1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Báo cáo tổng hợp kết quả điều tra khảo sát htx nn năm 2007

22 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo tổng hợp kết quả điều tra khảo sát HTX NN năm 2007
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý Nông nghiệp
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 76,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ubnd thµnh phè hµ néi BÁO CÁO Tổng hợp kết quả điều tra khảo sát HTX NN năm 2007 Nông nghiệp là ngành sản xuất có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Trong những năm gần đây sản xuất[.]

Trang 1

BÁO CÁOTổng hợp kết quả điều tra khảo sát HTX NN năm 2007

Nông nghiệp là ngành sản xuất có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh

tế quốc dân Trong những năm gần đây sản xuất nông nghiệp đã đạt được nhữngthành tựu đáng khích lệ, sản lượng lương thực tăng nhanh, không chỉ đáp ứng nhucầu trong nước mà còn xuất khẩu, sản phẩm các loại cây công nghiệp cũng tănglên đáng kể Mặt hàng thủy sản, chăn nuôi các loại cũng đang chiếm tỷ trọng lớntrong nông sản xuất khẩu của cả nước Những thành tựu đó là kết quả nỗ lực củangành nông nghiệp mà trực tiếp là các cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp trên

cả nước trong đó hợp tác xã nông nghiệp đóng một vai trò hết sức quan trọng Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, hợp tác xã nông nghiệp đã và đang tồn tạimột cách khách quan trong nền nông nghiệp Việt Nam Qua quá trình hình thành

và phát triển lâu dài với nhiều thăng trầm, hợp tác xã nông nghiệp vẫn thể hiện làmột hình thức làm ăn tập thể có vai trò quan trọng trong việc củng cố và hoànthiện quan hệ sản xuất trong nông nghiệp Trong quá trình chuyển đổi, một sốHTX đã tổ chức lại bộ máy quản lý gọn nhẹ, phù hợp với yêu cầu hoạt động, tạolập tư cách pháp nhân để tiến hành sản xuất kinh doanh và đã đạt được một số kếtquả nhất định Tuy nhiên, các hợp tác xã nông nghiệp hiện nay vẫn còn gặp nhiềukhó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh do cơ sở hạ tầng xuống cấp, thiếuvốn sản xuất kinh doanh, nợ đọng trong xã viên còn nhiều, đất đai là tư liệu sảnxuất chính của xã viên ngày càng giảm do quá trình đô thị hoá, trình độ đội ngũcán bộ quản lý hợp tác xã nông nghiệp còn yếu, khả năng nắm bắt thông tin thịtrường kém Nhiều mô hình hợp tác xã có số lượng xã viên lớn làm ăn không cóhiệu quả vẫn còn tồn tại Xuất phát từ thực tế đó, Chi cục HTX và PTNT Hà Nộitiến hành điều tra, khảo sát đánh giá thực trạng hoạt động của các hợp tác xã nôngnghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội để đề xuất các giải pháp hỗ trợ các HTXnông nghiệp phát triển

Trang 3

Theo hướng dẫn của Sở Nông nghiệp và PTNT Hà Nội về phân loại HTX vàtổng hợp từ phiếu điều tra cho thấy: trong 318 HTX hiện có 116 HTX xếp loại khá(36,48%); 155 HTX trung bình (48,74%); 47 HTX yếu (14,78%) Theo địa giớihành chính, có 87 HTX toàn xã, 14 HTX liên thôn và 217 HTX có quy mô thôn.Hiện tại, các HTX có 153.098 xã viên, trong đó số xã viên từ các HTX cũchuyển sang là 142.243, xã viên mới 10.855 (bao gồm các HTX mới thành lập và

xã viên tham gia thêm vào các HTX chuyển đổi) Số HTX có tổng xã viên trên

200 có 196 HTX, trong đó có 41 HTX có hơn 1.000 xã viên (Cổ Nhuế - Từ Liêm2.800, Mai Đình – Sóc Sơn 2.286, Hồng Kỳ 2.300, NNDVTH VN-MC- Tây Hồ2.701, Uy Nỗ - Đông Anh 2.385) Trên thực tế, xã viên các HTX này thường làđại diện các hộ mà HTX làm một số loại dịch vụ trên đất các hộ được giao theoNghị định 64/NĐ-CP, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các HTX nàyrất thấp, nhiều loại hình dịch vụ bị lỗ (dịch vụ thuỷ lợi, dịch vụ thú y…)

