1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu ứng dụng vi khuẩn bacillus licheniformis tt01 trong sản xuất thức ăn cho chim cút

57 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu Ứng dụng Vi Khuẩn Bacillus Licheniformis TT01 Trong Sản Xuất Thức Ăn Cho Chim Cút
Tác giả Lê Thị Thúy Nga
Người hướng dẫn TS. Đoàn Thị Vân
Trường học Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Công nghệ sinh học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Trong ngành chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là chim cút thì thuốc kháng sinh được sử dụng phổ biến để ngăn ngừa mầm bệnh và dịch bệnh nhằm cải thiện sản lượng thịt và trứng.. Trong n

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOASINH-MÔITRƯỜNG

⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG VI KHUẨN BACILLUS LICHENIFORMIS

TT01 TRONG SẢN XUẤT THỨC ĂN CHO CHIM CÚT

LÊ THỊ THÚY NGA

Đà Nẵng, năm 2022

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOASINH-MÔITRƯỜNG

⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG VI KHUẨN BACILLUS LICHENIFORMIS

TT01 TRONG SẢN XUẤT THỨC ĂNCHO CHIM CÚT

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan các dữ liệu trình bày trong khóa luận này là trung thực Đây là kết quả nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của TS Đoàn Thị Vân tại Khoa Sinh – Môi trường, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác trước đây Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm nếu vi phạm bất kỳ quy định nào về đạo đức

(Ký tên)

Lê Thị Thúy Nga

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp tại Khoa Sinh – Môi trường, trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Bộ môn Công nghệ Sinh học đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài khóa luận của mình

Để hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi xin chân thành cảm ơn đến TS Đoàn Thị Vân đã tận tình hướng dẫn, khích lệ, động viên

và định hướng cho tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này

Cảm ơn các bạn 18 CNSH đã luôn đồng hành cùng tôi, luôn hỗ trợ và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện khóa luận

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn động viên, khích lệ tôi cả về vật chất lẫn tinh thần để tôi đạt được kết quả tốt nhất

Xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, ngày 20 tháng 05 năm 2022

Sinh viên

Lê Thị Thuý Nga

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC HÌNH ẢNH vii

TÓM TẮT……… ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu đề tài 2

3 Ý nghĩa của đề tài 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

4 Nội dung nghiên cứu 2

4.1 Sản xuất chế phẩm chứa vi khuẩn B licheniformis TT01 dạng lỏng 2

4.2 Nghiên cứu cơ sở khoa học khi ứng dụng B licheniformis TT01 sản xuất thức ăn cho chim cút 3

4.3 Thử nghiệm ứng dụng B licheniformis TT01 trong sản xuất thức ăn cho chim cút 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Tổng quan về chim cút 4

1.1.1 Nguồn gốc và đặc điểm của chim cút 4

1.1.2 Tình hình nuôi chim cút ở Việt Nam 5

1.1.3 Tình hình nuôi chim cút trên thế giới 5

1.2 Thức ăn cho chim cút 7

1.2.1 Thức ăn thông thường cho chim cút 7

1.2.2 Một số loại thức ăn bổ sung thêm cho chim cút 12

1.2.3 Tình hình nghiên cứu thức ăn cho gia cầm 13

1.3 Tổng quan về Bacillus licheniformis TT01 15

1.3.1 Nguồn gốc 15

1.3.2 Phân loại 15

1.3.3 Đặc điểm hình thái của Bacillus licheniformis TT01 15

Trang 6

1.3.4 Đặc điểm sinh lý và sinh hóa của Bacillus licheniformis TT01 16

1.3.5 Ứng dụng của B licheniformis TT01 trong đời sống 17

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Đối tượng nghiên cứu 20

2.2 Phạm vi nghiên cứu 20

2.3 Phương pháp nghiên cứu 20

2.3.1 Sơ đồ nghiên cứu 20

2.3.2 Phương pháp hoạt hóa giống 21

2.3.3 Phương pháp khảo sát khả năng sinh các loại enzyme ngoại bào của chế phẩm 21

2.3.4 Phương pháp xác định khả năng kháng khuẩn của B licheniformis TT01 22

2.3.5 Phương pháp lên men thức ăn cho chim cút 22

2.3.6 Phương pháp cho chim cút ăn thức ăn lên men 23

2.3.7 Phương pháp xác định chất lượng chim cút, trứng và phân chim cút 24

2.3.8 Phương pháp xác định chất lượng của thức ăn lên men cho chim cút 26

2.3.9 Phương pháp xử lý số liệu 26

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27

3.1 Hoạt hóa giống vi sinh vật 27

3.2 Cơ sở khoa học ứng dụng vi khuẩn trong sản xuất thức ăn cho chim cút 27

3.2.1 Xác định khả năng sinh enzyme ngoại bào 27

3.2.2 Xác định khả năng đối kháng với vi sinh vật gây hại 29

3.3 Ứng dụng Bacillus licheniformis TT01 trong sản xuất thức ăn cho chim cút 30

3.4 Thử nghiệm cho chim cút ăn thức ăn lên men 32

3.4.1 Thử nghiệm cho chim cút ăn thức ăn lên men 32

3.4.2 Đánh giá chất lượng chim cút, trứng và phân chim cút 33

3.5 Đánh giá chất lượng của thức ăn lên men 41

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42

1 Kết luận 42

2 Kiến nghị 42

TÀI LIỆU THAM KHẢO 43

Trang 7

: Vi khuẩn : Vi sinh vật

CT TCVN QCVN AOAC

: Công thức : Tiêu chuẩn Việt Nam : Quy chuẩn Việt Nam : Hiệp hội các nhà hoá phân tích chính thống

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

1.2 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn hỗn hợp KHANGTI Vina 12 1.3 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn hỗn hợp Fame Feed 13 2.1 Phương pháp xác định chất lượng thức ăn lên men cho chim cút 30 3.1 Đường kính vòng phân giải enzyme của B licheniformis TT01 32 3.2 Đường kính vòng kháng khuẩn của B.amyloliquefaciens

DV20208

34

3.3 Chỉ tiêu đánh giá cảm quan thức ăn lên men cho chim cút 35

3.5 Kết quả khảo sát ảnh hưởng của thức ăn lên men đến một số chỉ

tiêu lý học của trứng chim cút (n=22)

