Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo tư tưởng, phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh để đề ra đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; rộng mở, đa phươ
Trang 2Chịu trách nhiệm xuất bản:
Q GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP PHẠM CHÍ THÀNH Chịu trách nhiệm nội dung:
PHÓ GIÁM ĐỐC - PHÓ TỔNG BIÊN TẬP
TS ĐỖ QUANG DŨNG Biên tập nội dung:
PHẠM THU HÀ NGUYỄN MAI THẢO NHUNG
VIỆT HÀ
Số đăng ký kế hoạch xuất bản: 1360-2020/CXBIPH/14-301/CTQG
Số quyết định xuất bản: 5008-QĐ/NXBCTQG, ngày 09/6/2020 Nộp lưu chiểu: tháng 6 năm 2020
Mã số ISBN: 978-604-57-5667-6
Trang 4Biªn môc trªn xuÊt b¶n phÈm cña Th− viÖn Quèc gia ViÖt Nam
NguyÔn ThÞ Minh Thuú
VËn dông ph−¬ng ph¸p ngo¹i giao Hå ChÝ Minh trong sù nghiÖp x©y dùng vµ b¶o vÖ Tæ quèc hiÖn nay / NguyÔn ThÞ Minh Thuú - H : ChÝnh trÞ Quèc gia, 2019 - 244tr ; 21cm
1 T− t−ëng Hå ChÝ Minh 2 Ngo¹i giao 3 X©y dùng 4 B¶o
vÖ Tæ quèc 5 ViÖt Nam
327.597 - dc23
CTF0442p-CIP
Trang 7LỜI NHÀ XUẤT BẢN
hủ tịch Hồ Chí Minh - nhà tư tưởng lớn, vị lãnh tụ
vĩ đại, nhà ngoại giao kiệt xuất của Việt Nam trong
thế kỷ XX Những đóng góp của Hồ Chí Minh đối với nền
ngoại giao Việt Nam vô cùng to lớn Thực tiễn đã chứng minh
phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh hết sức sáng tạo, độc
đáo góp phần quan trọng vào những thắng lợi của nền ngoại
giao Việt Nam hiện đại
Trong sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước, ngoại
giao Việt Nam đã góp phần làm nên những thành tựu to lớn,
có ý nghĩa lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng
sáng tạo tư tưởng, phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh để
đề ra đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và
phát triển; rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động
và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, từ đó đã phá vỡ thế bao
vây cấm vận của các thế lực thù địch; xây dựng mối quan hệ
hợp tác nhiều mặt, trên những nguyên tắc quan hệ và hợp
tác quốc tế mang tính phổ biến, được cộng đồng quốc tế thừa
nhận, góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp cách
mạng, phát triển đất nước
C
Nhằm làm rõ nội hàm khái niệm, những nội dung cơ bản của phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh và quá trình vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Sự thật xuất bản cuốn sách Vận dụng phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc hiện nay của TS Nguyễn Thị Minh Thùy - Giảng
viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
Cuốn sách trình bày có hệ thống những kiến thức cơ bản
về các phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh; quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới và việc tiếp tục vận dụng phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh vào thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình biên tập, xuất bản, song cuốn sách khó tránh khỏi những hạn chế Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để nội dung cuốn sách được hoàn thiện hơn trong lần xuất bản sau.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc
Tháng 6 năm 2019
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
Trang 8LỜI NHÀ XUẤT BẢN
hủ tịch Hồ Chí Minh - nhà tư tưởng lớn, vị lãnh tụ
vĩ đại, nhà ngoại giao kiệt xuất của Việt Nam trong
thế kỷ XX Những đóng góp của Hồ Chí Minh đối với nền
ngoại giao Việt Nam vô cùng to lớn Thực tiễn đã chứng minh
phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh hết sức sáng tạo, độc
đáo góp phần quan trọng vào những thắng lợi của nền ngoại
giao Việt Nam hiện đại
Trong sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước, ngoại
giao Việt Nam đã góp phần làm nên những thành tựu to lớn,
có ý nghĩa lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng
sáng tạo tư tưởng, phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh để
đề ra đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và
phát triển; rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động
và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, từ đó đã phá vỡ thế bao
vây cấm vận của các thế lực thù địch; xây dựng mối quan hệ
hợp tác nhiều mặt, trên những nguyên tắc quan hệ và hợp
tác quốc tế mang tính phổ biến, được cộng đồng quốc tế thừa
nhận, góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp cách
mạng, phát triển đất nước
C
Nhằm làm rõ nội hàm khái niệm, những nội dung cơ bản của phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh và quá trình vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Sự thật xuất bản cuốn sách Vận dụng phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc hiện nay của TS Nguyễn Thị Minh Thùy - Giảng
viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
Cuốn sách trình bày có hệ thống những kiến thức cơ bản
về các phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh; quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới và việc tiếp tục vận dụng phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh vào thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình biên tập, xuất bản, song cuốn sách khó tránh khỏi những hạn chế Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để nội dung cuốn sách được hoàn thiện hơn trong lần xuất bản sau.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc
Tháng 6 năm 2019
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
hủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người sáng
lập, giáo dục và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt
Nam mà còn sáng lập nền ngoại giao hiện đại Người đã
kế thừa, vận dụng, phát triển sáng tạo ngoại giao truyền
thống để hình thành hệ thống quan điểm, tư tưởng ngoại
giao tiến bộ, phù hợp với các nguyên tắc quan hệ quốc tế
mới Phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh hết sức sáng
tạo, độc đáo, bền vững, góp phần quan trọng vào những
thắng lợi của nền ngoại giao hiện đại của Việt Nam
trong hơn tám thập niên qua Có thể khẳng định rằng,
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ
tịch Hồ Chí Minh, hoạt động ngoại giao ngày càng lớn
mạnh cùng những bước đường cách mạng của cả dân tộc,
đóng góp xứng đáng vào những thắng lợi của đất nước
Trong giai đoạn hiện nay, cùng với sự phát triển của đất
nước, ngoại giao Việt Nam cũng đã không ngừng lớn
mạnh, trưởng thành, trở thành một nhân tố quan trọng
góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp, phấn đấu vì mục
tiêu xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh
C
Kế thừa và phát huy những truyền thống cũng như thành tựu trên lĩnh vực ngoại giao nhằm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh để xây dựng đường lối và chỉ đạo thực hiện hoạt động ngoại giao nhằm tạo môi trường hòa bình, ổn định và điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Trong tình hình mới, công tác nghiên cứu tư tưởng
Hồ Chí Minh nói chung và phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh nói riêng vẫn được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam Tuy nhiên, kết quả của việc vận dụng phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh còn một số tồn tại nhất định, đòi hỏi tiếp tục vận dụng tốt hơn trong bối cảnh mới Hiện nay, Việt Nam đang thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, với hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tình hình quốc tế có nhiều biến động Trên thế giới, trong những năm tới tình hình quốc tế sẽ còn nhiều diễn biến rất phức tạp, mâu thuẫn giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, gây ra nhiều thách thức đối với các quốc gia, dân tộc có chủ quyền, tình hình an ninh chính trị thế giới thay đổi nhanh chóng, diễn biến rất phức tạp khó lường; tình trạng xâm phạm chủ quyền quốc gia, tranh chấp lãnh thổ và tài nguyên, xung đột sắc tộc, tôn giáo, can thiệp lật đổ, khủng bố, chiến tranh cục bộ, chiến
Trang 10LỜI NÓI ĐẦU
hủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người sáng
lập, giáo dục và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt
Nam mà còn sáng lập nền ngoại giao hiện đại Người đã
kế thừa, vận dụng, phát triển sáng tạo ngoại giao truyền
thống để hình thành hệ thống quan điểm, tư tưởng ngoại
giao tiến bộ, phù hợp với các nguyên tắc quan hệ quốc tế
mới Phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh hết sức sáng
tạo, độc đáo, bền vững, góp phần quan trọng vào những
thắng lợi của nền ngoại giao hiện đại của Việt Nam
trong hơn tám thập niên qua Có thể khẳng định rằng,
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ
tịch Hồ Chí Minh, hoạt động ngoại giao ngày càng lớn
mạnh cùng những bước đường cách mạng của cả dân tộc,
đóng góp xứng đáng vào những thắng lợi của đất nước
Trong giai đoạn hiện nay, cùng với sự phát triển của đất
nước, ngoại giao Việt Nam cũng đã không ngừng lớn
mạnh, trưởng thành, trở thành một nhân tố quan trọng
góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp, phấn đấu vì mục
tiêu xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh
C
Kế thừa và phát huy những truyền thống cũng như thành tựu trên lĩnh vực ngoại giao nhằm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh để xây dựng đường lối và chỉ đạo thực hiện hoạt động ngoại giao nhằm tạo môi trường hòa bình, ổn định và điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Trong tình hình mới, công tác nghiên cứu tư tưởng
Hồ Chí Minh nói chung và phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh nói riêng vẫn được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam Tuy nhiên, kết quả của việc vận dụng phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh còn một số tồn tại nhất định, đòi hỏi tiếp tục vận dụng tốt hơn trong bối cảnh mới Hiện nay, Việt Nam đang thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, với hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tình hình quốc tế có nhiều biến động Trên thế giới, trong những năm tới tình hình quốc tế sẽ còn nhiều diễn biến rất phức tạp, mâu thuẫn giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, gây ra nhiều thách thức đối với các quốc gia, dân tộc có chủ quyền, tình hình an ninh chính trị thế giới thay đổi nhanh chóng, diễn biến rất phức tạp khó lường; tình trạng xâm phạm chủ quyền quốc gia, tranh chấp lãnh thổ và tài nguyên, xung đột sắc tộc, tôn giáo, can thiệp lật đổ, khủng bố, chiến tranh cục bộ, chiến
Trang 11tranh mạng tiếp tục diễn ra gay gắt ở nhiều khu vực
Cục diện thế giới theo xu hướng đa cực, đa trung tâm
diễn ra nhanh hơn Các nước lớn điều chỉnh chiến lược,
vừa hợp tác vừa thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh,
kiềm chế lẫn nhau, tác động mạnh đến cục diện thế giới
và các khu vực Vì thế, Việt Nam đang đứng trước nhiều
thời cơ và vận hội mới, nhưng đồng thời cũng có nhiều
thách thức đan xen Tuy nhiên, hiện nay, hòa bình, độc
lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế
lớn Các cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn được các