1.2 Bộ máy quản lý và trình độ cán bộ quản lý của các HTX

Trong quá trình chuyển đổi, nhiều HTX đã tổ chức lại bộ máy quản lý gọn

nhẹ, theo mô hình HTX kiểu mới phù hợp với yêu cầu và tình hình thực tế

Sơ đồ bộ máy tổ chức của HTX nông nghiệp

Đại hội xã viên

Ban quản lý

HTX

Tổ, độiSXKD

Hộ nông dân

Ban Kiểm soát

Tổ chức cá nhân

Trang 4

Bảng 2: Tình hình đội ngũ cán bộ quản lý HTX NN năm 2006

Diễn giải Chủ nhiệm nhiệm P.chủ Trưởng K.soát Kế toán Tổng

Theo kết quả điều tra, các HTX hoạt động tốt hay chỉ tồn tại hình thức đều

có chủ nhiệm, 29 HTX không có P.chủ nhiệm, 11 HTX không có trưởng kiểmsoát, 05 HTX không có kế toán Qua phỏng vấn chủ nhiệm các HTX không cóP.chủ nhiệm, trưởng kiểm soát, kế toán cho thấy: các HTX đó chỉ tồn tại hình thứchoặc đang chờ giải thể nên một số vị trí công tác trong HTX có hay không cũngkhông ảnh hưởng tới hoạt động của HTX

Trình độ đội ngũ cán bộ quản lý HTX thấp và yếu về chuyên môn, trongtổng số 1.227 cán bộ HTX có 88 người có trình độ đại học (7,20%), 07 người cótrình độ cao đẳng (0,6%), 315 người có trình độ trung cấp (25,70%), 817 người cótrình độ từ cấp I - cấp III (66,5%)

Để HTX nông nghiệp có thể phát triển được trong thời gian tới Thành phốcần có chính sách hỗ trợ đào tạo cho cán bộ các hợp tác xã hợp lý và thu hút cán

bộ trẻ có năng lực, trình độ điều hành quản lý HTX

1.3.Đất đai của các HTX

Đất đai của hợp tác xã hiện nay hầu như là không có, chỉ có một số HTX

có đất chuyên dùng: như trụ sở, trạm bơm, kho, bãi… hiện nay mới có 21 HTXđược cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Đất nông nghiệp do UBND xã quản

lý, xã viên và các hộ nông dân tự chủ sản xuất trên đất của họ, hợp tác xã chỉ làm

Trang 5

dịch vụ cho xã viên trên diện tích đất đó Một số HTX mới thành lập như các HTXsản xuất và tiêu thụ rau an toàn, các xã viên của HTX tự nguyện góp đất thành mộtvùng chuyên canh sản xuất rau mang lại hiệu quả cao.

Trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp hoá hiện nay, diện tích đấtnông nghiệp ngày càng bị thu hẹp để xây dựng các khu công nghiệp hay quyhoạch đô thị … Vì vậy, trong tương lai ngoài việc quy hoạch vùng sản xuất nôngnghiệp ổn định còn phải sử dụng đất một cách tiết kiệm và có hiệu quả

1.4.Vốn và công nợ của các HTX

1.4.1 Vốn của các HTX

Cùng với đất đai, vốn được coi là điều kiện quan trọng trước tiên cho các hoạtđộng dịch vụ sản xuất kinh doanh của các HTX Tuy nhiên vốn của các HTX xã hiệnnay không nhiều, hoặc tồn tại trên sổ sách (nợ khó đòi trong dân)