41

Trang 9

DANH MỤC HÌNH ẢNH

1.1 Sản lượng thịt chim cút của một số nước trên thế giới (2007) 8

3.1 Khuẩn lạc của các chủng vi khuẩn: A) Bacillus licheniformis

TT01; B) Bacillus amyloliquefaciens DV20208

31

3.2 Khả năng sinh enzyme của B licheniformis TT01 32 3.3 Khả năng sinh enzyme của B amyloliquefaciens DV20208 32 3.4 Khả năng đối kháng của B licheniformis TT01 33 3.5 Khả năng đối kháng của B amyloliquefaciens DV20208 33

3.7 Các công thức thử nghiệm được bố trí ở trại chim cút 36 3.8 Đặc điểm ngoại hình của chim cút sau khi ăn thức ăn lên men 38 3.9 Cút thí nghiệm được xác định khối lượng bằng cách cân 39 3.10 Hình dạng ngoài của trứng chim cút ở các công thức thử nghiệm 40

3.11 Hình dạng, màu sắc của trứng chim cút ở các công thức thử

nghiệm

43

Trang 10

3.12 Sản lượng trứng sau khi cút ăn thức ăn lên men ở 4 CT thử

nghiệm

44

3.13 Phân chim cút tươi và phân chim cút ăn thức ăn lên men 45

Trang 11

TÓM TẮT

Trong ngành chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là chim cút thì thuốc kháng sinh được sử dụng phổ biến để ngăn ngừa mầm bệnh và dịch bệnh nhằm cải thiện sản lượng thịt và trứng Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh trong chế độ ăn uống đã dẫn đến các vấn đề như sự phát triển của vi khuẩn kháng thuốc (Saorum và Sunde, 2001), sự mất cân bằng của hệ vi sinh vật có lợi (Andremont, 200), tồn dư lượng thuốc trong cơ thể chim cũng

như trong trứng (Burgat, 1991) và ô nhiễm môi trường xung quanh B licheniformis

TT01 có khả năng sinh enzyme ngoại bào (phytase, protein, cellulase, amylase) và khả năng đối kháng với nhiều VSV gây hại Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần quan

trọng trong việc ứng dụng vi khuẩn B licheniformis TT01 trong việc sản xuất thức ăn

cho chim cút có hiệu quả hữu hiệu, chim cút khỏe, ít mắc bệnh, tỷ lệ đẻ trứng cao, trứng đạt chất lượng, an toàn đối với sức khỏe con người Đồng thời có thể tận dụng nguồn phế thải của chim cút để sản xuất phân hữu cơ vi sinh phục vụ cho canh tác nông nghiệp,

giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Từ khóa: B licheniformis TT01, Thức ăn lên men, chim cút

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Những năm gần đây, sự gia tăng năng suất trong ngành chăn nuôi gia cầm đã đi kèm với nhiều tác động khác nhau, bao gồm sự xuất hiện của nhiều loại mầm bệnh và sự kháng thuốc của vi khuẩn, ô nhiễm môi trường trầm trọng, vệ sinh an toàn thực phẩm,gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế Trong ngành chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là chim cút thì thuốc kháng sinh đang được sử dụng phổ biến để ngăn ngừa mầm bệnh và dịch bệnh nhằm cải thiện sản lượng thịt và trứng Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh trong chế độ

ăn uống đã dẫn đến các vấn đề như sự phát triển của vi khuẩn kháng thuốc (Saorum và Sunde, 2001), sự mất cân bằng của hệ vi sinh vật có lợi (Andremont, 200), tồn dư lượng thuốc trong cơ thể chim cũng như trong trứng (Burgat, 1991) và ô nhiễm môi trường xung quanh

Phần lớn các dây chuyền sản xuất TĂCN được đầu tư thuộc thế hệ mới và có xuất xứ từ

các nước phát triển như: Châu Âu, Hoa Kỳ Mă ̣c dù các doanh nghiệp trong nước đang sở

hữu số lượng nhà máy sản xuấ t nhiều hơn các doanh nghiệp nước ngoài, trong đó có một số doanh nghiệp quy mô lớ n như: Dabaco, Masan, GreenFeed, Vina, Lái Thiêu nhưng

các doanh nghiệp trong nước chỉ chiếm khoảng 35% thị phần cung cấp TĂCN, 65% thị phần còn lại của thị trường vẫn do các doanh nghiệp nước ngoài nắm giữ Mặc dù là nước sản xuất và xuất khẩu lương thực nằm ở top đầu thế giới, nguồn nguyên liệu có sẵn rất phong phú, song ngành sản xuất TĂCN nước ta vẫn phải nhập khẩu 70-85% nguyên liệu từ nước ngoài

Từ những vấn đề nêu trên, đã cho thấy sự cần thiết của việc nghiên cứu thức ăn lên men cho chim cút Thức ăn lên men không những bổ sung dinh dưỡng mà còn bổ sung một lượng lợi khuẩn nhằm giúp cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột (Fuller, 1989) và được khuyến nghị như một giải pháp thay thế hiệu quả cho kháng sinh (Sissons, 1989) Ngoài cải thiện về tăng trọng cơ thể, giảm tỷ lệ mắc bệnh thì trọng lượng trứng, kích thước trứng, màu sắc, số lượng trứng cũng tăng đáng kể

Một số chế phẩm sinh học được áp dụng trong sản xuất bao gồm Lactobacillus, Streptococcus, Saccharomyces và Bacillus sp (Tan- nock, 2001) Bacillus được sử dụng

rộng rãi nhờ tính chất, đặc điểm sinh lý tạo ra nhiều loại enzyme (Hagedorn et al., năm 1985) và tạo bào tử giúp chịu nhiệt và độ pH thấp và có thể chịu được môi trường khắc

Trang 13

nghiệt của dạ dày Chính vì vậy, nó có tiềm năng trong sản xuất thức ăn chăn nuôi

Bacillus licheniformis TT01 có khả năng sản xuất mạnh mẽ enzyme ngoại bào như

protease, cellulase, amylase và phytase, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân hủy chất dinh dưỡng, hấp thụ và sử dụng thức ăn một cách triệt để

Các nghiên cứu gần đây cũng đã chỉ ra rằng Bacillus subtilis và Bacillus licheniformis bổ sung liên tục trong giai đoạn đẻ trứng đã có hiệu quả dẫn đến tăng sản lượng trứng (S D Upadhyayavà cs, 2019) Tại Việt Nam, B.licheniformis TT01 có thể

tạo ra các hoạt chất kháng khuẩn mạnh đối với vi khuẩn có hại (Đoàn Thị Vân và cs,

2018) Tuy nhiên, có rất ít nghiên cứu được thực hiện về việc sử dụng B licheniformis