nước trên thế giới chủ yếu giải quyết bằng con đường
đàm phán, hòa bình để đi tới thống nhất
Ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong những
năm gần đây, vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển
Đông giữa các quốc gia trong khu vực nói chung và Trung
Quốc đối với Việt Nam nói riêng diễn biến rất phức tạp,
cùng với đó, các thế lực thù địch vẫn không từ bỏ âm mưu
chiến lược “diễn biến hòa bình” hòng làm mất ổn định
chính trị, lật đổ chính quyền Trước tình hình trên, vấn
đề đặt ra hết sức quan trọng là bảo vệ vững chắc chủ
quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc và ngoại giao đã
và đang là một mặt trận quan trọng hàng đầu
Vì vậy, việc nghiên cứu, vận dụng sáng tạo phương
pháp ngoại giao Hồ Chí Minh có ý nghĩa cả về mặt khoa
học và thực tiễn, là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam
huy động các nguồn lực từ bên ngoài kết hợp với nguồn
lực nội sinh của dân tộc tạo ra sức mạnh tổng hợp trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa giai đoạn hiện nay
Công trình nghiên cứu này gồm 3 chương, trình bày một cách có hệ thống các phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh; sự vận dụng sáng tạo phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc hoạch định đường lối, chính sách đối ngoại trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới đất nước; đánh giá về những thành tựu và kinh nghiệm trong việc chỉ đạo thực hiện đường lối chính sách ngoại giao của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Thông qua đó, tác giả phân tích xu hướng, diễn biến của thế giới và khu vực trong bối cảnh hiện nay, đánh giá những thành công và những vấn đề nảy sinh trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Từ đó, đề xuất các giải pháp tiếp tục vận dụng sáng tạo phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh trong xây dựng đường lối, chính sách và chỉ đạo hoạt động ngoại giao để giải quyết những yêu cầu đặt ra trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam ở giai đoạn mới Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, song công trình này hẳn còn không ít thiếu sót Tác giả mong nhận được nhiều ý kiến góp ý của bạn đọc để lần xuất bản sau cuốn sách được hoàn chỉnh hơn
Hà Nội, tháng 6 năm 2019
TÁC GIẢ
Trang 12tranh mạng tiếp tục diễn ra gay gắt ở nhiều khu vực
Cục diện thế giới theo xu hướng đa cực, đa trung tâm
diễn ra nhanh hơn Các nước lớn điều chỉnh chiến lược,
vừa hợp tác vừa thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh,
kiềm chế lẫn nhau, tác động mạnh đến cục diện thế giới
và các khu vực Vì thế, Việt Nam đang đứng trước nhiều
thời cơ và vận hội mới, nhưng đồng thời cũng có nhiều
thách thức đan xen Tuy nhiên, hiện nay, hòa bình, độc
lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế
lớn Các cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn được các
nước trên thế giới chủ yếu giải quyết bằng con đường
đàm phán, hòa bình để đi tới thống nhất
Ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong những
năm gần đây, vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển
Đông giữa các quốc gia trong khu vực nói chung và Trung
Quốc đối với Việt Nam nói riêng diễn biến rất phức tạp,
cùng với đó, các thế lực thù địch vẫn không từ bỏ âm mưu
chiến lược “diễn biến hòa bình” hòng làm mất ổn định
chính trị, lật đổ chính quyền Trước tình hình trên, vấn
đề đặt ra hết sức quan trọng là bảo vệ vững chắc chủ
quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc và ngoại giao đã
và đang là một mặt trận quan trọng hàng đầu
Vì vậy, việc nghiên cứu, vận dụng sáng tạo phương
pháp ngoại giao Hồ Chí Minh có ý nghĩa cả về mặt khoa
học và thực tiễn, là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam
huy động các nguồn lực từ bên ngoài kết hợp với nguồn
lực nội sinh của dân tộc tạo ra sức mạnh tổng hợp trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa giai đoạn hiện nay
Công trình nghiên cứu này gồm 3 chương, trình bày một cách có hệ thống các phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh; sự vận dụng sáng tạo phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc hoạch định đường lối, chính sách đối ngoại trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới đất nước; đánh giá về những thành tựu và kinh nghiệm trong việc chỉ đạo thực hiện đường lối chính sách ngoại giao của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Thông qua đó, tác giả phân tích xu hướng, diễn biến của thế giới và khu vực trong bối cảnh hiện nay, đánh giá những thành công và những vấn đề nảy sinh trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Từ đó, đề xuất các giải pháp tiếp tục vận dụng sáng tạo phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh trong xây dựng đường lối, chính sách và chỉ đạo hoạt động ngoại giao để giải quyết những yêu cầu đặt ra trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam ở giai đoạn mới Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, song công trình này hẳn còn không ít thiếu sót Tác giả mong nhận được nhiều ý kiến góp ý của bạn đọc để lần xuất bản sau cuốn sách được hoàn chỉnh hơn
Hà Nội, tháng 6 năm 2019
TÁC GIẢ
Trang 13Chương I
HỆ THỐNG PHƯƠNG PHÁP
NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH
I- MỘT SỐ KHÁI NIỆM
1 Khái niệm ngoại giao
Đối ngoại và ngoại giao là hai khái niệm riêng biệt
tuy gắn bó chặt chẽ với nhau, nhưng vẫn có sự khác biệt
nhất định Đối ngoại là toàn bộ mục tiêu, nhiệm vụ,
phương hướng, nguyên tắc, phương châm, biện pháp mà
quốc gia theo đuổi trong quan hệ với các quốc gia khác
hoặc chủ thể khác trong cộng đồng quốc tế nhằm phục vụ
cho lợi ích của quốc gia
Cùng với đối ngoại, ngoại giao là một lĩnh vực nghiên
cứu rộng lớn, được các nhà khoa học nghiên cứu đưa ra từ
lâu, đến hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về khái
niệm “ngoại giao”
Ở nước ngoài: Từ “ngoại giao” có nguồn gốc từ
tiếng Hy Lạp “diploma” với nghĩa là giấy chứng
nhận, giấy ủy quyền mà sứ giả nước này trao cho
người phụ trách công tác ngoại giao của quốc gia đó
với các nước khác Từ đó xuất hiện từ “diplomacy” với
nghĩa là ngoại giao1
Từ điển tiếng Anh Oxford định nghĩa: “Ngoại giao là
việc tiến hành quan hệ quốc tế bằng cách đàm phán, là phương pháp mà các đại sứ, công sứ sử dụng để điều chỉnh và tiến hành các quan hệ đó, là công tác hoặc nghệ thuật của nhà ngoại giao”2 Tác giả Garden trong
Giáo trình môn ngoại giao cho rằng: “Ngoại giao là khoa
học về quan hệ đối ngoại”, còn theo nghĩa hẹp: “Ngoại giao là đàm phán chính thức”3 Từ điển Le Nouveau Petit Robert của Pháp đưa ra định nghĩa: “Ngoại giao là
hoạt động chính trị liên quan đến các mối quan hệ giữa các quốc gia”4 Đại từ điển bách khoa toàn thư Liên Xô
ghi: “Ngoại giao là hoạt động chính thức của người đứng đầu nhà nước, chính phủ và của các cơ quan chuyên trách về quan hệ đối ngoại, nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của chính sách đối ngoại của quốc gia cũng như nhằm bảo vệ quyền lợi quốc gia ở nước ngoài”5 Từ điển ngoại giao của Liên Xô do Bộ trưởng Bộ Ngoại giao
_
1 Xem Vũ Dương Huân: Ngoại giao và công tác ngoại giao,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr.13
2, 3 H Nicolson: Diplomacy, Oxford University, London, 1965,
Trang 14Chương I
HỆ THỐNG PHƯƠNG PHÁP
NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH
I- MỘT SỐ KHÁI NIỆM
1 Khái niệm ngoại giao
Đối ngoại và ngoại giao là hai khái niệm riêng biệt
tuy gắn bó chặt chẽ với nhau, nhưng vẫn có sự khác biệt
nhất định Đối ngoại là toàn bộ mục tiêu, nhiệm vụ,
phương hướng, nguyên tắc, phương châm, biện pháp mà
quốc gia theo đuổi trong quan hệ với các quốc gia khác
hoặc chủ thể khác trong cộng đồng quốc tế nhằm phục vụ
cho lợi ích của quốc gia
Cùng với đối ngoại, ngoại giao là một lĩnh vực nghiên
cứu rộng lớn, được các nhà khoa học nghiên cứu đưa ra từ
lâu, đến hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về khái
niệm “ngoại giao”
Ở nước ngoài: Từ “ngoại giao” có nguồn gốc từ
tiếng Hy Lạp “diploma” với nghĩa là giấy chứng
nhận, giấy ủy quyền mà sứ giả nước này trao cho
người phụ trách công tác ngoại giao của quốc gia đó
với các nước khác Từ đó xuất hiện từ “diplomacy” với
nghĩa là ngoại giao1
Từ điển tiếng Anh Oxford định nghĩa: “Ngoại giao là
việc tiến hành quan hệ quốc tế bằng cách đàm phán, là phương pháp mà các đại sứ, công sứ sử dụng để điều chỉnh và tiến hành các quan hệ đó, là công tác hoặc nghệ thuật của nhà ngoại giao”2 Tác giả Garden trong
Giáo trình môn ngoại giao cho rằng: “Ngoại giao là khoa
học về quan hệ đối ngoại”, còn theo nghĩa hẹp: “Ngoại giao là đàm phán chính thức”3 Từ điển Le Nouveau Petit Robert của Pháp đưa ra định nghĩa: “Ngoại giao là
hoạt động chính trị liên quan đến các mối quan hệ giữa các quốc gia”4 Đại từ điển bách khoa toàn thư Liên Xô
ghi: “Ngoại giao là hoạt động chính thức của người đứng đầu nhà nước, chính phủ và của các cơ quan chuyên trách về quan hệ đối ngoại, nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của chính sách đối ngoại của quốc gia cũng như nhằm bảo vệ quyền lợi quốc gia ở nước ngoài”5 Từ điển ngoại giao của Liên Xô do Bộ trưởng Bộ Ngoại giao
_
1 Xem Vũ Dương Huân: Ngoại giao và công tác ngoại giao,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr.13
2, 3 H Nicolson: Diplomacy, Oxford University, London, 1965,
Trang 15Liên Xô (giai đoạn 1957 - 1985) A.A Gromyko chủ biên
định nghĩa: “Ngoại giao là công cụ thực hiện chính sách
đối ngoại của quốc gia, là tổng thể những biện pháp phi
quân sự, những phương pháp, thủ thuật được sử dụng
có tính đến điều kiện cụ thể và đặc điểm của yêu cầu
nhiệm vụ; hoạt động chính thức của người đứng đầu
nhà nước, chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, các cơ
quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài, các đoàn đại biểu
các hội nghị quốc tế nhằm thực hiện mục tiêu và nhiệm
vụ chính sách đối ngoại của quốc gia, bảo vệ quyền và
lợi ích quốc gia, pháp nhân và công dân của mình ở
nước ngoài Đồng thời, ngoại giao là nghệ thuật đàm
phán nhằm ngăn chặn, hoặc dàn xếp những xung đột
quốc tế, tìm cách thỏa hiệp và đưa ra những giải pháp
có thể được các bên chấp nhận, cũng như việc mở rộng
và củng cố hợp tác quốc tế”1
Ở Việt Nam: Theo Từ điển tiếng Việt, “ngoại giao
là sự giao thiệp với nước ngoài để bảo vệ quyền lợi của
quốc gia mình và để góp phần giải quyết những vấn
đề quốc tế chung2
Giáo trình Một số vấn đề cơ bản về nghiệp vụ ngoại
giao nêu nhận thức: Ngoại giao là một khoa học mang
Trong cuốn sách Ngoại giao và công tác ngoại giao,
khái niệm ngoại giao được hiểu là: Ngoại giao - công cụ thực hiện chính sách đối ngoại của quốc gia - được hiểu là tổng thể những biện pháp phi quân sự, những phương pháp, thủ thuật được sử dụng có tính đến điều kiện cụ thể và đặc điểm của yêu cầu, nhiệm vụ; là hoạt động chính thức của người đứng đầu Nhà nước, Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài, các đoàn đại biểu tại các hội nghị quốc tế nhằm thực hiện mục tiêu và chính sách đối ngoại của quốc gia, bảo vệ quyền và lợi ích quốc gia, pháp nhân và công dân mình ở nước ngoài Ngoại giao là nghệ thuật đàm phán nhằm ngăn chặn hoặc dàn xếp những xung đột quốc tế, tìm cách thỏa hiệp và những giải pháp có thể được các bên chấp nhận, cũng như việc mở rộng và củng cố hợp tác quốc tế Lãnh đạo