Trang 6

Vốn cố định của các HTX hiện nay chủ yếu do các HTX cũ chuyển đổi bàngiao cho bao gồm: hệ thống kênh mương nội đồng, một số nhà kho, sân phơi, trạmbơm cũ nát Nói chung, tình hình tài chính của các HTX hiện nay chỉ có các HTXmới được thành lập trên cơ sở nhu cầu thực tế cần hợp tác và một số ít các HTXmạnh dạn mở rộng dịch vụ, kinh doanh ngoài các dịch vụ nông nghiệp mới có tàichính lành mạnh, còn lại vốn, quỹ của đa số các HTX chỉ tồn tại trên sổ sách.

Qua trao đổi, phỏng vấn trực tiếp lãnh đạo một số HTX cho thấy: số vốn,quỹ trên được bàn giao cho ban chủ nhiệm từ nhiệm kỳ này qua nhiệm kỳ kháctrên giấy, thực tế nhiều HTX lượng vốn, quỹ không đáng kể

1.4.2 Tình hình công nợ của các HTX tính đến 2006

Đa số các HTX nông nghiệp trên địa bàn đều có nguồn nợ phải thu và phảitrả tương đối lớn, tình hình công nợ của các HTX được thể hiện qua bảng 4

Trang 7

Bảng 4: Công nợ của các HTX năm 2006

Mặc dù chỉ có 32 HTX nhưng tổng số nợ phải thu của các HTX thuộchuyện Từ Liêm cao nhất thành phố: 15.531,800 triệu đồng, trung bình mỗi HTX

Trang 8

phải thu 485,369 triệu Trong số 48.009,419 triệu phải thu có tới 23.231,619 triệu(48,39%) do các HTX cũ bàn giao lại đây là số nợ khó đòi đã tồn tại nhiều nămtrong dân, có khi chủ nợ đã chết từ lâu nhưng số nợ này vẫn tồn tại trên sổ kế toáncủa các HTX

Do số nợ phải thu tương đối lớn nên hiện tại các HTX phải trả 37.968,637triệu đồng, trung bình mỗi HTX phải trả 119,398 triệu Tuy nhiên, nhiều HTXkhông có nợ (159 HTX bằng 50%), các HTX mới thành lập do làm ăn có lãi, tiềncông trả cho xã viên cao, nhiều HTX đã đóng góp một lượng thuế đáng kể chongân sách (điển hình là HTX DVTH Bình Minh – Đông Anh năm 2006 đã đóngthuế 150 triệu đồng) nên cơ bản không có nợ Trong tổng số 318 HTX có 23 HTX

có số dư nợ trên 500 triệu đồng, đặc biệt có 03 HTX có nợ trên 01 tỷ đồng (HTXDVNN&KDTH Núi Đôi – Sóc Sơn: 1.179 triệu, HTX DVTH Khuyến Lương - :1.221,5, HTX DVNN Cổ Điển A- Thanh Trì: 1.086,3 triệu) Số HTX xin nhà nướcxóa nợ gồm 28 HTX với tổng nợ xin xóa là 1.851,4 triệu đồng, nhiều nhất là HTXDịch vụ nông nghiệp Yên Mỹ - Thanh Trì: 356,4 triệu; HTX dịch vụ Điện – Thủylợi Cổ Loa – Đông Anh: 276 triệu Số nợ trên chủ yếu các HTX nợ tiền phí thủylợi phí từ nhiều năm tồn lại Vì vậy, Thành phố cần rà soát, xem xét xóa nợ chocác HTX trên

1.5.Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các HTX NN

Bảng 5: kết quả sản xuất kinh doanh của các HTX năm 2006

ĐVT: 1.000 đồng

Dịch vụ nông nghiệp 65 942456 20.4 1 60 094100 20.1 6 5 848356 23.42Dịch vụ điện 152 717852 47.2 7 143 548849 48.1 6 9 169003 36.72Dịch vụ dân sinh 12 283345 3.80 10 536624 3.53 1 746721 7.00Dịch vụ khác 92 113938 28.5 1 83 909588 28.1 5 8 204350 32.86