TT01 ở cút Xuất phát từ cơ sở lý luận thực tiễn trên, tôi thực hiện đề tài:” Nghiên cứu

ứng dụng vi khuẩn Bacillus licheniformis TT01 trong sản xuất thức ăn cho chim

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học mới về vi khuẩn

B licheniformis TT01 trong sản xuất thức ăn cho chim cút, tạo cơ sở khoa học cho các

nghiên cứu tiếp theo

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần quan trọng trong việc ứng dụng vi khuẩn

B licheniformis TT01 trong việc sản xuất thức ăn cho chim cút có hiệu quả hữu hiệu,

chim cút khỏe, ít mắc bệnh, tỷ lệ đẻ trứng cao, trứng đạt chất lượng, an toàn đối với sức khỏe con người Đồng thời có thể tận dụng nguồn phế thải của chim cút để sản xuất phân hữu cơ vi sinh phục vụ cho canh tác nông nghiệp, giảm thiểu ô nhiễm môi trường Góp phần đẩy mạnh chương trình phát triển chăn nuôi bền vững

4 Nội dung nghiên cứu

4.1 Sản xuất chế phẩm chứa vi khuẩn B licheniformis TT01 dạng lỏng

- Nghiên cứu các tài liệu về B licheniformis TT01;

- Lên men, sản xuất chế phẩm chứa B licheniformis TT01 dạng lỏng

Trang 14

4.2 Nghiên cứu cơ sở khoa học khi ứng dụng B licheniformis TT01 sản xuất thức ăn

- Ứng dụng chế phẩm lên men từ chủng B licheniformis TT01 và một số chế phẩm

vi sinh khác để lên men thức ăn chăn cho chim cút;

- Đánh giá chất lượng của thức ăn trong quá trình lên men;

- Thử nghiệm ứng dụng thức ăn lên men cho chim cút tại trại chăn nuôi Đánh giá chất lượng chim cút, trứng và phân chim cút;

- Lựa chọn dạng thức ăn lên men tốt nhất để đánh giá các thông số chất lượng sản phẩm theo TCVN 2265:2020 và QCVN 2013/BNNPTNT

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan về chim cút

1.1.1 Nguồn gốc và đặc điểm của chim cút

Chim cun cút, gọi tắt là chim cút có nguồn gốc từ châu Á, thích hợp với những vùng có khí hậu ấm áp và hơi nóng, được thuần hóa đầu tiên ở Nhật Bản từ thế kỉ XI với

mục đích ban đầu là nuôi để làm chim cảnh và chim hót, cho đến những năm 1900, người

ta nhận ra trong thịt và trứng cút có giá trị dinh dưỡng cao nên cút Nhật được nuôi để lấy thịt và lấy trứng và nhanh chóng lan sang nhiều nước trên thế giới (Bùi Hữu Đoàn, 2009)

Phân loại chim cút

Theo phân loại của Sharma (2000), chim cút thuộc

Giới (regnum): Animalia Ngành (phylum): Chordata Lớp (class): Aves

Bộ (ordo): Galliformes

Họ (familia): Phasianidae Chi: Coturnix

Cút cánh ngắn, tròn nên bay kém, chân to, khỏe, móng cùn Mỏ ngắn, thích nghi với bới đất tìm thức ăn Con trống sặc sỡ nhất là vào mùa sinh sản Chim non nở ra có lông che phủ và khỏe Theo Bùi Hữu Đoàn (2010), cút Nhật có lông màu hồng gạch, con mái lông ngực xám hồng và có những chấm đen Cút mái có dáng thanh tú, cổ vừa phải, mắt linh hoạt, lông mượt và sáng Con trống ngực nở, đầu khỏe và chắc chắn Trong khi

đó, cút Mỹ lại có màu lông cánh sẻ, một số con màu hồng nhạt

Về mặt sinh học, cút được xem như là loài có năng suất đẻ trứng cao nhất trong gia cầm, sau khi nuôi 40 ngày, chim mái chỉ nặng 110-120 g, nhưng đẻ trứng nặng 10-12

g (bằng 1/10 khối lượng cơ thể, tỷ lệ này ở gà là 1/30 Cút bắt đầu đẻ trứng vào khoảng 6

tuần tuổi (Chelmonska và cs., 2008; Hemid và cs., 2010), cút có tuổi trưởng thành sớm

thì khoảng cách giữa các thế hệ càng ngắn Theo Bùi Hữu Đoàn (2010) cút do mất tính đòi ấp tự nhiên nên cút đẻ liên tục trong năm Khả năng phối giống của cút trống yếu nên

tỷ lệ chim trống trong đàn thường cao (1 trống/2.5-3 mái) Thịt cút gần giống như thịt gà nhưng tốt hơn, hàm lượng protein cao, chất béo thấp (khi bỏ da, chất béo giảm khoảng 60-80% so với gà) Trong thành phần lipid, có mỡ không no và axit béo không bão hòa, giàu khoáng chất, nhiều nhất là phospho, sắt, đồng, kẽm và selenium Ngoài ra, so với thịt gà thì thịt cút giàu vitamin niacin (vitamin B3) và pyridoxine (vitamin B6) hơn (Bùi

Trang 16

Hữu Đoàn, 2010) Trứng cút trung bình nặng khoảng 10 g và chứa 158 calories; 74,6% nước; 13,1% protein; 11,2% chất béo và 1,1% khoáng Hàm lượng khoáng chất chứa 0,59

mg Ca, 220 mg P và 3,8 mg sắt (Shim, 2005) Hàm lượng vitamin 300 UI của vitamin A Vitamin B1, 0,85 mg vitamin B2 và 0,10 mg axit nicotinic Giá trị dinh dưỡng của trứng cút cao gấp 3 đến 4 lần so với trứng gà (Tunsaringkarn và cs., 2013)

1.1.2 Tình hình nuôi chim cút ở Việt Nam

Miền Nam, chim cút được nhập vào và phát triển mạnh trong những năm 1971 -

1972, phong trào nuôi chim cút nở rộ vào những năm 1985 - 1990, với con giống chim cút Pharaoh, nặng khoảng 180 – 200 g Đến khoảng năm 1980, nhập thêm giống cút Pháp, to hơn cút Pharaoh, con trưởng thành nặng tới 250 – 300g, có màu lông trắng hơn cút Pharaoh Để đáp ứng nhu cầu chăn nuôi chim cút, tháng 4/1997, Viện Chăn nuôi tiếp tục nhập chim cút Nhật Bản và chim cút Mỹ (Bùi Hữu Đoàn ,2010)