_
1 Xem Học viện Quan hệ quốc tế: Giáo trình Một số vấn đề cơ
bản về nghiệp vụ ngoại giao, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000,
t.1, tr.19-20
Trang 16Liên Xô (giai đoạn 1957 - 1985) A.A Gromyko chủ biên
định nghĩa: “Ngoại giao là công cụ thực hiện chính sách
đối ngoại của quốc gia, là tổng thể những biện pháp phi
quân sự, những phương pháp, thủ thuật được sử dụng
có tính đến điều kiện cụ thể và đặc điểm của yêu cầu
nhiệm vụ; hoạt động chính thức của người đứng đầu
nhà nước, chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, các cơ
quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài, các đoàn đại biểu
các hội nghị quốc tế nhằm thực hiện mục tiêu và nhiệm
vụ chính sách đối ngoại của quốc gia, bảo vệ quyền và
lợi ích quốc gia, pháp nhân và công dân của mình ở
nước ngoài Đồng thời, ngoại giao là nghệ thuật đàm
phán nhằm ngăn chặn, hoặc dàn xếp những xung đột
quốc tế, tìm cách thỏa hiệp và đưa ra những giải pháp
có thể được các bên chấp nhận, cũng như việc mở rộng
và củng cố hợp tác quốc tế”1
Ở Việt Nam: Theo Từ điển tiếng Việt, “ngoại giao
là sự giao thiệp với nước ngoài để bảo vệ quyền lợi của
quốc gia mình và để góp phần giải quyết những vấn
đề quốc tế chung2
Giáo trình Một số vấn đề cơ bản về nghiệp vụ ngoại
giao nêu nhận thức: Ngoại giao là một khoa học mang
Trong cuốn sách Ngoại giao và công tác ngoại giao,
khái niệm ngoại giao được hiểu là: Ngoại giao - công cụ thực hiện chính sách đối ngoại của quốc gia - được hiểu là tổng thể những biện pháp phi quân sự, những phương pháp, thủ thuật được sử dụng có tính đến điều kiện cụ thể và đặc điểm của yêu cầu, nhiệm vụ; là hoạt động chính thức của người đứng đầu Nhà nước, Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài, các đoàn đại biểu tại các hội nghị quốc tế nhằm thực hiện mục tiêu và chính sách đối ngoại của quốc gia, bảo vệ quyền và lợi ích quốc gia, pháp nhân và công dân mình ở nước ngoài Ngoại giao là nghệ thuật đàm phán nhằm ngăn chặn hoặc dàn xếp những xung đột quốc tế, tìm cách thỏa hiệp và những giải pháp có thể được các bên chấp nhận, cũng như việc mở rộng và củng cố hợp tác quốc tế Lãnh đạo
_
1 Xem Học viện Quan hệ quốc tế: Giáo trình Một số vấn đề cơ
bản về nghiệp vụ ngoại giao, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000,
t.1, tr.19-20
Trang 17hoạt động ngoại giao của quốc gia là Chính phủ, trước
hết trực tiếp của Bộ Ngoại giao Ngoại giao bất cứ quốc
gia nào đều mang tính giai cấp Nội dung, nguyên tắc,
mục đích, nhiệm vụ của ngoại giao do chế độ kinh tế -
xã hội của quốc gia quyết định và lợi ích giai cấp cầm
quyền chi phối đường lối đối ngoại của quốc gia1
Như vậy, có thể thấy có nhiều cách hiểu khác nhau
về ngoại giao Từ những cách tiếp cận trên có thể rút
ra một số nhận xét như sau về ngoại giao: Ngoại giao
là hoạt động của nhà nước trong lĩnh vực đối ngoại,
ngoại giao là công cụ quan trọng nhất, công cụ hòa
bình thực hiện chính sách đối ngoại của quốc gia; là
tất cả các cơ quan chuyên trách về quan hệ đối ngoại ở
Trung ương cũng như ở nước ngoài và những cán bộ
làm công tác ngoại giao nhà nước; là nghề nghiệp của
các nhà ngoại giao; là khoa học và nghệ thuật, trước
hết là nghệ thuật đàm phán và ngoại giao mang tính
giai cấp sâu sắc
2 Khái niệm phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh
Phương pháp thực chất là những cách thức mà
con người thực hiện các mục tiêu đã định sẵn, là sự
phù hợp giữa hoạt động chủ quan có hướng đích của
con người với quy luật khách quan của tự nhiên và xã
_
1 Xem Vũ Dương Huân: Ngoại giao và công tác ngoại giao,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr 20-21
hội Trong cuốn sách Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh đã đưa ra khái niệm phương pháp là toàn bộ
những cách thức với tính chất là một hệ thống các nguyên tắc xuất phát từ các quy tắc tồn tại và vận động của đối tượng, khách thể đã được nhận thức, để định hướng và điều chỉnh hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn của con người, nhằm tác động vào đối tượng, khách thể để thực hiện mục đích đã định1
Về phương pháp Hồ Chí Minh, trong cuốn sách Một
số vấn đề phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
về Hồ Chí Minh, đưa ra định nghĩa: Phương pháp là hệ
thống các quy tắc, chuẩn mực, cách thức điều chỉnh nhận thức và hoạt động của con người trong việc tiếp cận
lý luận và khảo sát thực tế Phương pháp hình thành tư duy lý luận, nhưng không phải một chiều Lý luận đẻ ra phương pháp, phương pháp tác động trở lại lý luận, làm cho lý luận phát triển, hình thành lý luận mới; đến lượt
nó, lý luận mới lại đẻ ra phương pháp mới2
Trong cuốn sách Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh, cũng đã đề cập đến phương pháp Hồ Chí Minh:
_
1 Xem Đặng Xuân Kỳ (Chủ biên): Phương pháp và phong cách Hồ
Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr 24-25
2 Xem Song Thành (Chủ biên): Một số vấn đề phương pháp
luận và phương pháp nghiên cứu về Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1997, tr 28
Trang 18hoạt động ngoại giao của quốc gia là Chính phủ, trước
hết trực tiếp của Bộ Ngoại giao Ngoại giao bất cứ quốc
gia nào đều mang tính giai cấp Nội dung, nguyên tắc,
mục đích, nhiệm vụ của ngoại giao do chế độ kinh tế -
xã hội của quốc gia quyết định và lợi ích giai cấp cầm
quyền chi phối đường lối đối ngoại của quốc gia1
Như vậy, có thể thấy có nhiều cách hiểu khác nhau
về ngoại giao Từ những cách tiếp cận trên có thể rút
ra một số nhận xét như sau về ngoại giao: Ngoại giao
là hoạt động của nhà nước trong lĩnh vực đối ngoại,
ngoại giao là công cụ quan trọng nhất, công cụ hòa
bình thực hiện chính sách đối ngoại của quốc gia; là
tất cả các cơ quan chuyên trách về quan hệ đối ngoại ở
Trung ương cũng như ở nước ngoài và những cán bộ
làm công tác ngoại giao nhà nước; là nghề nghiệp của
các nhà ngoại giao; là khoa học và nghệ thuật, trước
hết là nghệ thuật đàm phán và ngoại giao mang tính
giai cấp sâu sắc
2 Khái niệm phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh
Phương pháp thực chất là những cách thức mà
con người thực hiện các mục tiêu đã định sẵn, là sự
phù hợp giữa hoạt động chủ quan có hướng đích của
con người với quy luật khách quan của tự nhiên và xã
_
1 Xem Vũ Dương Huân: Ngoại giao và công tác ngoại giao,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr 20-21
hội Trong cuốn sách Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh đã đưa ra khái niệm phương pháp là toàn bộ
những cách thức với tính chất là một hệ thống các nguyên tắc xuất phát từ các quy tắc tồn tại và vận động của đối tượng, khách thể đã được nhận thức, để định hướng và điều chỉnh hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn của con người, nhằm tác động vào đối tượng, khách thể để thực hiện mục đích đã định1
Về phương pháp Hồ Chí Minh, trong cuốn sách Một
số vấn đề phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
về Hồ Chí Minh, đưa ra định nghĩa: Phương pháp là hệ
thống các quy tắc, chuẩn mực, cách thức điều chỉnh nhận thức và hoạt động của con người trong việc tiếp cận
lý luận và khảo sát thực tế Phương pháp hình thành tư duy lý luận, nhưng không phải một chiều Lý luận đẻ ra phương pháp, phương pháp tác động trở lại lý luận, làm cho lý luận phát triển, hình thành lý luận mới; đến lượt
nó, lý luận mới lại đẻ ra phương pháp mới2
Trong cuốn sách Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh, cũng đã đề cập đến phương pháp Hồ Chí Minh:
_
1 Xem Đặng Xuân Kỳ (Chủ biên): Phương pháp và phong cách Hồ
Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr 24-25
2 Xem Song Thành (Chủ biên): Một số vấn đề phương pháp
luận và phương pháp nghiên cứu về Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1997, tr 28
Trang 19Phương pháp Hồ Chí Minh là phương pháp ở tầm tư
tưởng, lý luận, thể hiện sự nhuần nhuyễn giữa lý luận
với thực tiễn trong các lĩnh vực hoạt động của Người, lý
luận hóa thực tiễn gắn liền với thực tiễn hóa lý luận
Phương pháp Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện một trình
độ tư tưởng mà còn là năng lực và bản lĩnh sáng tạo văn
hóa, với tầm nhìn rộng lớn, dự báo sáng suốt và ứng xử
linh hoạt, tinh tế1
Ngoại giao muốn đạt được mục đích thì phải có
phương pháp Trong cuộc đời hoạt động ngoại giao của
mình, Hồ Chí Minh thường xuyên xác định đường lối
cách mạng đúng đắn và lựa chọn phương pháp cách
mạng thích hợp Đường lối quyết định phương pháp,
phương pháp lại đưa đường lối vào cuộc sống, thể hiện
đường lối trong hoạt động thực tiễn
Trong hoạt động ngoại giao, phương pháp đóng vai
trò đặc biệt quan trọng Bởi vì môi trường hoạt động
ngoại giao là thế giới không ngừng biến đổi, không
ngừng vận động, cần phải có những cách thức đánh
giá, nhận định, dự báo tình hình thế giới một cách
khoa học, năng động Sự thay đổi của tình hình đòi hỏi
phải có phương pháp mới Mặt khác, do đối tác của
ngoại giao đa dạng và phức tạp, cần có sự linh hoạt,
Phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh là một nội dung quan trọng trong tư tưởng của Người, góp phần hình thành nền ngoại giao Việt Nam hiện đại Ngoại giao vừa là khoa học, ứng xử, giao tiếp, đàm phán, vừa
là chính trị Ngoại giao muốn đạt mục đích đề ra phải
có phương pháp
Đánh giá về tầm quan trọng của phương pháp hoạt
động chính trị, đồng chí Trường Chinh khẳng định: Lịch sử phát triển cách mạng thế giới cho thấy một phong trào nào đó có khi bế tắc, không lối ra, thậm chí thất bại, không phải vì không có mục tiêu và phương hướng rõ ràng, cũng không phải không tổ chức được lực lượng cách mạng, mà chủ yếu vì thiếu phương pháp cách mạng và hình thức đấu tranh thích hợp1
Đối với Hồ Chí Minh, phương pháp ngoại giao được thể hiện rất đa dạng, phong phú, đó là: phương pháp dĩ
_
1 Xem Trường Chinh: Chủ tịch Hồ Chí Minh và cách mạng
Việt Nam, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, 1991, tr 149
Trang 20Phương pháp Hồ Chí Minh là phương pháp ở tầm tư
tưởng, lý luận, thể hiện sự nhuần nhuyễn giữa lý luận
với thực tiễn trong các lĩnh vực hoạt động của Người, lý
luận hóa thực tiễn gắn liền với thực tiễn hóa lý luận
Phương pháp Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện một trình
độ tư tưởng mà còn là năng lực và bản lĩnh sáng tạo văn
hóa, với tầm nhìn rộng lớn, dự báo sáng suốt và ứng xử
linh hoạt, tinh tế1
Ngoại giao muốn đạt được mục đích thì phải có
phương pháp Trong cuộc đời hoạt động ngoại giao của
mình, Hồ Chí Minh thường xuyên xác định đường lối
cách mạng đúng đắn và lựa chọn phương pháp cách
mạng thích hợp Đường lối quyết định phương pháp,
phương pháp lại đưa đường lối vào cuộc sống, thể hiện
đường lối trong hoạt động thực tiễn
