1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Lv ths luật kinh tế trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

82 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luật Kinh Tế: Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 133,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM 7 1 1 Những vấn đề lý luận về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ[.]

Trang 1

BỔ SUNG TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM 71.1 Những vấn đề lý luận về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai

1.2 Khái quát quá trình lập pháp về trả hồ sơ để điều tra bổ sung

trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 18

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015

VỀ TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 242.1 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về trả hồ sơ để

điều tra bổ sung trong giai đoạn chuẩn bị xét xử 242.2 Quy định của pháp luật về trả hồ sơ để điều tra bổ sung tại

2.3 Đánh giá quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về trả hồ

sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm - so sánh

với quy định tương ứng của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 39

Chương 3: THỰC TRẠNG TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG

TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ

3.1 Thực trạng về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét

xử sơ thẩm vụ án hình sự trong những năm gần đây 443.2 Đánh giá thực trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung ở giai đoạn

xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trong những năm gần đây 533.3 Các giải pháp bảo đảm chất lượng và hạn chế trả hồ sơ để điều

tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 58

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHÀO

Trang 2

VKSND : Viện kiểm sát nhân dân

VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 3

3.2 Số vụ Tòa án hai cấp tỉnh Điện Biên ra quyết định trả hồ

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhànước của dân, do dân, vì dân thì một trong những nhiệm vụ quan trọng phảithực hiện là đẩy mạnh công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay Nghịquyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về "Mục tiêu của

chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020" đã chỉ rõ: "Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao"

Nghị quyết số 49-NQ/TW cũng đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục đượcthể chế hoá thành những quy định của pháp luật trong đó có pháp luật tố tụnghình sự (TTHS); đồng thời, những hạn chế, bất cập của pháp luật TTHS hiệnhành cần được khắc phục kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động tưpháp, bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân, bảo đảm sự thốngnhất và đồng bộ giữa các văn bản pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

và yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm hiện nay

Quá trình giải quyết một vụ án hình sự trải qua nhiều giai đoạn khácnhau, từ khởi tố vụ án, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm đếnthi hành án Mỗi giai đoạn tố tụng đều có một vai trò nhất định trong việc xácđịnh sự thật của vụ án, trong đó giai đoạn xét xử của Toà án là rất quan trọng,được coi là trung tâm của quá trình TTHS Tất cả các hoạt động trong giaiđoạn khởi tố, điều tra, truy tố đều nhằm phục vụ cho việc xét xử của Toà án.Thông qua quá trình xét xử trực tiếp, công khai tại phiên toà, Toà án ra bản

án, quyết định giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án hình sự

Để bảo đảm cho công tác xét xử được khách quan, chính xác, thể hiện

được vai trò, vị thế của toà án "Nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

Trang 5

Việt Nam" thực hiện chức năng xét xử nhằm bảo vệ pháp chế xã hội chủ

nghĩa, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, không bỏ lọt tội phạm,không làm oan người vô tội, đòi hỏi phiên toà xét xử nói chung và phiên tòahình sự sơ thẩm nói riêng phải được tiến hành một cách đầy đủ, khách quan,toàn diện theo pháp luật quy định

Trước khi mở phiên tòa, qua nghiên cứu hồ sơ chuẩn bị xét xử khôngthiếu các trường hợp Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phát hiện

hồ sơ chưa đầy đủ về chứng cứ để xác định tội phạm, người phạm tội hoặcxác định mức độ trách nhiệm pháp lý của người thực hiện hành vi phạm tội;phát hiện trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra (CQĐT),Viện kiểm sát (VKS) không bảo đảm thực hiện đầy đủ các quy định pháp luật

về quyền của người tham gia tố tụng Tại phiên tòa xét xử, qua thẩm vấncông khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) xác định có trường hợpkhông thu thập được đầy đủ tài liệu chứng cứ để kết luận về tội phạm, ngườiphạm tội hoặc quá trình điều tra, truy tố còn vi phạm quy định của pháp luậtTTHS hoặc có căn cứ để khởi tố bị can về một tội phạm khác, có người đồngphạm khác Do vậy, Tòa án (Thẩm phán; HĐXX) với tư cách là cơ quan xét

xử phải ra quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung nhằm khắc phụcnhững tồn tại, thiếu sót trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố để giải quyếtđúng đắn vụ án hình sự Việc trả hồ sơ điều tra bổ sung sẽ hạn chế được oan,sai, bỏ lọt tội phạm, từ đó bảo đảm hơn nữa quyền con người, quyền công dân

Khi nghiên cứu quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS)năm 2015 về việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án cho thấy quy địnhcủa pháp luật vẫn tồn tại một số hạn chế, bất cập cần phải được tiếp tục sửađổi, bổ sung cho phù hợp để có sự nhận thức thống nhất khi áp dụng phápluật, tránh trường hợp trả hồ sơ không có căn cứ, không cần thiết hoặc cáctrường hợp hồ sơ vụ án hình sự bị trả đi trả lại nhiều lần, ảnh hưởng đến thờihạn giải quyết vụ án hình sự, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người thamgia tố tụng

Trang 6

Do vậy, việc nghiên cứu quy định trả hồ sơ để điều tra bổ sung củaTòa án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự không những có ý nghĩa

về mặt lý luận, thực tiễn mà còn là vấn đề mang tính cấp thiết Đây chính là lý

do mà tác giả quyết định lựa chọn đề tài: "Trả hồ sơ để điều tra bổ sung

trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015" làm đề tài luận văn của mình.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Chế định trả điều tra bổ sung trong TTHS nói chung và quy định việctrả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thểhiện mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng,trong đó rõ nét nhất là mối quan hệ giữa Tòa án và VKS trong quá trình giảiquyết vụ án hình sự Chế định này đã được rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu

và được thể hiện dưới các dạng cụ thể như: sách, báo, bài viết, chuyên đề,luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp…

Một số công trình nghiên cứu về chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung

ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự như: Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Võ Khánh Vinh (chủ biên), Nxb Công an nhân dân,

Hà Nội, 2009; Thẩm quyền của Viện kiểm sát và của Kiểm sát viên trong việc

đề ra các yêu cầu điều tra và điều tra bổ sung, của Nguyễn Hữu Hậu, Tạp chí Kiểm sát, số 16/2009; Một số giải pháp nhằm hạn chế việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, của Lê Ngọc Huấn, Tạp chí Kiểm sát, số 10/2009; Một số giải pháp khắc phục việc trả hồ sơ điều tra bổ sung, điều tra lại, của Trần Vi Dân, Tạp chí Kiểm sát, số 2/2010; Bàn về chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, của Nguyễn Quang Lộc, Tạp chí Kiểm sát,

số 11/2010; Hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về việc Tòa án cấp sơ thẩm trả hồ sơ để điều tra bổ sung, của Vũ Gia Lâm, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 8 tháng 4/2013; Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2013 về yêu cầu điều tra bổ sung, của Thái Chí Bình, Tạp chí Tòa án, số 8/2013; Một số giải pháp nhằm hạn chế việc trả hồ sơ điều tra bổ

Trang 7

sung đối với Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, của

Lê Ngọc Duy, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 11/2013; Hoàn thiện chế định trả hồ sơ điều tra bổ sung, của Đào Anh Tới, Tạp chí Kiểm sát, số 10/2014…;

Gần đây nhất có các công trình như: TS.Trần Văn Biên - ThS Đinh Thế

Hưng, Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nxb Hồng Đức, năm 2016; Phạm Mạnh Hùng (chủ biên): Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nxb Lao động, Hà Nội, 2017…

Quy định trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩmđược đề cập tại các công trình nghiên cứu ở các mức độ khác nhau nhưnghầu hết là nghiên cứu quy định của BLTTHS năm 2003 Trong các côngtrình nghiên cứu đó chủ yếu đề cập đến ý nghĩa, nội dung của chế định nàytrong TTHS nói chung mà không đi sâu nghiên cứu vấn đề trả hồ sơ để điềutra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm Cá biệt mới có công trình nghiêncứu cụ thể các quy định của pháp luật hiện hành (BLTTHS năm 2015) vàkhông có công trình nghiên cứu nào về thực trạng trả hồ sơ để điều tra bổsung của tòa án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo quy địnhcủa BLTTHS năm 2015 (do Bộ luật này mới chỉ có hiệu lực thi hành từngày 01/01/2018)

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận về trả hồ

sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và quyđịnh về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong BLTTHS năm 2015 có đối chiếu,

so sánh với quy định của BLTTHS năm 2003 và thực trạng trả hồ sơ để điềutra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào việc trả hồ sơ để điềutra bổ sung giữa Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tronggiai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự mà không nghiên cứu việc trả hồ sơ đểđiều tra bổ sung giữa Tòa án quân sự và VKS quân sự Tư liệu nghiên cứu,tham khảo và số liệu thực tiễn phục vụ việc nghiên cứu trong luận văn được

Trang 8

khai thác từ các báo cáo công tác ngành của VKS và Tòa án từ năm 2013 đếnnăm 2017 trong phạm vi toàn quốc và tại địa bàn tỉnh Điện Biên.