Hiện nay, thịt và trứng chim cút đã trở thành các thực phẩm quen thuộc trên thị trường và chăn nuôi chim cút đã trở thành một nghề phổ biến của nhiều hộ nông dân với các quy mô khác nhau từ vài trăm con tới hàng chục ngàn con Tổng đàn chim cút trong

cả nước đã lên đến hàng chục triệu con, tốc độ phát triển không ngừng tăng cao do kỹ thuật chăn nuôi đơn giản và ít rủi ro hơn so với chăn nuôi các đối tượng gia cầm khác Số liệu cụ thể về tình hình nuôi chim cút ở Việt Nam (năm 2018) được thể hiện dưới bảng 1 (Bùi Hữu Đoàn, 2010)

Trong những năm gần đây, tại khu vực Đà Nẵng, Quảng Nam nói riêng cũng như miền Trung - Tây Nguyên nói chung rất phát triển nghề nuôi chim cút Theo thống kê chỉ tính riêng tại xã Hòa Phước, huyện Hòa Vang, có trên 60 hộ và hợp tác xã chăn nuôi chim cút với tổng số đàn lớn hơn 130000 con, đặc biệt là thôn Trà Kiểm nơi nuôi chim cút nhiều nhất của xã Theo dự kiến, mỗi năm có thể tăng 10% số hộ nuôi chim cút 1.1.3 Tình hình nuôi chim cút trên thế giới

Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi gia cầm trên thế giới đã phát triển mạnh mẽ là nhờ áp dụng các tiến bộ về di truyền, chọn giống và cải thiện phương thức

chăm sóc, nuôi dưỡng theo số lượng của FAO (Food and Agriculture Organization of the United Nations), 2002 tổng số đàn gia cầm trên thế giới có hơn 40 tỷ con, đứng thứ nhất

là gà tiếp theo là vịt, ngang, ngỗng và chim cút Trong đó, số lượng chăn nuôi chim cút tăng 30% so với năm 1999 ở các nước phát triển

Trang 17

Trong ngành chăn nuôi gia cầm, thịt chim cút còn rất khiêm tốn so với thịt gà Nuôi chim cút lấy trứng phổ biến rộng rãi hơn chim cút thịt Theo T.S Lin Qilu, trường Đại học Nông nghiệp Nam Kinh, Trung Quốc là nước chăn nuôi chim cút lớn nhất trên thế giới Chim cút thịt được nuôi 4 tuần rồi giết thịt, khi khối lượng đạt khoảng 200 g Mỗi năm, Trung Quốc thịt khoảng 1040 đến 1360 triệu con (13 - 17 lứa/năm/trang trại) Nếu tỷ lệ thân thịt là 70% thì mỗi năm Trung Quốc sản xuất 146000 - 190000 tấn Nếu kể cả chim cút thanh lý sau 10 tháng đẻ, vào khoảng 315 - 350 triệu con thì sản lượng thịt của Trung Quốc còn lớn hơn nữa

Tây Ban Nha là nước xuất khẩu chim cút tương đối lớn, năm 2004 sản xuất 9300 tấn, dành 75% cho xuất khẩu, đối thủ chính của họ là Pháp và Trung Quốc Nước Áo năm

2007, nhập khoảng 419 tấn thịt chim cút Trong 6 năm qua, nước Italia mỗi năm giết thịt

20 - 24 triệu con (3300 - 3600 tấn thân thịt chim cút), xuất khẩu được khoảng 600 - 650 tấn/năm Tại Mỹ, năm 2002 có 1907 trang trại nuôi chim cút, với trên 19 triệu con Nếu khối lượng xuất chuồng trung bình là 200-300g/con với sản lượng 2674 - 4011 tấn Bang Georgia sản xuất nhiều nhất, tiếp theo là Bắc Carolina, Texas và Alabama Ngoài ra, Mỹ cũng nhập chim cút thịt, chủ yếu là từ là Canada Bồ Đào Nha cũng chăn nuôi chim cút với số lượng khiêm tốn Trong bảy năm qua, đã giết thịt 8 - 13 triệu con, sản lượng 960 -

1600 tấn Nước Úc, trong 2001 - 2002 đã thịt 6,5 triệu con (trên 17 triệu chim đẻ)

Trong năm 2007, Canada xuất khẩu 628 tấn thịt chim cút vào Hoa Kỳ Bra-xin luôn là một đối thủ cạnh tranh mạnh trong lĩnh vực gia cầm, trong đó có chim cút Trong năm 2007, sản xuất 1200 tấn chim cút, với tốc độ phát triển 10%/năm Phần lớn sản phẩm dùng trong nước và xuất khẩu tới Trung Đông Và số liệu cụ thể về sản lượng thịt chim cút trên thế giới được thể hiện ở hình 2 (Bùi Hữu Đoàn ,2010)

Trang 18

Hình 1.1 Sản lượng thịt chim cút của một số nước trên thế giới (2007)

Ngoài ra, thịt chim cút gần như thịt gà nhưng tốt hơn, có hàm lượng protein cao, chất béo thấp (khi bỏ da, chất béo giảm khoảng 60% - 80% so với gà) Trong thành phần lipit, có mỡ không no và acid béo chưa bão hòa, giàu khoáng chất, nhất là photpho, sắt, đồng, kẽm và selenium Thịt chim cút giàu Vitamin niacin (vitamin B3) và pyridoxine (vitamin B6) hơn đáng kể so với thịt gà

1.2 Thức ăn cho chim cút

1.2.1 Thức ăn thông thường cho chim cút

Thức ăn cho chim cút thông thường là bột một số loại củ (sắn, khoai), hạt ngũ cốc

và phụ phẩm, các chất dầu, mỡ (Viện chăn nuôi, 2001) Hạt ngũ cốc gồm lúa, ngô, lúa

mì, cao lương và phụ phẩm của hạt ngũ cốc như cám, tấm, là các loại thức ăn giàu tinh bột và giàu năng lượng, chúng có từ 3200 - 3400 kcal năng lượng trao đổi trong một kilogam Hàm lượng protein thô 8 - 12% Đây là loại thức ăn nghèo lysin, tryptophan và methionine Hàm lượng xơ thô trong các loại hạt có vỏ như cao lương, lúa gạo, đại mạch

từ 7 - 14%; trong các loại hạt trần như ngô, lúa mì thì hàm lượng xơ thô từ 1,8 - 3% Các loại hạt ngũ cốc nghèo canxi, 1/3 - 2/3 phospho của hạt ngũ cốc ở dạng axit phytic nên khả năng sử dụng của chim là rất kém Trong các loại hạt ngũ cốc thì ngô là thức ăn quan trọng nhất đối với chim Do có tốc độ tăng trọng nhanh, khả năng sản xuất cao nên thức