Trong hoạt động ngoại giao, phương pháp đóng vai
trò đặc biệt quan trọng Bởi vì môi trường hoạt động
ngoại giao là thế giới không ngừng biến đổi, không
ngừng vận động, cần phải có những cách thức đánh
giá, nhận định, dự báo tình hình thế giới một cách
khoa học, năng động Sự thay đổi của tình hình đòi hỏi
phải có phương pháp mới Mặt khác, do đối tác của
ngoại giao đa dạng và phức tạp, cần có sự linh hoạt,
Phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh là một nội dung quan trọng trong tư tưởng của Người, góp phần hình thành nền ngoại giao Việt Nam hiện đại Ngoại giao vừa là khoa học, ứng xử, giao tiếp, đàm phán, vừa
là chính trị Ngoại giao muốn đạt mục đích đề ra phải
có phương pháp
Đánh giá về tầm quan trọng của phương pháp hoạt
động chính trị, đồng chí Trường Chinh khẳng định: Lịch sử phát triển cách mạng thế giới cho thấy một phong trào nào đó có khi bế tắc, không lối ra, thậm chí thất bại, không phải vì không có mục tiêu và phương hướng rõ ràng, cũng không phải không tổ chức được lực lượng cách mạng, mà chủ yếu vì thiếu phương pháp cách mạng và hình thức đấu tranh thích hợp1
Đối với Hồ Chí Minh, phương pháp ngoại giao được thể hiện rất đa dạng, phong phú, đó là: phương pháp dĩ
_
1 Xem Trường Chinh: Chủ tịch Hồ Chí Minh và cách mạng
Việt Nam, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, 1991, tr 149
Trang 21bất biến ứng vạn biến; thêm bạn bớt thù; vừa đánh, vừa
đàm; biết thắng từng bước; lợi dụng mâu thuẫn trong
hàng ngũ kẻ thù trong đấu tranh ngoại giao; dự báo và
nắm bắt đúng thời cơ; ngoại giao công tâm; phối hợp các
lĩnh vực, trước hết là chính trị, quân sự và ngoại giao,
tạo sức mạnh tổng hợp cho đấu tranh ngoại giao
Như vậy, có thể hiểu: Phương pháp ngoại giao Hồ
Chí Minh là bộ phận rất quan trọng trong tư tưởng
ngoại giao Hồ Chí Minh, bao gồm một hệ thống các cách
thức, các phương thức khác nhau để giải quyết các vấn
đề trong quan hệ quốc tế nhằm thực hiện thắng lợi các
mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của cách mạng Việt Nam
Phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh không đồng
nhất với những quan điểm, quan niệm trong ngoại
giao Hồ Chí Minh mà từ những quan điểm đó để đưa
ra những cách thức xử lý tình huống, vấn đề cụ thể
Ngoại giao muốn đạt được mục đích thì phải có phương
pháp Phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh là nét đặc
sắc trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, góp phần
tạo nên bản sắc của nền ngoại giao Việt Nam thời đại
Hồ Chí Minh
Thực tiễn lịch sử cho thấy, phương pháp ngoại giao
Hồ Chí Minh đã phát huy hiệu quả to lớn trong công
cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam Mặc dù việc vận dụng tư tưởng, phương
pháp ngoại giao Hồ Chí Minh trong hoạch định đường
lối ngoại giao và thực hiện nhiệm vụ đối ngoại trong
hoàn cảnh có nhiều khó khăn, thách thức, song chúng
ta vẫn đạt được những thành tựu cơ bản, quan trọng Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược quan trọng hàng đầu của cách mạng Việt Nam Hai nhiệm vụ đó có
sự liên quan mật thiết với nhau, có mối quan hệ khăng khít, chi phối mọi hoạt động và lĩnh vực của đời sống xã hội Xây dựng Tổ quốc giàu mạnh trên các phương diện
sẽ là điều kiện hết sức cơ bản để bảo vệ Tổ quốc Đồng thời, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc được thực hiện trọn vẹn, tạo lập môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước Thực hiện hài hòa và tốt đẹp hai nhiệm vụ chiến lược này sẽ hướng tới mục tiêu chung là xây dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội Vận dụng phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay được hiểu là vận dụng những cách thức xử lý tình huống, vấn đề cụ thể ở lĩnh vực ngoại giao theo tư tưởng
Hồ Chí Minh trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Nhằm mục tiêu xây dựng, thúc đẩy phát triển các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội, văn hóa, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn
xã hội, Tăng cường tiềm lực quốc phòng, bảo đảm vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia cả ở đất liền, vùng trời, vùng biển và
Trang 22bất biến ứng vạn biến; thêm bạn bớt thù; vừa đánh, vừa
đàm; biết thắng từng bước; lợi dụng mâu thuẫn trong
hàng ngũ kẻ thù trong đấu tranh ngoại giao; dự báo và
nắm bắt đúng thời cơ; ngoại giao công tâm; phối hợp các
lĩnh vực, trước hết là chính trị, quân sự và ngoại giao,
tạo sức mạnh tổng hợp cho đấu tranh ngoại giao
Như vậy, có thể hiểu: Phương pháp ngoại giao Hồ
Chí Minh là bộ phận rất quan trọng trong tư tưởng
ngoại giao Hồ Chí Minh, bao gồm một hệ thống các cách
thức, các phương thức khác nhau để giải quyết các vấn
đề trong quan hệ quốc tế nhằm thực hiện thắng lợi các
mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của cách mạng Việt Nam
Phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh không đồng
nhất với những quan điểm, quan niệm trong ngoại
giao Hồ Chí Minh mà từ những quan điểm đó để đưa
ra những cách thức xử lý tình huống, vấn đề cụ thể
Ngoại giao muốn đạt được mục đích thì phải có phương
pháp Phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh là nét đặc
sắc trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, góp phần
tạo nên bản sắc của nền ngoại giao Việt Nam thời đại
Hồ Chí Minh
Thực tiễn lịch sử cho thấy, phương pháp ngoại giao
Hồ Chí Minh đã phát huy hiệu quả to lớn trong công
cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam Mặc dù việc vận dụng tư tưởng, phương
pháp ngoại giao Hồ Chí Minh trong hoạch định đường
lối ngoại giao và thực hiện nhiệm vụ đối ngoại trong
hoàn cảnh có nhiều khó khăn, thách thức, song chúng
ta vẫn đạt được những thành tựu cơ bản, quan trọng Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược quan trọng hàng đầu của cách mạng Việt Nam Hai nhiệm vụ đó có
sự liên quan mật thiết với nhau, có mối quan hệ khăng khít, chi phối mọi hoạt động và lĩnh vực của đời sống xã hội Xây dựng Tổ quốc giàu mạnh trên các phương diện
sẽ là điều kiện hết sức cơ bản để bảo vệ Tổ quốc Đồng thời, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc được thực hiện trọn vẹn, tạo lập môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước Thực hiện hài hòa và tốt đẹp hai nhiệm vụ chiến lược này sẽ hướng tới mục tiêu chung là xây dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội Vận dụng phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay được hiểu là vận dụng những cách thức xử lý tình huống, vấn đề cụ thể ở lĩnh vực ngoại giao theo tư tưởng
Hồ Chí Minh trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Nhằm mục tiêu xây dựng, thúc đẩy phát triển các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội, văn hóa, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn
xã hội, Tăng cường tiềm lực quốc phòng, bảo đảm vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia cả ở đất liền, vùng trời, vùng biển và
Trang 23hải đảo Giữ vững hòa bình, ổn định để xây dựng và
phát triển đất nước
II- CÁC PHƯƠNG PHÁP NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH
1 Phương pháp “Dĩ bất biến ứng vạn biến”
“Dĩ bất biến ứng vạn biến” vừa là phương châm,
vừa là phương pháp có tính nguyên tắc trong hoạt động
ngoại giao của Hồ Chí Minh Phương pháp này xuất
phát từ tư duy triết học phương Đông “lấy cái không thể
thay đổi để ứng phó với muôn sự thay đổi”, hay lấy cái
bất biến để ứng với cái vạn biến Hồ Chí Minh đã kết
hợp hài hòa triết lý phương Đông với phép biện chứng
duy vật mácxít Điều “bất biến” trong phương pháp
ngoại giao của Hồ Chí Minh là lợi ích dân tộc, mục tiêu
giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, lý tưởng của
cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân tiến lên chủ
nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Đó là sợi chỉ đỏ
xuyên suốt toàn bộ quá trình đấu tranh trên các
phương diện, đặc biệt là đấu tranh ngoại giao trong thời
đại Hồ Chí Minh
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, để
đạt được những mục tiêu cơ bản là độc lập, tự do,
thống nhất đất nước, Hồ Chí Minh đánh giá đúng tình
hình quốc tế và so sánh lực lượng ở những thời điểm cụ
thể để vận dụng sách lược một cách linh hoạt, mềm
dẻo, giành thắng lợi từng bước Người chỉ ra rằng:
“Mục đích bất di bất dịch của ta vẫn là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt”1
Phương pháp ngoại giao “Dĩ bất biến ứng vạn biến”
được vận dụng một cách linh hoạt trong đấu tranh đàm phán với kẻ thù Khi đàm phán với kẻ thù, Hồ Chí Minh luôn giữ nguyên tắc bất biến là: độc lập thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, tự do, hạnh phúc của Nhân dân, quyền cơ bản của dân tộc, đó là những thứ không thể đổi chác, không thể nhân nhượng Nguyên tắc đó được thể hiện bằng quyết tâm: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”2 Để đảm bảo nguyên tắc “bất biến” phục vụ cho mục tiêu cách mạng, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở: Trước hết là phải giành cho kỳ được độc
lập, tất cả cho độc lập, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”3 Nhưng khi có độc lập rồi phải xây dựng chế độ xã hội mới, đem lại tự do, hạnh phúc cho Nhân dân Vì theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, có độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập cũng chẳng có nghĩa gì
_
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2011, t.8, tr.555
2 Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2018, tr.224
3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr 131
Trang 24hải đảo Giữ vững hòa bình, ổn định để xây dựng và
phát triển đất nước
II- CÁC PHƯƠNG PHÁP NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH
1 Phương pháp “Dĩ bất biến ứng vạn biến”
“Dĩ bất biến ứng vạn biến” vừa là phương châm,
vừa là phương pháp có tính nguyên tắc trong hoạt động
ngoại giao của Hồ Chí Minh Phương pháp này xuất
phát từ tư duy triết học phương Đông “lấy cái không thể
thay đổi để ứng phó với muôn sự thay đổi”, hay lấy cái
bất biến để ứng với cái vạn biến Hồ Chí Minh đã kết
hợp hài hòa triết lý phương Đông với phép biện chứng
duy vật mácxít Điều “bất biến” trong phương pháp
ngoại giao của Hồ Chí Minh là lợi ích dân tộc, mục tiêu
giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, lý tưởng của
cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân tiến lên chủ
nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Đó là sợi chỉ đỏ
xuyên suốt toàn bộ quá trình đấu tranh trên các
phương diện, đặc biệt là đấu tranh ngoại giao trong thời
đại Hồ Chí Minh
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, để
đạt được những mục tiêu cơ bản là độc lập, tự do,
thống nhất đất nước, Hồ Chí Minh đánh giá đúng tình
hình quốc tế và so sánh lực lượng ở những thời điểm cụ
thể để vận dụng sách lược một cách linh hoạt, mềm
dẻo, giành thắng lợi từng bước Người chỉ ra rằng:
“Mục đích bất di bất dịch của ta vẫn là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt”1
Phương pháp ngoại giao “Dĩ bất biến ứng vạn biến”
