội học (lao động, thu nhập, hoàn cảnh kinh tế, tình hình nhà ở vàtiện nghi, vấn đề sức khỏe và chăm sóc sức khỏe, việc tham gia công tác xãhội sau khi nghỉ hưu, hệ thống an sinh xã hội và tác động của hệ thống đó vàohoàn cảnh và tự chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi ).

Năm 1993, các nhà y khoa và xã hội học đã tiến hành nghiên cứu địnhlượng trên 196 khách thể là người nghỉ hưu tại Hà Nội Theo kết quả nghiêncứu, người cao tuổi ở Hà Nội có liên hệ khá thân thiết với những người thân,

do đó họ nhận được sự giúp đỡ về vật chất và tinh thần đáng kể Nghiên cứucũng cho thấy, người nghỉ hưu có nhu cầu được người thân chăm sóc khi ốmđau là rất cao Điều này cho thấy vai trò quan trọng của gia đình trong việc tựchăm sóc sức khỏe của người nghỉ hưu

Năm 1996, các nhà xã hội học thuộc Viện Xã hội học đã tiến hành cuộckhảo sát “Người cao tuổi ở đồng bằng Sông Hồng” (trong đó có 16,63%người nghỉ hưu) Kết quả nghiên cứu cho thấy, đời sống và việc tự chăm sócsức khỏe của người cao tuổi đã khá lên so với nửa đầu những năm 90 Tuynhiên do mức lương hưu và trợ cấp thấp không đủ cho việc tự chăm sóc sứckhỏe nên nhiều người nghỉ hưu phải đi làm thêm (55,7%) Gần 1/3 số ngườinghỉ hưu được hỏi (28,2%) cho biết họ có tâm trạng “buồn” Nghiên cứucũng cho thấy, đối với người nghỉ hưu, nhất là người cao tuổi hưu trí, mấtsức, nhu cầu chăm sóc sức khỏe và động viên tinh thần được đặt lên hàng đầu(80,3%) Phần lớn người nghỉ hưu đều mong muốn đóng góp sức mình đểgiảm bớt khó khăn cho gia đình và xã hội

Nghiên cứu của Dương Chí Thiện (1999) về “Sự tham gia hành vi xãhội của người cao tuổi ở đồng bằng sông Hồng” đã chỉ ra nhiều kết quả thú

vị Theo đó, kết quả cuộc nghiên cứu trên đã đề cập đến sự tham gia vào cáchành vi xã hội của người cao tuổi và qua đó đánh giá những yếu tố tác động

Trang 22

đến sự tham gia hành vi xã hội của người cao tuổi ở vùng đồng bằng sôngHồng Kết quả cho thấy: tỷ lệ người cao tuổi tham gia vào các hành vi xã hội

ở các tổ chức phi chính thức cao hơn rất nhiều so với các tổ chức chính thức.Các yếu tố như khu vực cư trú, giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, nghềnghiệp, hoàn cảnh và điều kiện tự chăm sóc sức khỏe, tình trạng sứckhỏe đều có ảnh hưởng đến giao tiếp của người cao tuổi Cụ thể, người caotuổi ở khu vực đô thị thường có tỷ lệ tham gia các hành vi xã hội cao hơnngười cao tuổi ở nông thôn trong hầu hết các tổ chức chính thức như Đảng,Chính quyền, Hội thọ, Hội Cựu chiến binh Ngược lại, trong những hìnhthức tổ chức phi chính thức như đám cưới, hỏi, đám tang, đám giỗ, lễ chùa, lễmừng thọ và các hình thức giao tiếp các hội tại cộng đồng như thăm hỏi hàngxóm, bạn bè thì người cao tuổi nông thôn lại có tỷ lệ tham gia cao hơnngười cao tuổi ở đô thị Người cao tuổi là nam giới thường tham gia vào cáchành vi xã hội nhiều hơn người cao tuổi là nữ giới Nghiên cứu cũng chothấy, người cao tuổi có đời sống và tự chăm sóc sức khỏe và thu nhập caothường có tỷ lệ tham gia các hành vi xã hội cao hơn người cao tuổi có đờisống và tự chăm sóc sức khỏe và thu nhập thấp hơn Người cao tuổi có mức

độ học vấn cao hơn có tỷ lệ tham gia các hành vi xã hội cao hơn người caotuổi có trình độ học vấn thấp, tình trạng sức khỏe kém

Nghiên cứu của Nguyễn Hải Hữu (1999) cho thấy đa số người nghỉhưu cảm thấy việc tự chăm sóc sức tinh thần thoải mái hơn khi làm việc, chỉ

có 20% cảm thấy việc tự chăm sóc sức khỏe nghèo nàn hơn so với trước.Nghiên cứu cũng cho thấy, hành vi xã hội của người cao tuổi hiện nay co lạitrong phạm vi gia đình, thân tộc nhiều hơn Các hành vi xã hội rộng lớn, mangtính cộng đồng, làng, xã còn rất nghèo nàn

Nghiên cứu của Nguyễn Phương Lan (2000) về “Tiếp cận văn hóa ngườicao tuổi” đã đề cập đến việc tự chăm sóc sức khỏe và hành vi văn hóa tinh thần