ăn cho chim cút cần có nồng độ dinh dưỡng cao hơn gà

Trang 19

Bảng 1.1 Công thức hỗn hợp thức ăn cho chim cút (Xiaolu Liu và cs., 2012)

Các thành phần nguyên liệu thường có trong thức ăn cho chim cút thịt như sau:

Ngô

Ngô là loại thức ăn chính cung cấp năng lượng cho chim cút (Viện chăn nuôi, 2001) Trong 1kg ngô có giá trị 3200 - 3400 kcal năng lượng trao đổi Hàm lượng xơ

trong ngô thấp, hàm lượng protein thô từ 8 -13% (tính theo vật chất khô) Trong protein

thì lysin tryptophan, methionine là những axit amin hạn chế nhất, đặc biệt là lysin Ngô là loại thức ăn hạt nghèo các chất khoáng như Ca (0,15%), Mn (7,3 mg/kg) và đồng (5,4 mg/kg) Hiện nay, có nhiều giống ngô có màu sắc khác nhau như màu: vàng, đỏ và trắng Trong ngô vàng và ngô đỏ có nhiều caroten, cryptoxanthin, xantofil Trong 1kg ngô vàng

có 0,57 mg Carotene, 15,4mg cryptoxanthin và 13,67 mg xantofil Xantofil là sắc tố nhuộm màu chủ yếu của lòng đỏ trứng, mỡ và da

Trang 20

Cám gạo

Cám gạo là phụ phẩm chính của ngành xay xát gạo Trong cám gạo có 12-14% protein thô, 14-18% dầu (Saunders, 1985) Trong cám gạo có nhiều Vitamin nhóm B, trong 1kg cám gạo có khoảng 22,2 mg vitamin B1, 13,1mg B6 và 0,43 mg biotin

Dầu mỡ

Là loại thức ăn có giá trị năng lượng cao Bổ sung dầu mỡ vào khẩu phần ăn không những cung cấp năng lượng mà còn bổ sung thêm một số axit béo quan trọng đối với chim cút như linoleic (Viện chăn nuôi, 2001) Khi thiếu linoleic, chim con chậm lớn, tăng lượng mỡ ở gan, nhạy cảm đối với bệnh đường hô hấp, chim mái đẻ giảm sức để trứng, trứng bé, giảm tỷ lệ ấp nở của trứng giống, tăng tỉ lệ trứng chết phôi Nhu cầu axit linoleic cho chim khoảng 1,4% trong thức ăn hỗn hợp

Thức ăn giàu protein nguồn gốc thực vật

Đỗ tương

Hàm lượng protein thô trong đỗ tương dao động từ 30-38% Methionin là axit amin hạn chế nhất sau đó là cystein và threonine.Trong hạt đỗ tương sống có chứa các chất khoáng trypsin và chymotrypsin làm giảm tỷ lệ tiêu hóa và giá trị sinh học của protein Do đó, trước khi sử dụng làm thức ăn cho chim cần được xử lý nhiệt thích hợp để phân hủy các chất gây hại làm tăng tỷ lệ tiêu hóa và giá trị sinh học của protein

Khô dầu

Khô dầu là phụ phẩm của các loại hạt có dầu sau khi đã được ép lấy dầu Các sản phẩm này bao gồm: khô dầu lạc, khô dầu đỗ tương, khô dầu hướng dương Thành phần dinh dưỡng của các loại khô dầu biến động phụ thuộc công nghệ ép dầu và chất lượng của hạt Hàm lượng protein thô của khô dầu lạc nhân khoảng 42 - 45%, nếu khô dầu lạc

ép cả vỏ thì hàm lượng protein thấp hơn (37 - 38%) nhưng hàm lượng xơ thô cao hơn (18,8%)

Hàm lượng protein thô trong khô dầu đậu tương từ 40 - 45%; 8,8% xơ thô Ngoài khô dầu lạc và khô dầu đậu tương, còn nhiều loại khô dầu khác như khô dầu cải, khô dầu bông, khô dầu lanh, khô dầu dừa v.v chúng có hàm lượng protein thấp hoặc giá trị sinh học của protein kém hơn, hàm lượng xơ thô cao nên dùng ít hoặc không dùng trong chăn nuôi chim Các loại khô dầu khi bảo quản dễ bị mốc, nấm mốc của các loại khô dầu

thường sản sinh ra các độc tố nấm mốc (Mycotoxin) làm cho chim có thể bị ngộ độc ở

Trang 21

Thức ăn giàu protein nguồn gốc động vật

Gồm bột xương, bột thịt xương, bột cá, bột máu, bột đầu tôm Hầu hết thức ăn động vật là nguồn protein có chất lượng cao, cân bằng các axit amin không thay thế, các nguyên tố khoáng cần thiết và một số vitamin quan trọng như vitamin B12, A, K, D, E

Tỷ lệ tiêu hoá và hấp thu các chất trong thức ăn giàu protein động vật rất cao

Bột cá

Bột cá là một nguồn cung cấp protein có chất lượng tốt nhất đối với chim Trong bột cá giàu lysine, methionine và tryptophan Đó là những loại axit amin thường thiếu nhiều nhất trong khẩu phần ăn chủ yếu là hạt cốc Hơn nữa, trong bột cá còn có hàm lượng khoáng cao và giàu các loại vitamin Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng bột cá như loại cá nguyên liệu, phương pháp chế biến, thời gian và điều kiện bảo quản Hàm lượng protein trong bột cá sản xuất ở nước ta biến động từ 35 - 60% Mức sử dụng bột cá trung bình trong thức ăn hỗn hợp là 8% cho chim thịt Khi sử dụng nhiều bột cá trong khẩu phần, thịt và trứng có mùi tanh dầu cá Vì vậy, để tránh mùi cá trong thịt, người ta thường ngừng cho ăn bột cá 4 tuần trước khi giết mổ hoặc sử dụng mức tối đa bột cá trong khẩu phần là 2,5 - 5% Bột cá loại 1 phải đảm bảo hàm lượng protein thô là 60%, hàm lượng lipid dưới 10%, hàm lượng muối ăn dưới 5%