được vận dụng một cách linh hoạt trong đấu tranh đàm phán với kẻ thù Khi đàm phán với kẻ thù, Hồ Chí Minh luôn giữ nguyên tắc bất biến là: độc lập thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, tự do, hạnh phúc của Nhân dân, quyền cơ bản của dân tộc, đó là những thứ không thể đổi chác, không thể nhân nhượng Nguyên tắc đó được thể hiện bằng quyết tâm: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”2 Để đảm bảo nguyên tắc “bất biến” phục vụ cho mục tiêu cách mạng, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở: Trước hết là phải giành cho kỳ được độc
lập, tất cả cho độc lập, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”3 Nhưng khi có độc lập rồi phải xây dựng chế độ xã hội mới, đem lại tự do, hạnh phúc cho Nhân dân Vì theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, có độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập cũng chẳng có nghĩa gì
_
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2011, t.8, tr.555
2 Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2018, tr.224
3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr 131
Trang 25Hòa bình, độc lập, thống nhất của Tổ quốc, tự do,
hạnh phúc của Nhân dân là mục tiêu đấu tranh và
phấn đấu của mọi người Việt Nam Nhưng con đường đi
đến mục tiêu đó là con đường dài, đầy khó khăn gian
khổ, đòi hỏi phải có sự phấn đấu, hy sinh của nhiều lớp
người, nhiều thế hệ Trong mỗi bước đi lên, cách mạng
phải đối phó với muôn vàn biến đổi, đòi hỏi người cách
mạng phải sáng suốt, tỉnh táo, nhạy bén để thay đổi
cách thức ứng phó với những điều kiện lịch sử mà cuộc
đấu tranh đặt ra Chiến lược, sách lược cách mạng phải
linh hoạt, phù hợp: “ứng vạn biến” trong mỗi thời điểm,
điều kiện nhất định sao cho đạt được mục tiêu cuối
cùng đã xác định Phương pháp “Dĩ bất biến ứng vạn
biến” của Hồ Chí Minh hoàn toàn phù hợp với quan
điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin Trong đấu tranh cách
mạng phải giành cho được thắng lợi để từng bước tiến
lên, nhưng không phải chỉ biết mục tiêu trước mắt mà
quên mục tiêu lâu dài, cũng không thể hy sinh mục tiêu
lâu dài chỉ vì những mục tiêu trước mắt Trong đấu
tranh ngoại giao, có những lúc cần thỏa hiệp, nhân
nhượng, nhưng thỏa hiệp phải có nguyên tắc, không
được rời bỏ những vấn đề có tính nguyên tắc khi thương
lượng với kẻ thù Có nghĩa là phải xác định giới hạn của
nhân nhượng trong ngoại giao, đó là không được làm
tổn hại đến chủ quyền của quốc gia và lợi ích dân tộc
Năm 1946, Đảng ta khẳng định: “Tạm ước 14-9 là một
bước nhân nhượng cuối cùng Nhân nhượng nữa là
phạm đến chủ quyền của nước, là hại quyền lợi cao trọng của dân tộc”1 Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta
đã kiên quyết đấu tranh để có “ngoại giao riêng”, vì
“nếu quân đội và ngoại giao Việt Nam ở dưới quyền Pháp tức là Việt Nam chưa được độc lập hẳn và vẫn là thuộc địa của Pháp”2
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh
đã đánh giá đúng tình hình quốc tế và so sánh lực lượng
ở những thời điểm cụ thể để vận dụng sách lược một cách linh hoạt, mềm dẻo, giành thắng lợi từng bước Căn cứ vào thực lực cách mạng và tương quan lực lượng trong những thời điểm nhất định, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra những hình thức đấu tranh thích hợp, những sách lược phù hợp để tranh thủ mọi lực lượng có thể tranh thủ được trên trường quốc tế, ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, phương pháp “Dĩ bất biến ứng vạn biến” được thể hiện ở
nỗ lực tìm kiếm những cơ hội hòa bình trong mối quan
hệ với Pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau Cách mạng Tháng Tám Điều đó cũng đã thể hiện
rõ lập trường có tính nguyên tắc của nước ta trong giữ
_
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.148
2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.494
Trang 26Hòa bình, độc lập, thống nhất của Tổ quốc, tự do,
hạnh phúc của Nhân dân là mục tiêu đấu tranh và
phấn đấu của mọi người Việt Nam Nhưng con đường đi
đến mục tiêu đó là con đường dài, đầy khó khăn gian
khổ, đòi hỏi phải có sự phấn đấu, hy sinh của nhiều lớp
người, nhiều thế hệ Trong mỗi bước đi lên, cách mạng
phải đối phó với muôn vàn biến đổi, đòi hỏi người cách
mạng phải sáng suốt, tỉnh táo, nhạy bén để thay đổi
cách thức ứng phó với những điều kiện lịch sử mà cuộc
đấu tranh đặt ra Chiến lược, sách lược cách mạng phải
linh hoạt, phù hợp: “ứng vạn biến” trong mỗi thời điểm,
điều kiện nhất định sao cho đạt được mục tiêu cuối
cùng đã xác định Phương pháp “Dĩ bất biến ứng vạn
biến” của Hồ Chí Minh hoàn toàn phù hợp với quan
điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin Trong đấu tranh cách
mạng phải giành cho được thắng lợi để từng bước tiến
lên, nhưng không phải chỉ biết mục tiêu trước mắt mà
quên mục tiêu lâu dài, cũng không thể hy sinh mục tiêu
lâu dài chỉ vì những mục tiêu trước mắt Trong đấu
tranh ngoại giao, có những lúc cần thỏa hiệp, nhân
nhượng, nhưng thỏa hiệp phải có nguyên tắc, không
được rời bỏ những vấn đề có tính nguyên tắc khi thương
lượng với kẻ thù Có nghĩa là phải xác định giới hạn của
nhân nhượng trong ngoại giao, đó là không được làm
tổn hại đến chủ quyền của quốc gia và lợi ích dân tộc
Năm 1946, Đảng ta khẳng định: “Tạm ước 14-9 là một
bước nhân nhượng cuối cùng Nhân nhượng nữa là
phạm đến chủ quyền của nước, là hại quyền lợi cao trọng của dân tộc”1 Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta
đã kiên quyết đấu tranh để có “ngoại giao riêng”, vì
“nếu quân đội và ngoại giao Việt Nam ở dưới quyền Pháp tức là Việt Nam chưa được độc lập hẳn và vẫn là thuộc địa của Pháp”2
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh
đã đánh giá đúng tình hình quốc tế và so sánh lực lượng
ở những thời điểm cụ thể để vận dụng sách lược một cách linh hoạt, mềm dẻo, giành thắng lợi từng bước Căn cứ vào thực lực cách mạng và tương quan lực lượng trong những thời điểm nhất định, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra những hình thức đấu tranh thích hợp, những sách lược phù hợp để tranh thủ mọi lực lượng có thể tranh thủ được trên trường quốc tế, ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, phương pháp “Dĩ bất biến ứng vạn biến” được thể hiện ở
nỗ lực tìm kiếm những cơ hội hòa bình trong mối quan
hệ với Pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau Cách mạng Tháng Tám Điều đó cũng đã thể hiện
rõ lập trường có tính nguyên tắc của nước ta trong giữ
_
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.148
2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.494
Trang 27gìn nền độc lập, hòa bình cho dân tộc, tránh nguy cơ
chiến tranh Hiệp định sơ bộ ngày 06/3/1946, Tạm ước
ngày 14/9/1946 được ký với Pháp trước thời điểm ta
buộc phải kháng chiến toàn quốc khi cơ hội hòa bình
cuối cùng không còn nữa là minh chứng điển hình
“Dĩ bất biến ứng vạn biến” còn là sự linh hoạt mềm
dẻo trong sách lược nhưng cũng phải thể hiện thái độ
kiên quyết và biết tận dụng mọi cơ hội để tấn công
ngoại giao Tháng 01/1966 trong thư gửi một số nước
có liên quan đến Hiệp định Giơnevơ, Hồ Chí Minh viết:
“Chính phủ Mỹ phải tuyên bố công nhận lập trường
bốn điểm của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa và chứng tỏ điều đó bằng những việc làm thực
sự”1 Tháng 01/1947, trong thư gửi tướng Lơcléc, Hồ
Chí Minh thể hiện thái độ quyết tâm và kiên quyết
trong việc giải quyết vấn đề Việt Nam với Pháp
“Chúng tôi đã nhất quyết ở trong khối Liên hiệp Pháp,
cộng tác thành thực với nước Pháp và tôn trọng quyền
lợi kinh tế, văn hóa Pháp trong nước chúng tôi Nhưng
chúng tôi cũng nhất quyết chiến đấu đến cùng cho độc
lập và thống nhất quốc gia”2
Trên thực tế, Hồ Chí Minh cũng đã biết tận dụng
mọi cơ hội để mở mặt trận ngoại giao tấn công kẻ thù
Ngay sau khi chiến thắng Điện Biên Phủ, chúng ta đã
đã được Hồ Chí Minh và Đảng vận dụng hết sức sáng tạo, linh hoạt để giành thắng lợi Nhân dân Việt Nam phải chấp nhận sự hy sinh mất mát và nhân nhượng để
có được hòa bình ở miền Bắc sau Hiệp định Giơnevơ
Nhưng nhờ cái “vạn biến” đó mà cách mạng Việt Nam
có điều kiện xây dựng hậu phương miền Bắc, chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến trường kỳ ở miền Nam
và sau này trở thành nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Trong bức thư gửi Tổng thống Mỹ ngày 15/02/1967, Hồ Chí Minh viết: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi rất thiết tha với độc lập, tự do và hòa bình con đường đưa đến hòa bình ở Việt Nam là Mỹ phải chấm dứt xâm lược ; phải rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam”1
Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, nguyên tắc này luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ
_
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.301
Trang 28gìn nền độc lập, hòa bình cho dân tộc, tránh nguy cơ
chiến tranh Hiệp định sơ bộ ngày 06/3/1946, Tạm ước
ngày 14/9/1946 được ký với Pháp trước thời điểm ta
buộc phải kháng chiến toàn quốc khi cơ hội hòa bình
cuối cùng không còn nữa là minh chứng điển hình
“Dĩ bất biến ứng vạn biến” còn là sự linh hoạt mềm
dẻo trong sách lược nhưng cũng phải thể hiện thái độ
kiên quyết và biết tận dụng mọi cơ hội để tấn công
ngoại giao Tháng 01/1966 trong thư gửi một số nước
có liên quan đến Hiệp định Giơnevơ, Hồ Chí Minh viết:
“Chính phủ Mỹ phải tuyên bố công nhận lập trường
bốn điểm của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa và chứng tỏ điều đó bằng những việc làm thực
sự”1 Tháng 01/1947, trong thư gửi tướng Lơcléc, Hồ
Chí Minh thể hiện thái độ quyết tâm và kiên quyết
trong việc giải quyết vấn đề Việt Nam với Pháp
“Chúng tôi đã nhất quyết ở trong khối Liên hiệp Pháp,
cộng tác thành thực với nước Pháp và tôn trọng quyền
lợi kinh tế, văn hóa Pháp trong nước chúng tôi Nhưng
chúng tôi cũng nhất quyết chiến đấu đến cùng cho độc
lập và thống nhất quốc gia”2
Trên thực tế, Hồ Chí Minh cũng đã biết tận dụng
mọi cơ hội để mở mặt trận ngoại giao tấn công kẻ thù
Ngay sau khi chiến thắng Điện Biên Phủ, chúng ta đã
đã được Hồ Chí Minh và Đảng vận dụng hết sức sáng tạo, linh hoạt để giành thắng lợi Nhân dân Việt Nam phải chấp nhận sự hy sinh mất mát và nhân nhượng để
có được hòa bình ở miền Bắc sau Hiệp định Giơnevơ
Nhưng nhờ cái “vạn biến” đó mà cách mạng Việt Nam
có điều kiện xây dựng hậu phương miền Bắc, chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến trường kỳ ở miền Nam
và sau này trở thành nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Trong bức thư gửi Tổng thống Mỹ ngày 15/02/1967, Hồ Chí Minh viết: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi rất thiết tha với độc lập, tự do và hòa bình con đường đưa đến hòa bình ở Việt Nam là Mỹ phải chấm dứt xâm lược ; phải rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam”1
Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, nguyên tắc này luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ
_
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.301
Trang 29Việt Nam vận dụng để chủ động đàm phán nhằm chấm
dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam vào năm 1975
“Dĩ bất biến ứng vạn biến” không chỉ được vận dụng
trong thực hiện ngoại giao với các nước xâm lược Việt
Nam trong quá trình tiến hành cách mạng mà còn được
thực hiện trong quan hệ ngoại giao với các nước trong
hệ thống xã hội chủ nghĩa và các nước khác trên thế
giới Hồ Chí Minh luôn có một nhận thức sâu sắc về
nhân tố quốc tế trong sự nghiệp giải phóng dân tộc
Người không chỉ đấu tranh cho dân tộc mình mà còn
đấu tranh cho các dân tộc khác Theo Hồ Chí Minh, cần
phải kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế
trong sáng; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời
đại để thành lập nên mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ
Việt Nam chống xâm lược, góp phần đưa mục tiêu cách
mạng đi tới thắng lợi cuối cùng
Tóm lại, phương pháp ngoại giao “Dĩ bất biến ứng
vạn biến” là phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh sử
dụng linh hoạt, xử lý thành công nhiều tình huống,
nhiều sự kiện có tính phương pháp luận trong hoạt
động ngoại giao của Người, góp phần đưa ngoại giao
Việt Nam từng bước tạo thế và lực làm thay đổi cục
diện chiến tranh và tương quan lực lượng có lợi cho ta
“Dĩ bất biến ứng vạn biến” không chỉ là một phương
châm hành động, mà còn là hạt nhân phép biện chứng
Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó xử lý linh hoạt, hiệu quả
mọi tình huống nhiệm vụ đặt ra
2 Phương pháp biết thắng từng bước
Biết thắng lợi từng bước là một trong những phương pháp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời cũng là phương pháp và nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh Phương pháp này được thể hiện rõ nhất trong đấu tranh giành chính quyền, trong giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc
Lê Duẩn cho rằng: Biết thắng từng bước cho đúng
có nghĩa là ở mỗi thời kỳ nhất định hay mỗi tình thế nhất định, biết đề ra được mục tiêu cụ thể sát hợp nhất, biết dựa theo quy luật khách quan mà điều khiển cuộc đấu tranh thế nào để thực hiện mục tiêu đó với mức thắng lợi tối đa, mở đường cho cách mạng tiến lên những bước mới cao hơn và tạo ra triển vọng chắc chắn nhất cho thắng lợi cuối cùng1
Phương pháp biết thắng từng bước có cơ sở lý luận
từ chủ nghĩa Mác - Lênin, đó là quan điểm phát triển biện chứng từ tuần tự đến nhảy vọt Trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam thường phải đối phó với kẻ thù mạnh hơn mình như: Các triều đại phong kiến Trung Hoa, thực dân Pháp, phátxít Nhật và đế quốc Mỹ Cũng có khi chúng ta cũng phải đối phó với nhiều kẻ thù cùng một lúc như
_
1 Xem Lê Duẩn: Tuyển tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2008, t 2, tr 565-566
Trang 30Việt Nam vận dụng để chủ động đàm phán nhằm chấm
dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam vào năm 1975
“Dĩ bất biến ứng vạn biến” không chỉ được vận dụng
trong thực hiện ngoại giao với các nước xâm lược Việt
Nam trong quá trình tiến hành cách mạng mà còn được
thực hiện trong quan hệ ngoại giao với các nước trong
hệ thống xã hội chủ nghĩa và các nước khác trên thế
giới Hồ Chí Minh luôn có một nhận thức sâu sắc về
nhân tố quốc tế trong sự nghiệp giải phóng dân tộc
Người không chỉ đấu tranh cho dân tộc mình mà còn
đấu tranh cho các dân tộc khác Theo Hồ Chí Minh, cần
phải kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế
trong sáng; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời
đại để thành lập nên mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ
Việt Nam chống xâm lược, góp phần đưa mục tiêu cách
mạng đi tới thắng lợi cuối cùng
Tóm lại, phương pháp ngoại giao “Dĩ bất biến ứng
vạn biến” là phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh sử
dụng linh hoạt, xử lý thành công nhiều tình huống,
nhiều sự kiện có tính phương pháp luận trong hoạt
động ngoại giao của Người, góp phần đưa ngoại giao
Việt Nam từng bước tạo thế và lực làm thay đổi cục
diện chiến tranh và tương quan lực lượng có lợi cho ta
“Dĩ bất biến ứng vạn biến” không chỉ là một phương
châm hành động, mà còn là hạt nhân phép biện chứng
Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó xử lý linh hoạt, hiệu quả
mọi tình huống nhiệm vụ đặt ra
2 Phương pháp biết thắng từng bước
Biết thắng lợi từng bước là một trong những phương pháp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời cũng là phương pháp và nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh Phương pháp này được thể hiện rõ nhất trong đấu tranh giành chính quyền, trong giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc
Lê Duẩn cho rằng: Biết thắng từng bước cho đúng
có nghĩa là ở mỗi thời kỳ nhất định hay mỗi tình thế nhất định, biết đề ra được mục tiêu cụ thể sát hợp nhất, biết dựa theo quy luật khách quan mà điều khiển cuộc đấu tranh thế nào để thực hiện mục tiêu đó với mức thắng lợi tối đa, mở đường cho cách mạng tiến lên những bước mới cao hơn và tạo ra triển vọng chắc chắn nhất cho thắng lợi cuối cùng1
Phương pháp biết thắng từng bước có cơ sở lý luận
từ chủ nghĩa Mác - Lênin, đó là quan điểm phát triển biện chứng từ tuần tự đến nhảy vọt Trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam thường phải đối phó với kẻ thù mạnh hơn mình như: Các triều đại phong kiến Trung Hoa, thực dân Pháp, phátxít Nhật và đế quốc Mỹ Cũng có khi chúng ta cũng phải đối phó với nhiều kẻ thù cùng một lúc như
_
1 Xem Lê Duẩn: Tuyển tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2008, t 2, tr 565-566
Trang 31giai đoạn 1945 - 1946 Do vậy, lấy ít địch nhiều, lấy
yếu chống mạnh, phương pháp hợp lý nhất, hiệu quả
nhất là giành thắng lợi từng bước để đi tới giành thắng
lợi hoàn toàn1
Để thực hiện mục tiêu cách mạng, giành thắng lợi
trước quân xâm lược, Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng
đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối độc lập
tự chủ, sáng tạo và đã lãnh đạo quân và dân nắm vững
tư tưởng chiến lược tiến công, đánh thắng địch từng
bước, tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ tiến lên giành thắng
lợi hoàn toàn Trong cách mạng giành thắng lợi từng
bước, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn là chủ trương
chiến lược đúng đắn, sáng tạo, thể hiện bản lĩnh, tầm
nhìn và nghệ thuật chỉ đạo chiến lược của Đảng
Hiệp định sơ bộ ngày 06/3 và Tạm ước ngày
14/9/1946 thể hiện rất rõ phương pháp giành thắng lợi
từng bước trên mặt trận ngoại giao Trên cơ sở giữ vững
độc lập tự chủ, linh hoạt trong đấu tranh, chủ động,
kiên quyết và khôn khéo, luôn hướng đích, việc nhân
nhượng này cho phép cách mạng trong những thời điểm
nguy nan của đất nước biến nghịch thành thuận, biến
những khả năng mỏng manh thành hiện thực có lợi cho
_
1 Xem Vũ Dương Huân: Một số vấn đề quan hệ quốc tế chính
sách đối ngoại và ngoại giao Việt Nam, Nxb Chính trị - Hành
chính quốc gia, Hà Nội, 2009, t.1, tr 45
cách mạng Nói cách khác, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nắm vững quy luật cách mạng, nắm vững thời và thế,
từ đó giành thắng lợi từng bước, đi từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao và đi tới thắng lợi cuối cùng
Thắng lợi ở Hội nghị Giơnevơ là thắng lợi trong cuộc đấu tranh ngoại giao bằng việc quán triệt sâu sắc các nghị quyết của Đảng, bằng đường lối đối ngoại độc lập,
tự chủ, bằng nội lực của dân tộc và sự khôn khéo, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của dư luận tiến bộ trên thế giới để có bước phá vây quốc tế có kết quả thuận lợi, tạo cục diện quốc tế có lợi cho nước ta trong một bối cảnh phức tạp lúc đó
Trong cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam dự tính cần thực hiện những bước đi phù hợp với điều kiện thực lực của cách mạng Việt Nam lúc đó Đảng đã chỉ đạo phát huy thế mạnh về chính trị, dựa vào sức mạnh to lớn là lực lượng chính trị của quần chúng Và thực tế lịch sử chứng tỏ đó là một chủ trương đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng
Căn cứ vào thắng lợi quân sự hai mùa khô 1965
-1966, 1966 - 1967 và trên cơ sở thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, cách mạng Việt Nam đã chủ động mở rộng mặt trận đấu tranh ngoại giao, buộc phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn phải
Trang 32giai đoạn 1945 - 1946 Do vậy, lấy ít địch nhiều, lấy
yếu chống mạnh, phương pháp hợp lý nhất, hiệu quả
nhất là giành thắng lợi từng bước để đi tới giành thắng
lợi hoàn toàn1
Để thực hiện mục tiêu cách mạng, giành thắng lợi
trước quân xâm lược, Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng
đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối độc lập
tự chủ, sáng tạo và đã lãnh đạo quân và dân nắm vững
tư tưởng chiến lược tiến công, đánh thắng địch từng
bước, tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ tiến lên giành thắng
lợi hoàn toàn Trong cách mạng giành thắng lợi từng
bước, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn là chủ trương
chiến lược đúng đắn, sáng tạo, thể hiện bản lĩnh, tầm
nhìn và nghệ thuật chỉ đạo chiến lược của Đảng
Hiệp định sơ bộ ngày 06/3 và Tạm ước ngày
14/9/1946 thể hiện rất rõ phương pháp giành thắng lợi
từng bước trên mặt trận ngoại giao Trên cơ sở giữ vững
độc lập tự chủ, linh hoạt trong đấu tranh, chủ động,
kiên quyết và khôn khéo, luôn hướng đích, việc nhân
nhượng này cho phép cách mạng trong những thời điểm
nguy nan của đất nước biến nghịch thành thuận, biến
những khả năng mỏng manh thành hiện thực có lợi cho
_
1 Xem Vũ Dương Huân: Một số vấn đề quan hệ quốc tế chính
sách đối ngoại và ngoại giao Việt Nam, Nxb Chính trị - Hành
chính quốc gia, Hà Nội, 2009, t.1, tr 45
cách mạng Nói cách khác, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nắm vững quy luật cách mạng, nắm vững thời và thế,
từ đó giành thắng lợi từng bước, đi từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao và đi tới thắng lợi cuối cùng
Thắng lợi ở Hội nghị Giơnevơ là thắng lợi trong cuộc đấu tranh ngoại giao bằng việc quán triệt sâu sắc các nghị quyết của Đảng, bằng đường lối đối ngoại độc lập,
tự chủ, bằng nội lực của dân tộc và sự khôn khéo, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của dư luận tiến bộ trên thế giới để có bước phá vây quốc tế có kết quả thuận lợi, tạo cục diện quốc tế có lợi cho nước ta trong một bối cảnh phức tạp lúc đó
Trong cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam dự tính cần thực hiện những bước đi phù hợp với điều kiện thực lực của cách mạng Việt Nam lúc đó Đảng đã chỉ đạo phát huy thế mạnh về chính trị, dựa vào sức mạnh to lớn là lực lượng chính trị của quần chúng Và thực tế lịch sử chứng tỏ đó là một chủ trương đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng
Căn cứ vào thắng lợi quân sự hai mùa khô 1965
-1966, 1966 - 1967 và trên cơ sở thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, cách mạng Việt Nam đã chủ động mở rộng mặt trận đấu tranh ngoại giao, buộc phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn phải
Trang 33ngồi vào bàn đàm phán tại Hội nghị Pari, mở ra giai