Trang 23

hàng ngày của người cao tuổi, trong đó có việc tự chăm sóc sức khỏe tâm lý,tình cảm cũng như nhu cầu của người nghỉ hưu ở đô thị hiện nay Theo tác giả,người cao tuổi ở đô thị muốn cống hiến nhiều cho xã hội và vẫn muốn khẳngđịnh mình, song không gian đô thị mở với nhịp sống công nghiệp nhanh ảnhhưởng đến việc tự chăm sóc sức khỏe và các mối liên hệ đúng là thực sự bất lợicho tuổi già vốn có nhịp điệu sinh học chậm và tâm lý trọng quan hệ tình cảm.Quan hệ láng giềng ở đô thị bị thiếu hụt, do đó, giao tiếp của người cao tuổicũng như người nghỉ hưu bị bó hẹp trong phạm vi gia đình.

Nghiên cứu của Bế Quỳnh Nga (2000) với tiêu đề “Người cao tuổi ởmiền Trung và Nam Bộ Việt Nam năm 2000 – Phác thảo từ một số kết quảnghiên cứu định tính” cho thấy: ở miền Nam, các đoàn thể làm công tác từthiện rất phát triển và số lượng người cao tuổi là nữ giới tham gia Hội ngườicao tuổi và tham gia hành vi từ thiện nhiều hơn người cao tuổi là nam giới.Nghiên cứu này đã phần nào cho thấy sự tích cực của người cao tuổi (trong

đó có người nghỉ hưu) trong việc tham gia các công tác xã hội

Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Cường và Lê Trung Sơn (2003) về

“Thực trạng người cao tuổi và các giải pháp nâng cao chất lượng chăm sócngười cao tuổi ở Hà Tây” cho thấy người cao tuổi ở Hà Tây thỏa mãn tinhthần chủ yếu là vui chơi cùng con cháu (81,4%) Người cao tuổi ở nông thônsinh hoạt cùng con cháu thường xuyên hơn người cao tuổi ở thành thị (83,5%

so với 77,4%) Người cao tuổi ở thành thị tiếp cận với thông tin, tham quan,

du lịch, thể dục thể thao và sinh hoạt đoàn thể một cách thường xuyên hơnnông thôn Tỷ lệ người cao tuổi ở thành thị tham gia các hành vi Đảng, chínhquyền cao hơn ở nông thôn Đối với nhóm người này, nam giới tham gianhiều hơn nữ giới Đa số người cao tuổi (80,7%) đều hài lòng với sự chămsóc của gia đình, con cháu

Trang 24

Nghiên cứu của Hoàng Mộc Lan trong đề tài nghiên cứu “ Những vấn

đề tâm lý – xã hội của người cao tuổi Việt nam: thực trạng- giải pháp trợgiúp, phát huy vai trò người cao tuổi tại cộng đồng” (2015), đã cho thấy, đa

số người cao tuổi tự nhận thức về bản thân hướng về quá khứ, đánh giá caocác đặc điểm nhân cách tích cực của bản thân, biểu hiện rõ nhất là tình yêuquê hương, đất nước, phẩm chất trong lao động Người cao tuổi tiếp tục thamgia lao động chiếm tỷ lệ hơn 60% và tham gia các hành vi xã hội, sinh hoạtthể dục thể thao chăm sóc sức khỏe Giao tiếp của người cao tuổi chủ yếu vớingười thân và bạn bè gần gũi Trong việc tự chăm sóc sức khỏe người caotuổi hài lòng nhất với các mối quan hệ gia đình, được người thân quan tâmchăm sóc, được giao tiếp với mọi người và tiếp nhận thông tin và không hàilòng nhất với việc được đảm bảo và chăm sóc sức khỏe ở các cơ sở y tế và hỗtrợ xã hội Kết quả nghiên cứu của tác giả cũng đã chỉ ra thực trạng trợ giúp

xã hội và phát huy vai trò người cao tuổi tại cộng đồng còn chưa tốt, chưađáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của người cao tuổi

Nghiên cứu của Đặng Vũ Cảnh Linh (2009): “Người cao tuổi và các môhình chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam” được tiến hành tại ba thành phố HàNội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh với mục đích tìm hiểu thực trạng vàhiệu quả hành vi của các loại hình dịch vụ chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam

đã đề cập đến các mối liên hệ xã hội cũng như quan hệ gia đình của người caotuổi Việt Nam hiện nay Kết quả nghiên cứu cho thấy: về quan hệ xã hội, ngườicao tuổi nghỉ hưu hiện nay thường xuyên tiếp cận với các phương tiện thông tinđại chúng (trên 80% người cao tuổi thường xuyên đọc sách báo, xem tivi, ngheđài) Đây là một hình thức duy trì sự giao tiếp với xã hội của đa số người caotuổi hiện nay Có rất ít người cao tuổi tham gia các hình thức tham quan, du lịch,

đi chơi với bạn bè…Có một tỷ lệ khá cao người cao tuổi tham gia các câu lạc bộhưu trí, người cao tuổi (60,6%) và trực tiếp tham gia các công tác xã hội

Ngày đăng: 20/02/2023, 22:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w