4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là làm rõ các vấn đề lýluận về trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; đánhgiá thực trạng quy định và thực tiễn thực hiện quy định về trả hồ sơ để điềutra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm của pháp luật TTHS hiện hành;làm sáng tỏ những hạn chế và các nguyên nhân dẫn đến việc Toà án cấp sơthẩm phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung; Đề xuất những giải pháp nâng caochất lượng trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ ánhình sự và việc hạn chế trả hồ sơ để điều tra bổ sung

5 Phương pháp nghiên cứu luận văn

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩaMác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật Phươngpháp nghiên cứu cụ thể, bao gồm:

Phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm bảo đảm tính khái quát củavấn đề nghiên cứu cũng như bảo đảm tính chuyên sâu ở các nội dung cụ thể

có liên quan đến trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

vụ án hình sự;

Phương pháp thống kê được tác giả sử dụng nhằm làm rõ những sốliệu thực tiễn của việc thực hiện quy định pháp luật về trả hồ sơ để điều tra bổsung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự;

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

- Ý nghĩa khoa học

Luận văn góp phần bổ sung, làm rõ thêm các vấn đề lý luận về hoạtđộng trả hồ sơ để điều tra bổ sung ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sựnhư khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giaiđoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Trang 9

- Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn là công trình nghiên cứu về hoạt động trả hồ sơ để điều tra

bổ sung ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo quy định của BLTTHSnăm 2015 Những kết quả nghiên cứu của luận văn nhằm phục vụ yêu cầuthực tiễn của việc nâng cao chất lượng trả hồ sơ để điều tra bổ sung cũng nhưhạn chế việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong TTHS nói chung và trong giaiđoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách

tư pháp ở nước ta hiện nay Kết quả nghiên cứu của luận văn còn có thể sửdụng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu pháp luật TTHS tạicác cơ sở đào tạo luật ở nước ta

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong

giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Chương 2: Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về trả hồ

sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Chương 3: Thực trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét

xử sơ thẩm vụ án hình sự và một số kiến nghị

Trang 10

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG

TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM

1.1 Những vấn đề lý luận về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

1.1.1 Khái niệm trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét

xử sơ thẩm vụ án hình sự

1.1.1.1 Khái niệm giai đoạn xét xử sơ thẩm

Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn đặc biệt quan trọng trongTTHS Thông thường, xét xử sơ thẩm là giai đoạn bắt buộc đối với mọi vụ ánhình sự nếu có quyết định truy tố của VKS Trên cơ sở hồ sơ vụ án và cáotrạng (hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn) của VKS chuyển sang,Toà án cấp sơ thẩm đưa vụ án ra xem xét, giải quyết công khai tại phiên toà.Theo đó, giai đoạn xét xử sơ thẩm chỉ được tiến hành khi có bản cáo trạng củaVKS truy tố bị can ra trước Toà án Dựa vào hồ sơ vụ án và quyết định truy tố

do VKS chuyển sang, Toà án nghiên cứu hồ sơ để quyết định đưa vụ án ra xét

xử hoặc quyết định khác theo quy định của pháp luật tố tụng để giải quyết vụ án

Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là là giai đoạn của TTHS trong đó Toà

án có thẩm quyền xem xét, giải quyết vụ án bằng việc ra bản án quyết định bịcáo (hoặc các bị cáo) có tội hay không có tội, hình phạt và các biện pháp tưpháp, cũng như các quyết định tố tụng khác theo quy định của pháp luật đểgiải quyết đúng đắn vụ án hình sự1

Tại phiên tòa, tất cả các chứng cứ thu thập được trong giai đoạn điềutra, truy tố cùng với các chứng cứ mới được đưa ra tại phiên toà sẽ được kiểmtra, xem xét một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ tại phiên toà

Như vậy, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng mà ở đócấp có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật TTHS tiến hành áp

1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,

2018, tr 391.

Trang 11

dụng các biện pháp chuẩn bị cho việc xét xử, đưa vụ án hình sự ra xét xử theothủ tục sơ thẩm để xem xét về thực chất vụ án, đồng thời trên cơ sở kết quảtranh tụng công khai và dân chủ của bên buộc tội và bên bào chữa và nhữngchứng cứ có trong hồ sơ vụ án để tuyên một bản án, quyết định nhằm giảiquyết vấn đề trách nhiệm hình sự một cách công minh và đúng pháp luật, cócăn cứ và đảm bảo sức thuyết phục2.

1.1.1.2 Khái niệm trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét

Tuy nhiên, không phải trong tất cả các giai đoạn tố tụng, các cơ quan tiếnhành tố tụng đều thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình Khôngphải tất cả các vụ án đều được CQĐT, VKS, Tòa án xem xét, đánh giá chứng

cứ và chứng minh một cách đầy đủ, chính xác, toàn diện và đúng pháp luật

Theo đó, việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong quá trình giải quyết

vụ án, đặc biệt ở giai đoạn xét xử sơ thẩm là không thể tránh khỏi Việc trả hồ

sơ để điều tra bổ sung nhằm đảm bảo nguyên tắc xét xử đúng người, đúng tội,đúng pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội

Từ trước đến nay, trong các văn bản quy phạm pháp luật TTHS chưa

có văn bản nào đưa ra khái niệm cụ thể về trả hồ sơ để điều tra bổ sung Trong

2 Điều 250 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

3 Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam - Phần 2 "Trình tự, thủ tục giải

quyết vụ án hình sự", Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2008, tr 231.

Trang 12

các BLTTHS đã và đang có hiệu lực thi hành ở nước ta chỉ quy định về căn cứ,thẩm quyền, thủ tục trả hồ sơ điều tra bổ sung Tuy nhiên, qua nghiên cứ các quyđịnh của các văn bản pháp luật TTHS trước đây và BLTTHS năm 2015 cũngnhư thực tiễn áp dụng pháp luật về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong thờigian qua, có thể đưa ra khái niệm về trả hồ sơ để điều tra bổ sung như sau:

Trả hồ sơ để điều tra bổ sung là hoạt động của VKS, Tòa án chuyểnlại hồ sơ cho cơ quan đã tiến hành tố tụng trước đó để bổ sung, làm rõ thêmnhững chứng cứ còn thiếu để chứng minh tội phạm hoặc khắc phục những viphạm về thủ tục tố tụng, khởi tố thêm người, thêm tội nhằm xác định sự thậtkhách quan của vụ án, tránh bỏ lọt tội phạm cũng như làm oan người vô tội,đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, áp dụng đúng pháp luật

Xét xử vụ án hình sự là giai đoạn kết thúc của quá trình thu thập, kiểmtra và đánh giá chứng cứ của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng(CQĐT, cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điềutra, VKS, Tòa án) Tuy nhiên, việc chứng minh ở giai đoạn xét xử sơ thẩmgiữ vai trò trung tâm và quan trọng nhất của hoạt động TTHS Trong giaiđoạn xét xử sơ thẩm, Tòa án có thẩm quyền tiến hành nghiên cứu hồ sơ; giảiquyết các khiếu nại và yêu cầu của những người tham gia tố tụng và có quyềnđưa ra quyết định trong thời hạn chuẩn bị xét xử khi đáp ứng các điều kiệntheo quy định của pháp luật, gồm có:

vụ án bằng một bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án

Trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và cácHội thẩm phải nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án (bao gồm hệ thống các tài liệu, chứng

4 Điều 277 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Trang 13

cứ mà các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập trong quá trình khởi tố, điều tra,truy tố, được đánh dấu bằng bút lục và sắp xếp theo thứ tự nhất định) Đặc biệt,Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện cácchứng cứ có trong hồ sơ vụ án hình sự, trường hợp thấy còn thiếu chứng cứ quantrọng để chứng minh các tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án màkhông thể bổ sung tại phiên tòa được; có căn cứ cho rằng ngoài hành vi màVKS đã truy tố, bị can còn thực hiện hành vi khác mà Bộ luật hình sự (BLHS)quy định là tội phạm; có căn cứ cho rằng còn có đồng phạm khác hoặc cóngười khác thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm liên quan đến

vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can hoặc việc khởi tố, điềutra, truy tố vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng thì Tòa án tiến hành trả hồ

sơ để điều tra bổ sung Có thể hiểu trả hồ sơ để điều tra bổ sung là hoạt động tốtụng nhằm khắc phục những thiếu sót, vi phạm trong quá trình điều tra vụ án.Tại phiên tòa xét xử nếu HĐXX phát hiện những căn cứ giống với căn cứ màThẩm phán chủ tọa phiên tòa trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn chuẩn

bị xét xử thì HĐXX có quyền ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung

Trả hồ sơ để điều tra bổ sung khác việc chuyển hồ sơ để điều tra lại vụ

án hình sự Điều tra lại là hoạt động điều tra do CQĐT tiến hành đối với các

vụ án đã được xét xử nhưng bị tòa án cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩmhủy bản án của Tòa án cấp dưới để điều tra lại theo thủ tục chung Việc hủybản án sơ thẩm hoặc phúc thẩm để điều tra lại là sự phủ nhận kết quả quátrình điều tra trước đó và CQĐT phải tiến hành điều tra lại vụ án từ đầu Tráilại, việc điều tra bổ sung được thực hiện khi vụ án chưa được đưa ra xét xử,kết quả hoạt động điều tra ban đầu về cơ bản vẫn được công nhận Hệ quảpháp lý của điều tra bổ sung là cơ quan bị trả hồ sơ để điều tra bổ sung phảitiếp tục nhận lại hồ sơ vụ án và thực hiện yêu cầu điều tra bổ sung của cơquan đã ra quyết định yêu cầu điều tra bổ sung có thể là bổ sung chứng cứ(trong trường hợp thiếu chứng cứ quan trọng) hoặc khắc phục vi phạm thủ tục

tố tụng (trong trường hợp có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng), khởi tố

Trang 14

thêm người phạm tội hoặc tội phạm mới…, để làm rõ sự thật khách quan của

vụ án, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội

Như vậy, việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơthẩm vụ án hình sự là kết quả của quá trình nghiên cứu hồ sơ của Thẩm phánchủ tọa phiên tòa hoặc của HĐXX thông qua việc xét hỏi, tranh luận côngkhai tại phiên tòa mà phát hiện thấy hồ sơ vụ án còn thiếu những chứng cứquan trọng, có hành vi phạm tội khác, có đồng phạm hoặc tội phạm khác, có

vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng tố tụng mà không thể khắc phục tạiphiên tòa được, cần chuyển lại hồ sơ cho VKS (là cơ quan đã ra quyết địnhtruy tố và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án) để điều tra bổ sung nhằm tìm ra sựthật khách quan của vụ án, có phán quyết chính xác, tránh bỏ lọt tội phạmcũng như làm oan người vô tội.5

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm sau: Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm là hoạt động của Tòa án sau khi thụ lý vụ án chuyển lại hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát để tiến hành bổ sung, làm rõ thêm những chứng cứ còn thiếu để chứng minh làm rõ các tình tiết của vụ án hoặc khắc phục những vi phạm về thủ tục tố tụng, khởi tố thêm người, thêm tội nhằm tìm ra sự thật khách quan của vụ án, tránh bỏ lọt tội phạm cũng như làm oan người vô tội, đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội,

áp dụng đúng pháp luật.