đoạn “vừa đánh vừa đàm” Thực hiện phương hướng
chiến lược mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra là “đánh
cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” và để biến phương
hướng chiến lược đó thành hiện thực, đồng thời với việc
tiếp tục đẩy mạnh tiến công quân sự, trong quá trình
đàm phán chúng ta chủ trương thiết lập tại miền Nam
một chính quyền liên hiệp ba thành phần, xem đó là
một bộ phận trong giải pháp buộc phía Mỹ phải chấp
nhận rút hết quân ra khỏi cuộc chiến, chấm dứt sự dính
líu quân sự của Mỹ ở Việt Nam Kết hợp chặt chẽ và
nhịp nhàng giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh
quân sự, đã triển khai và phát triển thế trận chiến
tranh nhân dân trên ba vùng chiến lược là rừng núi,
nông thôn, đồng bằng và đô thị, thực hành chiến lược
tiến công địch cả về chính trị, quân sự và ngoại giao;
đánh địch bằng phương thức kết hợp giữa chiến tranh
du kích và chiến tranh chính quy, chiến tranh nhân
dân địa phương với chiến tranh bằng các binh đoàn chủ
lực hợp thành
Bằng cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân, cách
mạng Việt Nam đã giáng cho địch một đòn chí mạng,
buộc đế quốc Mỹ phải đơn phương xuống thang chiến
tranh, ngừng ném bom miền Bắc, ngồi vào bàn đàm
phán, mở ra giai đoạn “vừa đánh vừa đàm” Đây là
thắng lợi bước đầu, nhưng có ý nghĩa chiến lược quan
trọng, góp phần làm cho hậu phương thêm vững chắc,
tiềm lực cách mạng được tăng cường và chi viện cho chiến trường miền Nam thêm thuận lợi Do đó yêu cầu chính của cách mạng Việt Nam là giữ vững những thắng lợi mới giành được và chuyển sang đấu tranh đòi
đế quốc Mỹ rút hết quân khỏi miền Nam Việt Nam Phương pháp ngoại giao giành thắng lợi từng bước, tiến tới thắng lợi hoàn toàn là phương pháp sáng tạo phù hợp của một nước nhỏ đối đầu với một nước lớn hùng mạnh, một quân đội nhà nghề, quân số đông, vũ khí hiện đại Nắm vững phương châm đánh lâu dài, tranh thủ thời cơ, làm suy yếu kẻ địch, giành thắng lợi từng bước, tiến lên đánh bại hoàn toàn ý chí xâm lược của địch Đó là một thành công trong chỉ đạo chiến lược, sách lược “biết người biết ta” Trong từng giai đoạn đấu tranh, để đánh bại âm mưu và thủ đoạn của kẻ thù, Đảng Cộng sản Việt Nam, trên cơ sở đánh giá khách quan, khoa học, phân tích rõ những điểm mạnh - yếu của địch và của ta để đề ra nhiệm vụ, mục tiêu cho phù hợp Đảng đã quán triệt tư tưởng chiến lược tiến công cho toàn quân, toàn dân, liên tục tiến công địch, liên tục tạo lực, tạo thế, nắm vững thời cơ, đánh bại từng biện pháp và kế hoạch chiến lược của địch Những bài học kinh nghiệm, đặc biệt là những nét đặc sắc trong nghệ thuật giành thắng lợi từng bước trên mặt trận ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh có giá trị sâu sắc trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng của Đảng và Nhân dân Việt Nam
Trang 34ngồi vào bàn đàm phán tại Hội nghị Pari, mở ra giai
đoạn “vừa đánh vừa đàm” Thực hiện phương hướng
chiến lược mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra là “đánh
cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” và để biến phương
hướng chiến lược đó thành hiện thực, đồng thời với việc
tiếp tục đẩy mạnh tiến công quân sự, trong quá trình
đàm phán chúng ta chủ trương thiết lập tại miền Nam
một chính quyền liên hiệp ba thành phần, xem đó là
một bộ phận trong giải pháp buộc phía Mỹ phải chấp
nhận rút hết quân ra khỏi cuộc chiến, chấm dứt sự dính
líu quân sự của Mỹ ở Việt Nam Kết hợp chặt chẽ và
nhịp nhàng giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh
quân sự, đã triển khai và phát triển thế trận chiến
tranh nhân dân trên ba vùng chiến lược là rừng núi,
nông thôn, đồng bằng và đô thị, thực hành chiến lược
tiến công địch cả về chính trị, quân sự và ngoại giao;
đánh địch bằng phương thức kết hợp giữa chiến tranh
du kích và chiến tranh chính quy, chiến tranh nhân
dân địa phương với chiến tranh bằng các binh đoàn chủ
lực hợp thành
Bằng cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân, cách
mạng Việt Nam đã giáng cho địch một đòn chí mạng,
buộc đế quốc Mỹ phải đơn phương xuống thang chiến
tranh, ngừng ném bom miền Bắc, ngồi vào bàn đàm
phán, mở ra giai đoạn “vừa đánh vừa đàm” Đây là
thắng lợi bước đầu, nhưng có ý nghĩa chiến lược quan
trọng, góp phần làm cho hậu phương thêm vững chắc,
tiềm lực cách mạng được tăng cường và chi viện cho chiến trường miền Nam thêm thuận lợi Do đó yêu cầu chính của cách mạng Việt Nam là giữ vững những thắng lợi mới giành được và chuyển sang đấu tranh đòi
đế quốc Mỹ rút hết quân khỏi miền Nam Việt Nam Phương pháp ngoại giao giành thắng lợi từng bước, tiến tới thắng lợi hoàn toàn là phương pháp sáng tạo phù hợp của một nước nhỏ đối đầu với một nước lớn hùng mạnh, một quân đội nhà nghề, quân số đông, vũ khí hiện đại Nắm vững phương châm đánh lâu dài, tranh thủ thời cơ, làm suy yếu kẻ địch, giành thắng lợi từng bước, tiến lên đánh bại hoàn toàn ý chí xâm lược của địch Đó là một thành công trong chỉ đạo chiến lược, sách lược “biết người biết ta” Trong từng giai đoạn đấu tranh, để đánh bại âm mưu và thủ đoạn của kẻ thù, Đảng Cộng sản Việt Nam, trên cơ sở đánh giá khách quan, khoa học, phân tích rõ những điểm mạnh - yếu của địch và của ta để đề ra nhiệm vụ, mục tiêu cho phù hợp Đảng đã quán triệt tư tưởng chiến lược tiến công cho toàn quân, toàn dân, liên tục tiến công địch, liên tục tạo lực, tạo thế, nắm vững thời cơ, đánh bại từng biện pháp và kế hoạch chiến lược của địch Những bài học kinh nghiệm, đặc biệt là những nét đặc sắc trong nghệ thuật giành thắng lợi từng bước trên mặt trận ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh có giá trị sâu sắc trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng của Đảng và Nhân dân Việt Nam
Trang 353 Phương pháp “thêm bạn, bớt thù”
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Sức mạnh,
sự vĩ đại và sự bền bỉ của nhân dân Việt Nam cơ bản
là ở sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam và sự ủng hộ
của nhân dân thế giới”1 Người đặt cách mạng Việt
Nam trong quỹ đạo cách mạng thế giới, tranh thủ tối
đa các lực lượng có thể, thêm bạn, bớt thù, mở rộng
đoàn kết quốc tế trên cơ sở độc lập tự chủ là chiến
lược, nguyên tắc ngoại giao cơ bản trong tư tưởng
ngoại giao Hồ Chí Minh
Phương pháp “thêm bạn, bớt thù” chỉ có thể thực
hiện trên cơ sở xác định đúng mâu thuẫn Từ nhận thức
đó sẽ giúp người cách mạng xác định đúng nhiệm vụ,
xác định chính xác những lực lượng nòng cốt của cách
mạng Với nhãn quan chính trị sắc bén và tinh thần
dân tộc cao cả, Hồ Chí Minh xác định mâu thuẫn xã hội
bằng cách đặt các quyền dân tộc cơ bản: độc lập, tự do,
toàn vẹn lãnh thổ lên trên hết Từ đó, Người nhận ra
mâu thuẫn chủ yếu, nổi bật trong xã hội Việt Nam luôn
là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thế
lực đế quốc xâm lược và vì vậy, kẻ thù chính yếu của
Nhân dân Việt Nam là đế quốc, thực dân cướp nước, áp
bức, bóc lột dân ta
_
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr 675
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn làm cách mạng thắng lợi thì phải phân biệt rõ ai là bạn, ai là thù, phải thực hiện thêm bầu bạn, bớt kẻ thù”1 Đó là nguyên tắc chung của mọi cuộc cách mạng, đối với một dân tộc nhỏ lại phải đối đầu với các kẻ thù mạnh và thâm độc thì việc làm cho nước mình ít kẻ thù hơn hết
và nhiều bạn đồng minh hơn hết càng trở nên cấp thiết Bên cạnh đó, phương pháp thêm bạn bớt thù còn hướng tới mục tiêu lớn hơn là góp phần tập hợp lực lượng cho cách mạng Việt Nam
Dựa trên đặc điểm thực tiễn cách mạng Việt Nam,
Hồ Chí Minh còn phát triển thêm những phương cách mới để tư tưởng “thêm bạn, bớt thù” của Người được vận dụng với những chủ trương hết sức linh hoạt và phong phú như lợi dụng mâu thuẫn trong nội bộ kẻ thù; nhân nhượng có nguyên tắc để lôi kéo đồng minh; phân biệt chính phủ hiếu chiến với nhân dân yêu chuộng hòa bình của nước đối phương; độ lượng, khoan dung, lôi kéo những người con của dân tộc đã lầm lạc đi theo đế quốc Như vậy, đối với Hồ Chí Minh, “thêm bạn, bớt thù” vừa là tư tưởng, vừa là phương pháp đã đạt tới trình độ nghệ thuật để mang lại những hiệu quả to lớn Điều này đã đưa Người trở thành một nhà ngoại giao kiệt xuất đầy trí tuệ và bản lĩnh Có thể hiểu
_
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr 453
Trang 363 Phương pháp “thêm bạn, bớt thù”
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Sức mạnh,
sự vĩ đại và sự bền bỉ của nhân dân Việt Nam cơ bản
là ở sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam và sự ủng hộ
của nhân dân thế giới”1 Người đặt cách mạng Việt
Nam trong quỹ đạo cách mạng thế giới, tranh thủ tối
đa các lực lượng có thể, thêm bạn, bớt thù, mở rộng
đoàn kết quốc tế trên cơ sở độc lập tự chủ là chiến
lược, nguyên tắc ngoại giao cơ bản trong tư tưởng
ngoại giao Hồ Chí Minh
Phương pháp “thêm bạn, bớt thù” chỉ có thể thực
hiện trên cơ sở xác định đúng mâu thuẫn Từ nhận thức
đó sẽ giúp người cách mạng xác định đúng nhiệm vụ,
xác định chính xác những lực lượng nòng cốt của cách
mạng Với nhãn quan chính trị sắc bén và tinh thần
dân tộc cao cả, Hồ Chí Minh xác định mâu thuẫn xã hội
bằng cách đặt các quyền dân tộc cơ bản: độc lập, tự do,
toàn vẹn lãnh thổ lên trên hết Từ đó, Người nhận ra
mâu thuẫn chủ yếu, nổi bật trong xã hội Việt Nam luôn
là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thế
lực đế quốc xâm lược và vì vậy, kẻ thù chính yếu của
Nhân dân Việt Nam là đế quốc, thực dân cướp nước, áp
bức, bóc lột dân ta
_
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr 675
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn làm cách mạng thắng lợi thì phải phân biệt rõ ai là bạn, ai là thù, phải thực hiện thêm bầu bạn, bớt kẻ thù”1 Đó là nguyên tắc chung của mọi cuộc cách mạng, đối với một dân tộc nhỏ lại phải đối đầu với các kẻ thù mạnh và thâm độc thì việc làm cho nước mình ít kẻ thù hơn hết
và nhiều bạn đồng minh hơn hết càng trở nên cấp thiết Bên cạnh đó, phương pháp thêm bạn bớt thù còn hướng tới mục tiêu lớn hơn là góp phần tập hợp lực lượng cho cách mạng Việt Nam
Dựa trên đặc điểm thực tiễn cách mạng Việt Nam,
Hồ Chí Minh còn phát triển thêm những phương cách mới để tư tưởng “thêm bạn, bớt thù” của Người được vận dụng với những chủ trương hết sức linh hoạt và phong phú như lợi dụng mâu thuẫn trong nội bộ kẻ thù; nhân nhượng có nguyên tắc để lôi kéo đồng minh; phân biệt chính phủ hiếu chiến với nhân dân yêu chuộng hòa bình của nước đối phương; độ lượng, khoan dung, lôi kéo những người con của dân tộc đã lầm lạc đi theo đế quốc Như vậy, đối với Hồ Chí Minh, “thêm bạn, bớt thù” vừa là tư tưởng, vừa là phương pháp đã đạt tới trình độ nghệ thuật để mang lại những hiệu quả to lớn Điều này đã đưa Người trở thành một nhà ngoại giao kiệt xuất đầy trí tuệ và bản lĩnh Có thể hiểu
_
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr 453
Trang 37phương pháp ngoại giao “thêm bạn, bớt thù” bao gồm
những nội dung cơ bản sau:
Một là, để “thêm bạn, bớt thù” phải biết lợi dụng
