MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG 6 1 1 Khái niệm và đặc điểm công chứng 6 1 2 Tổ chức hành nghề công chứng 11 1 3 Quản lý nhà nước về tổ chức hành[.]
Trang 1Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG 6
1.3 Quản lý nhà nước về tổ chức hành nghề công chứng 16
Chương 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THÀNH LẬP TỔ CHỨC
2.1 Nguyên tắc thành lập, chuyển đổi, giải thể phòng công chứng 202.2 Quy định pháp luật về thành lập, chuyển nhượng và chấm dứt
2.3 Pháp luật về hợp nhất, sáp nhập Văn phòng công chứng 36
2.5 Pháp luật về hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng 41
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ
3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thành lập, chuyển đổi và giải
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động của tổ chức hành
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHÀO
PHỤ LỤC
Trang 2Số hiệu
bảng
2.1 So sánh giữa hợp nhất Văn phòng công chứng và sáp
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳhọp thứ 7 ngày 19 tháng 06 năm 2014 đã thông qua Luật công chứng 2014, cóhiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 Đây là một bước tiến quan trọngtrong việc xã hội hóa hoạt động công chứng của nước ta hiện nay Từ ngày1/5/2015, Nghị định số 29/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết vàhướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng năm 2014 có hiệu lựcthi hành Nghị định được ban hành với mục tiêu tiếp tục thực hiện chủ trươngxã hội hóa hoạt động công chứng, thực hiện công khai, minh bạch, dân chủ,khách quan hoạt động công chứng theo lộ trình quy hoạch tổng thể phát triểntổ chức hành nghề công chứng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Nghịđịnh quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Côngchứng về chuyển đổi Phòng công chứng thành Văn phòng công chứng; hợpnhất, sáp nhập, chuyển nhượng Văn phòng công chứng; chính sách ưu đãi đốivới Văn phòng công chứng thành lập tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xãhội khó khăn, đặc biệt khó khăn
Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vaitrò của nhà nước trong việc cung ứng dịch vụ công là điều quan trọng của sựnghiệp đổi mới toàn diện đất nước Vai trò của nhà nước trong việc cung ứngdịch vụ công được nâng lên một tầm cao mới, không chỉ phát huy dân chủ tăngcường pháp chế mà còn nâng cao sức cạnh tranh khi đất nước đang tiến tới toàncầu hóa và hội nhập quốc tế Yêu cầu xã hội hóa dịch vụ công, trong đó có xãhội hóa công chứng một ngành dịch vụ pháp lý là hết sức cần thiết Song songvới xã hội hóa các hoạt động như luật sư, giám định tư pháp… thì xã hội hóacông chứng là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong chiến lược cải cách
tư pháp đến năm 2020 Bước ngoặt lớn đó là khi Luật Công chứng 2006 ra đời
và cho đến nay là Luật Công chứng 2014 đã cho phép thành lập nên các tổ chức
Trang 4hành nghề công chứng, một mô hình mới nhằm đáp ứng được những nhu cầucủa xã hội và xu hướng chung của thế giới Tuy nhiên, việc ra đời của tổ chứchành nghề công chứng vẫn còn khó khăn và nhiều biến động, thêm vào đónhận thức của một số cán bộ và người dân về tổ chức này vẫn còn mơ hồ
chưa hiểu rõ Chính vì vậy, tôi chọn đề tài "Thực trạng pháp luật về thành lập tổ chức hành nghề công chứng ở Việt Nam" làm đề tài luận văn của
mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay đã có nhiều bài viết nghiên cứu về Luật Công chứng và so sánh
về tổ chức hành nghề công chứng như: Tác giả Tuấn Đạo Thanh (2012), "Pháp luật công chứng - những vấn đề lý luận và thực tiễn", Nhà xuất bản Tư pháp; Tuấn Đạo Thanh (2011), "Nhập môn công chứng", Nhà xuất bản Tư pháp; Tuấn Đạo Thanh (2008), "Nghiên cứu so sánh pháp luật một số nước trên thế giới nhằm góp phần xây dựng luật cứ khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật về công chứng Việt Nam hiện nay", Luận án tiến sĩ Luật học; Hội đồng Bộ trưởng (1991), Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/02/1991; Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước, Hà Nội; Chính phủ (2000), Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/02/2000 về công chứng, chứng thực,
Hà Nội; Chính phủ (2015), Nghị định số 29/2015/NĐ-CP ngày 15/3/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Công chứng, Hà Nội; Bộ Tư pháp (1987), Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 hướng dẫn công tác công chứng nhà nước; Chính phủ (2000), Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8/12/2000 về công chứng, chứng thực; Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020; Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010; Chính phủ (2015), Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 về cấp bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch; Bộ Tư pháp (2001), Thông tư số 03/2001/TP-CC ngày 14/3/2001 hướng dẫn thi hành Nghị định
Trang 5số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2001 của Chính phủ về công chứng, chứng thực, Hà Nội; Bộ Tư pháp (2011), Thông tư số 11/2001/TT-BTP ngày 27/6/2011 hướng dẫn thực hiện một số nội dung về công chứng viên, tổ chức và hoạt động công chứng, quản lý nhà nước về công chứng, Hà Nội; Bộ Tư pháp (2012), Thông tư số 11/2012/TT-BTP ngày 30/10/2012 Ban hành quy tắc đạo đức hành nghề công chứng, Hà Nội; Bộ Tư pháp (2015), Thông tư số 20/2015/TT-BTP ngày 29/12/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP; Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp (2015), Thông tư liên tịch số 115/2015/TTLT-BTC-BTP ngày 11/08/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 08/2012/TTLT-BTC-BTC ngày 19/01/2012 hướng dẫn về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí công chứng; Chính phủ (1996), Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước, Hà Nội; Chính phủ (2001), Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2001 về công chứng, chứng thực, Hà Nội; Chính phủ (2006), Tờ trình số 40/TTr-XDPL của Chính phủ ngày 18/4/2006 về dự án Luật công chứng, Hà Nội; Quốc hội (2014), Luật Doanh nghiệp 2014; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm, Hà Nội;Sở Tư pháp thành phố Hà Nội (2012), Báo cáo tổng kết 05 năm thi hành Luật Công chứng, Hà Nội; Chính phủ (2008), Nghị định số 02/2008/NĐ-CP ngày 04/01/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng, Hà Nội; Chính phủ (2009), Nghị định số 52/2009/NĐ-CP ngày 03/6/2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; Chính phủ (2010), Quyết định số 250/QĐ- TTg ngày 10/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng ở Việt Nam đến năm 2020, Hà Nội; Chính phủ (2011), Quyết định số 240/QĐ-TTG ngày 17/02/2011 của Thủ tướng Chính phủ ban hành tiêu chí quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng ở Việt Nam đến năm 2020, Hà Nội; Chính phủ (2012), Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 28/6/2012 quy định về thành lập,
Trang 6tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập; Chính phủ (2013), Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, được sửa đổi bổ sung tại Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015 những bài
viết này đều chỉ nghiên cứu một phần chứ chưa nghiên cứu hết về các quan hệcủa tổ chức hành nghề công chứng Vì vậy tác giả đi sâu vào nghiên cứu vềđiều này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về thành lập tổ chức hành nghềcông chứng
- Phân tích những vấn đề lý luận về cơ bản về thành lập tổ chức hànhnghề công chứng
- Phân tích thực trạng pháp luật về thành lập tổ chức hành nghềcông chứng
- Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thành lập tổ chứchành nghề công chứng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống các quy phạm pháp luật về thànhlập tổ chức hành nghề công chứng
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cừu các quy địnhhiện hành gồm: Luật công chứng năm 2014 và các văn bản hướng dẫn vềthành lập,chuyển đổi, giải thể tổ chức hành nghề công chứng
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thành lập tổ chức hành nghề côngchứng từ năm 2015 đến nay
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận được sử dụng là phương pháp luận của chủ nghĩaMác - Lênin
- Phương pháp nghiên cứ được sử dụng trong đề tài gồm:
Trang 7+ Phương pháp tìm hiểu tư liệu: Là nghiên cứu về lý luận thông quanhững tài liệu có liên quan đến tổ chức và hoạt động của tổ chức hành nghềcông chứng Qua đó xây dựng lý thuyết của đề tài.
+ Phương pháp so sánh: Làm rõ sự giống và khác nhau, những điểmtiến bộ và phát triển của Luật Công chứng 2014 so với Luật Công chứng 2006
và các văn bản pháp luật quy định về công chứng từ trước tới nay Từ đó đánhgiá những thuận lợi và hạn chế trong thực tế thi hành Luật Công chứng 2014,đề ra những giải pháp phù hợp giải quyết những khúc mắt còn tồn đọng
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đây là một phương pháp quantrọng trong quá trình nghiên cứu Trên cơ sở các tài liệu, thông tin và dữ liệuthu thập được, tác giả phân tích, đánh giá, xem xét trên các khía cạnh Qua đótổng hợp lại để có những kết luận, những đề xuất mang tính khoa học, phù hợpvới lý luận và thực tiễn công tác quản lý nhà nước về hoạt động công chứng
6 Ý nghĩa luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận, luận văn đã hệ thống, phân tích, bổ sung những vấn đề cótính lý luận về công chứng và tổ chức hành nghề công chứng; chỉ ra nhữngđiểm khác trong tổ chức giữa phòng công chứng và văn phòng công chứng;những bất cập còn tồn tại trong Luật Công chứng 2014 và đề xuất đưa ranhững giải pháp phù hợp
Về thực tiễn, các luận cứ và giải pháp của đề tài có thể sử dụng đượccho việc hoàn thiện các chế định pháp luật có liên quan đến tổ chức hànhnghề công chứng trên thực tế, luận văn còn là tài liệu tham khảo phục vụ chonghiên cứu, đào tạo về luật học
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về thành lập tổ chức hành nghề công chứng; Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về thành lập tổ chức hành
nghề công chứng
Trang 8Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thành lập tổ
chức hành nghề công chứng
Trang 9Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG
1.1 Khái niệm và đặc điểm công chứng
1.1.1 Khái niệm về công chứng
Trong những năm qua, hoạt động công chứng, chứng thực ở nước ta đãcó những bước phát triển, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước, khẳng định ngày càng rõ hơn vị trí, vai trò của công chứng trongđời sống xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của cá nhân, tổ chức trong nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời là công cụ đắc lựcphục vụ quản lý nhà nước có hiệu quả trong việc bảo đảm trật tự an toàn xã hội
Hoạt động công chứng ở nước ta xuất hiện từ rất sớm Từ năm 1858đến 1954, đã tồn tại thể chế công chứng Pháp tại Đông Dương, trong đó cóViệt Nam và tập trung ở Sài Gòn Các công chứng viên là công chức ngườiPháp ở nhiều cở quan khác nhau, với nhiệm vụ chủ yếu là công chứng hợpđồng mua bán bất động sản ở Pháp
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công và thiết lập nước Việt Namdân chủ cộng hòa năm 1945, bằng việc Hồ Chủ tịch ban hành Sắc lệnh số59/SL ngày 15/11/1945 về việc ấn định thể lệ thị thực các giấy tờ và Sắc lệnhsố 85/SL ngày 29/02/1952 quy định thể lệ trước bạ việc mua, bán, cho, đổinhà cửa, ruộng đất đã chính thức đặt nền móng cho hoạt động công chứng,chứng thực ở nước ta
Công chứng với tư cách là một thể chế pháp lý đa hình thành ở nước
ta khá sớm, nhưng mãi đến năm 1987 thuật ngữ "Công chứng" mới được sửdụng một cách rộng rãi Trong thời kỳ đầu đất nước bước vào giai đoạn đổimới, hoạt động công chứng, chứng thực của nước ta được kiện toàn và pháttriển với sự ra đời của các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạtđộng công chứng, chứng thực như: Thông tư số 574/QL-TPK ngày 10/10/1987của Bộ Tư pháp hướng dẫn công tác công chứng nhà nước, Nghị định số
Trang 1045/HĐBT ngày 27/2/1991 về công chứng Nhà nước của Hội đồng Bộ trưởng(nay là Chính phủ), sau đó là Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 về tổ chức
và hoạt động công chứng Nhà nước Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày8/12/2000 về công chứng, chứng thực Thời kỳ này, hai hoạt động côngchứng và chứng thực luôn gắn liền với nhau và cùng được điều chỉnh chungtrong cùng một văn bản quy phạm pháp luật
Thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về chiến lượcxây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khảthi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới văn bản
cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật, phát huy vai trò và hiệu lực của phápluật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế,hội nhập quốc tế, xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyềncon người, quyền tự do, dân chủ của công dân, góp phần đưa nước ta trởthành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, định hướng đếnnăm 2020 và nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cảicách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị Xây dựng nền tư pháp trongsạch, vững mạnh, dân chủ, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa;hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệulực cao, Quốc hội đã thông qua Luật Công chứng và sáu 6 năm triển khai thựchiện, Ngày Quốc hội thông qua Luật Công chứng sửa đổi nhằm hoàn thiệnpháp luật về công chứng, đưa hoạt động công chứng phát triển theo hướngchuyên nghiệp, phù hợp với thông lệ quốc tế
Việc xác định khái niệm công chứng là vấn đề quan trọng có vai trò lýluận cũng như thực tiễn ảnh hưởng đến mô hình tổ chức cơ chế hoạt động củacác phòng công chứng cũng như văn phòng công chứng Chúng ta có nhữngkhái niệm khác nhau về công chứng trong các văn bản quy phạm pháp luật như:
Trang 11- Nghị định số 31/CP ngày 18 tháng 5 năm 1996 của Chính phủ về tổchức và hoạt động công chứng nhà nước quy định: "Công chứng là việcchứng nhận xác thực các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật,nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổchức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi là các tổ chức) góp phần phòng ngừa
vi phạm pháp luật tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Các hợp đồng, giấytờ đã được công chứng nhà nước chứng nhận hoặc Ủy ban nhân dân cấp cóthẩm quyền chứng thực có giá trị chứng cứ, trường hợp bị Tòa án nhân dântuyên bố là vô hiệu" Khái niệm này bước đầu đã có sự phân biệt hành vi côngchứng và hành vi chứng thực Tuy nhiên, ý nghĩa pháp lý của hành vi côngchứng và hành vi chứng thực chưa được phân biệt
- Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8 tháng 12 năm 2000 của Chínhphủ về công chứng chứng thực tại Điều 2 quy định: "Công chứng là việcPhòng công chứng chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kếthoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, thương mại và quan
hệ xã hội khác (sau đây gọi là hợp đồng giao dịch) và thực hiện các việc kháctheo quy định của nghị định này" Theo đó, chủ thể của hoạt động công chứngđược xác định ở đây là Phòng công chứng, trong khi thực tiễn hoạt động côngchứng cho thấy, công chứng là hoạt động của công chứng viên, công chứngviên phải chịu trách nhiệm cá nhân về hành vi công chứng của mình
- Luật công chứng năm 2006 quy định: "Công chứng là việc côngchứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng giao dịchkhác (sau đây gọi là hợp đồng giao dịch) bằng văn bản mà theo qui định củapháp luật phải công chứng hoặc cá nhan tổ chức tự nguyện yêu cầu công
chứng" Khái niệm này về cơ bản đã giải quyết được những thiết sót của Nghị
định 31/CP và nghị định 75/2000/NĐ-CP về khái niệm công chứng
- Điều 2 khoản 1 Luật công chứng ngày 20 tháng 6 năm 2014 quyđịnh: "Công chứng là việc công chứng viên của một số tổ chức hành nghềcông chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân
Trang 12sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng giao dịch), tính chính xác, hợppháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việtsang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi
là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổchức tự nguyện yêu cầu công chứng" Đây có thể coi là khái niệm cơ bản vàđầy đủ nhất về công chứng cho đến thời điểm hiện tại
Khái niệm này của Luật Công chứng 2014 đã mở rộng phạm vi hoạtđộng của các tổ chức hành nghề công chứng, của công chứng viên Cụ thể, côngchứng viên thực hiện việc chứng nhận bản dịch giấy tờ nhằm tạo thuận tiện chongười dân cũng như giảm áp lực công việc cho các cơ quan hành chính Tuynhiên, để đảm bảo tính chuyên môn hóa, chất lượng trong hoạt động công chứng,dịch thuật, phù hợp với năng lực và điều kiện thực tế của các tổ chức hành nghềcông chứng, đồng thời đảm bảo tốt hơn cho người dân trong việc lựa chọn vàtiếp cận dịch vụ chứng nhận bản dịch, Luật Công chứng 2014 quy định côngchứng viên cũng phải chịu trách nhiệm về nội dung bản dịch và việc chứng nhậnnội dung bản dịch không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội (khoản 3Điều 61) nhằm đề cao trách nhiệm của công chứng viên trong hoạt động này
Những khái niệm về công chứng nêu trên đều gắn với sự thay đổi củaxã hội qua từng giai đoạn phát triển khác nhau có sự thay đổi nhất định Songxét về bản chất và mục đích của hành vi thì không thay đổi, qua đó thấy đượccác đặc điểm rõ rệt của hoạt động công chứng
1.1.2 Đặc điểm của công chứng
Thứ nhất, công chứng là hành vi do công chứng viên thực hiện.
Điều này phân biệt với chứng thực là hành vi do người đại diện của cơquan hành chính công quyền thực hiện Công chứng viên do Bộ trưởng Bộ Tưpháp bổ nhiệm, miễn nhiệm, chịu trách nhiệm tiếp nhận hoặc lập các hợpđồng, giao dịch theo yêu cầu của người yêu cầu công chứng đảm bảo cho cáchợp đồng giao dịch sau khi được chứng nhận có giá trị chứng cứ Điều đó chothấy, hoạt động công chứng là hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý mang tính
Trang 13chất đặc biệt, tức là vừa mang tính dịch vụ, vừa là một trong những hoạt độngbổ trợ tư pháp Xét về khía cạnh lý luận chung, đó là dịch vụ pháp lý cho cánhân, tổ chức trong giao dịch của xã hội mà người công chứng viên phải chịutrách nhiệm cá nhân Hoạt động công chứng là hoạt động dịch vụ pháp lý chứkhông phải là tư nhân hóa hoạt động công chứng, nhằm để tổ chức hành nghềcông chứng góp phần chia sẻ gánh nặng với nhà nước, tránh việc độc quyền
và góp phần quan trọng trong việc bảo vệ pháp luật bảo vệ quyền lợi chínhđáng của công dân, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Thứ hai, nội dung cơ bản của công chứng là xác nhận tính đúng đắn,
hợp pháp của các giao dịch, hợp đồng, tính chính xác, hợp pháp, không tráiđạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nướcngoài, hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt, Điều 2, Luật công chứng
2014 theo yêu cầu của công dân, tổ chức và chứng nhận các hợp đồng giaodịch theo quy định của pháp luật Đây là đặc điểm quan trọng của hoạt độngcông chứng để phân biệt với hoạt động mang tính chất hành chính khác của
cơ quan công quyền Các hợp đồng, giao dịch, bản dịch được công chứngviên xác nhận theo quy định của pháp luật chính là văn bản công chứng
Thứ ba, văn bản công chứng có giá trị chứng cứ và hiệu lực thi hành
với các bên, nhưng tình tiết, sự kiện trong văn bản công chứng có giá trịchứng cứ không phải chứng minh đã được Luật công chứng (Khoản 3 Điều 5)
và Bộ luật tố tụng dân sự (Điều 80, 83) quy định, trừ trường hợp văn bản côngchứng bị Tòa án tuyên vô hiệu
Văn bản công chứng được công chứng viên xác nhận theo trình tự, thủtục do pháp luật về công chứng quy định và chủ thể tham gia giao dịch có đủnăng lực dân sự, nội dung thỏa thuận là hoàn toàn tự nguyện thì văn bản côngchứng có hiệu lực thi hành với các bên có liên quan Buộc các bên phải thựchiện đúng các cam kết đã xác lập Trong pháp luật về tố tụng tài liệu, văn bản,giấy tờ được coi là chứng cứ khi hình thức và nội dung của các tài liệu, giấytờ đó phản ánh đúng nội dung thực tế và phù hợp với quy định của pháp luật
Trang 14Vì vậy văn bản được công chứng viên xác nhận thông qua lời chứng của mình
và nội dung của hợp đồng, giao dịch không trái đạo đức xã hội, phù hợp vớiquy định của pháp luật thì được coi là chứng cứ và không phải chứng minh,trừ trường hợp bị tòa án tuyên bố vô hiệu
Từ những căn cứ phân tích nêu trên, có thể thấy công chứng là hoạtđộng không thể thiếu trong đời sống xã hội, là tài liệu chứng cứ khi có tranhchấp tại tòa án, là công cụ hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củacác bên tham gia giao dịch, góp phần phòng ngừa rủi ro đảm bảo an toàn pháplý cho các giao dịch dân sự kinh tế, thương mại phát triển, tránh việc tranhchấp và vi pham pháp luật tạo sự ổn định cho xã hội Hoạt động của các côngchứng viên thông qua tổ chức hành nghề công chứng của mình góp phần quantrọng trong việc tạo cho người dân ý thức trách nhiệm tốt hơn khi sử dụng cáccông cụ pháp lý để bảo vệ mình
1.2 Tổ chức hành nghề công chứng
1.2.1 Định nghĩa
Tổ chức hành nghề công chứng là: Phòng công chứng và văn phòngcông chứng (Điều 23 Luật Công chứng 2006)
Theo quy định tại Điều 19 Luật Công chứng 2014, Phòng công chứng
do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập, là đơn vị sự nghiệp cônglập thuộc Sở Tư pháp, có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng Người đại diệntheo pháp luật của Phòng công chứng là trưởng phòng, trưởng phòng côngchứng phải là công chứng viên, do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổnhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tên gọi của Phòng công chứng bao gồm cụmtừ "Phòng công chứng" kèm theo số thứ tự thành lập và tên của tỉnh, thànhphố trực thuộc trung ương nơi Phòng công chứng được thành lập Thủ tục, hồ
sơ xin khắc dấu, việc quản lý, sử dụng con dấu của Phòng công chứng đượcthực hiện theo quy định của pháp luật về con dấu
Phòng công chứng là đơn vị sự nghiệp có thu thuộc Sở Tư pháp nênkinh phí được nhà nước cấp và một phần kinh phí từ hoạt động công chứng
Trang 15được sử dụng tại đơn vị Phòng công chứng phải nộp 100% phí thu được chonhà nước và được nhà nước trích lại 50% phí thu được để chi trả cho hoạtđộng của phòng.
Theo quy định tại Điều 22 của Luật Công chứng 2014, Văn phòng côngchứng là tổ chức dịch vụ công được tổ chức và hoạt động theo loại hình Công
ty hợp danh, phải có từ hai công chứng viên hợp danh trở lên, không có thànhviên góp vốn Tên của Văn phòng công chứng được lấy theo tên của Trưởngvăn phòng Các quyền và nghĩa vụ của văn phòng công chứng được quy địnhtrong Luật công chứng và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan
1.2.2 Đặc điểm của tổ chức hành nghề công chứng
* Sự giống nhau giữa phòng công chứng và văn phòng công chứng
- Là tổ chức mang tính dịch vụ pháp lý Xét về bản chất, tổ chức hànhnghề công chứng, là một loại hình doanh nghiệp cung cấp "dịch vụ côngchứng" Hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng hướng đến 3 lợi ích:
+ Lợi ích của nhà nước: Hoạt động công chứng là hoạt động bổ trợ tưpháp và chịu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước do hoạt động công chứng gắnliền với việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp của các cá nhân, tổ chức khi tham giacác hợp đồng, giao dịch, hỗ trợ, bổ sung cho các hoạt động quản lý nhà nước vàhoạt động tư pháp nên được xếp vào hoạt động bổ trợ tư pháp Hoạt động côngchứng là hoạt động mang tính dịch vụ pháp lý đặc biệt Công chứng viên là
"công lại" được nhà nước ủy quyền, thay mặt cho nhà nước chứng nhận tính xácthực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợppháp của các bên khi giao kết hợp đồng, phòng ngừa rủi ro, tranh chấp nên cáctổ chức hành nghề công chứng chịu sự quản lý, điều tiết chặt chẽ của nhà nước
+ Lợi ích của các bên tham gia giao dịch: Việc xã hội hóa công chứngđã tạo điều kiện thuận tiện cho người dân trong việc thực hiện các yêu cầucông chứng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cá nhân, tổ chức, góp phầnphòng ngừa vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội Đặc biệt, hoạtđộng công chứng đã góp phần quan trọng vào việc phòng ngừa các tranh
Trang 16chấp, khiếu nại trong lĩnh vực đất đai, nhà ở - lĩnh vực vốn phức tạp và tiềm
ẩn nhiều nguy cơ tranh chấp Không thể phủ nhận công chứng là "lá chắn"phòng ngừa hữu hiệu, đảm bảo an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch,tiết kiệm thời gian, chi phí cho xã hội, giảm thiểu công việc cho Tòa án trongviệc giải quyết các tranh chấp dân sự
+ Lợi ích của phòng, văn phòng công chứng: được thu phí và thù laocông chứng theo quy định khi thực hiện các hoạt động công chứng, nhưngchủ yếu không vì lợi nhuận mà là đảm bảo cho các giao dịch tuân thủ đúngpháp luật, đảm bảo an toàn cho các bên tham gia
* Sự khác nhau giữa phòng công chứng và văn phòng công chứng
- Công chứng viên văn phòng công chứng không phải là công chức,viên chức nhà nước vì vậy lương và các khoản thu nhập khác được trích từnguồn thu phí công chứng, thù lao công chứng và nguồn thu hợp pháp khác từhợp đồng công chứng Nguồn tài chính của tổ chức hành nghề công chứng:
Đối với Phòng công chứng là đơn vị sự nghiệp có thu, tự chủ về tài chính+ Kinh phí do nhà nước cấp
+ Kinh phí được trích lại từ hoạt động công chứng
+ Thù lao công chứng
Đối với văn phòng công chứng hoạt động theo nguyên tắc tự chủ vềtài chính, tự chịu trách nhiệm về bồi thường thiệt hại cho khách hàng bằngnguồn thu bao gồm:
+ Kinh phí đóng góp của công chứng viên
+ Phí công chứng
+ Thù lao công chứng
+ Các nguồn thu khác: Là các khoản tiền mà văn phòng công chứngthu từ việc người yêu cầu công chứng muốn ký ngoài trụ sở, xác minh hoặcgiám định…
Nếu như trước đây chỉ có một hình thức tổ chức hành nghề côngchứng duy nhất là Phòng công chứng nhà nước thì từ Luật Công chứng 2006,
Trang 17có hai hình thức tổ chức hành nghề công chứng song hành hoạt động dưới sựquản lý, giám sát của Sở Tư pháp là Phòng Công chứng do Ủy ban nhân dâncấp tỉnh thành lập và Văn phòng công chứng do các công chứng viên đứng rathành lập, được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho phép thành lập Hai tổ chứchành nghề công chứng này bình đẳng về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền kývăn bản công chứng Quan hệ giữa người yêu cầu công chứng với cả hai tổchức hành nghề công chứng trên là quan hệ dân sự mang tính chất dịch vụ cóthu phí theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Nhà nước quyđịnh mức phí chung cho cả hai mô hình tổ chức hành nghề công chứng Việclàm và thu nhập của công chứng viên phụ thuộc vào số lượng và chất lượngdịch vụ công chứng mà họ cung cấp cho người yêu cầu công chứng Nếu gâythiệt hại cho khách hàng thì công chứng viên phải bồi thường thông qua tổchức hành nghề công chứng.
Do đặc thù là tổ chức dịch vụ pháp lý nên cơ cấu tổ chức, hoạt độngcủa tổ chức hành nghề công chứng được quy định theo Luật công chứng;ngoài ra với hình thức hoạt động Văn phòng công chứng còn được quy địnhtrong cả Luật doanh nghiệp Điều này ứng với loại hình văn phòng côngchứng Văn phòng công chứng hoạt động theo loại hình Công ty hợp danh,hoạt động trên cơ sở tự chủ tài chính, hoạch toán độc lập, tuy nhiên lại chịu sựquản lý khắt khe và chặt chẽ hơn so với các Công ty hợp danh thông thườngkhác Chẳng hạn như việc thành lập phải phù hợp với Quy hoạch tổng thểphát triển tổ chức hành nghề công chứng do Thủ tướng Chính phủ phêduyệt (Quyết định 240/QĐ-TT ngày 17/2/2011) hay việc xác định thuế, thuêlao đông, kế toán… (Mục 3, điều 16,17 Nghị định 29/NĐ-CP ngày15/3/2015) Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014, Công ty hợp danhngoài thành viên hợp danh còn có thể có thêm thành viên góp vốn Tuynhiên, với quy định của Luật Công chứng 2014, Văn phòng công chứng đượcthành lập ít nhất phải có 2 công chứng viên hợp danh trở lên và không cóthành viên góp vốn
Trang 18Tổ chức hành nghề công chứng thực hiện một số hoạt động có tínhchịu trách nhiệm cao hơn Theo quy định của Luật Công chứng 2014, côngchứng viên có quyền công chứng các hợp đồng, giao dịch về bất động sảntrong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tổ chức hành nghềcông chứng đặt trụ sở, trừ trường hợp công chứng di chúc, văn bản từ chốinhận di sản là bất động sản và văn bản liên quan đến việc thực hiện đối vớibất động sản (Điều 42 Luật Công chứng 2014); công chứng bản dịch (Điều 62Luật Công chứng 2014); các loại hợp đồng, giao dịch khác bằng văn bản màtheo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyệnyêu cầu công chứng Theo đó, mục đích của công chứng là đảm bảo tính xácthực, hợp pháp của hợp, giao dịch dân sự, tính chính xác, hợp pháp, khôngtrái đạo đức, xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếngnước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt Nội dung xác thực baogồm: thời gian, địa điểm, tư cách chủ thể, mục đích, nội dung thỏa thuận, ýchí tự nguyện Đồng thời, trình tự, thủ tục công chứng cũng được quy địnhchặt chẽ hơn, được thể hiện qua việc quá trình công chứng được thực hiện quanhiều công đoạn, mỗi công đoạn được thực hiện qua nhiều bước nhỏ một cáchtuần tự, không thêm bớt.
Ngoài ra công chứng viên của các tổ chức hành nghề công chứngđược chứng thực chữ ký, bản sao, bản dịch, cấp bản sao từ sổ gốc theo căn cứpháp lý như:
+ Luật Công chứng năm 2014 (có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01năm 2015);
+ Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2015 của Chínhphủ về cấp bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng,giao dịch (có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 4 năm 2015)
+ Thông tư số 20/2015/TT-BTP ngày 29 tháng 12 năm 2015 của Bộtrưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều củaNghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ về
Trang 19cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký
và và chứng thực hợp đồng, giao dịch (có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 2năm 2016)
+ Thông tư liên tịch số 115/2015/TTLT-BTC-BTP ngày 11 tháng 8năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và Bộ trưởng Bộ Tư pháp sửa đổi, bổsung một số điều của Thông tư liên tịch số 08/2012/TTLT-BTC-BTC ngày 19tháng 01 năm 2012 hướng dẫn về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sửdụng phí công chứng (có hiệu lực kể từ ngày 29 tháng 9năm 2015)
1.3 Quản lý nhà nước về tổ chức hành nghề công chứng
Quản lý nhà nước về tổ chức hành nghề công chứng có ý nghĩa rấtlớn, đảm bảo cho sự hình thành, tổ chức và hoạt động của các tổ chức hànhnghề công chứng nhằm đạt mục tiêu đề ra đối với hoạt động công chứng
Nhà nước quản lý trực tiếp các tổ chức hành nghề công chứng thôngqua các cơ quan sau:
* Bộ Tư pháp
Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thực hiệnhoạt động quản lí nhà nước về công chứng (Điều 69 Luật Công chứng), thểhiện ở các quyền hạn:
- Trình Thủ tướng Chính phủ xem xét phê duyệt, điều chỉnh quyhoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng và hướng dẫn tổchức quy hoạch sau khi được phê duyệt;
- Hướng dẫn, chỉ đạo tổ chức việc bồi dưỡng nghiệp vụ công chứngđối với công chứng viên;
- Phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng trong việcban hành quy chế cung cấp thông tin về nhà, đất giữa các cơ quan đăng kíquyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà đối với tổ chức hành nghề công chứng;
- Ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quyphạm pháp luạt về chứng thực, quy định chương trình khung về đào tạo côngchứng viên, quy định về bổ nhiệm, miễn nhiệm, bổ nhiệm lại công chứng viên…
Trang 20* Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực chiện các biện pháp phát triển tổ chứchành nghề công chứng ở địa phương; tuyên truyền, phổ biến pháp luật vềcông chứng, thành lập, giải thể, chuyển đổi Phòng công chứng, cho phépthành lập Văn phòng công chứng, thu hồi giấy phép hoạt động của Văn phòngcông chứng, kiểm tra, thanh tra, xử lí vi phạm, giải quyết khiếu tố về côngchứng; tổng hợp tình hình công chứng ở địa phương để báo cáo Bộ Tư pháp
* Sở Tư pháp
Sở Tư pháp được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trao quyền quản lý cácPhòng công chứng về mặt tổ chức, chăm lo cơ sở vật chất, hoạt động tuyêntruyền, đề bạt, bổ nhiệm, miễn nhiệm viên chức, nhân viên (trừ trường hợpTrưởng phòng công chứng do Sở Tư pháp đề nghị; Chủ tịch Ủy ban nhân dâncấp tỉnh ra quyết định bổ nhiệm); công tác quy hoạch bồi dưỡng công chức,viên chức, công tác điều động, luân chuyển công chức, viên chức, thực hiệnviệc kiểm tra, thanh tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo về công chứng.Đối với các Văn phòng công chứng, các văn phòng này tự chịu về mặt nhân
sự nhưng phải đảm bảo các điều kiện theo quy định, đặc biệt phải tuân thủquy định của Luật Công chứng (các điều kiện về công chứng, các điều kiệnhoạt động của Vă99n phòng công chứng, giải quyết khiếu nại…) và Luậtdoanh nghiệp
Hội công chứng viên (không thuộc quản lý nhà nước)
Trước hết phải khẳng định công chứng viên là một nghề và cũng córủi ro nghề nghiệp Vì vậy hội công chứng được thành lập để bảo vệ quyền lợicho các công chứng viên Công chứng viên là nghề đặc thù có vai trò rất lớnvới xã hội, ngoài việc tuân thủ các quy định của pháp luật thì còn phải có đạođức khi hành nghề Theo quy định tại Khoản 3, Điều 23 Nghị định29/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Côngchứng: "Các công chứng viên phải tham gia Hội công chứng viên trước khiđăng ký hành nghề công chứng ở những nơi đã có Hội công chứng viên"
Trang 21Công chứng viên là bộ phận mấu chốt trong cơ cấu hoạt động của tổchức hành nghề công chứng Muốn hành nghề thì công chứng viên bắt buộcphải tham gia Hội công chứng viên Đây là điểm khác biệt giữa hoạt độngcộng chứng với các hoạt động dịch vụ khác Theo quy định của Nghị định 29,Hội công chứng viên có nhiệm vụ chính là đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợppháp của công chứng viên là hội viên trong hành nghề, phối hợp với Sở Tưpháp địa phương trong việc bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm chohội viên, tham gia ý kiến với Sở Tư pháp trong việc bổ nhiệm, miễn nhiệmcông chứng viên, thành lập, hợp nhất, sáp nhập, chuyển nhượng, chấm dứthoạt động của tổ chức hành nghề công chứng theo quy dịnh của Luật Côngchứng Vì vậy vai trò của hội công chứng là quan trọng và rất có ý nghĩa.
Trên thực tế, hội công chứng viên ra đời sẽ là "ngôi nhà chung" tậphợp, đoàn kết đội ngũ công chứng viên, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp củacông chứng viên, giám sát việc tuân theo pháp luật, thực hiện quy tắc đạo đứchành nghề công chứng, cùng tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quátrình hành nghề và tạo điều kiện để các công chứng viên trao đổi, học tập kinhnghiệm chuyên sâu về nghề nghiệp và phát huy tính tự quản của tổ chức xãhội - nghề nghiệp công chứng; nâng cao chất lượng hoạt động hành nghềcông chứng, góp phần ổn định phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Cóthể thấy trong tình hình hiện nay, đội ngũ công chứng viên ngày càng phát triểnvề số lượng làm tăng thêm tính phức tạp về công tác quản lý công chứng Yêucầu về quản lý nhà nước đối với tổ chức, hoạt động công chứng được đặt ratrong điều kiện hiện nay là rất cao, vừa nhằm đảm bảo vai trò quản lý, vừaphát huy được vai trò tự quản của tổ chức xã hội nghề nghiệp để các côngchứng viên tự quản, giám sát lẫn nhau trong hoạt động hành nghề Do vậy,việc thành lập Hội công chứng viên là xu thế tất yếu, giúp hoạt động côngchứng của các địa phương ngày càng chuyên nghiệp, hiện đại Tuy nhiên thamgia hội công chứng viên thì các thành viên trong đó đều là bắt buộc chứ không
Trang 22phải là tự nguyện theo quy định của pháp luật về hội mà là theo mảng LuậtCông chứng.
Ngoài ra, còn một số các quy định khác cho tổ chức hành nghề côngchứng như là mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viêntheo Nghị định 29/2015/NĐ-CP từ Điều 19 đến Điều 22, loại hình bảo hiểmnày có tác dụng rất hữu hiệu cho nghề công chứng viên Nghề công chứngviên là một nghề tiềm ẩn nhiều rủi ro mà rủi ro xảy ra thường để lại hậu quảrất lớn trong đó có thể thiệt hại dẫn đến bồi thường nên loại bảo hiểm này làhết sức cần thiết, đây cũng là biện pháp bảo vệ công chứng viên, khắc phụchậu quả cho người bị thiệt hại do lỗi của công chứng viên
Quy định về việc các văn phòng công chứng phải mang tên côngchứng viên là một cách khẳng định thương hiệu và trách nhiệm của côngchứng viên đó với văn phòng của mình và với các hợp đồng mà mình lập nên
Kết luận chương 1
Thông qua chương 1 tác giả đã chỉ ra được sự hình thành của nghềcông chứng và sự phát triển theo từng giai đoạn lịch sử Tiếp theo đó tác giảgiới thiệu những khái niệm về công chứng và tổ chức hành nghề công chứng,ở đây có thể hiểu là hai mô hình phòng công chứng và văn phòng công chứng.Cùng với những đặc điểm cụ thể trong việc hình thành, giải thể, chuyển nhượng Giúp người đọc hiểu về tổ chức này
Qua những cơ sở pháp lý đã nêu trong chương 1 cho thấy rằng ngànhcông chứng rất được Đảng và Nhà nước quan tâm, với những quy định củaLuật Công chứng, của những nghị định hướng dẫn càng cho thấy vai trò rộnglớn của công chứng trong điều kiện kinh tế hiện nay Từ những luận điểm trêncó thể thấy rằng công chứng và tổ chức hành nghề công chứng đã có nhữngqui định cụ thể phù hợp với hoàn cảnh lịch sử hiện đời Điều đó cho thấy mộtnền tảng vững chắc của công chứng được xây dựng và đến nay là tổ chứchành nghề công chứng đều có những qui định phù hợp với xu thế chung củatoàn xã hội và trên thế giới
Trang 23Chương 2 PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Tuy nhiên nguyên tắc thành lập áp dụng cho mỗi loại hình của phòngcông chứng và văn phòng công chứng lại có những quy định riêng nhằm đảmbảo phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, phù hợp với các quy định khác củapháp luật, phù hợp với thực tiễn đáp ứng nhu cầu xã hội hóa hoạt động cộngchứng đảm bảo phát huy tối đa yêu cầu cải cách hành chính, đáp ứng kịp thờiyêu cầu công chứng của tổ chức, cá nhân trong các giao dịch dân sự, kinhtế… trong tình hình hội nhập quốc tế
2.1 Nguyên tắc thành lập, chuyển đổi, giải thể phòng công chứng
Trang 24rất cao, thu hút được số đông lực lượng công chứng viên tham gia, các vănphòng công chứng tăng lên đáng kể và chứng tỏ được vị thế của mình tronghoạt động này (phụ lục 01 kèm theo) Các tổ chức này đã đáp ứng kịp thờiyêu cầu công chứng của người dân, không còn cảnh xô đẩy, chen chúc, xếphàng đi công chứng như những năm trước đây khi chưa có quy định về xã hộihóa hoạt động công chứng.
Tuy nhiên xét trên phương diện toàn cục thì các phòng công chứng donhà nước thành lập vẫn phát huy tính tích cực của nó trong bối cảnh điều kiệnkinh tế hiện nay, nhất là những nơi có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, khi
mà những nơi này kinh tế chưa phát triển thì các giao dịch dân sự kinh tế cònrất hạn chế Ở những nơi này việc phát triển các văn phòng công chứng là rấtkhó khăn, có nơi không có văn phòng công chứng việc xã hội hóa công chứngở những địa bàn này còn nhiều bất cập Nếu không có giải pháp phù hợp về tổchức hành nghề công chứng thì công chứng hợp đồng, giao dịch dân sự, kinhtế ở những nơi này sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc ký kết hợp đồng giaodịch, việc phòng ngừa rủi ro trong giao dịch dân sự ở nơi đây sẽ không thựchiện được Vì vậy, việc duy trì và thành lập phòng công chứng ở những nơinày là cần thiết Mặt khác trong bối cảnh cần giảm nới gánh nặng cho nhà nướcvề biên chế, kinh phí trong việc thành lập phòng công chứng tràn lan mà hoạtđộng công chứng vẫn đáp ứng được yêu cầu của người dân ở vùng kinh tếkhó khăn Vì vậy luật quy định "phòng công chứng chỉ được thành lập mới tạinhững địa bàn chưa có điều kiện phát triển văn phòng công chứng" (Điều 18).Quy định này thể hiện sự quan tâm của Đảng Nhà nước đối với hoạt độngcông chứng, quan tâm đến cùng có điều kiện kinh tế khó khăn, phù hợp với ýchí nguyện vọng của người dân nơi đó
Để đảm bảo cho phòng công chứng hoạt động có hiệu quả sau khithành lập, luật quy định Nhà nước sẽ cấp trụ sở, con dấu và tài khoản riêngcho phòng công chứng đó (Điều 19) Đối với những vùng có kinh tế, xã hộiphát triển đủ điều kiện để xã hội hóa công chứng thì lúc này nhà nước và
Trang 25chính phủ xem xét xem có thể thực hiện được chủ trương xã hội hóa haychưa, từ đó chuyển đổi mô hình phòng công chứng sang một hướng khác vừacó lợi cho nhà nước vừa có lợi cho phòng công chứng.
Theo Điều 25 Luật Công chứng 2006 để thành lập được phòng côngchứng thì cần có: Đề án nêu rõ về sự cần thiết thành lập, dự kiến về tổ chức,tên gọi, nhân sự, địa điểm đặt trụ sở, các điều kiện vật chất và kế hoạch triểnkhai thực hiện để trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét Quyết định bổ nhiệmcông chứng viên Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày có quyết địnhthành lập Phòng công chứng, Sở Tư pháp phải đăng báo trung ương hoặc báođịa phương nơi quyết định thành lập trong ba số liên tiếp
2.1.2 Chuyển đổi phòng công chứng
Theo quy định của Luật Công chứng 2014, Phòng công chứng chỉđược thành lập tại những địa bàn chưa có đủ điều kiện phát triển được vănphòng công chứng Điều này được hiểu là các địa bàn không thuộc vùng cóđiều kiện kinh tế khó khăn thì không được phép thành lập phòng công chứng.Đây là chính sách ưu tiên cho việc xã hội hóa hoạt động công chứng, từngbước chuyển đổi hoạt động công chứng từ nhà nước cho xã hội đảm nhận.Đây là một trong những điểm mới của Luật Công chứng 2014 do với LuậtCông chứng 2006
Điều 21 Luật Công chứng 2014 quy định trong trường hợp không cầnthiết duy trì Phòng công chứng thì Sở Tư pháp lập đề án chuyển đổi Phòngcông chứng thành Văn phòng công chứng "Trường hợp không cần thiết" ởđây được hiểu là các trường hợp được quy định tại Điều 5, Mục 1, Chương II,Nghị định 29/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một sốđiều của Luật Công chứng, cụ thể:
- Các địa bàn cấp huyện đã thành lập đủ số tổ chức hành nghề côngchứng theo Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đãđược Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và số lượng Văn phòng công chứngnhiều hơn số lượng Phòng công chứng
Trang 26- Các địa bàn cấp huyện chưa thành lập đủ số tổ chức hành nghề côngchứng theo quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đãđược Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, nhưng có ít nhất 02 văn phòng côngchứng đã hoạt động ổn định từ 02 năm trở lên, kể ngày đăng ký hoạt động.
Sở Tư pháp nơi có phòng công chứng đang đặt trụ sở sẽ lập đề án đểtrình Ủy ban nhân dân xem xét xem có thể chuyển đổi phòng sang mô hìnhkhác không Đây cũng là một hướng đi mới trong quá trình xã hội hóa hoạtđộng công chứng Tuy nhiên, với định hướng tăng cường xã hội hóa các tổchức hành nghề công chứng, tiến tới chỉ còn một hình thức tổ chức hành nghềcông chứng là Văn phòng công chứng, đồng thời tránh lãng phí ngân sách, chiphí, thời gian của cả cơ quan quản lý nhà nước và cá nhân trong việc thànhlập mới các tổ chức hành nghề công chứng, khoản 1- Điều 21 Luật Côngchứng 2014 quy định về vấn đề chuyển đổi Phòng công chứng thành vănphòng công chứng
Điều 21 Chuyển đổi, giải thể phòng công chứng
1 Trong trường hợp đồng cần thiết duy trì Phòng công chứng thì Sở
Tư pháp lập đề án chuyển đổi Phòng công chứng thành Văn phòng công chứng trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định.
Chính phủ quy định chi tiết việc chuyển đổi Phòng công chứng thành Văn phòng công chứng.
"Chuyển đổi" - đây là một cách xã hội hóa hoạt động công chứng trên
cơ sở tổ chức công chứng của nhà nước, vừa giúp nhà nước trút bớt gánhnặng về tài chính và nhân sự, tất cả được có trong chương II, Mục 1, Điều 4của Nghị định số 29/2015/NĐ-CP ngayf/3/2015 của Chính phủ quy định chitiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng
Về lý thuyết, việc quy định chuyển đổi Phòng công chứng như vậy sẽgiữ được sự ổn định trong hoạt động công chứng tại địa phương Đồng thờicũng có thể thu hút về một nguồn kinh phí bổ sung cho ngân sách nhà nước từviệc chuyển đổi này Ngoài ra, đây cũng là một biện pháp tạo điều kiện hiện
Trang 27nay, tận dụng được cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ, nhân viên sẵn có của cácPhòng công chứng Việc chuyển đổi như thế nào thì cần phụ thuộc vào điềukiện cụ thể của từng địa phương, từng Phòng công chứng và được thực hiệntheo quy định của Chính phủ Đối với những phòng công chứng không bảođảm điều kiện để chuyển đổi hoặc không có người nhận tiếp quản thì vẫn thựchiện giải thể theo thủ tục bình thường.
Tuy nhiên, xoay quanh vấn đề chuyển đổi mô hình phòng công chứngsang văn phòng công chứng vẫn còn nhiều khó khăn, cụ thể như sau:
- Tâm lý của cán bộ, công nhân viên chức đang làm việc dưới chế độbảo hộ của nhà nước và có mức thu nhập ổn định cùng với chế độ chính sáchđược ưu tiên về nhiều mặt Tuy nhiên, khi ra chuyển đổi mô hình dễ dẫn đếnviệc bị mất thương hiệu "công chứng nhà nước", một số nơi vẫn có thái độlàm việc như thời bao cấp xin - cho dẫn đến việc người dân bức xúc và họ thàbỏ ra nhiều tiền hơn để được phục vụ tốt hơn chứ không phải chờ đợi và bịmêu ca hoặc từ chối
- Khi chuyển đổi mô hình, phòng công chứng cũng gặp không ít khókhăn khi bước đầu tìm trụ sở mới, ổn định lại tổ chức và tìm kiếm thị trường.Hơn nữa khi còn trong nhà nước họ vẫn bị khống chế mức thu tiền nộp nhànước có khoản được trích lại có khoản nộp 100% như vậy gây khó khăn chođời sống cán bộ và gây tâm lý cho các công chứng viên chịu trách nhiệmchính khi ký kết văn bản
- Vướng mắc về xử lý tài sản khi chuyển đổi, cụ thể: Căn cứ Nghịđịnh số 52/2009NĐ-CP ngày 03/06/2009 của Chính phủ quy định chi tiết vàhướng dẫn thi hành một số điều của Luật quản lý, sử dụng tài sản của nhànước, đối chiếu với chủ trương chuyển đổi này thì việc xử lý tài sản được
thực hiện qua 02 cách "bán chỉ định" hoặc "bán đấu giá" Xem xét Điều 20 Nghị định số 52/2009/NQ-CP quy định "việc bán tài sản nhà nước thực hiện bằng phương thức đấu giá công khai theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; trừ các trường hợp được bán chỉ định quy định tại
Trang 28khoản 2 Điều này", Khoản 2 Điều 20 Nghị định số 52/2009/NĐ-CP quy định phương thức bán chỉ định áp dụng trong trường hợp "tổ chức hoặc cá nhân đăng ký mua tài sản trên đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để sử dụng cho mục đích xã hội hóa thuộc lĩnh cực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, môi trường phù hợp với quy hoạch được duyệt" Qua
các quy định trên, chúng ta nhận thấy rằng phương thức bán đấu giá tài sảnnhà nước được hiểu là phương thức xử lý tài sản duy nhất Và hệ quả trongtrường hợp bán đấu giá này là việc tham gia đấu giá có thể có sự rất nhiều tổchức, cá nhân tham gia Câu hỏi được đặt ra là trong trường hợp, các côngchứng viên của Văn phòng công chứng mới không trúng đấu giá thì việc địnhgiá trị tài sản vô hình được tính như thế nào, và cán bộ công chức, người laođộng trong các Phòng công chứng chắc hẳn có những trăn trở nhất định nếuhiểu rằng việc xử lý tài sản của Phòng công chứng không tính đến các yếu tốtkhác ngoài yếu tố duy nhất là mức giá cao nhất do bất kỳ cá nhân, tổ chức nàotrả giá cao nhất, không phụ thuộc vào chủ đề có xuất thân từ chính Phòngcông chứng đang chuyển đổi thành Văn phòng công chứng! Bên cạnh đó, tạiđiều 8 Nghị định số 29/2015/NĐ-CP quy định quyền nhận chuyển đổi Phòng
công chứng thành văn phòng Công chứng "được tổ chức đấu giá trong trường hợp có giá trị lớn", việc xử lý tài sản khi chuyển đổi, đặc biệt là việc
định giá trị những tài sản vô hình như thương hiệu của Phòng công chứng khichuyển đổi có/không được em là tài sản để định giá việc hiểu và áp dụngnội hàm này đã tạo ra sự tranh cãi không nhỏ trong các Sở
- Về giải quyết chế độ chính sách cho đội ngũ cán bộ, công chức, viênchức và người lao động khi thực hiện đề án chuyển đổi Phòng công chứngthành Văn phòng công chứng Tại khoản 3 Điều 4 và Điều 10 Nghị định số
29/2015/NĐ-CP quy định "Văn phòng công chứng được thành lập từ việc chuyển đổi Phòng công chứng phải ký hợp đồng lao động với công chứng viên, viên chức, người lao động của phòng công chứng đó" Tuy nhiên việc
thực thi nội dung này không quy định điều khoản chế tài trong trường hợp
Trang 29Trưởng Văn phòng ciogn chứng không thực hiện hoặc thực hiện với ưu tiênhiệu quả kinh tế, cắt giảm tối đa chi phí khi sử dụng người lao động Nếu điềunày được áp dụng có thể có có một bộ phận buộc phải mất việc khi chuyểnđổi như các chức danh chuyên viên, văn thư, kế toán Gọi chung là bộ phậnhỗ trợ, phục vụ việc tác nghiệp của công chứng viên, tuy họ không phải là côngchứng viên tuy nhiên các công chứng viên của họ, ít nhiều là nòng cốt làm nênthương hiệu của Phòng công chứng Trong một số trường hợp đằng sau nhữngcon người này là cả một gia đình, nhiều người trong số họ cả đời làm việc và gắnbó với Phòng công chứng, nay đã sắp hết tuổi lao động, hiệu quả công tác cómức độ, nên việc 1-2 năm bị mất việc làm khả năng có thể xảy ra, việc nàyphần nào gây tâm tư, hoang mang cho viên chức, người lao động làm việc tạicác phòng công chứng khi buộc phải thực hiện chủ trương chuyển đổi này.
2.1.3 Giải thể phòng công chứng
Đối với phòng công chứng, theo khoản 2 Điều 21 của Luật Công
chứng 2014 "Trường hợp không có khả năng chuyển đổi Phòng công chứng thành văn phòng công chứng thì Sở Tư pháp lập đề án giải thể Phòng công chứng trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định".
Phòng công chứng chỉ được giải thể sau khi thanh toán xong các khoản nợ, làm xong thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động đã ký với người lao động, thực hiện xong các yêu cầu công chứng đã tiếp nhận.
Ở những nơi hoạt động công chứng đã được xã hội hóa ở mức độ cao,không cần thiết duy trì phòng công chứng, thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xemxét giải thể Do đó, có thể hiểu rằng, chỉ được giải thể Phòng công chứng khikhông thể chuyển đổi sang Văn phòng công chứng Việc quy định về chuyểnđổi Phòng công chứng thành Văn phòng công chứng là chủ định về chuyểnđổi phòng công chứng thành Văn phòng công chứng là chủ trương của Nhànước nhằm xã hội hóa hoạt động công chứng, tuy nhiên như đã phân tích ởphần trên, việc chuyển đổi này hiện còn nhiều bất cập chưa được giải quyết
Do đó, việc đặt ra quy định về giải thể là điều cần thiết
Trang 30Căn cứ quy định tại điều 21 Luật Công chứng năm 2014 và Nghị địnhsố 55/2012/NĐ-CP ngày 28/6/2012 của Chính phủ quy định về thành lập, tổchức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập cũng như tình hình thực tế hoạtđộng của Phòng công chứng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xétquyết định giải thể Phòng công chứng tại địa bàn tỉnh Theo đó, những Phòngcông chứng sẽ tiến hành thủ tục giải thể do không đủ điều kiện để chuyển đổithành Văn phòng công chứng theo quy định của Luật Công chứng ngày20/6/2014 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh giao Sở Tư pháp chủ trì, phối hợpvới Sở Nội vụ, Sở Tài chính, Sở Lao động - Thương binh và xã hội và cácđơn vị, cá nhân liên quan thực hiện đầy đủ các thủ tục liên quan đến giải thểPhòng công chứng, đảm bảo chặt chẽ, đúng theo quy định của Pháp luật Sở
Tư pháp chỉ đạo, hướng dẫn Phòng công chứng số bị giải thể dừng tiếp nhận
và xử lý dứt điểm các yêu cầu công chứng đã tiếp nhận; chuẩn bị đầy đủ cácnội dung và thực hiện việc chuyển giao theo đúng quy định Phòng côngchứng số bị giải thể có trách nhiệm nộp lại con dấu cho cơ quan có thẩmquyền theo quy định của pháp luật và chấm dứt hoạt động
Đây là bước chuyển biến cuối cùng của Đảng và Nhà nước nếu khôngthực hiện việc chuyển đổi phòng sang mô hình văn phòng Lúc này có thểthấy ở những nơi đó mọi điều kiện đã đủ chín muồi, sự phát triển kinh tế - xãhội đã đạt đến tầm cao mới và đó là thời điểm sẽ triệt tiêu phòng công chứng đểgiao lại cho văn phòng công chứng hay nói cách khác là giao lại cho dân làm
2.2 Quy định pháp luật về thành lập, chuyển nhượng và chấm dứt hoạt động của văn phòng công chứng
2.2.1 Nguyên tắc thành lập
Có thể thấy ở đây chủ trương xã hội hóa đang từng bước phát triểncó hiệu quả, Chính phủ có những quy định và chính sách khuyến khích chovăn phòng công chứng thành lập và hoạt động, phù hợp với Quy hoạch tổngthể phát triển tổ chức hành nghề công chứng do Thủ tướng Chính phủ phêduyệt Đồng thời, các Văn phòng công chứng thành lập tại các địa bàn có
Trang 31điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn thì được hưởng chínhsách ưu đãi Ngược lại, với phòng công chứng thì chỉ được thành lập tạinhững địa bàn chưa có điều kiện phát triển được Văn phòng công chứng.Quy định cho thấy rõ chính sách khuyến khích cho hoạt động xã hội hóahoạt động công chứng.
Điều 18 luật công chứng 2014 quy định: "Văn phòng công chứng thành lập tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định của Chính phủ" và việc thành lập cũng phải "Phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt".
Đối với văn phòng công chứng được thành lập ở những nơi dân cư ít,nền kinh tế phát triển chậm, những vùng khó khăn, nhằm giúp người dân có
cơ hội tiếp xúc được với những giao dịch dân sự hay những quyền lợi màmình được hưởng dưới sự bảo hộ của luật pháp và chính sách của nhà nước.Với nguyên tắc dân làm được thì giao cho dân làm, nhà nước đã có chủtrương cho thành lập văn phòng ở những vùng kinh tế còn khó khăn, dân tríthấp, các giao dịch còn hạn chế thì được nhà nước hỗ trợ nhiều mặt để đảm bảohoạt động theo mục 3 điều 16 của Nghị định 29/2015 NĐ-CP ngày 15/3/2015
quy định: Được hưởng các ưu đãi về thuê theo định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp, được thuê trụ sở với giá ưu đãi, được cho mượn trụ sở hỗ trợ về trang thiết bị, phương tiện làm việc trong 3 năm đầu hoạt động Ngoài
ra còn được ủy ban nhân dân xem xét các biện pháp hỗ trợ khác.
Mặc dù không phải là tổ chức hoạt động vì lợi nhuận, song văn phòngcông chứng cũng phải hoạt động và bỏ chi phí ra thuê nhân sự, trả lương Vìvậy với những nơi mà giao dịch dân sự còn hạn chế thì việc lấy thu bù chi làkhó khăn Hiểu được điều này nên nhà nước đã có chính sách hỗ trợ hợp lýcho họ tạo điều kiện cho họ hoạt động nhằm đảm bảo mỗi nơi đều có ít nhấtmột văn phòng công chứng hay nói cách khác là đảm bảo cho pháp luật củanhà nước luôn được thực hiện một cách đầy đủ nhất
Trang 32Khác với Phòng công chứng, Điều 22 của Luật Công chứng 2014 quyđịnh về văn phòng công chứng thì văn phòng công chứng muốn thành lậpphải có từ 2 công chứng viên hợp danh trở lên, không có thành viên góp vốn.Người đại diện theo pháp luật của Văn phòng công chứng là Trưởng vănphòng Trưởng Văn phòng công chứng phải là công chứng viên hợp danh củaVăn phòng công chứng và đã hành nghề công chứng từ 02 năm trở lên.
Có đề án thành lập văn phòng đồng thời phải có trang thiết bị cùng trụsở làm việc theo chính phủ quy định mới đủ điều kiện để thành lập Hoạtđộng trên cơ sở tự chủ tài chính và tên gọi cũng phải mang tên trưởng vănphòng hoặc công chứng viên khác hợp danh của văn phòng tránh gây nhầmlẫn, trùng lặp giữa các văn phòng Con dấu tự khác và cũng không có hìnhquốc huy
Trình tự thủ tục thành lập văn phòng bao gồm các bước sau:
- Các công chứng viên thành lập Văn phòng công chứng phải có hồ sơđề nghị thành lập Văn phòng công chứng chứng gửi Ủy ban nhân dân cấp tỉnhxem xét, quyết định Hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng gồmđơn đề nghị thành lập và đề án thành lập Văn phòng công chứng, trong đó nêurõ sự cần thiết thành lập, dự kiến về tổ chức, tên gọi, nhân sự, địa điểm đặt trụsở, các điều kiện vật chất và kế hoạch triển khai thực hiện, bản sao quyết địnhbổ nhiệm công chứng viên tham gia thành lập Văn phòng công chứng
- Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị thành lậpVăn phòng công chứng, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định chophép thành lập Văn phòng công chứng, trường hợp từ chối phải thông báobằng văn bản và nêu rõ lý do
- Trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được quyết định cho phépthành lập, Văn phòng công chứng phải đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp ởđịa phương nơi đã ra quyết định cho phép thành lập
- Nội dung đăng ký hoạt động của Văn phòng công chứng bao gồmtên gọi của Văn phòng công chứng, họ tên Trưởng Văn phòng công chứng,
Trang 33địa chỉ trụ sở của Văn phòng công chứng, danh sách công chứng viên hợpdanh của Văn phòng công chứng và danh sách công chứng viên làm việc theochế độ hợp đồng của Văn phòng công chứng (nếu có).
- Hồ sơ đăng ký hoạt động của Văn phòng công chứng gồm đơn đăngký hoạt động, giấy tờ chứng minh về trụ sở của Văn phòng công chứng phùhợp với nội dung đã nêu trong đề án thành lập và hồ sơ đăng ký hành nghềcủa các công chứng viên hợp danh, công chứng viên làm việc theo chế độ hợpđồng lao động tại Văn phòng công chứng (nếu có)
Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đăng kýhoạt động, Sở Tư pháp cấp giấy đăng ký hoạt động của Văn phòng côngchứng; trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do
Ngoài ra, Điều 8 Nghị định số 04/2013/NĐ-CP cũng quy định về hồ
sơ đăng kí hoạt động văn phòng công chứng.
+ Đơn đăng ký hoạt động theo mẫu
+ Giấy tờ chứng minh về trụ sở của Văn phòng công chứng đáp ứngđiều kiện quy định tại điều 9 Nghị định này;
Trong trường hợp trụ sở là nhà thuê, mượn thì phải kèm theo hợpđồng thuê, mượn nhà có thời gian tối thiểu là năm năm kể từ ngày làm thủ tụcđăng ký hoạt động Văn phòng công chứng
+ Giấy tờ chứng minh nơi đăng ký thường trú tại địa bàn tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương nơi đặt trụ sở Văn phòng công chứng của côngchứng viên thành lập Văn phòng công chứng, công chứng viên là thành viênhợp danh của Văn phòng công chứng đối với Văn phòng công chứng do haicông chứng viên trở lên thành lập
+ Số lượng hồ sơ là 01 bộ, được nộp trực tiếp hoặc thông qua hệ thốngbưu chính đến bộ phận tiếp nhận hồ sơ của Sở Tư pháp, ngoài bìa ghi rõ Hồ
sơ đăng ký hoạt động Văn phòng công chứng
- Văn phòng công chứng được hoạt động công chứng kể từ ngày Sở
Tư pháp cấp giấy đăng ký hoạt động
Trang 34+ Đơn đền ghị thành lập văn phòng công chứng theo mẫu TP-CC(Quyết định số 01/2008/QQDBTP) ngày 20/02/2008 của Bộ Tư pháp) đối vớiVăn phòng công chứng do một công chứng viên thành lập hoặc Đơn đề nghịthành lập Văn phòng công chứng theo mẫu TP-CC03 (Quyết định số01/2008/QĐBTP ngày 20/2/008 của Bộ Tư pháp) đối với văn phòng côngchứng do hai công chứng viên trở lên thành lập.
+ Đề án thành lập, cần phải nêu rõ sự cần thiết thành lập, dự kiến về tổchức, tên gọi, nhân sự, địa điểm đặt trụ sở, các điều kiện vật chất và kế hoạchtriển khai thực hiện, bản sao quyết định bổ nhiệm công chứng viên Vănphòng công chứng có trụ sở riêng với địa chỉ cụ thể và phải đáp ứng các yêucầu như phải đủ diện tích làm việc cho công chứng viên, nhân viên, tiếpngười yêu cầu công chứng và lưu trữ hồ sơ theo quy định của pháp luật
+ Bản sao quyết định bổ nhiệm công chứng viên Sở Tư pháp là cơquan giúp ủy ban nhân dân tiếp nhận, xem xét, kiểm tra hồ sơ đề nghị thànhlập Văn phòng công chứng, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chophép thành lập Văn phòng công chứng Sau khi được cấp phép thành lập, Vănphòng công chứng phải đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp của địa phương nơicho phép thành lập trong thời hạn 90 ngày
Với văn phòng công chứng là sự tự chủ hoàn toàn theo môi hình xãhội hóa vì vậy khó khăn trong việc thành lập văn phòng, rất nhiều thủ tục đưa
ra, chờ đợi đề án được phê duyệt, số vốn bỏ vào không nhỏ, đấy là chưa kểđến việc phân bổ trên mặt bằng của một tỉnh hoặc một huyện cũng không có
sự đồng đều dẫn đén chỗ thì thừa thãi mà chỗ thì thiếu vắng, gây bất lợi chochính văn phòng đó và cho người dần cần sử dụng dịch vụ công chứng
2.2.2 Chuyển nhượng Văn phòng công chứng
Văn phòng công chứng hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, nhưngkhác với doanh nghiệp khác, văn phòng công chứng phải hoạt động liên tục,không được ngắt quãng do các hợp đồng, di chúc, giấy tờ đã công chứng vẫncòn hiệu lực, nên không thể giải thể Trong trường hợp tổ chức nào đó do thualỗ, không thể tồn tại được, thì phải thực hiện chuyển nhượng
Trang 35Theo đó, tại điều 29, Luật công chứng 2014 quy định về việc chuyển
nhượng Văn phòng công chứng: "Văn phòng công chứng được chuyển nhượng cho các công chứng viên khác đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này Văn phòng công chứng chỉ được chuyển nhượng khi đã hoạt động công chứng được ít nhất là 02 năm Công chứng viên đã chuyển nhượng Văn phòng công chứng không được phép tham gia thành lập Văn phòng công chứng mới trong thời hạn 05 năm kể từ ngày chuyển nhượng Công chứng viên nhận chuyển nhượng Văn phòng công chứng phải đáp ứng các điều kiện sau đây: Đã hành nghề công chứng từ 02 năm trở lên, cam kết hành nghề tại Văn phòng công chứng mà mình nhận chuyển nhượng; cam kết kế thừa quyền và nghĩa vụ của Văn phòng công chứng được chuyển nhượng".
Đây là quy định mới của Luật Công chứng 2014 so với Luật côngchứng 2006 Luật công chứng năm 2006 không có quy định về chuyểnnhượng Văn phòng công chứng Tuy nhiên, thực tế hoạt động công chứngtrong thời gian qua cho thấy có những trường hợp công chứng viên có nhucầu chuyển nhượng Văn phòng công chứng hoặc Văn phòng cần được chuyểnnhượng do không còn Trưởng Văn phòng, không còn công chứng viên đểhoạt động hoặc các công chứng viên khác không đủ điều kiện để mở vănphòng công chứng mới Xuất phát từ quan điểm coi Văn phòng công chứng là
"sản nghiệp" của công chứng viên nên Luật công chứng 2014 ghi nhận quyềnchuyển nhượng Văn phòng công chứng của công chứng viên Đây cũng làmột bước đột phá khi văn phòng công chứng cũ không làm ăn được, thì ngườikhác sẽ mua lại văn phòng đó, như vậy vừa đỡ mất thời gian mở văn phòngmới vừa giúp cho việc quản lý của nhà nước đối với hoạt động công chứngtrở nên dễ dàng hơn Tuy nhiên, do hành nghề công chứng là hành nghề cóđiều kiện và yêu cầu đảm bảo tính ổn định là rất cao, nên việc chuyển nhượngVăn phòng công chứng chỉ được thực hiện trong một số trường hợp thật sựcần thiết và phải tuân thủ trình tự chuyển nhượng riêng Việc thay đổi tên vănphòng, thay đổi trưởng văn phòng và các giấy phép kinh doanh khác đều theo
Trang 36qui định của luật doanh nghiệp Đồng thời, Luật công chứng 2014 cũng quyđịnh về điều kiện chuyển nhượng, trình tự thủ tục chuyển nhượng, thẩmquyền cho phép chuyển nhượng để đảm bảo chặt chẽ, tránh việc mua bán Vănphòng công chứng một cách tùy tiện Do văn phòng công chứng được tổ chứcvới tính chất của một tổ chức "đối nhân" (Công ty hợp danh), chứ không phải
"đối vốn", các công chứng viên hoạt động trên cơ sở uy tín của mình chứkhông phải trên số phần vốn góp; gắn liền với kỹ năng chuyên môn và khảnăng chịu trách nhiệm toàn bộ của công chứng viên là thành viên, là nơi cungcấp dịch vụ công chứng, phi lợi nhuận nên các điều kiện chuyển nhượng cũngcần phù hợp với yêu cầu bảo đảm chất lượng của tổ chức cung cấp dịch vụcông Người nhận chuyển nhượng tổ chức này cũng phải đáp ứng những điềukiện nhất định như phải là công chứng viên, có kinh nghiệm hành nghề nhấtđịnh, cam kết hành nghề tại địa phương… và việc chuyển nhượng này phảiđược Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho phép Những quy định này một mặt đápứng nhu cầu chuyển nhượng để tiếp tục kế thừa, duy trì hoạt động của Vănphòng công chứng, mặt khác giúp tiết kiệm tiền bạc, công sức của chính côngchứng viên có nhu cầu thành lập Văn phòng công chứng cũng như ngân sáchNhà nước dành cho việc làm các thủ tục thành lập Văn phòng công chứng mới
Chuyển nhượng Văn phòng công chứng được tiến hành theo trình tự,thủ tục sau:
Thứ nhất: Văn phòng công chứng có nhu cầu chuyển nhượng theo quy
định tại Điều 29 của Luật Công chứng 2014 nộp 01 (một) bộ hồ sơ chuyểnnhượng tại Sở Tư pháp nơi đăng ký hoạt động Hồ sơ bao gồm:
+ Hợp đồng chuyển nhượng Văn phòng công chứng, trong đó có nộidung chủ yếu sau: Tên, địa chỉ trụ sở, danh sách công chứng viên hợp danhcủa Văn phòng công chứng được chuyển nhượng; tên, số Quyết định bổnhiệm công chứng viên của các công chứng viên nhận chuyển nhượng; giáchuyển nhượng, việc thanh toán tiền và bàn giao Văn phòng công chứng đượcchuyển nhượng; quyền, nghĩa vụ của các bên và các nội dung khác có liên quan
Trang 37Hợp đồng chuyển nhượng Văn phòng công chứng phải có chữ ký củacông chứng viên hợp danh đại diện cho các công chứng viên hợp danh củaVăn phòng công chứng được chuyển nhượng, các công chứng viên nhậnchuyển nhượng và phải được công chứng;
+ Văn bản cam kết của các công chứng viên nhận chuyển nhượng vềviệc kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ, tiếp nhận toàn bộ yêu cầu công chứngđang thực hiện và hồ sơ đang được lưu trữ tại Văn phòng công chứng đượcchuyển nhượng
+ Biên bản kiểm kê hồ sơ công chứng của Văn phòng công chứngđược chuyển nhượng
+ Bản sao Quyết định bổ nhiệm công chứng viên của các công chứngviên nhận chuyển nhượng; giấy tờ chứng minh đã hành nghề công chứng từ
02 năm trở lên đối với công chứng viên nhận chuyển nhượng dự kiến làTrưởng Văn phòng công chứng;
+ Quyết định cho phép thành lập và giấy đăng ký hoạt động của Vănphòng công chứng được chuyển nhượng;
+ Kê khai thuế, báo cáo tài chính trong 03 (ba) năm gần nhất đã đượckiểm toán của Văn phòng công chứng được chuyển nhượng
Thứ hai: Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ
theo quy định tại Khoản 1 điều 15 Nghị định 29/2015/NĐ-CP, Sở Tư pháp lấyý kiến của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên (ở những nơi đãthành lập), trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định cho phépchuyển nhượng Văn phòng công chứng
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Sở
Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định cho phép chuyểnnhượng Văn phòng công chứng; trường hợp từ chối phải thông báo bằng vănbản và nêu rõ lý do
Thứ ba: Các công chứng viên nhận chuyển nhượng đề nghị thay đổi
nội dung đăng ký hoạt động của văn phòng công chứng được chuyển nhượngtheo quy định tại Điều 24 của Luật Công chứng 2014
Trang 38Hồ sơ đề nghị thay đổi nội dung đăng ký hoạt động bao gồm: Đơn đềnghị, Quyết định cho phép chuyển nhượng Văn phòng công chứng, giấy tờchứng minh về trụ sở của Văn phòng công chứng được chuyển nhượng vàgiấy đăng ký hành nghề của các công chứng viên.
Thứ tư: Trong thời gian làm thủ tục chuyển nhượng, Văn phòng công
chứng được chuyển nhượng tiếp tục được hoạt động cho đến khi Văn phòngcông chứng của các công chứng viên nhận chuyển nhượng được cấp lại giấyđăng ký hoạt động
Thứ năm: Việc cung cấp thông tin, đăng báo nội dung đăng ký hoạt
động của Văn phòng công chứng sau khi chuyển nhượng thực hiện theo quydịnh tại Điều 25, 26 của Luật Công chứng 2014
Tuy nhiên, trên thực tế thì khi mua lại Văn phòng nào đó thì ngườimua ngoài việc đăng ký lại tất quy trình và tên người chủ mới cũng sẽ mátkhá nhiều thời gian để đi vào hoạt động
2.2.3 Về chấm dứt hoạt động của văn phòng công chứng
"Điều 31 Chấm dứt hoạt động Văn phòng công chứng"
1 Văn phòng công chứng chấm dứt hoạt động trong các trường hợp sau đây:
a) Văn phòng công chứng tự chấm dứt hoạt động
b) Văn phòng công chứng bị thu hồi quyết định cho phép thành lập theo quy định tại Điều 30 của Luật này.
c) Văn phòng công chứng bị hợp nhất, bị sáp nhập
Tại hai điều trên có thể thấy nhiều điểm chung đó là Văn phòngcông chứng sẽ bị thu hồi giấy hoặc chấm dứt khi sáp nhập, hợp nhất hoặckhi hoạt động xảy ra nhiều sai phạm nghiêm trọng từ các hợp đồng giaodịch dân sự hoặc không có đủ công chứng viên như đăng ký hoạt động banđầu Hiện nay, thực trạng một số thành phố lớn cho lập quá nhiều Vănphòng công chứng vượt chuẩn so với quy hoạch được Thủ tướng Chính
Trang 39phủ phê duyệt Nhiều bất ổn phát sinh, như chuyện thu hút dịch vụ theothỏa thuận, vì cạnh tranh nên có chỗ cao chỗ ngất ngưởng, chỗ khác lạithấn đến bất ngờ, làm méo mó sự thống nhất và minh bạch cần phải có củahoạt động này Đáng chú ý hơn là chất lượng công chứng thấp do trình độthẩm định, nghiệp vụ của một số công chứng viên yếu và không đồng đều.
Sự dễ dãi trong thẩm định hồ sơ dẫn tới tình trạng công chứng ẩu, côngchứng sai Vấn đề đáng lo ngại nổi lên là nạn giả mạo giấy tờ để lừa đảongày càng gia tăng nhưng chưa có biện pháp ngăn chặn hiệu quả, thậm chínhiều công chứng viên, văn phòng công chứng còn cố tình lách luật gây rahàng loạt sai phạm nghiêm trọng…
Trên thực tế thì hầu hết các văn phòng công chứng luôn có sai phạm
và mức độ lớn nhỏ đều có nhưng chỉ ở mức cảnh cáo, có những văn phòngkhông đủ công chứng viên hợp danh như đăng ký hoặc thuê bằng, thuê danhtiếng của công chứng viên để ghi vào đó song thực tế công chứng viên đó lạikhông ký hợp đồng bao giờ
2.3 Pháp luật về hợp nhất, sáp nhập Văn phòng công chứng
Đối với việc hợp nhất sáp nhập văn phòng công chứng thì Điều 28
Luật Công chứng 2014 quy định: "Hai hoặc một số Văn phòng công chứng có trụ sở trong cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thể hợp nhất thành một Văn phòng công chứng mới, một hoặc một số Văn phòng công chứng có thể sáp nhập vào một Văn phòng công chứng khác có trụ sở trong cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định cho phép hợp nhất, sáp nhập Văn phòng công chứng Chính phủ quy định chi tiết thủ tục hợp nhất, sáp nhập Văn phòng công chứng".
Về cơ bản, việc hợp nhất và sáp nhập Văn phòng công chứng cónhững điểm khác nhau, dẫn đến những hậu quả pháp lý, có thể thấy rõ quabảng so sánh sau:
Trang 40Bảng 2.1: So sánh giữa hợp nhất Văn phòng công chứng
và sáp nhập Văn phòng công chứng
Tiêu chí
so sánh Hợp nhất Văn phòng công chứng Sáp nhập Văn phòng công chứng
Khái niệm
Hai hay một số văn phòng công
chứng (có trụ sở trong cùng một
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) hợp nhất thành một Văn phòng công chứng mới, đồng thời
chấm dứt sự tồn tại của các Văn
phòng công chứng bị hợp nhất
Một hoặc một số Văn phòng công chứng sáp nhập vào một Văn
phòng công chứng khác (có trụ sở
trong cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc trong ương) sang Văn
phòng công chứng bị sáp nhập,
đồng thời chấm dứt hoạt động của Văn phòng công chứng bị sáp nhập.
Các Văn phòng công chứng bị sáp nhập mang toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp của mình chuyển sang cho Văn phòng nhận sáp nhập
Hậu quả
pháp lý
Tạo ra một Văn phòng công chứng mới (Văn phòng được hợp nhất) và chấm dứt sự tồn tại của các Văn phòng công chứng bị hợp nhất
Chấm dứt sự tồn tại của các Văn phòng công chứng bị sáp nhập và giữ nguyên sự tồn tại của Văn phòng công chứng nhận sáp nhập.
Trách nhiệm
pháp lý của
Văn phòng
công chứng
được hợp nhất
hoặc sáp nhập
Văn phòng công chứng hợp nhất hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm thực hiện toàn bộ các nghĩa vụ của các Văn phòng công chứng bị hợp nhất
Các Văn phòng công chứng bị sáp nhập chuyển toàn bộ tài sản, quyền
và nghĩa vụ của mình sang cho Công ty nhận sáp nhập
Nguồn: Tác giả luận văn tổng hợp.
Qua bảng so sánh trên, có thể thấy rằng, với hình thức sáp nhập, Vănphòng công chứng nhận sáp nhập vẫn giữ được tên cũ, tức là vẫn giữ được
"thương hiệu" đã xây dựng trong suốt quá trình hoạt động lúc trước sáp nhập;đồng thời thu hút được thêm lượng khách hàng thân thiết đã làm với Vănphòng công chứng cũ bị sáp nhập Với dạng hợp nhất, do hậu quả pháp lý làtạo ra một Văn phòng công chứng mới nên không thể tận dụng được danh