Bột thịt xương

Thành phần dinh dưỡng của bột thịt xương phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu chế biến Tỷ lệ protein từ 45 -50%, giàu các axit amin, đặc biệt là lysine, methionine, cystine, tryptophan, threonine; giá trị năng lượng trao đổi trong một kg là 2444 - 2660 kcal, khoáng 12 - 35%, lipit trung bình là 9%; bột thịt xương còn rất giàu vitamin B1

Bột máu

Trang 22

Hàm lượng protein thô tối thiểu trong bột máu 80%, giàu lysine, tryptophane, tỷ lệ tiêu hóa 95% Bột máu có màu nâu đỏ, hạt mịn, không hòa tan trong nước

Hiện nay, trên thị trường có một số hãng thức ăn cho chim cút như: KHANGTI Vina , Fame Feed

Nguyên liệu của thức ăn hỗn hợp KHANGTI Vina bao gồm: ngô, tấm, cám, bột

cá, khô đỗ, đỗ tương và premix vitamin khoáng,…Thành phần dinh dưỡng của thức ăn

hỗn hợp KHANGTI Vina được thể hiện ở Bảng 1.2

Bảng 1.2 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn hỗn hợp KHANGTI Vina

Methionine + Cystine tổng số tối thiểu % 0,75

Nguyên liệu của thức ăn hỗn hợp Fame Feed bao gồm: bột cá, khô đậu tương, ngô, bột thịt, sắn,cám mì, khoáng đa lượng, khoáng vi lượng, Premix – vitamin, axit

amin.Thành phần dinh dưỡng của thức ăn theo Fame Feed được thể hiện ở Bảng 1.3

Bảng 1.3 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn hỗn hợp Fame Feed

Trang 23

Hóa chất, kháng sinh (mg/kg) -

1.2.2 Một số loại thức ăn bổ sung thêm cho chim cút

Thức ăn bổ sung là một chất hoặc một hỗn hợp chất bổ sung vào khẩu phần ăn với một liều nhỏ nhưng làm tăng tốc độ sinh trưởng, tăng hiệu quả sử dụng thức ăn, phòng một số bệnh (Viện chăn nuôi, 2001) Có nhiều loại thức ăn bổ sung khác nhau như thức

ăn bổ sung protein (axit amin, nấm men, enzym), thức ăn bổ sung khoáng, vitamin, kháng sinh và các loại thức ăn bổ sung khác Tác dụng của thức ăn khi bổ sung các thành phần này được cụ thể như sau:

Thức ăn bổ sung protein

Sử dụng axit amin tổng hợp để bổ sung protein, không những tiết kiệm protein mà còn giúp cân bằng axit amin trong khẩu phần, tăng hiệu quả sử dụng protein và hạ giá thành sản phẩm chăn nuôi chim Ngoài axit amin, còn sử dụng thêm các sản phẩm nấm men làm nguồn thức ăn bổ sung protein Nấm men giàu protein, vitamin, nhất là vitamin nhóm B

Enzyme

Enzym là các protein tự nhiên có hoạt tính enzyme; các enzym được tạo ra từ các

cơ thể sống Trong công nghiệp, enzyme được sản xuất từ các vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, men) bằng cách lên men hoặc chiết từ tuỵ và các mô động vật khác Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều loại enzym Khi bổ sung enzyme cho chim thịt đã làm tăng trọng cao hơn, hiệu quả sử dụng thức ăn tốt hơn và làm giảm độ ẩm của lớp độn chuồng Sự sai khác là rất rõ rệt với p < 0,01

Thức ăn bổ sung khoáng và vitamin

Thức ăn bổ sung khoáng gồm nhiều loại như bột vỏ sò, bột xương, bột vỏ trứng, bột đá, dicanxi photphat v.v Các loại này chủ yếu cung cấp canxi và photpho Để bổ sung các nguyên tố vi lượng, người ta thường bổ sung dưới dạng hỗn hợp premix khoáng hoặc hỗn hợp premix khoáng – vitamin Thức ăn bổ sung vitamin có thể là những vitamin đơn lẻ như A, D, E, K, B1, B2, B12, C, … hoặc là hỗn hợp vitamin dưới dạng premix Khi sử dụng các loại premix cần đặc biệt chú ý hạn sử dụng

Chất nhuộm màu

Để nhuộm màu cho lòng đỏ trứng chim người ta dùng xantofill, có nhiều trong các loại rau cỏ, bột thức ăn xanh, bột cánh hoa cúc vạn thọ Một số sản phẩm nhuộm màu

Trang 24

như ORO GLO, KEM GLO, Beta-Apo-8- carotenal, caroten tự nhiên, canthaxanthin Hiện nay, người ta đã xác định được rằng bổ sung khô dầu gấc - một loại phụ phẩm rất rẻ

và dễ kiếm ở Việt Nam 77 cho chim đẻ có kết quả rất tốt trong việc nâng cao độ đậm màu cho sản phẩm là trứng và thịt và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm

Một số điểm chú ý khi tự phối trộn thức ăn cho chim

Để giảm giá thành sản phẩm, có thể tự chế thức ăn cho chim, nhưng cần chú ý: Phải có kiến thức về dinh dưỡng, thức ăn và kinh nghiệm

Tận dụng nguyên liệu sẵn có ở địa phương, nhất là trong mùa thu hoạch rộ như ngô, đậu tương, cá tươi (để làm bột cá) Phải có kho dự trữ chống được chuột, mối, mọt, chống ẩm…

Khi mua nguyên liệu, phải mua nguyên liệu thô (ngũ cốc phải mua hạt, khô dầu chưa nghiền) để phát hiện được mọt, mốc… (khi đã nghiền ra thành bột rồi thì rất khó phát hiện nguyên liệu kém hay tốt)

1.2.3 Tình hình nghiên cứu thức ăn cho gia cầm

Trong những năm gần đây, các nghiên cứu và phát triển chăn nuôi và đă ̣c biê ̣t là trong lãnh vực thức ăn gia cầm đã có nhiều tiến bô ̣ rõ rê ̣t Những tiến bô ̣ trong lĩnh vực nghiên cứ u về dinh dưỡng thức ăn gia cầm đã góp phần cải thiê ̣n năng suất và chất lượng

sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hô ̣i Nhưng chỉ dừng lại ở việc nghiên

cứ u về chế biến nguyên liê ̣u để tăng khả năng tiêu hoá của thức ăn, tâ ̣n du ̣ng các phu ̣ phế phẩm để hạ giá thành thức ăn chăn nuôi cũng như loa ̣i trừ các đô ̣c tố, kháng dinh dưỡng trong các loa ̣i thức ăn cho gà,vịt thương phẩm mà chưa có nhiều nghiên cứu về sử dụng thức ăn lên men cho chim cút giúp tạo ra chim cút khỏe, ít mắc bệnh, chất lượng và tỷ lệ