triệt để mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù là chủ
trương, biện pháp quan trọng mà Hồ Chí Minh đã thực
hiện Bài học về lợi dụng mâu thuẫn của kẻ thù để phân
hóa kẻ thù sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mà
Hồ Chí Minh chỉ đạo, thực hiện là một minh chứng sinh
động trong lịch sử ngoại giao Việt Nam
Sau Cách mạng Tháng Tám, các thế lực đế quốc
Mỹ, Tưởng, Anh, Pháp lợi dụng danh nghĩa quân Đồng
minh vào tước khí giới phátxít Nhật để thực hiện mưu
đồ đen tối của chúng là loại bỏ chính quyền nhân dân
của Việt Nam, thành lập chính quyền tay sai của
chúng, biến nước Việt Nam thành thuộc địa của chúng
Hai mươi vạn quân Tưởng vào nước ta mang theo bè lũ
tay sai phản động Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt
Quốc) và Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội (Việt
Cách) Nhìn rõ mâu thuẫn giữa hai tập đoàn đế quốc
là Anh - Pháp và Mỹ - Tưởng, chỉ trong vòng hơn một
năm, nền ngoại giao non trẻ Việt Nam dưới sự chèo lái
của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện các sách lược
ngoại giao khác nhau, thậm chí trái ngược nhau như
lúc thì hòa với quân Tưởng để tập trung chống thực
dân Pháp ở miền Nam (từ tháng 8/1945 đến tháng
3/1946), lúc thì hòa với thực dân Pháp để đuổi quân
Tưởng về nước (từ tháng 3/1946 đến tháng 12/1946)
Trước tình thế phải đối phó với nhiều kẻ thù có ưu thế hơn ta rất nhiều về kinh tế và quân sự, Hồ Chí Minh đã thấy rõ những điểm mạnh và điểm yếu của chúng và khẳng định: chỗ mạnh của địch chỉ là tạm thời, chỗ yếu của chúng mới là cơ bản Hàng ngũ của chúng đang bị những mâu thuẫn gay gắt xâu xé, mâu thuẫn trong việc tranh giành những thuộc địa đã mất, mâu thuẫn giữa các nước đế quốc với nhau và mâu thuẫn ngay trong bản thân mỗi kẻ thù Ở Đông Dương,
sự mâu thuẫn giữa hai phe Đồng minh Anh - Pháp và
Mỹ - Tưởng là một vấn đề cách mạng Việt Nam có thể lợi dụng
Phân tích mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù để phân hóa chúng, để tránh phải đối phó với nhiều kẻ thù (Tưởng, Pháp, Anh, Mỹ), Hồ Chí Minh đã đưa ra đối sách sáng tạo, mềm dẻo, theo phương châm làm cho mình ít kẻ thù hơn hết và nhiều bạn đồng minh hơn hết Muốn vậy thì phải biết đàm phán, thương lượng Theo nhận định của Hồ Chí Minh, kẻ thù chủ yếu trước mắt của cách mạng Việt Nam là thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng và phải đặt riêng bọn thực dân Pháp xâm lược ra một bên
mà đánh, đừng bỏ cả Anh, Pháp vào một bị và đừng coi
họ là một kẻ thù ngang nhau Đối với Anh, Mỹ, Tưởng thì tránh xung đột, giao thiệp thân thiện Đối với bọn tay sai của Tưởng, một mặt Hồ Chí Minh vừa mềm dẻo thuyết phục, tranh thủ những người có xu hướng yêu
Trang 38phương pháp ngoại giao “thêm bạn, bớt thù” bao gồm
những nội dung cơ bản sau:
Một là, để “thêm bạn, bớt thù” phải biết lợi dụng
triệt để mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù là chủ
trương, biện pháp quan trọng mà Hồ Chí Minh đã thực
hiện Bài học về lợi dụng mâu thuẫn của kẻ thù để phân
hóa kẻ thù sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mà
Hồ Chí Minh chỉ đạo, thực hiện là một minh chứng sinh
động trong lịch sử ngoại giao Việt Nam
Sau Cách mạng Tháng Tám, các thế lực đế quốc
Mỹ, Tưởng, Anh, Pháp lợi dụng danh nghĩa quân Đồng
minh vào tước khí giới phátxít Nhật để thực hiện mưu
đồ đen tối của chúng là loại bỏ chính quyền nhân dân
của Việt Nam, thành lập chính quyền tay sai của
chúng, biến nước Việt Nam thành thuộc địa của chúng
Hai mươi vạn quân Tưởng vào nước ta mang theo bè lũ
tay sai phản động Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt
Quốc) và Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội (Việt
Cách) Nhìn rõ mâu thuẫn giữa hai tập đoàn đế quốc
là Anh - Pháp và Mỹ - Tưởng, chỉ trong vòng hơn một
năm, nền ngoại giao non trẻ Việt Nam dưới sự chèo lái
của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện các sách lược
ngoại giao khác nhau, thậm chí trái ngược nhau như
lúc thì hòa với quân Tưởng để tập trung chống thực
dân Pháp ở miền Nam (từ tháng 8/1945 đến tháng
3/1946), lúc thì hòa với thực dân Pháp để đuổi quân
Tưởng về nước (từ tháng 3/1946 đến tháng 12/1946)
Trước tình thế phải đối phó với nhiều kẻ thù có ưu thế hơn ta rất nhiều về kinh tế và quân sự, Hồ Chí Minh đã thấy rõ những điểm mạnh và điểm yếu của chúng và khẳng định: chỗ mạnh của địch chỉ là tạm thời, chỗ yếu của chúng mới là cơ bản Hàng ngũ của chúng đang bị những mâu thuẫn gay gắt xâu xé, mâu thuẫn trong việc tranh giành những thuộc địa đã mất, mâu thuẫn giữa các nước đế quốc với nhau và mâu thuẫn ngay trong bản thân mỗi kẻ thù Ở Đông Dương,
sự mâu thuẫn giữa hai phe Đồng minh Anh - Pháp và
Mỹ - Tưởng là một vấn đề cách mạng Việt Nam có thể lợi dụng
Phân tích mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù để phân hóa chúng, để tránh phải đối phó với nhiều kẻ thù (Tưởng, Pháp, Anh, Mỹ), Hồ Chí Minh đã đưa ra đối sách sáng tạo, mềm dẻo, theo phương châm làm cho mình ít kẻ thù hơn hết và nhiều bạn đồng minh hơn hết Muốn vậy thì phải biết đàm phán, thương lượng Theo nhận định của Hồ Chí Minh, kẻ thù chủ yếu trước mắt của cách mạng Việt Nam là thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng và phải đặt riêng bọn thực dân Pháp xâm lược ra một bên
mà đánh, đừng bỏ cả Anh, Pháp vào một bị và đừng coi
họ là một kẻ thù ngang nhau Đối với Anh, Mỹ, Tưởng thì tránh xung đột, giao thiệp thân thiện Đối với bọn tay sai của Tưởng, một mặt Hồ Chí Minh vừa mềm dẻo thuyết phục, tranh thủ những người có xu hướng yêu
Trang 39nước; mặt khác buộc bọn cầm đầu phải chấp nhận hòa
hoãn, kiên quyết ngăn chặn những hành động phá hoại
của chúng
Sau này, tại Đại hội III của Đảng (năm 1960), Hồ
Chí Minh và Đảng Lao động Việt Nam xác định: Lợi
dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù là một nguyên
tắc chiến lược chứ không chỉ là vấn đề sách lược1 Từ
đó, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng
đưa ra chủ trương: “Đoàn kết bất cứ người nào có thể
đoàn kết được, tranh thủ bất cứ người nào có thể tranh
thủ được, trung lập bất cứ người nào có thể trung lập,
cốt nhằm phân hóa và cô lập kẻ thù, kiếm thêm nhiều
bạn cả trong nước và ngoài nước”2 Thực hiện chủ
trương đó, Đảng Lao động Việt Nam đã đưa ra những
biện pháp khéo léo nhằm khoét sâu mâu thuẫn giữa đế
quốc Mỹ và các đồng minh của họ; giữa Mỹ với các
nước phụ thuộc; giữa Mỹ và chính quyền tay sai ở
miền Nam Việt Nam Cuối cùng, Mỹ buộc phải chấp
nhận xuống thang chiến tranh, đưa đến cuộc kháng
chiến của Nhân dân Việt Nam giành thắng lợi hoàn
toàn vào năm 1975
_
1 Xem Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính
trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - thắng lợi và
bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.258
2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.16,
tr.187
Hai là, thực hiện “thêm bạn, bớt thù”, phải biết thỏa
hiệp, biết nhân nhượng để giữ vững lực lượng, lôi kéo đồng minh Trong giai đoạn 1945 - 1946, để hòa hoãn với quân Tưởng ở miền Bắc khi cần tập trung chống thực dân Pháp ở miền Nam, Hồ Chí Minh đã sử dụng các biện pháp tổng hợp như tiến hành các cuộc tiếp xúc ngoại giao với tinh thần trọng thị và chấp nhận nhân nhượng cho quân Tưởng một số quyền lợi về kinh tế, chính trị và quân sự Chỉ 8 ngày sau khi Tưởng và Pháp ký Hiệp ước Trùng Khánh (ngày 28/02/1946), Hồ Chí Minh đã ký kết Hiệp định sơ bộ ngày 06/3/1946 với Pháp trên tinh thần “cương quyết giữ quyền độc lập” nhưng liên minh với Pháp, nhân nhượng cho Pháp một
số quyền lợi về kinh tế, văn hóa để Pháp phải thừa nhận quyền dân tộc tự quyết của ta
Để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ đã diễn ra trên mọi mặt trận Điển hình như tại Hội nghị Pari, trong hơn 4 năm (từ tháng 5/1968 đến tháng 10/1972), quan điểm giữa Việt Nam và Mỹ hoàn toàn đối chọi nhau về hai vấn đề:
Việt Nam đòi Mỹ rút quân và phế bỏ chính quyền tay
sai của Mỹ để nhân dân miền Nam tự lựa chọn chính
quyền của mình; Mỹ đòi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
và Mỹ cùng rút quân khỏi miền Nam Việt Nam và giữ
lại chính quyền Nguyễn Văn Thiệu Sự đối lập gay gắt
về quan điểm làm cuộc đàm phán nhiều lúc rơi vào tình trạng “giậm chân tại chỗ” Đến tháng 10/1972 do những
Trang 40nước; mặt khác buộc bọn cầm đầu phải chấp nhận hòa
hoãn, kiên quyết ngăn chặn những hành động phá hoại
của chúng
Sau này, tại Đại hội III của Đảng (năm 1960), Hồ
Chí Minh và Đảng Lao động Việt Nam xác định: Lợi
dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù là một nguyên
tắc chiến lược chứ không chỉ là vấn đề sách lược1 Từ
đó, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng
đưa ra chủ trương: “Đoàn kết bất cứ người nào có thể
đoàn kết được, tranh thủ bất cứ người nào có thể tranh
thủ được, trung lập bất cứ người nào có thể trung lập,
cốt nhằm phân hóa và cô lập kẻ thù, kiếm thêm nhiều
bạn cả trong nước và ngoài nước”2 Thực hiện chủ
trương đó, Đảng Lao động Việt Nam đã đưa ra những
biện pháp khéo léo nhằm khoét sâu mâu thuẫn giữa đế
quốc Mỹ và các đồng minh của họ; giữa Mỹ với các
nước phụ thuộc; giữa Mỹ và chính quyền tay sai ở
miền Nam Việt Nam Cuối cùng, Mỹ buộc phải chấp
nhận xuống thang chiến tranh, đưa đến cuộc kháng
chiến của Nhân dân Việt Nam giành thắng lợi hoàn
toàn vào năm 1975
_
1 Xem Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính
trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - thắng lợi và
bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.258
2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.16,
tr.187
Hai là, thực hiện “thêm bạn, bớt thù”, phải biết thỏa
hiệp, biết nhân nhượng để giữ vững lực lượng, lôi kéo đồng minh Trong giai đoạn 1945 - 1946, để hòa hoãn với quân Tưởng ở miền Bắc khi cần tập trung chống thực dân Pháp ở miền Nam, Hồ Chí Minh đã sử dụng các biện pháp tổng hợp như tiến hành các cuộc tiếp xúc ngoại giao với tinh thần trọng thị và chấp nhận nhân nhượng cho quân Tưởng một số quyền lợi về kinh tế, chính trị và quân sự Chỉ 8 ngày sau khi Tưởng và Pháp ký Hiệp ước Trùng Khánh (ngày 28/02/1946), Hồ Chí Minh đã ký kết Hiệp định sơ bộ ngày 06/3/1946 với Pháp trên tinh thần “cương quyết giữ quyền độc lập” nhưng liên minh với Pháp, nhân nhượng cho Pháp một
số quyền lợi về kinh tế, văn hóa để Pháp phải thừa nhận quyền dân tộc tự quyết của ta
Để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ đã diễn ra trên mọi mặt trận Điển hình như tại Hội nghị Pari, trong hơn 4 năm (từ tháng 5/1968 đến tháng 10/1972), quan điểm giữa Việt Nam và Mỹ hoàn toàn đối chọi nhau về hai vấn đề:
Việt Nam đòi Mỹ rút quân và phế bỏ chính quyền tay
sai của Mỹ để nhân dân miền Nam tự lựa chọn chính
quyền của mình; Mỹ đòi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
và Mỹ cùng rút quân khỏi miền Nam Việt Nam và giữ
lại chính quyền Nguyễn Văn Thiệu Sự đối lập gay gắt
về quan điểm làm cuộc đàm phán nhiều lúc rơi vào tình trạng “giậm chân tại chỗ” Đến tháng 10/1972 do những