Hoạt động trả hồ sơ để điều tra bổ sung ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ

án hình sự có những đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, chủ thể quyết định việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung là

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa (trong giai đoạn chuẩn bị xét xử) hoặc HĐXXcủa Toà án cấp sơ thẩm (khi xét xử vụ án tại phiên tòa);

Thứ hai, chủ thể tiếp nhận hồ sơ Toà án cấp sơ thẩm trả để điều tra bổ

sung là VKS nơi ra quyết định truy tố và ban hành bản cáo trạng hoặc VKS

5 TS.Trần Văn Biên - ThS Đinh Thế Hưng, Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nxb Hồng

Đức, năm 2016, tr 272.

Trang 15

được ủy quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử (trong trường hợpVKS cấp trên ra quyết định truy tố và ủy quyền cho VKS cấp dưới thực hànhquyền công tố và kiểm sát xét xử);

Thứ ba, Toà án cấp sơ thẩm chỉ được trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ

sung khi có các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 280 BLTTHS năm 2015.Những trường hợp phát hiện có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 280 BLTTHSnhưng Tòa án xét thấy có thể tự mình bổ sung, thu thập chứng cứ, tài liệu đểlàm rõ hoặc chỉ cần yêu cầu VKS bổ sung tài liệu, chứng cứ thì không cần trả

hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung

1.1.2 Ý nghĩa của trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét

xử sơ thẩm vụ án hình sự

1.1.2.1 Ý nghĩa chính trị - xã hội

Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân

và vì dân Hoạt động xét xử là hoạt động thực hiện quyền tư pháp, một trong

ba nhánh quyền lực của Nhà nước, trong đó giai đoạn xét xử nói chung vàgiai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng có nhiệm vụ giải quyết vụ ánchính xác, kịp thời, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội; gópphần bảo vệ quyền con người, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân; góp phần vào công tác giáo dục

ý thức pháp luật trong xã hội và nâng cao hiệu quả công cuộc đấu tranh phòngchống tội phạm

Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, thông qua việc trực tiếp thẩm trachứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án, thu thập chứng cứ mới làm rõcác tình tiết của vụ án tại phiên tòa; thông qua kết quả của quá trình tranhtụng công khai và dân chủ giữa bên buộc tội và bên gỡ tội, Tòa án với vai trò

là trọng tài, tiến hành kiểm tra, thu thập và đánh giá một cách toàn diện,khách quan, đầy đủ các tình tiết, các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để đưa ranhận định về tính chất tội phạm của hành vi và ra phán quyết buộc tội haykhông buộc tội bị cáo, quyết định trách nhiệm hình sự của người phạm tội

Trang 16

Mục đích cuối cùng của hoạt động TTHS trong giai đoạn xét xử là ra một bản

án hoặc quyết định có căn cứ, đúng pháp luật, đảm bảo tránh bỏ lọt tội phạm

và kết án oan đối với người vô tội; góp phần bảo vệ pháp chế, bảo vệ cácquyền con người, quyền của cá nhân, cơ quan, tổ chức Kết quả xét xử củaTòa án góp phần quan trọng vào công cuộc đấu tranh chống và phòng ngừatội phạm ở nước ta Quy định và thực hiện quy định về trả hồ sơ để điều tra

bổ sung chính là một trong các hoạt động cần thiết cho việc đạt được mụcđích của hoạt động xét xử của Tòa án

Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện chức năng xét xử, ra bản ánnhân danh Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Vì vậy, Tòa án cónhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệchế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợppháp của cơ quan, tổ chức Để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ nói trên, trongquá trình xét xử, Tòa án có trách nhiệm áp dụng mọi biện pháp hợp pháp đểtiến hành xét xử vụ án thật sự khách quan, toàn diện, đầy đủ, các phán quyết

do Tòa án đưa ra phải có căn cứ Việc quy định cho Tòa án quyền trả hồ sơ đểđiều tra bổ sung thể hiện quan điểm tôn trọng và bảo vệ quyền con người,quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng của Nhà nước ta; thểhiện thái độ thận trọng của Nhà nước khi xem xét, cân nhắc để xử lý ngườithực hiện hành vi phạm tội, bảo đảm việc xử lý khách quan, toàn diện, đầy đủ,không bỏ lọt tội phạm nhưng cũng không làm oan người không phạm tội

Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được các cơquan, tổ chức, cá nhân tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành6 Chính vì vậy,khi nhân danh Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để đưa bản án đốivới người bị buộc tội Tòa án đã phải có sự cân nhắc, xem xét mọi tình tiết của

vụ án, làm sáng tỏ mọi sự nghi ngờ về tội trạng của người bị buộc tội để rabản án đúng đắn và hợp pháp Bằng các hoạt động tố tụng của mình trong giaiđoạn xét xử trong đó có hoạt động trả hồ sơ để điều tra bổ sung, Tòa án góp

6 Điều 2 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.

Trang 17

phần vào việc giải quyết đúng đắn vụ án, bảo đảm pháp chế, giáo dục ý thứcpháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, nâng cao ý thức đấu tranhphòng, chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác.

1.1.2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Quy định và thực hiện quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung tronggiai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có ý nghĩa thực tiễn hết sức quan trọngtrong TTHS

Thứ nhất, trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

góp phần bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong TTHS

Muốn giải quyết đúng đắn vụ án hình sự thì mọi hoạt động TTHS đềuphải được tiến hành trên cơ sở pháp luật và tôn trọng pháp luật Điều 7BLTTHS năm 2015 đã quy định: "Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải đượcthực hiện theo quy định của Bộ luật này Không được giải quyết nguồn tin vềtội phạm, kiến nghị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử ngoài những căn cứ, trình

tự, thủ tục do Bộ luật này quy định" Đây chính là tinh thần và nội dung cơbản nhất của nguyên tắc bảo đảm pháp chế trong TTHS Theo đó, khi tiếnhành các hoạt động tố tụng để giải quyết vụ án, các cơ quan có thẩm quyềntiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thực hiện cáchoạt động thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo đúng các quyđịnh của pháp luật tố tụng Hoạt động tố tụng phải được thực hiện theo đúngtrình tự, thủ tục mà BLTTHS đã quy định Trong quá trình tố tụng nếu khôngthực hiện, thực hiện không đúng và đầy đủ yêu cầu của nguyên tắc thì sẽ dẫnđến hậu quả làm cho việc giải quyết vụ án không khách quan, đúng đắn, xâmphạm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổchức Khi phát hiện những vi phạm đó, cần phải có giải pháp sửa chữa, khắcphục Đây chính là lý do để BLTTHS quy định việc trả hồ sơ để điều tra bổsung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Thứ hai, trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

góp phần bảo đảm cho việc xác định sự thật của vụ án

Trang 18

Mục đích của TTHS là xác định sự thật của vụ án một cách kháchquan, toàn diện, đầy đủ Về bản chất mục đích của TTHS nói trên và mụcđích của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là thống nhất với nhau Để đạt đượcmục đích này, Điều 15 BLTTHS năm 2015 quy định nguyên tắc xác định sựthật của vụ án Trong đó nội dung quan trọng là quy định trách nhiệm chứngminh tội phạm thuộc về Nhà nước mà đại diện là các cơ quan có thẩm quyềntiến hành tố tụng Để chứng minh tội phạm, người phạm tội, các cơ quan nàyphải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp do luật định để xác định sự thật vụ ántrên ba phương diện khách quan, toàn diện, đầy đủ Khi tiến hành tố tụng, các

cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thu thập cả chứng cứbuộc tội và chứng cứ gỡ tội, các tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ tráchnhiệm hình sự của người bị buộc tội Để đạt được mục đích đó, trong từnggiai đoạn của TTHS, pháp luật tố tụng quy định trình tự, thủ tục tố tụng cụ thể

để các cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền tố tụng thực hiện, phùhợp với chuyên môn, nghiệp vụ của từng cơ quan và từng chức danh tố tụng.Khi thực hiện nhiệm vụ của mình, nếu cơ quan, người có thẩm quyền tiếnhành tố tụng không làm hết trách nhiệm, làm không đúng sẽ dẫn đến hậu quảảnh hưởng xấu đến việc xác định sự thật của vụ án, làm cho việc giải quyết vụ

án sai lệch sự thật, xâm hại đến quyền lợi của các bên tham gia tố tụng Việctrả hồ sơ để điều tra bổ sung nói chung và trả hồ sơ để điều tra bổ sung tronggiai đoạn xét xử sơ thẩm nhằm khắc phục những hạn chế, vi phạm của cơquan tiến hành tố tụng trước đó để bảo đảm xác định sự thật vụ án là quy địnhhết sức cần thiết

Thứ ba, trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm góp phần bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội

Suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc quan trọng của TTHS

từ lâu đã được thừa nhận rộng rãi trong pháp luật quốc tế và quốc gia trên thếgiới Tuy nhiên, ở Việt Nam do nhiều lý do khác nhau mà mãi đến gần đâynguyên tắc này mới được ghi nhận trong Hiến pháp (Khoản 5 Điều 103 Hiến

Trang 19

pháp năm 2013) và được thể chế hóa trong BLTTHS (Điều 13 BLTTHS năm2015) Nội dung quan trong nhất của nguyên tắc này là một người (bị buộctội) sẽ được coi là không có tội (vô tội) cho đến khi tội trạng của họ đượcchứng minh theo trình tự, thủ tục tố tụng (hợp pháp) do BLTTHS quy định và

có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Vì vậy, khi chưa có bản

án (chưa xét xử) nếu có bất cứ nghi ngờ nào về tội trạng của người bị buộctội, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cần tiếp tục chứng minh, làm

rõ trong khuôn khổ thời gian và các hành vi tố tụng mà pháp luật cho phép.Khi nghiên cứu hồ sơ chuẩn bị xét xử nếu (Thẩm phán) hoặc khi xét xử vụ ántại phiên tòa nếu HĐXX phát hiện những thiếu sót, vi phạm trong hoạt động

tố tụng của các giai đoạn trước đó có thể ảnh hưởng đến việc xác định sự thậtcủa vụ án hoặc xâm hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp củangười bị buộc tội, người tham gia tố tụng khác hoặc lợi ích Nhà nước thì phảihoàn lại hồ sơ cho cơ quan đã tiến hành tố tụng trong giai đoạn tố tụng đó bổsung, sửa chữa, khắc phục Nếu kết quả điều tra bổ sung không làm sáng tỏđược những chứng cứ để buộc tội hoặc có nghi ngờ về chứng cứ buộc tội thìphải kết luận có lợi cho người bị buộc tội, thậm chí phải tuyên bố người bịbuộc tội không có tội để có căn cứ pháp lý để bồi thường thiệt hại, phục hồidanh dự, quyền lợi của họ

Thứ tư, trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

góp phần bảo đảm quyền con người, quyền cá nhân, cơ quan, tổ chức

Quyền con người, quyền công dân là các quyền cơ bản của mọi cánhân không phân biệt quốc tịch, tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc…, được ghinhận và bảo hộ trong Hiến pháp, pháp luật bằng các bảo đảm về mặt chính trị,

tư tưởng, pháp lý cho mỗi con người Trong đó, pháp luật hình sự và TTHS làmột trong những công cụ pháp lý chủ yếu, giữ vai trò quan trọng trong việcbảo vệ quyền con người, quyền công dân

Nhiệm vụ của hệ thống pháp luật TTHS nước ta gồm hai nhiệm vụtrọng tâm là không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội Như vậy,

Trang 20

luật TTHS là công cụ để chống lại các hành vi phạm tội xâm phạm đến quyềncon người và các đối tượng khác trong xã hội Việc xử lý nghiêm minh mọihành vi phạm tội và không bỏ lọt tội phạm là nhiệm vụ quan trọng của hệthống pháp luật nước ta, trong đó góp phần không nhỏ là hệ thống pháp luậtTTHS Mục đích của trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhằm bảo đảm có đầy đủchứng cứ để chứng minh tội phạm, người phạm tội, bảo đảm cho Tòa án điềukiện tốt nhất để có thể xét xử đúng người đúng tội, áp dụng đúng pháp luậttránh oan sai Trên cơ sở đó, quyền con người, quyền cá nhân, cơ quan, tổchức mới thực sự được bảo đảm.

Thứ năm, trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyềntiến hành TTHS trong điều tra, truy tố, xét xử

Điều 15 BLTTHS năm 2015 quy định: "Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội" Theo quy định này, cơ quan tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm

chứng minh tội phạm, áp dụng mọi biện pháp để xác định sự thật của vụ ánmột cách khách quan, toàn diện và đầy đủ để tìm ra sự thật của vụ án, đưa raphán quyết đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung là việc làm rất cần thiết nhưngkhông phải là việc làm được mong muốn xảy ra trong quá trình giải quyết vụ

án Bởi lẽ, việc này sẽ làm chậm quá trình giải quyết vụ án, làm cho quá trìnhnày kéo dài hơn so với quy định thông thường Bên cạnh đó còn gây tốn kémnhân lực và chi phí tố tụng Tuy nhiên, hậu quả xấu nhất mà việc trả hồ sơ đểđiều tra bổ sung mang đến cho các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tốtụng phải nhận lại hồ sơ do bị trả lại để điều tra bổ sung chính là uy tín, danh

dự của họ sẽ bị suy giảm Chính vì vậy, quy định việc trả hồ sơ vụ án để điều

Trang 21

tra bổ sung sẽ giúp cho các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng sẽphải có trách nhiệm hơn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình để làmsao không để lọt những lý do dẫn đến hồ sơ vụ án bị trả lại với yêu cầu điềutra bổ sung.

1.2 Khái quát quá trình lập pháp về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

1.2.1 Quy định pháp luật về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự giai đoạn từ năm 1988 đến 1/7/2004

Ngày 28/06/1988, BLTTHS đầu tiên của nước ta ra đời (có hiệu lựcthi hành ngày 01/01/1989) BLTTHS năm 1988 đã quy định trình tự, thủ tụckhởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành bản án (quyết định) có hiệu lựcpháp luật

Điều 1 BLTTHS năm 1988 quy định: "Bộ luật tố tụng hình sự quyđịnh trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự;chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành

tố tụng; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng và của các cơquan Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân, nhằm phát hiện chính xác,nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không đểlọt tội phạm, không làm oan người vô tội Bộ luật góp phần bảo vệ chế độ xãhội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giáo dụccông dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và tôn trọng quy tắc của cuộcsống xã hội chủ nghĩa" Theo đó, việc cụ thể hóa pháp luật TTHS vừa bảm

vệ quyền con người, vừa đảm bảo hoạt động của các cơ quan tiến hành tốtụng được thực hiện theo đúng pháp luật, ngăn ngừa vi phạm, sự lạm dụngquyền hạn, nâng cao trách nhiệm các cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng vàcủa toàn xã hội nói chung

Với sự ra đời của BLTTHS năm 1988, vấn đề trả hồ sơ để điều tra bổsung của Tòa án cấp sơ thẩm cũng được quy định một cách chi tiết Cụ thể,

Điều 154 BLTTHS năm 1988 quy định:

Trang 22

"1- Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra

bổ sung trong những trường hợp sau đây:

a) Khi cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án

mà không thể bổ sung tại phiên toà được;

b) Khi có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác;

c) Khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Những vấn đề cần điều tra bổ sung phải được nói rõ trong quyết định yêu cầu điều tra bổ sung.

2- Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn tới đình chỉ vụ án thì Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án và báo cho Toà án biết.

Trong trường hợp Viện kiểm sát không bổ sung được những vấn đề

mà Toà án yêu cầu bổ sung và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố thì Toà án vẫn tiến hành xét xử".

Điều 173 BLTTHS năm 1988 cũng quy định: "…2- Quyết định về việc thay đổi thành viên của Hội đồng xét xử, kiểm sát viên, người giám định, người phiên dịch, thư ký phiên toà; chuyển vụ án, yêu cầu điều tra bổ sung, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án và về việc bắt giam hoặc trả tự do cho bị cáo phải được thảo luận và thông qua tại phòng nghị án và phải được viết thành văn bản…".

Ngoài ra, để hướng dẫn thi hành các quy định về trả hồ sơ để điều tra

bổ sung, Mục 4, Phần 1 của Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày08/12/1988 cũng quy định: khi Tòa án trả hồ sơ để VKS điều tra bổ sung, thìToà án xoá sổ thụ lý, VKS ghi việc Toà án trả hồ sơ vào sổ thụ lý của mình.Khi nhận lại hồ sơ, Toà án thụ lý lại Ngày chuyển hồ sơ cho VKS và ngàythụ lý lại cũng được đóng dấu hoặc ghi vào bìa hồ sơ

Sau một thời gian thực thi BLTTHS năm 1988, ngày 05/11/1996,VKSNDTC, TANDTC, Bộ nội vụ thống nhất ra Thông báo số 61/KT-LNhướng dẫn về thời hạn điều tra bổ sung Theo quy định tại điểm c, khoản 5,

Trang 23

Mục IV Thông báo này quy định thời hạn để VKS điều tra bổ sung không quámột tháng Nếu vụ án có bị can bị tạm giam nhưng đã hết thời hạn tạm giamthì VKS ra lệnh tạm giam tiếp 30 ngày Việc điều tra bổ sung phải hoàn thànhtrong thời gian trên dù hồ sơ vụ án ở CQĐT hoặc ở VKS

Theo quy định tại khoản 2 Điều 173 BLTTHS năm 1988 thì quyếtđịnh yêu cầu điều tra bổ sung là một trong các quyết định mà HĐXX phảithảo luận và thông qua tại phòng nghị án7 Có thể hiểu rằng, tại phiên toà sơthẩm khi xét thấy có một trong các trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sungquy định tại khoản 1 Điều 154 BLTTHS năm 1988 thì HĐXX ra quyết địnhtrả hồ sơ để điều tra bổ sung

Như vậy, sự ra đời của BLTTHS năm 1988 cho thấy sự phát triểnvượt bậc trong lập pháp TTHS nước ta Lần đầu tiên, pháp luật TTHS đượcpháp điển hóa thành một bộ luật hoàn chỉnh; vấn đề bảo đảm quyền công dân,quyền của người tham gia tố tụng được quy định một cách hệ thống, cụ thể,chi tiết và toàn diện hơn

1.2.2 Quy định pháp luật về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự giai đoạn từ 7/2004 đến trước 01/01/2018

Nhằm bảo đảm sự phù hợp với những thay đổi của kinh tế, xã hội vàthực tiễn TTHS ở nước ta, ngày 26/11/2003, BLTTHS năm 2003 được Quốchội thông qua và có hiệu lực thi hành vào ngày 01/07/2004 Giai đoạn này,BLTTHS năm 2003 và các văn bản hướng dẫn ra đời đã quy định khá đầy đủ,toàn diện về các khía cạnh của chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung ở giaiđoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, bao gồm thẩm quyền trả hồ sơ để điều tra

bổ sung, căn cứ trả hồ sơ, thời hạn điều tra bổ sung, số lần trả và thủ tục trả hồ

sơ để điều tra bổ sung ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

7 Khoản 2 Điều 173 BLTTHS năm 1988 quy định: "Quyết định về việc thay đổi thành viên của Hội đồng xét

xử, kiểm sát viên, người giám định, người phiên dịch, thư ký phiên toà; chuyển vụ án, yêu cầu điều tra bổ sung, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án và về việc bắt giam hoặc trả tự do cho bị cáo phải được thảo luận và thông qua tại phòng nghị án và phải được viết thành văn bản".

Trang 24

Điều 179 BLTTHS năm 2003 quy định căn cứ để Tòa án trả hồ sơ để

điều tra bổ sung như sau:

"1 Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra

bổ sung trong những trường hợp sau đây:

a) Khi cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án

mà không thể bổ sung tại phiên tòa được;

b) Khi có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác;

c) Khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Những vấn đề cần điều tra bổ sung phải được nêu rõ trong quyết định yêu cầu điều tra bổ sung.

2 Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn tới việc đình chỉ vụ án thì Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho Tòa án biết.

Trong trường hợp VKS không bổ sung được những vấn đề mà Tòa án yêu cầu bổ sung và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án".

Quy định về căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo BLTTHS năm

2003 so với BLTTHS năm 1988 về cơ bản không có gì thay đổi

Ngoài ra, khoản 2 Điều 121 BLTTHS năm 2003 cũng quy định thờihạn điều tra bổ sung trong trường hợp Toà án trả lại và yêu cầu điều tra bổsung là không quá một tháng Đồng thời cũng giới hạn số lần mà Tòa án đượctrả hồ sơ để điều tra bổ sung là không quá hai lần Thời hạn điều tra bổ sungtính từ ngày CQĐT nhận lại hồ sơ vụ án và yêu cầu điều tra

Để hướng dẫn thực hiện tốt các quy định về việc trả hồ sơ để điều tra

bổ sung cũng như hạn chế việc trả hồ sơ điều tra bổ sung nhiều lần Nghịquyết số 04/2004/NQ-HĐTP do Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối caoban hành ngày 05/11/2004 đã quy định trong trường hợp nghiên cứu hồ sơchuẩn bị xét xử nếu phát hiện thấy vấn đề cần điều tra bổ sung, thì vẫn phảitiếp tục nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án để xem xét có vấn đề nào khác cần

Trang 25

điều tra bổ sung hay không Toà án chỉ ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổsung lần thứ hai trong trường hợp những vấn đề yêu cầu điều tra bổ sungtrong quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung lần thứ nhất chưa được điều tra

bổ sung hoặc tuy đã được điều tra bổ sung nhưng chưa đạt yêu cầu hoặc từkết quả điều tra bổ sung xét thấy cần điều tra bổ sung vấn đề mới

Ngày 27/08/2010, Thông tư liên tịch BCA-TANDTC hướng dẫn thi hành các quy định của BLTTHS về trả hồ sơ

01/2010/TTLT-VKSNDTC-để điều tra bổ sung do Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) - BộCông an - Tòa án nhân dân tối cao ban hành, có hiệu lực ngày 21/10/2010.Thông tư đã quy định cụ thể hóa, chi tiết hóa các căn cứ trả hồ sơ để điều tra

bổ sung nhằm hạn chế việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung, thi hành đúng cácquy định của pháp luật TTHS, tránh để vụ án bị trả đi, trả lại nhiều lần dẫnđến tốn kém không cần thiết về thời gian, chi phí và công sức, cũng như làmmất uy tín của cơ quan tiến hành tố tụng, mất lòng tin của nhân dân về chế độ

xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân

Ngày 27/11/2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông quaBLTTHS năm 2015, có hiệu lực ngày 01/01/2018 BLTTHS năm 2015 ra đờinhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa Việt Nam và thực hiện chủ trương cải cách tư pháp, đáp ứng yêucầu thực tiễn của công tác điều tra, truy tố, xét xử và bảo đảm quyền conngười Việc tòa án trả hồ sơ để điêu tra bổ sung tiếp tục được quy định tạiĐiều 280 và một số điều luật khác có liên quan của Bộ luật này

Trang 26

Qua việc nghiên cứu, phân tích những vấn đề lý luận về trả hồ sơ đểđiều tra bổ sung nói chung, luận văn đã đưa ra khái niệm, đặc điểm của việctrả hồ sơ để điều tra trong giai đoạn xét xử sơ thẩm Khái niệm trả hồ sơ đểđiều tra bổ sung, những đặc điểm của việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung tronggiai đoạn xét xử sơ thẩm, đã làm rõ được những vấn đề về mục đích, thờiđiểm, thẩm quyền, thủ tục trả hồ sơ để điều tra bổ sung làm cơ sở xác định nộidung những vấn đề phải nghiên cứu ở chương sau của luận văn.

Luận văn cũng đã làm rõ ý nghĩa của trả hồ sơ để điều tra bổ sungtrong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên các góc độ chính trị - xã hội

và thực tiễn Cụ thể việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung vừa thể hiện sự dân chủ,

sự thận trọng và tôn trọng quyền con người, quyền cá nhân; quyền và lợi íchhợp pháp của cơ quan, tổ chức vừa góp phần thực hiện các nguyên tắc cơ bảncủa TTHS Ngoài ra, việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử

sơ thẩm vụ án hình sự còn giúp nâng cao tinh thần trách nhiệm của cơ quan,người có thẩm quyền tiến hành tố tụng không chỉ trong giai đoạn xét xử màtrong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự

Luận văn cũng nêu khái quát lịch sử lập pháp của quy định trả hồ sơ

để điều tra bổ sung trong giai đoạn trước khi có BLTTHS năm 2015 để có cơ

sở nghiên cứu, so sánh với quy định của Bộ luật này về trả hồ sơ để điều tra

bổ sung tại chương tiếp theo

Trang 27

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015

VỀ TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG TRONG GIAI ĐOẠN

XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ

2.1 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về trả hồ sơ

để điều tra bổ sung trong giai đoạn chuẩn bị xét xử

2.1.1 Quy định về căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung ở giai đoạn chuẩn bị xét xử

Theo quy định tại Điều 280 BLTTHS năm 2015, khi nghiên cứu hồ sơtrong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết địnhtrả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung khi thuộc một trong các trường hợp:

- Khi thiếu chứng cứ dùng để chứng minh một trong những vấn đềquy định tại Điều 85 của Bộ luật này mà không thể bổ sung tại phiên tòa được;

- Có căn cứ cho rằng ngoài hành vi mà VKS đã truy tố, bị can cònthực hiện hành vi khác mà BLHS quy định là tội phạm;

- Có căn cứ cho rằng còn có đồng phạm khác hoặc có người khác thựchiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm liên quan đến vụ án nhưng chưađược khởi tố vụ án, khởi tố bị can;

- Việc khởi tố, điều tra, truy tố vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng.Thẩm phán chủ tọa phiên tòa chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sungkhi thuộc một trong các trường hợp trên Trường hợp ra quyết định trả hồ sơ

để điều tra bổ sung mà không thuộc các trường hợp trên thì VKS sẽ khôngchấp nhận và hoàn lại hồ sơ cho Tòa án Các căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổsung quy định tại Điều 85 BLTTHS năm 2015 đã được hướng dẫn chi tiết tạiThông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP vềquy định việc phối hợp giữa cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện quyđịnh của BLTTHS về trả hồ sơ để điều tra bổ sung do VKSNDTC- Tòa ánnhân dân tối cao - Bộ Công an - Bộ Quốc phòng ban hành, có hiệu lực ngày

Trang 28

06/02/2018 Việc hướng dẫn chi tiết quy định tại Điều 280 BLTTHS về trả

hồ sơ để điều tra bổ sung nói chung và trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giaiđoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng nhằm giúp việc trả hồ sơ chínhxác, hạn chế tình trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung, tiết kiệm thời gian, chiphí và bảo vệ quyền công dân, giữ vững lòng tin của nhân dân vào các cơquan tiến hành tố tụng Theo đó, Thông tư 02/2017 nói trên đã hướng dẫn cụthể các căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung như sau:

Thứ nhất, khi thiếu chứng cứ dùng để chứng minh một trong những

vấn đề quy định tại Điều 85 của BLTTHS năm 2015 mà không thể bổ sungđược tại phiên tòa

Theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 3 của Thông tư liên tịch số02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP thì: Chứng cứ để chứng minhnhững vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự quy định tại… điểm akhoản 1 Điều 280 của BLTTHS là chứng cứ dùng để chứng minh một hoặcnhiều vấn đề quy định tại Điều 85, Điều 441 của BLTTHS mà nếu thiếuchứng cứ này thì không giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện, đúngpháp luật Cụ thể, khi thiếu chứng cứ thuộc một trong các trường hợp sau đâythì VKS, Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung:

- Chứng cứ để chứng minh "có hành vi phạm tội xảy ra hay không", là

chứng cứ để xác định hành vi đã xảy ra có đủ yếu tố cấu thành tội phạm cụthể được quy định trong BLHS hay thuộc các trường hợp không phải là hành

vi phạm tội (quan hệ dân sự, kinh tế, vi phạm hành chính và các trường hợpkhác theo quy định của luật);

- Chứng cứ để chứng minh "thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội", là chứng cứ xác định nếu có hành vi phạm tội

xảy ra thì xảy ra vào thời gian nào, ở đâu; phương pháp, thủ đoạn, công cụ,phương tiện thực hiện tội phạm như thế nào;

8 Điều 3, 4, 5, 6, 7 Thông tư liên tịch 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP quy định việc phối hợp giữa cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện quy định của BLTTHS về trả hồ sơ để điều tra bổ sung do Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Công an - Bộ Quốc phòng ban hành.

Trang 29

- Chứng cứ để chứng minh "ai là người thực hiện hành vi phạm tội",

là chứng cứ xác định một chủ thể cụ thể đã thực hiện hành vi phạm tội đó;

- Chứng cứ để chứng minh "có lỗi hay không có lỗi", là chứng cứ xác

định chủ thể có lỗi hoặc không có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xãhội; nếu có lỗi thì là lỗi cố ý trực tiếp hay lỗi cố ý gián tiếp hoặc lỗi vô ý doquá tự tin hay lỗi vô ý do cẩu thả;

- Chứng cứ để chứng minh "có năng lực trách nhiệm hình sự không"

là chứng cứ xác định khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, người thựchiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự chưa;

có mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặckhả năng điều khiển hành vi của mình hay không; nếu có thì mắc bệnh đó vàothời gian nào, trong giai đoạn tố tụng nào;

- Chứng cứ để chứng minh "mục đích, động cơ phạm tội" là chứng cứ

xác định chủ thể thực hiện hành vi phạm tội với mục đích, động cơ gì; mụcđích, động cơ phạm tội là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự hay là tìnhtiết định tội, tình tiết định khung hình phạt;

- Chứng cứ để chứng minh "tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo" là chứng cứ xác định bị can, bị cáo

được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào hoặc áp dụng tìnhtiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định của luật TTHS;

- Chứng cứ để chứng minh "đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo", là chứng cứ xác định lý lịch của bị can, bị cáo; nếu bị can, bị cáo là

pháp nhân thương mại thì phải chứng minh tên, địa chỉ và những vấn đề khác

có liên quan đến địa vị pháp lý và hoạt động của pháp nhân thương mại;

- Chứng cứ để chứng minh "tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra" là chứng cứ để đánh giá tính chất, mức độ thiệt hại, hậu quả

về vật chất, phi vật chất do hành vi phạm tội gây ra;

- Chứng cứ để chứng minh "nguyên nhân và điều kiện phạm tội" là

chứng cứ xác định nguyên nhân chủ quan, khách quan, điều kiện cụ thể dẫnđến việc chủ thể thực hiện hành vi phạm tội;

Trang 30

- Chứng cứ để chứng minh "những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt";

- Chứng cứ để xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại làngười dưới 18 tuổi;

- Chứng cứ để chứng minh vị trí, vai trò của từng bị can, bị cáo trongtrường hợp đồng phạm hoặc phạm tội có tổ chức;

- Chứng cứ để xác định trách nhiệm dân sự của bị can, bị cáo vànhững vấn đề khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án theo quy định củapháp luật;

- Chứng cứ để chứng minh điều kiện chịu trách nhiệm hình sự củapháp nhân thương mại

Về nguyên tắc, phải tiến hành trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi thiếuchứng cứ để chứng minh thuộc một trong các trường hợp trên Tuy nhiên,trong một số trường hợp đặc biệt, có thể thiếu những chứng cứ này nhưng vẫntiến hành truy tố, xét xử được hoặc không thể thu thập được chứng cứ đó Cụthể như: hiện trường một vụ án giết người đã bị thay đổi do trời mưa nên trôihết các dấu vết, dẫn đến không thể tìm lại được vật chứng đã bị mất Haytrường hợp một vụ án cướp tài sản, cố ý gây thương tích… có 03 người làmchứng, tuy nhiên trước khi mở phiên tòa sơ thẩm thì 01 người đã bị chết dobệnh hiểm nghèo hoặc tai nạn giao thông

Điều kiện để trả hồ sơ điều tra bổ sung khi thiếu chứng cứ quan trọngđối với vụ án là Thẩm phán chủ tọa phiên tòa trong giai đoạn chuẩn bị xét xửthấy thiếu chứng cứ để chứng minh thuộc một trong các trường hợp quy địnhnêu trên nếu xét thấy không thể bổ sung được trong giai đoạn chuẩn bị xét xử

Thứ hai, khi có căn cứ để cho rằng bị can hoặc bị cáo còn thực hiện

hành vi khác mà BLHS quy định là tội phạm, còn có đồng phạm khác hoặc cóngười khác thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm liên quan đến

vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can thuộc một trong cáctrường hợp sau đây thì Thẩm phán trả hồ sơ để điều tra bổ sung:

Trang 31

- Viện kiểm sát truy tố về một hay nhiều tội, nhưng chứng cứ trong hồ

sơ vụ án cho thấy hành vi của bị can hoặc bị cáo đã thực hiện cấu thành mộthay nhiều tội khác;

- Ngoài hành vi phạm tội mà VKS đã truy tố, chứng cứ trong hồ sơ vụ áncho thấy còn có căn cứ để khởi tố bị can hoặc bị cáo về một hay nhiều tội khác;

- Ngoài bị can hoặc bị cáo đã bị truy tố, chứng cứ trong hồ sơ vụ áncho thấy còn có người đồng phạm khác hoặc có người phạm tội khác liênquan đến vụ án, nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can

Tuy nhiên, Tòa án không trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi thuộc mộttrong các trường hợp sau đây:

- Trường hợp VKS truy tố về một hay nhiều tội, nhưng chứng cứtrong hồ sơ vụ án cho thấy có thể xét xử bị can hoặc bị cáo về một hay nhiềutội tương ứng bằng hay nhẹ hơn hoặc có thể xét xử bị can hoặc bị cáo ít tộihơn số tội mà VKS truy tố;

- Đã có quyết định tách vụ án hoặc chưa có quyết định tách vụ án củaCQĐT, VKS nhưng có căn cứ để tách vụ án là: CQĐT được tách vụ án trongtrường hợp cần thiết khi không thể hoàn thành sớm việc điều tra đối với tất cảcác tội phạm và nếu việc tách đó không ảnh hưởng đến việc xác định sự thậtkhách quan, toàn diện của vụ án (khoản 2 Điều 170 BLTTHS năm 2015 hoặcVKS quyết định tách vụ án khi bị can bỏ trốn, bị can mắc bệnh hiểm nghèo,

bị can bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh nếu xét thấy việc tách đókhông ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện và đã cóquyết định tạm đình chỉ vụ án (khoản 2 Điều 242 BLTTHS năm 2015);

- Đã yêu cầu VKS bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét thấy cần bổ sungtài liệu, chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án mà không phải trả hồ sơ

để điều tra bổ sung thì Thẩm phán chủ toạ phiên tòa yêu cầu VKS bổ sung(Điều 284 của BLTTHS năm 2015)

Thứ ba, việc khởi tố, điều tra, truy tố vi phạm nghiêm trọng về thủ tục

tố tụng

Trang 32

Cụm từ "vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng" được hiểu là trong quá

trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tốtụng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các trình tự,thủ tục do BLTTHS quy định và vì vậy đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền,lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng hoặc làm ảnh hưởng đến việc xácđịnh sự thật khách quan và toàn diện của vụ án9 Theo quy định hiện hành thìcác trường hợp được coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng được quyđịnh tại khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP gồm:

- Lệnh, quyết định của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hànhmột số hoạt động điều tra mà theo quy định của BLTTHS phải có sự phêchuẩn của VKS, nhưng không có phê chuẩn của VKS hoặc việc ký lệnh,quyết định tố tụng không đúng thẩm quyền;

- Không chỉ định, thay đổi hoặc chấm dứt việc chỉ định người bàochữa cho người bị buộc tội theo quy định tại Điều 76 và Điều 77 củaBLTTHS như: bị can, bị cáo bị truy tố về tội mà BLHS quy định mức caonhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình; Người bị buộctội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhượcđiểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi nhưng họ hoặc người đại diệnhoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa;

- Xác định không đúng tư cách tham gia tố tụng của người tham gia tốtụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến xâm hại nghiêm trọngquyền và lợi ích hợp pháp của họ;

- Khởi tố vụ án hình sự nhưng không có yêu cầu của bị hại hoặc củangười đại diện của bị hại theo quy định tại khoản 1 Điều 155 của BLTTHS(gồm Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác,Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Tộihiếp dâm, Tội cưỡng dâm, Tội vu khống );

9 Khoản 1 Điều 4 Thông tư số 01/2010/TTLT- VKSNDTC-BCA-TANDTC hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Trang 33

- Nhập vụ án hoặc tách vụ án không đúng quy định tại Điều 170 hoặcĐiều 242 của BLTTHS;

- Không cấp, giao, chuyển, gửi, niêm yết hoặc thông báo văn bản tốtụng gồm lệnh, quyết định, yêu cầu, kết luận điều tra, bản cáo trạng, bản áncho người bị buộc tội và những người tham gia tố tụng khác theo đúng quyđịnh của pháp luật xâm hại nghiêm trọng đến quyền bào chữa, quyền, lợi íchhợp pháp của người bị buộc tội và những người tham gia tố tụng khác;

- Chưa điều tra, lập lý lịch của bị can; chưa xác định được những đặcđiểm quan trọng về nhân thân của bị can, bị cáo (tuổi, tiền án, tiền sự), lý lịchhoạt động của pháp nhân thương mại phạm tội (tên, địa chỉ, những vấn đềkhác liên quan đến hồ sơ pháp lý của pháp nhân thương mại);

- Không có người phiên dịch, người dịch thuật cho người tham gia tốtụng trong trường hợp họ không sử dụng được tiếng Việt hoặc tài liệu tố tụngkhông thể hiện bằng tiếng Việt; họ là người câm, người điếc, người mù theoquy định tại Điều 70 của BLTTHS;

- Không từ chối tiến hành, tham gia tố tụng hoặc thay đổi người tiếnhành tố tụng, người tham gia tố tụng trong trường hợp quy định tại các điều

49, 51, 52, 53, 54, 68, 69 và 70 của BLTTHS;

- Việc điều tra, thu thập chứng cứ để chứng minh đối với vụ án khôngđúng trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS nên không có giá trị chứng minhtrong vụ án hình sự;

- Biên bản về hoạt động điều tra, thu thập, nhận được tài liệu liên quanđến vụ án mà không chuyển cho VKS theo đúng quy định tại khoản 5 Điều 88của BLTTHS;

- Chứng cứ để chứng minh đối với vụ án đã được thu thập trong quátrình điều tra, truy tố nhưng không đưa vào hồ sơ vụ án hoặc bị sửa chữa,thêm bớt dẫn đến sai lệch hồ sơ vụ án;

- Việc điều tra, truy tố không đúng thẩm quyền theo quy định củapháp luật;

Trang 34

- Có căn cứ để xác định có việc bức cung, nhục hình trong quá trìnhtiến hành tố tụng làm cho lời khai của bị can không đúng sự thật;

- Khiếu nại, tố cáo của bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụngkhác không được giải quyết theo đúng quy định của pháp luật xâm hạinghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ;

- Những trường hợp khác phải ghi rõ lý do trong quyết định trả hồ sơ

để điều tra bổ sung

Ngoài ra, Tòa án không tiến hành trả hồ sơ để điều tra bổ sung mặc dù

vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, nhưng không xâm hại nghiêm trọngđến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng hoặc người bị buộctội, bị hại, người làm chứng là người dưới 18 tuổi nhưng khi thực hiện hoạtđộng điều tra, truy tố, xét xử thì họ đã đủ 18 tuổi

2.1.2 Các quy định khác về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn chuẩn bị xét xử

2.1.2.1 Về thẩm quyền ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung

Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 280 BLTTHS năm 2015:

"Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung…"

Ngoài ra, Điều 277 BLTTHS năm 2015 cũng quy định: "1 Trong thời hạn 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 03 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định:

Trang 35

hồ sơ, trường hợp thấy có căn cứ thì Thẩm phán ra Quyết định trả hồ sơ đểđiều tra bổ sung cho VKS để điều tra bổ sung, nội dung yêu cầu điều tra bổsung phải được ghi rõ trong Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

2.1.2.2 Về thủ tục trả hồ sơ để điều tra bổ sung

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, sau khi nghiên cứu hồ sơ nếu thấy cómột trong các căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì Thẩm phán được phâncông chủ tọa phiên tòa trao đổi với Kiểm sát viên để có biện pháp khắc phụckịp thời hoặc có thể bổ sung được tại phiên tòa mà không phải trả hồ sơ đểđiều tra bổ sung Nếu Kiểm sát viên và Thẩm phán không thống nhất ý kiến,thì báo cáo lãnh đạo liên ngành xem xét cho ý kiến về việc giải quyết vụ án

Trường hợp VKS phát hiện có căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung thìVKS có văn bản đề nghị Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung Quyết định trả

hồ sơ để điều tra bổ sung phải ghi rõ những vấn đề cần điều tra bổ sung và gửicho VKS kèm theo hồ sơ vụ án trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định

Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn tới việc đình chỉ vụ án thì VKS raquyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho Tòa án biết trong thời hạn 03ngày kể từ ngày ra quyết định Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn tới phải thayđổi quyết định truy tố thì VKS ban hành bản cáo trạng mới thay thế bản cáotrạng trước đó Trường hợp VKS không bổ sung được những vấn đề mà Tòa

án yêu cầu và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố thì Tòa án tiến hành xét xử

vụ án10

Trường hợp vụ án có bị can đang bị tạm giam mà xét thấy cần phải trả

hồ sơ để điều tra bổ sung thì trước khi hết thời hạn tạm giam ít nhất 07 ngày,Tòa án thông báo cho VKS biết để xem xét, quyết định việc tạm giam bị cankhi nhận hồ sơ vụ án

2.1.2.3 Về số lần Tòa án được trả hồ sơ để điều tra bổ sung

10 TS Trần Văn Biên - ThS Đinh Thế Hưng, Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nxb Hồng

Đức, năm 2016, tr 272.

Trang 36

Theo quy định tại khoản 2 Điều 174 BLTTHS năm 2015 thì: Trườnghợp vụ án do VKS trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổsung không quá 02 tháng; nếu do Tòa án trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung thìthời hạn điều tra bổ sung không quá 01 tháng VKS chỉ được trả lại hồ sơ đểđiều tra bổ sung hai lần Thẩm phán chủ tọa phiên tòa chỉ được trả hồ sơ đểđiều tra bổ sung một lần và HĐXX chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung mộtlần Thời hạn điều tra bổ sung tính từ ngày CQĐT nhận lại hồ sơ vụ án và yêucầu điều tra bổ sung

Như vậy, ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Thẩm phán chủtọa phiên tòa chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung một lần và HĐXX chỉđược trả hồ sơ để điều tra bổ sung một lần Đồng thời, trường hợp Tòa án trảlại để yêu cầu điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá 01tháng kể từ ngày CQĐT nhận lại hồ sơ vụ án và yêu cầu điều tra bổ sung

Quy định trên đây của Bộ luật hiện hành thể hiện sự tiến bộ hơn, chặtchẽ hơn so với quy định BLTTHS năm 2003 Cụ thể, khoản 2 Điều 121

BLTTHS năm 2003 quy định "Toà án chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung không quá hai lần" Việc quy định như này dẫn đến nhiều cách hiểu khác

nhau trong thực tiễn và việc áp dụng pháp luật không được thống nhất Cóquan điểm cho rằng Toà án trả hồ sơ để điều tra bổ sung tại khoản 2 Điều 121BLTTHS năm 2003 chỉ áp dụng đối với quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án(trong thời hạn chuẩn bị xét xử) còn đối với yêu cầu điều tra bổ sung tại phiêntòa là do HĐXX sơ thẩm quyết định nên không hạn chế về số lần quyết địnhyêu cầu điều tra bổ sung Vì vậy, có không ít vụ án trong thời hạn chuẩn bịxét xử, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên tòa đã trả hồ sơ để điều tra

bổ sung hai lần sau đó HĐXX lại tiếp tục yêu cầu điều tra bổ sung Quanđiểm khác cho rằng, quy định về số lần Toà án trả hồ sơ để điều tra bổ sungtại khoản 2 Điều 121 BLTTHS năm 2003 là áp dụng cho Toà án cấp sơ thẩmtrong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự Điều này được hiểu là Toà

Trang 37

án cấp sơ thẩm chỉ được ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung không quáhai lần và quy định này đã bao gồm cả đối với Quyết định trả hồ sơ để điềutra bổ sung trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và Quyết định yêu cầu điều tra bổsung tại phiên toà11.

Hơn nữa, để nâng cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng,người tiến hành tố tụng, Quốc hội đã ban hành Luật trách nhiệm bồi thườngcủa Nhà nước 2009 (có hiệu lực ngày 01/01/2010) Theo đó, Toà án cấp sơthẩm có trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi tuyên bị cáo có tội nhưng Toà áncấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm, tuyên bị cáo không có tội và đình chỉ vụ

án vì người đó không phạm tội hoặc huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại mà sau

đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không thực hiện hành viphạm tội hoặc huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên

là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội hoặc Toà án cấp sơ thẩmtuyên bị cáo có tội, bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật nhưng Toà án xét

xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ bản án và đình chỉ vụ án vì người

đó không thực hiện hành vi phạm tội;12…

Yêu cầu thực tiễn đặt ra, Thẩm phán tiến hành tố tụng phải nghiên cứutoàn diện hồ sơ để phát hiện các trường hợp phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung,đồng thời phải kịp thời ra quyết định, không được để hết thời hạn chuẩn bị xét

xử mới ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung Quy định này bắt buộcnhững cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải nỗ lực điều tra,tìm ra sự thật khách quan, toàn diện của vụ án, tránh việc đùn đẩy tráchnhiệm, tránh bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội

2.1.2.4 Về thời hạn điều tra bổ sung trong trường hợp Tòa án trả hồ

sơ để điều tra bổ sung

11 Đỗ Văn Nghiêm, Luận văn thạc sĩ luật học, Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

vụ án hình sự từ thực tiễn huyện phú xuyên, thành phố Hà Nội, Hà Nội, năm 2017, tr 34.

12 Điều 32 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 quy định về trách nhiệm bồi thường của Toà án nhân dân trong hoạt động tố tụng hình sự.

Trang 38

Về thời hạn điều tra bổ sung, khoản 2 Điều 274 BLTTHS năm 2015

quy định trường hợp vụ án do Tòa án trả lại để điều tra bổ sung thì "thời hạn điều tra bổ sung không quá một tháng" và thời hạn này "tính từ ngày Cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ vụ án và yêu cầu điều tra" Song, BLTTHS năm 2015

lại chưa có quy định về thời hạn VKS phải chuyển hồ sơ vụ án cho CQĐT saukhi đã nhận được hồ sơ từ Tòa án để tiến hành điều tra bổ sung

Vấn đề này đã được hướng dẫn khoản 2 Điều 10 Thông tư liên tịch02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP như sau: Sau khi nhậnđược hồ sơ vụ án và quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án, VKS

xử lý như sau:

+ Nếu quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án có căn cứ

mà VKS có thể tự bổ sung được thì VKS tiến hành điều tra theo quy định tạikhoản 2 và khoản 3 Điều 236, khoản 1 Điều 246 của BLTTHS; trường hợpkhông thể tự mình bổ sung được thì VKS ra quyết định trả hồ sơ để điều tra

bổ sung và chuyển ngay hồ sơ cho CQĐT để tiến hành điều tra;

+ Nếu quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án không cócăn cứ theo quy định tại các điều 3, 5 và 6 của Thông tư liên tịch này thì VKS

có văn bản nêu rõ lý do giữ nguyên quyết định truy tố và chuyển lại hồ sơ choTòa án để đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại Điều 246 và khoản 3 Điều 280của BLTTHS

Mặc dù đã hướng dẫn cụ thể hơn nhưng Thông tư hướng dẫn hiện

hành cũng không xác định "ngay" là thời gian bao lâu Việc quy định chưa

chặt chẽ dẫn đến một số vụ án sau khi Toà án trả hồ sơ để điều tra bổ sung,việc giải quyết vụ án đã kéo dài, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợppháp của những người tham gia tố tụng, ảnh hưởng đến sự nghiêm minh và

uy tín của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Thời hạn điều tra bổ sungtrong trường hợp Tòa án trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung mà việc điều tra bổsung đó được VKS quyết định giao lại hồ sơ cho CQĐT là một tháng kể từ

Trang 39

ngày nhận lại hồ sơ nhưng thời hạn điều tra bổ sung trong trường hợp VKS tựmình điều tra bổ sung là bao nhiêu ngày, tháng thì Thông tư hướng dẫn lạichưa đề cập đến.

2.2 Quy định của pháp luật về trả hồ sơ để điều tra bổ sung tại phiên tòa xét xử

2.2.1 Quy định về căn cứ, thẩm quyền trả hồ sơ để điều tra bổ sung tại phiên tòa xét xử sơ thẩm

Bộ luật TTHS năm 2015 chưa có quy định cụ thể về căn cứ để HĐXX

ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung tại phiên tòa thành một điều luật cụthể như ở giai đoạn chuẩn bị xét xử Tuy nhiên, tại khoản 6 Điều 326

BLTTHS năm 2015 quy định: " Kết thúc việc nghị án, Hội đồng xét xử phải quyết định một trong các vấn đề:

Như vậy, mặc dù trong giai đoạn xét xử sơ thẩm của BLTTHS năm

2015 không có điều luật quy định cụ thể về việc HĐXX quyết định trả hồ sơ

để điều tra bổ sung như thẩm quyền của Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bịxét xử Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3 và khoản 6 Điều 326 BLTTHSnăm 2015, tại phiên toà xét xử sơ thẩm, khi xét thấy có một trong các trườnghợp cần trả hồ sơ để điều tra bổ sung như tại giai đoạn chuẩn bị xét xử thìHĐXX ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung

Tòa án xét xử tập thể, quyết định theo đa số là nguyên tắc xét xử củaTòa án Mọi vấn đề thuộc nội dung vụ án đều phải được thảo luận tập thể,

quyết định theo đa số tại phòng nghị án Theo quy định tại Điều 326 BLTTHS

năm 2015 thì HĐXX phải thảo luận tại phòng nghị án là vụ án có thuộc

Trang 40

trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung hay không và ra quyết định trả hồ sơ

vụ án để VKS điều tra bổ sung sau khi kết thúc phần nghị án13 Như vậy, tạiphiên tòa xét xử, chủ thể có thẩm quyền ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổsung là HĐXX

2.2.2 Các quy định khác về trả hồ sơ để điều tra bổ sung tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

2.2.2.1.Về thủ tục trả hồ sơ để điều tra bổ sung

Theo quy định tại Thông tư liên tịch TANDTC-BCA-BQP thì việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung phải ra quyết địnhbằng văn bản và do người có thẩm quyền ký theo quy định tại các Điều 41, 44

02/2017/TTLT-VKSNDTC-và 45 của BLTTHS năm 2015 (gồm có Viện trưởng VKS, Chánh án Tòa ánnhân dân, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa hoặc các Phó viện trưởng VKS, Phóchánh án được ủy quyền từ Viện trưởng, Chánh án)

Trong quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung phải ghi số, ngày,tháng, năm và lần trả hồ sơ (thứ nhất hoặc thứ hai) Trong phần nội dung phải

ghi cụ thể những vấn đề cần phải điều tra bổ sung, những vi phạm nghiêm

trọng về thủ tục tố tụng cần được khắc phục và những căn cứ pháp luật được

áp dụng

Trường hợp phải tiếp tục trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì trong quyếtđịnh nêu rõ những vấn đề yêu cầu điều tra bổ sung lần trước chưa được điềutra bổ sung hoặc đã điều tra bổ sung nhưng chưa đạt yêu cầu hoặc từ kết quảđiều tra bổ sung làm phát sinh vấn đề mới cần điều tra

Ngoài ra, trường hợp Tòa án quyết định trả hồ sơ cho VKS để truy tốlại khi xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh mà VKS đãtruy tố thì trong quyết định trả hồ sơ phải nêu rõ tội danh nặng hơn mà Tòa án

đề nghị VKS truy tố lại14

13 Khoản 3 Điều 326 BLTTHS năm 2015 quy định: "Các vấn đề của vụ án phải được giải quyết khi nghị án gồm: a)

Vụ án có thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc thuộc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung hay không;…".

14 Điều 9 Thông tư liên tịch 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP quy định việc phối hợp giữa

cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung do Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Công an - Bộ Quốc phòng ban hành.

Ngày đăng: 20/02/2023, 20:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Văn Biên - Đinh Thế Hưng (2016), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Tác giả: Trần Văn Biên, Đinh Thế Hưng
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2016
2. Chính phủ (2002), Chỉ thị số 10/2002/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thực hiện nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 10/2002/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thực hiện nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2002
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2002
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
6. Vũ Gia Lâm (2013), "Hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về việc Tòa án cấp sơ thẩm trả hồ sơ để điêu tra bổ sung", Tòa án nhân dân, (08), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về việc Tòa án cấp sơ thẩm trả hồ sơ để điêu tra bổ sung
Tác giả: Vũ Gia Lâm
Nhà XB: Tòa án nhân dân
Năm: 2013
7. Đỗ Văn Nghiêm (2017), Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện phú xuyên, thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện phú xuyên, thành phố Hà Nội
Tác giả: Đỗ Văn Nghiêm
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2017
16. Quốc hội (2009), Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
20. Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên (2013), Báo cáo số 530/TA-VP tổng kết công tác ngành Tòa án nhân dân Điện Biên, Điện Biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 530/TA-VP tổng kết công tác ngành Tòa án nhân dân Điện Biên
Tác giả: Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên
Năm: 2013
21. Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên (2014), Báo cáo số 460/TA-VP tổng kết công tác ngành Tòa án nhân dân Điện Biên, Điện Biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 460/TA-VP tổng kết công tác ngành Tòa án nhân dân Điện Biên
Tác giả: Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên
Năm: 2014
22. Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên (2015), Báo cáo số 678/BC-TAND tổng kết công tác Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Điện Biên, Điện Biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 678/BC-TAND tổng kết công tác Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Điện Biên
Tác giả: Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên
Năm: 2015
23. Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên (2016), Báo cáo số 765/BC-TAND tổng kết công tác Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Điện Biên, Điện Biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 765/BC-TAND tổng kết công tác Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Điện Biên
Tác giả: Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên
Năm: 2016
24. Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên (2017), Báo cáo số 840/BC-TANDT tổng kết công tác Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Điện Biên, Điện Biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 840/BC-TANDT tổng kết công tác Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Điện Biên
Tác giả: Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên
Năm: 2017
26. Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao (1988), Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 08/12/1988 hướng dẫn thi hành một số quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 08/12/1988 hướng dẫn thi hành một số quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1988
27. Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2017
28. Viện kiểm sát nhân dân tố cao (2013), Báo cáo số 171/BC-VKSTC về tổng kết công tác của ngành kiểm sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 171/BC-VKSTC về tổng kết công tác của ngành kiểm sát nhân dân
Tác giả: Viện kiểm sát nhân dân
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2013
29. Viện kiểm sát nhân dân tố cao (2014), Báo cáo số 179/BC-VKSTC về tổng kết công tác của ngành kiểm sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 179/BC-VKSTC về tổng kết công tác của ngành kiểm sát nhân dân
Tác giả: Viện kiểm sát nhân dân tố cao
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2014
30. Viện kiểm sát nhân dân tố cao (2015), Báo cáo số 224/BC-VKSTC về tổng kết công tác của ngành kiểm sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 224/BC-VKSTC về tổng kết công tác của ngành kiểm sát nhân dân
Tác giả: Viện kiểm sát nhân dân
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2015
31. Viện kiểm sát nhân dân tố cao (2016), Báo cáo số 152/BC-VKSTC về tổng kết công tác của ngành kiểm sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 152/BC-VKSTC về tổng kết công tác của ngành kiểm sát nhân dân
Tác giả: Viện kiểm sát nhân dân
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2016
32. Viện kiểm sát nhân dân tố cao (2017), Báo cáo số 139/BC-VKSTC về tổng kết công tác của ngành kiểm sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 139/BC-VKSTC về tổng kết công tác của ngành kiểm sát nhân dân
Tác giả: Viện kiểm sát nhân dân
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2017

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w