đẻ trứng cao, giảm ô nhiễm môi trường từ nguồn thải của chim cút

Một số nghiên cứu tại Việt Nam

Trên đối tượng gà thi ̣t, vịt thương phẩm, có rất nhiều nghiên cứu xác đi ̣nh nhu cầu dinh dưỡng để cải thiê ̣n năng suất, giảm chi phí thức ăn vì đây là đối tượng có tốc đô ̣ sinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp nếu khẩu phần cần được cân đối hợp lý Nghiên cứu về dinh dưỡng cho gà thi ̣t, vịt thương phẩm trong thời gian qua cũng đã có nhiều tiến bô ̣ vượt bâ ̣c Cùng với sự cải thiê ̣n về con giống, nghiên cứu về dinh dưỡng cho gà thi ̣t, vịt thương phẩm đã góp phần cải thiê ̣n năng suất, rút ngắn thời gian nuôi thi ̣t từ 10-12 tuần xuống cò n 6-7 tuần

Trang 25

Nghiên cứu của Trần Sáng Tạo và cs (2014) đã nghiên cứu bổ sung enzyme phytase cho gà địa phương và cho biết khi tỷ lệ cám gạo trong khẩu phần ăn tăng lên 20 – 30%, việc bổ sung enzyme phytase 5000 chịu nhiệt với liều 1g/kgTA đã mang lại hiệu quả tốt, tăng khả năng sinh trưởng và tiêu hóa các chất dinh dưỡng trong thức ăn Việc tăng tỷ lệ tiêu hóa Ca và P trong thức ăn của gà sẽ góp phần vào việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường do phân gà thải ra

Trong bài báo nghiên cứu ứng dụng chế phẩm Bacillus enzyme trong chăn nuôi gà

thịt Cobb 500 của tác giả Từ Quang Trung và cs (2020) Thí nghiệm trên 3000 gà broiler Cobb 500, từ 1 - 42 ngày tuổi, được chia làm 2 lô (lô nghiệm (TN) và đối chứng (ĐC)), mỗi lô có 500 con nhắc lại 3 lần (500 x 3 = 1500 con/lô) Lô ĐC cho ăn khẩu phần cơ sở (KPCS) là thức ăn hỗn hợp viên của công ty thức ăn chăn nuôi CP; Lô thí nghiệm sử

dụng KPCS được bổ sung thêm 0,3% chế phẩm Bacillus enzyme Kết quả cho thấy gà lô

TN được bổ sung chế phẩm Bacillus enzyme đã làm tăng tỷ lệ nuôi sống và tăng sức đề kháng của gà và làm giảm tỷ lệ chết Gà được bổ sung Bacillus enzyme trong khẩu phần

ăn cho sinh trưởng cao hơn 7,67% và làm giảm tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng 5,86% Đồng thời, một số chỉ tiêu giết mổ như tỷ lệ thân thịt, tỷ lệ thịt đùi, thịt ngực, tỷ lệ thịt đùi + ngực và tỷ lệ mỡ bụng cao hơn lần lượt là 0,52%; 0,73%; 0,62%; 1,35% và

0,07% so với gà không được bổ sung chế phẩm Bacillus enzyme

Một số nghiên cứu trên thế giới

Ravindran và cs (1999), đã nghiên cứu và cho biết: bổ sung enzyme phytase vào khẩu phần có phốt pho phytin cao có tác dụng tích cực tới khả năng tiêu hóa các chất dinh dưỡng, tiêu hóa Ca, P và các axit amin khác

Sebastian và cs (1997), khi đánh giá khả năng tiêu hóa protein, axit amin trong khẩu phần ăn sử dụng ngô, đậu tương có bổ sung thêm enzyme phytase cho gà thịt, cho biết: bổ sung enzyme phytase vào khẩu phần ăn có Ca, P thấp vừa có tác dụng tăng khối lượng cơ thể, giảm tiêu tốn thức ăn, đáp ứng nhu cầu của gia cầm nhưng chưa có tác dụng tới việc tăng tỷ lệ tiêu hóa protein

Mananghi và cs (2006), nghiên cứu ảnh hưởng của enzyme phytase trong khẩu phần ăn cho gà có sử dụng các loại đỗ tương khác nhau Mục đích của nghiên cứu này là: đậu tương là nguyên liệu có chứa khoảng 0,62% phốt pho tổng số trong đó có 0,4% tồn tại ở dạng phytase được coi là có giá trị sinh học thấp cho gia cầm, phytase P trong đậu tương có thể thay đổi tùy thuộc vào điều kiện khí hậu, loại đất, giống đậu tương khác

Trang 26

nhau Từ ý tưởng đó tác giả đã sử dụng 18 mẫu đậu tương là nguyên liệu cho thí nghiệm

và bổ sung thêm enzyme phytase Kết quả thử nghiệm chỉ ra rằng, khối lượng cơ thể, lượng thức ăn tiêu thụ và tỷ lệ tiêu hóa thức ăn cải thiện đáng kể ở những nghiệm thức có

bổ sung enzyme phytase so với nghiệm thức không bổ sung enzyme phytase ở tất cả các khẩu phần được sử dụng đậu tương khác nhau

1.3 Tổng quan về Bacillus licheniformis TT01

1.3.1 Nguồn gốc

Bacillus licheniformis là một loại vi khuẩn thường được tìm thấy trong đất, nước,

phân và trên lông các loài chim Đặc biệt là ngực, lưng bộ lông trong các loài chim ở mặt đất và các loài thủy sinh

1.3.2 Phân loại

Theo phân loại của Bergey, Bacillus licheniformis được phân loại như sau:

Giới : Bacteria Ngành : Firmicutes Lớp : Bacilli

Bộ : Bacillales

Họ : Bacillaceae Chi : Bacillus

Loài : Bacillus licheniformis 1.3.3 Đặc điểm hình thái của Bacillus licheniformis TT01