Tổng 323 057 591 100. 00 298 089 161 100. 00 24 968 430 100.0 0

Trang 9

Tổng thu từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của các HTX năm 2006 đạt323.057,591 triệu đồng, trung bình mỗi HTX thu được 1.015.904.000 đồng, trong

đó dịch vụ điện có doanh thu lớn nhất (47,27%), dịch vụ nông nghiệp với 4-5 loạidịch vụ (bảo vệ đồng ruộng, thuỷ lợi, làm đất, bảo vệ thực vật, thú y…) cũng chỉchiếm 20,41% tổng thu của các HTX Mặc dù có tổng thu tương đối lớn nhưngtrung bình năm 2006 mỗi HTX cũng chỉ lãi 78.517.000 đồng (có 258 HTX làm ăn

có lãi, còn lại là hòa và thua lỗ)

1.5.1 Kết quả kinh doanh dịch vụ nông nghiệp

Trong tổng số 318 HTX nông nghiệp có 282 HTX (88,64%) thực hiện cácdịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp như: dịch vụ tưới tiêu, dịch vụ bảo vệ đồngruộng, dịch vụ bảo vệ thực vật, dịch vụ thú ý, dịch vụ làm đất….Nhìn chung, cácdịch vụ này mang lại lợi nhuận thấp, kết quả kinh doanh các loại hình dịch vụnông nghiệp của các HTX được thể hiện qua bảng 6

Bảng 6: Kết quả sản xuất kinh doanh từ các dịch vụ nông nghiệp năm 2006

Trang 10

HTX nông nghiệp sản xuất kinh doanh các dịch vụ nông nghiệp hiệu quả, trungbình 1 HTX ở huyện Từ Liêm lãi hơn 53 triệu đồng/năm (điển hình là HTX NN vàKDTH Thống Nhất năm 2006 tổng lãi từ các dịch vụ nông nghiệp bằng 1.076.678nghìn đồng trong đó lãi từ dịch vụ nuôi trồng thuỷ sản là 425,680 triệu đồng, lãi từvườn cây ăn quả, giống cây trồng là 63 triệu đồng Đây là mô hình cần đượcnghiên cứu nhân rộng và phát triển tại các huyện ngoại thành khác trên địa bàn.Tuy nhiên, các dịch vụ nông nghiệp tại hai huyện Sóc Sơn và quận Long Biênnăm 2006 lỗ (Sóc Sơn lỗ 234, 522 triệu, Long Biên lỗ 157,205 triệu) Nguyênnhân là do các HTX kinh doanh dịch vụ này chủ yếu phục vụ xã viên, phí thu từcác dịch vụ này thấp

1.5.2 Kết quả kinh doanh dịch vụ điện

Bảng 7: Kết quả kinh doanh dịch vụ điện của các HTX năm 2006

Trang 11

Tính đến hết năm 2006 chỉ còn 204 HTX (64%), đến tháng 9 năm 2007 các HTXhầu như đã chuyển giao hết hệ thống chỉ còn một vài hợp tác xã chưa chuyển giao,

do vướng mắc trong khâu tính lại tài sản cố định (trạm biến áp, đường điện…).Qua đây cho thấy, các HTX hiện tại gặp rất nhiều khó khăn do 36,72% lãi thuđược từ dịch vụ điện hiện không còn, vì vậy cần có chính sách hỗ trợ để các HTX

có thể chuyển sang các loại hình kinh doanh dịch vụ khác ổn định

1.5.3 Kết quả sản xuất kinh doanh dịch vụ dân sinh

Ngoài các dịch vụ phục vụ đầu vào cho sản xuất nông nghiệp, các hợp tác xãcòn kinh doanh một số dịch vụ phục vụ đời sống hàng ngày như: dịch vụ vệ sinhmôi trường, dịch vụ nước sạch…

Bảng 8:Kết quả kinh doanh dịch vụ dân sinh năm 2006

Trang 12

Qua bảng ta thấy: các HTX tại các huyện ven đô mới có điều kiện kinh doanh một

số loại dịch vụ dân sinh (có lãi) Thực tế cho thấy, doanh thu từ dịch vụ nước sạch,dịch vụ vệ sinh môi trường cho nhân dân trong vùng rất thấp, nếu các HTX đượcquản lý toàn bộ dịch vụ trên địa bàn (gồm cả các doanh nghiệp đóng trên địa bàn)thì mới đem lại hiệu quả kinh tế thiết thực mặt khác, do chủ trương xã hội hóa cácdịch vụ vệ sinh môi trường, các HTX không đủ điều kiện trang thiết bị thu gomnhư xe chở rác thải, xe gom rác, thùng đựng rác… để cạnh tranh với các tổ chức,doanh nghiệp khác

Trong thời gian tới các HTX cần mở rộng các dịch vụ dân sinh như dịch vụnước sạch, dịch vụ tín dụng nội bộ…

1.5.4 Dịch vụ khác

Ngoài các dịch vụ về nông nghiệp, dịch vụ dân sinh một số HTX còn làmthêm một dịch vụ khác như dịch vụ cho thuê nhà trọ, bãi đỗ xe, cho thuê của hàng,kinh doanh chợ… Các HTX thực hiện được dịch vụ này là do hợp tác xã có vị tríthuận lợi, gần trường học, khu công nghiệp tập trung Huyện Từ Liêm là huyện cónhiều HTX kinh doanh các dịch vụ cho thuê nhà trọ, dịch vụ chợ, dịch vụ bãi đỗxe…lãi từ các dịch vụ này là 1.531 triệu đồng Đây là mô hình dịch vụ mới chocác HTX khác có vị trí địa lý thuận lợi có thể học tập và mở rộng hoạt động sảnxuất kinh doanh

Bảng 9: Kết quả kinh doanh các dịch vụ khác năm 2006

Trang 13

Long Biên 2076.583 2.25 1887.758 2.25 188.825 2.31

Thanh Xuân 2328.579 2.53 513.936 0.61 1814.643 21.77

Cầu Giấy 4936.000 5.36 4778.000 5.69 158.000 1.93

Tổng 92113.938 100.00 83909.588 100.00 8204.350 100.00

Với tổng lãi năm 2006 là 8.204,35 triệu đồng, quận Thanh Xuân và Đống

Đa là 2 quận có tỷ lệ lãi từ dịch vụ khác cao nhất (trên 1,8 tỷ đồng/năm) Thực tế

số lãi trên do các HTX xã cho thuê đất, một số HTX cho các công ty thuê trụ sởvới giá cho thuê cao do đất đai của các HTX nằm trong nội thành Các huyện SócSơn, Đông Anh các HTX gần như chưa làm được loại dịch vụ này do không cóquỹ đất và chưa thuê được mặt bằng sản xuất, kinh doanh

* Qua kết quả sản xuất kinh doanh từ các dịch vụ của các loại hình HTXcho thấy: nếu tính các chỉ số tương đối như bình quân lãi thu được thì các HTX cũ

có lãi từ các dịch vụ nông nghiệp thấp hơn các HTX mới thành lập 13.690.000đồng; một số dịch vụ khác như: dịch vụ dân sinh, dịch vụ cho thuê nhà kho, mặtbằng thì các HTX cũ đang trực tiếp đảm nhận nên đa số các HTX mới không thựchiện các dịch vụ này Trung bình mỗi HTX cũ có 573 xã viên, HTX mới có 107 xãviên, trên thực tế một số HTX mới thành lập do giải thể HTX cũ nhưng hoạt động

và tổ chức không có gì khác các HTX chuyển đổi (Thu Thủy - Sóc Sơn (478 xãviên), Mạch Tràng – Đông Anh (1158 xã viên), Đường Nhạn – Đông Anh (540 xãviên), Nhị Châu – Thanh Trì (410 xã viên) Thọ Am – Thanh Trì (354 xã viên),Nội Am (360 xã viên)…), các HTX trên mặc dù được thành lập mới nhưng không

có vốn hoặc có rất ít vốn điều lệ và không phải do nhu cầu cần hợp tác để pháttriển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của xã viên Vì vậy, xã viên không được hưởnglợi từ các hoạt động của các HTX Một số HTX mới thành lập tại Đông Anh như:các HTX sản xuất - dịch vụ rau an toàn, kinh doanh dịch vụ tổng hợp với số lượng

xã viên từ 7 – 25 thể hiện sự cần thiết phải hợp tác để sản xuất, dịch vụ nên đãthực sự mang lại hiệu quả kinh tế, ngoài mức tiền công trả cho xã viên từ 1,2 – 2,0triệu đồng/tháng xã viên còn được hưởng lợi nhuận từ sản xuất, dịch vụ tương ứngvới lượng vốn điều lệ đóng góp Đây là mô hình HTX kiểu mới cần được nghiêncứu để đề xuất các chính sách sát thực thúc đẩy HTX phát triển trong giai đoạnhiện nay

Trang 14

* Đối với tổ chức HTX theo các loại mô hình: toàn xã, liên thôn, thôn, tổnhóm xã viên thì mô hình HTX đem lại hiệu quả thiết thực là nhóm xã viên (trong

số các HTX mới thành lập), trung bình một HTX có lợi nhuận là 111.440.000đồng/năm, các mô hình HTX khác cơ bản không đem lại hiệu quả kinh tế

1.6 Tình hình thực hiện các chính sách

* Chính sách đất đai: Trong tổng số 318 HTX NN mới có 142 HTX có trụ

sở làm việc (chủ yếu nhờ UBND các xã) và đã có 21 HTX được cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất; nhiều HTX NN vẫn chưa có trụ sở làm việc, điều này dẫnđến việc điều hành của ban quản lý hợp tác xã gặp rất nhiều khó khăn, các HTXkhông có đất để sản xuất kinh doanh, dịch vụ

* Chính sách tín dụng: Vốn là công cụ quan trọng trong hoạt động sản xuất

kinh doanh của HTX, nhu cầu vay vốn của HTX là rất lớn, song trên thực tế cácHTX chưa vay được vốn từ các tổ chức tín dụng; Quỹ hỗ trợ phát triển HTX sau 5năm triển khai xây dựng vẫn chưa được thành lập

* Chính sách đào tạo: Hàng năm, cán bộ quản lý HTX NN thường xuyên

được tập huấn chuyên môn nghiệp vụ Tuy nhiên, các lớp tập huấn đều ngắn hạn

và mới chỉ dừng lại ở các nội dung: phổ biến một số chính sách mới của Nhànước, Thành phố và các nghiệp vụ kế toán mới Để HTX phát triển và hoạt độngsản xuất kinh doanh có hiệu quả cao thì về lâu dài đội ngũ cán bộ cần được đàotạo sâu về chuyên môn

* Chính sách hỗ trợ thông tin pháp luật thị trường: Các HTX NN mới chỉ

cập nhật qua phương tiện phát thành truyền hình có khoảng 69%HTX, qua sáchbáo chiếm 48%, còn các tổ chức khác vẫn chưa phát huy vai trò hỗ trợ các HTXthông tin về thị trường, pháp luật…Điều này dẫn đến các HTX nắm bắt thông tinyếu, không thể lập được kế hoạch sản xuất theo nhu cầu của thị trường

* Chính sách hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng: chủ yếu hỗ trợ qua đầu tư các

công trình như trạm nước sạch, kênh mương… theo hình thức xây dựng xongchuyển giao cho hợp tác xã quản lý sử dụng

1.7 Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý Nhà nước về HTX

Ngày đăng: 20/02/2023, 22:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w