Vi khuẩn Gram dương, tế bào hình que, có kích thước 0,4 – 2,4 x 1,2 – 10 mm, khuẩn lạc có hình tròn, dẹt, mép có răng cưa, giữa khuẩn lạc có màu trắng đục xung quanh trắng trong, kích thước khuẩn lạc 1,2 – 2,7cm (sau 2 ngày cấy), sống trong điều kiện hiếu khí, nhiệt độ phát triển thích hợp là 35 - 500C, ở 370C tiết ra enzyme Trong điều kiện môi trường bất lợi, nghèo dinh dưỡng thì nó cũng có khả năng tạo bào tử Những bào tử này khá chịu nhiệt, lạnh, bức xạ và các áp lực môi trường khác Một tế bào chỉ có duy nhất một nội bào tử, nội bào tử có hình oval hoặc hình trụ, chịu được điều kiện bất lợi như nhiệt độ, acid, sự hình thành bào tử không bị ngăn cản bởi sự tiếp xúc không khí Dưới tác động của điều kiện tốt, những bào tử nảy mầm trở thành tế bào vi khuẩn thể

hoạt động B licheniformis TT01 có thể tồn tại ở độ pH cao, điều kiện bất lợi với thời

gian dài

Trang 27

Hình 1.2 Hình thái của Bacillus licheniformis

1.3.4 Đặc điểm sinh lý và sinh hóa của Bacillus licheniformis TT01

B licheniformis có đặc tính kháng khuẩn mạnh, đặc biệt là kháng lại các vi khuẩn

có hại, gây bệnh cho các loài vật nuôi

Như trong bài nghiên cứu của nhóm tác giả: Võ Hồng Phượng, Võ Thị Hậu, Nguyễn Thái Hồng Ngọc, Lê Hồng Phước, Nguyễn Hoàng Tuấn, Nguyễn Hồng Lộc và

Lê Thị Bích Thủy Đã chỉ ra chủng vi khuẩn B.licheniformis (B1) được phân lập từ ruột

cá Đối (Mugil cephalus) trong tự nhiên có khả năng đối kháng tốt với vi khuẩn V parahaemolyticus gây bệnh teo gan tụy cấp tính trên tôm, với vòng kháng khuẩn 15mm trong thời gian 24 giờ Ngoài ra, khả năng kháng V parahaemolyticus được thử nghiệm

bằng phương pháp đồng nuôi cấy (co- culture) cho thấy chủng B1 (nồng độ 105 CFU/mL,

106 CFU/mL, 107 CFU/mL) có khả năng ức chế hoàn toàn V parahaemolyticus (104, 105,

106, 107 CFU/mL) sau thời gian chín giờ và đặc tính này ổn định trong 24 giờ khảo sát

B licheniformis có khả năng tiết ra các enzyme phân giải các chất hữu cơ làm sạch

môi trường, hỗ trợ hệ tiêu hóa vật nuôi giúp cải thiện hệ số chuyển hóa thức ăn Một số enzyme như amylase, phytase và protease, là các enzyme quan trọng trong hệ thống men tiêu hóa của các loài vật nuôi, các enzyme này giúp thủy phân các nguồn dinh dưỡng quan trọng như glucid, lipid, protid, … Trong đó enzyme phytase giúp phân giải acid phytic cung cấp nguồn dinh dưỡng photpho cần thiết, enzyme cellulase biến đổi chất sơ thành các loại đường dễ tiêu, lecithinase thủy phân các chất béo phức hợp, enzyme phân giải gelatin, enzyme phân giải fibrin và một loại enzyme giống lysozyme gây tác dụng

Trang 28

trực tiếp, dung giải một số type vi khuẩn proteus gây bệnh trong đường ruột Các chủng

vi khuẩn B licheniformis được phân lập từ các môi trường có điều kiện khắc nghiệt với

nhiệt độ cao nên khi chúng tổng hợp các enzyme thì các enzyme này sẽ có cấu trúc mạch bền để cắt các cơ chất trong điều kiện đó

B licheniformis TT01 là chủng vi khuẩn được phân lập từ phân chim cút ủ thô, tại

Khoa Sinh - Môi trường, Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng (Đoàn Thị Vân và cs., 2021) Đây là vi khuẩn gram dương, tế bào hình que, có kích thước 0,4 – 2,4 x 1,2 – 10

mm, khuẩn lạc có hình tròn, dẹt, mép có răng cưa, giữa khuẩn lạc có màu trắng đục xung quanh trắng trong, kích thước khuẩn lạc 1,2 – 2,7cm (sau 2 ngày cấy), sống trong điều kiện hiếu khí, nhiệt độ phát triển thích hợp là 35 - 500C, ở 370C tiết ra enzyme ngoại bào:

amylase, protease, cellulose B licheniformis TT01 có khả năng đối kháng với Salmonella typhi ATCC 14028, E.coli Trong điều kiện môi trường bất lợi, nghèo dinh

dưỡng thì nó cũng có khả năng tạo bào tử Những bào tử này khá chịu nhiệt, lạnh, bức xạ

và các áp lực môi trường khác Một tế bào chỉ có duy nhất một nội bào tử, nội bào tử có hình oval hoặc hình trụ, chịu được điều kiện bất lợi như nhiệt độ, acid, sự hình thành bào

tử không bị ngăn cản bởi sự tiếp xúc không khí (Ngô Xuân Mạnh ,2008) Dưới tác động của điều kiện tốt, những bào tử nảy mầm trở thành tế bào vi khuẩn thể hoạt động

B.licheniformis có thể tồn tại ở độ pH cao, điều kiện bất lợi với thời gian dài

B licheniformis TT01 có hoạt tính sinh học cao, phù hợp phát triển trong phân

chim cút và thổ nhưỡng ở khu vực Quảng Nam, Đà Nẵng, cũng như vùng Duyên Hải

Miền Trung Vì vậy, B licheniformis TT01 có tiềm năng trong việc ứng dụng để xử lý

phụ phẩm chăn nuôi chim cút trực tiếp trong chuồng trại

1.3.5 Ứng dụng của B licheniformis TT01 trong đời sống

B licheniformis TT01 có khả năng sản sinh nhiều enzyme, đặc biệt là amylase và

protease, đây là 2 loại enzyme quan trọng trong hệ thống tiêu hóa, sản sinh các enzyme

có khả năng thủy phân glucid, lipid, protide, enzyme cellulase biến đổi chất xơ thành các loại đường dễ tiêu, enzyme phân giải gelatin, enzyme phân giải fibrin và một loại enzyme

giống lysozyme gây tác dụng trực tiếp, dung giải một số vi khuẩn Proteus gây bệnh trong

đường ruột

B licheniformis được ứng dụng trong việc sản xuất men vi sinh hỗ trợ đường tiêu

hóa, trong bảo quản thực phẩm như nem chua, sữa, pho mát Hai ví dụ điển hình là

Ngày đăng: 20/02/2023, 21:45

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm