MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG Ở HUYỆN THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 6 1 1 Một số vấn đề lý luận về chính quyền địa phương[.]
Trang 1Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC,
HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG Ở
1.1 Một số vấn đề lý luận về chính quyền địa phương 61.2 Tổ chức chính quyền địa phương ở huyện theo Luật tổ chức
1.3 Hoạt động của chính quyền địa phương ở huyện theo Luật tổ
Chương 2: THỰC TIỄN TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN
ĐỊA PHƯƠNG Ở HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH
2.3 Mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra cho phát triển kinh tế, xã hội của
2.4 Thực tiễn tổ chức của chính quyền địa phương ở Huyện Điện
2.5 Thực tiễn hoạt động của chính quyền địa phương ở Huyện Điện
Chương 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VỀ TỔ CHỨC VÀ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG Ở HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG,
61
Trang 2tỉnh Điện Biên 613.2 Các giải pháp hoàn thiện về tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt
động của chính quyền địa phương ở huyện Điện Biên Đông,
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3CQĐP : Chính quyền địa phương ĐVHC : Đơn vị hành chính
HCNN : Hành chính nhà nước
HĐND : Hội đồng nhân dân
UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 4Số hiệu
bảng
2.1 Số lượng, chất lượng, cơ cấu, thành phần, đại biểu HĐND
các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 huyện Điện Biên Đông 422.2 Số lượng, chất lượng, cơ cấu, thành phần thường trực
HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 huyện Điện Biên Đông 432.3 Số lượng, chất lượng thành viên các Ban HĐND các cấp
2.4 Số lượng, chất lượng thành viên UBND các cấp nhiệm kỳ
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Ngày 28 tháng 11 năm 2013, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 đãthông qua Hiến pháp mới của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam(Hiến pháp năm 2013) Hiến pháp mới đã chứa đựng nhiều điểm mới thể hiện
sự phát triển lớn so với Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2013).Một trong số những điểm mới quan trọng là về tổ chức hoạt động của chínhquyền địa phương (CQĐP) Ngày 19 tháng 6 năm 2015, Quốc hội đã banhành Luật tổ chức CQĐP trong đó thể chế hóa nhiều điều mới của Hiến phápnăm 2013 về tổ chức và hoạt động của hệ thống CQĐP ở Việt Nam Một sốđiểm mới nổi bật của Luật tổ chức CQĐP năm 2015 là các quy định về cơ cấu
tổ chức Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp, cơchế phân quyền, phân cấp, ủy quyền giữa các cấp CQĐP Những quy địnhmới này đặt ra thách thức không nhỏ đối với việc thi hành trong thực tiễn đòihỏi sự nghiên cứu, tổng kết một cách thấu đáo để có thể rút kinh nghiệm trongviệc tổ chức thi hành luật này cũng như góp phần hoàn thiện luật tổ chứcCQĐP trong giai đọan tới
Huyện Điện Biên Đông là một trong những đơn vị hành chính cấphuyện của tỉnh Điện Biên Đây là địa bàn miền núi có nhiều điều kiện đặc thù
cả về kinh tế, xã hội và trình độ nhận thức, ý thức tuân thủ pháp luật của cán
bộ và người dân Với những điểm mới mang tính đột phát của Hiến pháp năm
2013 và Luật tổ chức CQĐP năm 2015, việc tổ chức thực hiện Luật tổ chứcCQĐP năm 2015 tại tỉnh Điện Biên nói chung và huyện Điện Biên Đông nóiriêng lại càng là thách thức lớn Trong khi đó, Nghị quyết Đại hội Đảng bộhuyện nhiệm kỳ 2015-2020 đã đặt ra nhiệm vụ xây dựng và phát triển toàndiện các mặt hoạt động của huyện, trong đó đặc biệt nâng cao chất lượng hoạtđộng của chính quyền các cấp
Với bối cảnh trên đây, việc thực hiện Luật tổ chức CQĐP năm 2015tại huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên không chỉ là vấn đề thực thi bản
Trang 6thân luật đó mà còn là một trong những yếu tố quan trọng góp phần thực hiệnthắng lợi Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ huyện trong nhiệm kỳ này và cácnhiệm kỳ tới.
Qua 2 năm thực hiện Luật tổ chức CQĐP năm 2015 tại địa bản tỉnhĐiện Biên Đông đã đạt được những thành công đáng kể Tuy nhiên, bên cạnh
đó vẫn còn những tồn tại, vướng mắc cần được giải quyết Để khắc phụcnhững tồn tại, vướng mắc cần phải có nghiên cứu thấu đáo và cặn kẽ về thựctrạng tổ chức và hoạt động của CQĐP các cấp trên địa bàn huyện và căn cứtrên đặc thù của địa phương để đề ra những giải pháp khắc phục phù hợp Có
thể nói trong bối cảnh đó việc nghiên cứu đề tài luận văn "Tổ chức và hoạt
động của chính quyền địa phương trên địa bàn huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên - thực trạng và giải pháp" có tính cấp thiết cao Đề tài này
đặc biệt có giá trị ứng dụng cao nhằm nâng cao hiệu quả công tác tổ chức vàhoạt động của CQĐP ở huyện Điện Biên Đông trong giai đoạn tới
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài luận văn
Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhauliên quan tới tổ chức và hoạt động của CQĐP nói chung, đặc biệt trong bốicảnh thực hiện Luật tổ chức CQĐP năm 2015 Trong số đó phải kể tới cáccông trình sau:
- Trần Công Dũng (2016), Hoàn thiện tổ chức và hoạt động của các
cơ quan chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ luật
học, Trường Đại học Luật Hà Nội
- Hà Quang Ngọc (2007), Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính
quyền địa phương cấp tỉnh, huyện đáp ứng yêu cầu của nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Tạp chí Nhà nước và pháp
luật, số 1, trang 17-23, 30
- Nguyễn Cửu Việt (2015), Đa dạng hóa mô hình chính quyền địa
phương nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương
Trang 7phải là nội dung cốt lõi của Luật tổ chức chính quyền địa phương, Tạp chí
Khoa học pháp lý, số 2, trang 3-11
- Văn Tất Thu (2013), Cơ sở hợp lý tổ chức chính quyền địa phương,
Tạp chí Lịch sử đảng, số 2, trang 53-60
- Hoàng Thị Hồng Liên (2016), Hoạt động ban hành văn bản quy
phạm pháp luật của chính quyền địa phương tỉnh Sơn La, Luận văn thạc sĩ
luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội
- Phạm Hùng Trường (2010), Đổi mới tổ chức chính quyền địa
phương ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay - qua thực tiễn của tỉnh Lạng Sơn, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
- Nguyễn Hà Nam (2013), Chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân
dân cấp tỉnh theo yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Trần Thị Diệu Oanh (2013), Về tác động của phân cấp quản lý đến
địa vị pháp lý của chính quyền địa phương trong đổi mới tổ chức và hoạt động bộ máy nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Tuy nhiên, có thể nói chưa có công trình nào nghiên cứu về tổ chức vàhoạt động của CQĐP các cấp trên địa bàn của huyện Điện Biên Đông, tỉnhĐiện Biên
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
* Mục đích nghiên cứu:
Việc nghiên cứu đề tài "Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa
phương trên địa bàn huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên - Thực trạng và giải pháp" nhằm mục đích tổng kết, đánh giá thành tựu và những bất cập
trong tổ chức và hoạt động của các cấp CQĐP trên địa bàn huyện Điện BiênĐông, tỉnh Điện Biên Trên cơ sở làm rõ nguyên nhân của những bất cập, luậnvăn hướng tới mục đích đề ra một số giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệuquả tổ chức và hoạt động của các cấp CQĐP trên địa bàn huyện Điện BiênĐông, tỉnh Điện Biên Trong số các giải pháp, luận văn cũng sẽ cố gắng đề ra
Trang 8một số giải pháp nhằm hoàn thiện chung công tác thi hành Luật tổ chứcCQĐP trên địa bản huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn xác định một sốnhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và pháp lý về tổ chức, hoạt độngcủa CQĐP nói chung, của các cấp CQĐP trên địa bàn cấp huyện nói riêngtheo Luật tổ chức CQĐP năm 2015
- Phân tích, đánh giá những thành tựu, bất cập trong tổ chức và hoạtđộng của các cấp CQĐP trên địa bàn huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
- Phân tích, làm rõ những nguyên nhân của những hạn chế, bất cậptrong tổ chức và hoạt động của CQĐP các cấp trên địa bàn huyện Điện BiênĐông, tỉnh Điện Biên để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện
và nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động của CQĐP cấp xã, huyện trên địabàn huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của đề tài là tổ chức, hoạt động củaCQĐP cấp xã, CQĐP huyện trên địa bàn huyện Điện Biên Đông, tỉnh ĐiệnBiên Đề tài không nghiên cứu tổ chức, hoạt động của các cấp CQĐP ở cấp tỉnh
Về phạm vi không gian, luận văn nghiên cứu tổ chức và hoạt động củacác cấp CQĐP ở địa bàn huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên Về phạm vithời gian, luận văn nghiên cứu tổ chức và hoạt động hiện tại của các cấpCQĐP trên địa bàn huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên trong bối cảnhthực thi Luật tổ chức CQĐP năm 2015 trên địa bàn huyện
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài áp dụng cách tiếp cận duy vật biện chứng trong trong quá trìnhnghiên cứu Bên cạnh đó đề tài tiếp cận từ quan điểm hội nhập quốc tế đểphân tích nhu cầu của Việt Nam tham gia các điều ước quốc tế về bảo hộquyền tác giả trong môi trường số
Trang 9Đề tài áp dụng hai phương pháp chủ đạo là phương pháp phân tích vàphương pháp so sánh Phương pháp phân tích được áp dụng để nghiên cứusâu về hệ thống pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế về bảo hộ quyền tácgiả trong môi trường số Phương pháp so sánh để đối chiếu, so sánh giữa hai
hệ thống này
6 Ý nghĩa khoa học và kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên về tổ chức và hoạt độngcủa CQĐP cấp xã và huyện trên địa bàn huyện Điện Biên Đông, một huyệncủa tỉnh Điện Biên Đây là một địa bàn có nhiều đặc thù về mặt dân tộc, kinh
tế, văn hóa, xã hội, lịch sử Việc nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa thực tiễn rấtlớn bởi kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ được trực tiếp áp dụng trong thực tiễnquản lý, điều hành của huyện Điện Biên Đông nhằm nâng cao hiệu quả côngtác tổ chức, hoạt động của chính quyền huyện Kết quả nghiên cứu của luậnvăn cũng có thể được tham khảo để hoàn thiện tổ chức và hoạt động của cácCQĐP cấp xã, huyện ở những địa bàn khác của tỉnh Điện Biên cũng như được
sử dụng để tham khảo trong quá trình nghiên cứu, dự thảo sửa đổi, bổ sungLuật tổ chức CQĐP năm 2015 ở góc nhìn phù hợp với thực tiễn các địa bànmiền núi, nhiều đồng bào dân tộc sinh sống như địa bàn tỉnh Điện Biên
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp lý về tổ chức, hoạt động của
chính quyền địa phương ở huyện theo pháp luật hiện hành
Chương 2: Thực tiễn tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương
ở huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
Chương 3: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện về tổ chức và nâng cao
hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương ở huyện Điện Biên Đông,tỉnh Điện Biên
Trang 10Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC,
HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG Ở HUYỆN
THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
1.1 Một số vấn đề lý luận về chính quyền địa phương
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của chính quyền địa phương
Để làm rõ khái niệm CQĐP trước tiên cần đề cập tới khái niệm địaphương và đơn vị hành chính
"Địa phương" là một thuật ngữ sử dụng trong nhiều ngữ cảnh, thuộcnhiều lĩnh vực và trong cuộc sống hàng ngày Khi nói tới thuật ngữ này,người ta hiểu đây là khái niệm chỉ chung phạm vi lãnh thổ, công việc giới hạntrong một bộ phận nhất định của một quốc gia chứ không phải toàn thể quốcgia Trong luật học và khoa học tổ chức bộ máy nhà nước, "địa phương" đượcdùng để chỉ tất cả các công việc của nhà nước giới hạn trong một bộ phậnnhất định của lãnh thổ quốc gia, đối với các công việc được thực hiện ở cấp
"trung ương" Địa phương khi đó được xem là vùng, khu vực trong quan hệvới trung ương, với cả nước; địa phương là một phần của lãnh thổ quốc gia,địa phương được chia thành nhiều cấp khác nhau, có thể là huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh, có thể là xã, phường, thị trấn1
Nếu như "địa phương" là thuật ngữ được sử dụng chung trong nhiềulĩnh vực thì "Đơn vị hành chính" (ĐVHC) là thuật ngữ chuyên biệt dùng trongluật học, cụ thể là ngành Luật hiến pháp, và khoa học tổ chức bộ máy nhànước Đơn vị hành chính cũng là những phần, bộ phận của lãnh thổ quốc gia,song được Nhà nước phân định ra nhằm thực hiện công việc hành chính nhànước Nói cách khác, đơn vị hành chính là những đơn vị không gian có ranhgiới xác định, được phân chia trong một lãnh thổ quốc gia thống nhất, nhằm
1 Trần Công Dũng (2016), Hoàn thiện tổ chức và hoạt động của các cơ quan chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 29-30.
Trang 11mục đích thực hiện công việc quản lý hành chính nhà nước Đơn vị hànhchính lãnh thổ cũng thường được gọi chung là các địa phương trong bản đồhành chính Việt Nam.
Khác với "địa phương" hay "đơn vị hành chính" là những khái niệmchỉ về lãnh thổ và không gian nằm trong một quốc gia, "chính quyền địaphương" liên quan tới tổ chức thiết chế nhà nước cai quản công việc ở địaphương Theo Từ điển luật học của Nxb Collins, CQĐP là hệ thống chínhquyền của những thị trấn, ở những khu vực (quận, huyện) được điều hành bởinhững hội đồng dân cử và những viên chức chấp hành (thừa hành)2 Theo tácgiả Robert Schmuhn, CQĐP là hệ thống chính quyền của một đô thị hay mộtkhu vực lãnh thổ được điều hành bởi những người đại diện do nhân dân địaphương bầu ra Theo tác giả Trần Công Dũng, CQĐP là một bộ phận hợp thànhcủa chính quyền nhà nước thống nhất, bao gồm các cơ quan đại diện - quyếtnghị do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra và các cơ quan tổ chức khácđược thành lập trên cơ sở các cơ quan đại diện - quyết nghị này để quản lý cáclĩnh vực xã hội ở địa phương theo quy định của hiến pháp và pháp luật3
Như vậy, có thể hiểu một cách chung nhất "Chính quyền địa phương"
là khái niệm chỉ các cơ quan nhà nước được thành lập theo quy định của
pháp luật ở các đơn vị hành chính để cai quản công việc nhà nước trong đơn
vị hành chính, hay cũng có thể gọi là "địa phương" đó
Chính quyền địa phương cần được phân biệt với các cơ quan chínhquyền nhà nước ở địa phương CQĐP là khái niệm để chỉ chung bộ máy nhànước được thiết lập ở các đơn vị hành chính để cai quản các công việc ở địaphương Để thực hiện việc cai quản này, trong cơ cấu tổ chức CQĐP phảigồm các cơ quan tương ứng, phù hợp với chức năng, đặc điểm của CQĐP vàviệc cai trị ở từng địa phương CQĐP thì ở đơn vị hành chính nào cũng cósong tổ chức các cơ quan CQĐP ở từng đơn vị hành chính không nhất thiết
2 Dictionary of law, Peter Collins Publishing 2000.
3 Trần Công Dũng (2016), Hoàn thiện tổ chức và hoạt động của các cơ quan chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 31-32.
Trang 12phải giống nhau do đặc điểm của từng ĐVHC là khác nhau Chính vì điềunày nên Hiến pháp năm 2013 đã là bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử lậphiến Việt Nam dùng thuật ngữ CQĐP thay vì chỉ đề cập tới các cơ quan nhànước ở địa phương như các hiến pháp trước đây Bên cạnh đó Hiến phápnăm 2013 cũng phân biệt khái niệm "Chính quyền địa phương" và "Cấpchính quyền địa phương" Sự khác biệt giữa hai khái niệm này chỉ nằm ở cơcấu tổ chức của các cơ quan CQĐP trực thuộc Cấp CQĐP phải có cơ cấu tổchức đầy đủ cả HĐND và UBND, còn CQĐP thì có thể không có đầy đủ hailoại cơ quan trên đây4
Chính quyền địa phương cũng cần được phân biệt với các cơ quan nhànước đặt ở địa phương Để thực hiện công việc nhà nước trên phạm vi mộtĐVHC thì không chỉ có CQĐP và cá cơ quan CQĐP của ĐVHC đó mà còn
có thể có các cơ quan nhà nước do cơ quan ở cấp trung ương thiết lập tại địaphương, nằm ngoài cơ cấu tổ chức của CQĐP của ĐVHC đó, ví dụ các cơquan như thuế, ngân hàng nhà nước, thi hành án đặt tại một ĐVHC cụ thểsong không thuộc cơ cấu tổ chức của CQĐP sở tại
1.1.2 Vai trò của chính quyền địa phương trong bộ máy nhà nước
Theo tác giả Trần Công Dũng, CQĐP có một số chức năng chung, baogồm chức năng chấp hành, thừa hành quyết định của các cơ quan cấp trên,chức năng thực hiện ý chí của cộng đồng nhân dân địa phương và chức năngliên kết, hỗ trợ cộng đồng5 Với những chức năng hết sức quan trọng trên đây,CQĐP dù ở bất kỳ ĐVHC nào cũng đóng vai trò hết sức quan trọng của mìnhtrong Bộ máy nhà nước Vai trò đó thể hiện ở một số khía cạnh sau:
Thứ nhất, CQĐP góp phần gánh vác công việc của chính quyền trung
ương, giúp giảm tải công việc của chính quyền trung ương Nhà nước hiện đại
có xu hướng can thiệp vào mọi mặt của đời sống xã hội Với định hướng xây
4 Đào Trí Úc, Vũ Công Giao và những người khác (2014), Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Nxb Lao động xã hội, tr 579-582.
5 Trần Công Dũng (2016), Hoàn thiện tổ chức và hoạt động của các cơ quan chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 39-91
Trang 13dựng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước Việt Nam cũng có xu hướng như vậy Cóthể thấy sự can thiệp của nhà nước vào các lĩnh vực từ kinh tế, xã hội, y tế,giáo dục, lao động, môi trường, báo chí … thậm chí cả các lĩnh vực mang tính
xã hội hóa cao như văn hóa, văn nghệ, thể thao Nếu các cơ quan nhà nước ởtrung ương quyết định mọi vấn đề trong mọi lĩnh vực thì sẽ trở nên quá tải vàkhông hiệu quả Khi CQĐP thực hiện chức năng tự quản có nghĩa là một sốvấn đề trong một số lĩnh vực có phạm vi tác động ở địa phương sẽ được phânquyền cho CQĐP quyết định và tổ chức thực hiện theo cơ chế tự chịu tráchnhiệm Nhờ vậy, các cơ quan nhà nước ở trung ương giảm tải được công việc
để tập trung nguồn lực vào các vấn đề chính sách ở tầm quốc gia
Thứ hai, CQĐP là thiết chế bảo đảm tính hiện thực và thực thi có hiệu
quả chủ trương, chính sách, pháp luật của trung ương trong thực tiễn Nhưtrên đã đề cập, khi thực hiện chức năng chấp hành, CQĐP các cấp tạo thànhmạng lưới cơ quan chấp hành chính của các cơ quan nhà nước ở trung ương,đặc biệt là các cơ quan hành chính nhà nước (HCNN) ở trung ương Ví dụ khiChính phủ đã trình Quốc hội thông qua Luật đầu tư chứa đựng nhiều chínhsách ưu đãi đối với nhà đầu tư về quyền sử dụng đất, về thủ tục hànhchính.v.v thì nhà đầu tư chỉ có thể thực sự hưởng những ưu đãi đó khi CQĐPcấp tỉnh tương ứng thực sự thực thi Luật Nói cách khác, chính sách, pháp luậtcủa trung ương song vấn đề thi hành lại nằm ở địa phương Nếu không cóhành động hiệu quả của CQĐP thì pháp luật và các chính sách chủ yếu củatrung ương dù hay đến mấy cũng chỉ nằm trên giấy Bộ máy HCNN có hiệuquả hay không cũng phần lớn do hiệu quả hoạt động của CQĐP Câu nói "trêntrải thảm, dưới trải đinh" mặc dù mang hàm ý chỉ trích song phần nào thể hiệnđược tầm quan trọng của CQĐP trong việc thực thi pháp luật, chính sách củacấp trên
Thứ ba, khi quyết định và tổ chức thi hành quyết định về các vấn đề
của địa phương, CQĐP bảo đảm sự can thiệp của Nhà nước đáp ứng tốt nhất
và phù hợp nhất với điều kiện, hoàn cảnh của địa phương Điều này dễ hiểu
Trang 14bởi lẽ CQĐP là do nhân dân địa phương thành lập nên với những đại diện củachính người dân địa phương, do đó, các quan chức làm việc trong CQĐP lànhững người am hiểu nhất điều kiện, hoàn cảnh của địa phương Các quyếtđịnh của CQĐP đưa ra sẽ có khả năng phù hợp cao hơn với điệu kiện của địaphương và do đó có hiệu quả tốt hơn, tránh được tình trạng quan liêu trongđiều hành công việc nhà nước ở địa phương.
Thứ tư, CQĐP đóng vai trò quyết định cho sự phát triển đa dạng của
địa phương, qua đó đóng góp vào sự thịnh vượng bền vững chung của đấtnước Nếu phát huy tốt chức năng tự quản của mình, mỗi CQĐP sẽ là mộtthiết chế nhà nước có trách nhiệm với sự phát triển của địa phương Quanchức trong CQĐP sẽ phải tìm mọi cách phát huy lợi thế cạnh tranh của địaphương mình Mỗi địa phương sẽ phát triển theo cách riêng với thế mạnh riêng.Kết quả là sự thịnh vượng của quốc gia sẽ mang tính ổn định và bền vững cao
do có nền tảng đa dạng và vững chắc từ sự phát triển của các địa phương
1.1.3 Khái niệm và vai trò của chính quyền địa phương ở huyện trong hệ thống chính quyền địa phương
Theo quy định của pháp luật hiện hành, hệ thống CQĐP ở Việt Namhiện nay gồm 3 cấp: Xã, huyện, tỉnh Trên địa bàn của một ĐVHC cấp huyện
có hai loại CQĐP là CQĐP huyện và CQĐP của các ĐVHC cấp xã trực thuộchuyện, thông thường có 01 CQĐP thị trấn nơi đặt cơ quan chính quyền củahuyện và các CQĐP của các xã nằm trên địa bàn của huyện Như vậy, CQĐPnằm trên địa bàn của huyện là các CQĐP ở cấp thấp nhất trong hệ thốngCQĐP ở Việt Nam Cấp trên của các CQĐP này là CQĐP ở tỉnh và trên nữa
là chính quyền ở trung ương Với vị trí như vậy, CQĐP trên địa bàn củahuyện có vai trò rất quan trọng trong hệ thống CQĐP ở địa phương nói riêng
và hệ thống chính quyền nói chung ở Việt Nam
Thứ nhất, đây là những CQĐP ở sát dân nhất, gần nhân nhất, đặc biệt
là CQĐP ở các xã Hơn bất cứ chính quyền ở cấp nào khác, các CQĐP ởhuyện có điều kiện nắm bắt sâu sát nhất tình hình thực tiễn của đời sống nhân
Trang 15dân và tình hình mọi mặt ở địa phương Những hoạt động, quyết định của cácCQĐP này sẽ có tác động trực tiếp nhất tới đời sống của người dân và trựctiếp đem lại sự cải thiện, thay đổi trong đời sống của người dân, của cộngđồng trên địa bàn Ở chiều ngược lại người dân cũng cảm nhận được rõ nétnhất sự hiện diện của chính quyền thông qua những gì các CQĐP ở xã vàhuyện làm trong quá trình thực hiện công việc hàng ngày Tất cả những gìngười dân cảm nhận được, nhận xét và đánh giá về hiệu quả, mức độ tận tìnhphục vụ, bản chất tốt đẹp hay không tốt đẹp của nhà nước, của chế độ nóichung và của các cấp chính quyền nói riêng chính là thông qua hoạt động củaCQĐP ở xã và huyện Lý do là bởi vì đa số người dân trong cuộc sống hàngngày ít có sự tương tác, giao dịch với các cơ quan chính quyền ở cấp tỉnh haycấp trung ương Chính vì vai trò quan trọng này của CQĐP ở huyện và xã nênĐại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản lần thứ VIII (1996) đã nhấnmạnh nhiệm vụ "kiện toàn bộ máy chính quyền cấp huyện và cơ sở đủ sứcquản lý, giải quyết kịp thời, đúng thẩm quyền những vấn đề cuộc sống đặt ra
và nhân dân đòi hỏi"
Thứ hai, cũng với tư cách là các cơ quan CQĐP ở sát dân nhất, gần
dân nhất, CQĐP ở trên địa bàn của huyện cũng chính là lực lượng trực tiếpthực hiện hầu hết các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhànước trong thực tiễn cuộc sống Điều này thể hiện rất rõ qua số lượng cácCQĐP cấp huyện và CQĐP địa phương cấp xã trên cả nước Hình dung toàn
bộ hệ thống chính quyền của Việt Nam hiện nay với một cấp chính quyền ởtrung ương, 63 CQĐP ở cấp tỉnh, hơn 700 CQĐP ở cấp huyện và hơn 11.000CQĐP ở cấp xã, có thể thấy các CQĐP trên địa bàn của huyện tạo thànhmạng lưới bao trùm lên khắp các ĐVHC của Việt Nam, trực tiếp thực hiệnhoạt động quản lý của nhà nước đối với mọi mặt đời sống ở các ĐVHC củaViệt Nam Như vậy, nếu như đối với các cấp chính quyền ở trung ương và cấptỉnh cần đề cao vai trò bao quát, xây dựng chính sách, pháp luật thì đối với
Trang 16các CQĐP ở cấp xã và huyện thì cần chú trọng vai trò thực thi chủ trương,chính sách và hành động trong thực tiễn Chủ trương, chính sách, pháp luật cóhay đến mấy song khâu thực thi yếu kém, không hiệu quả thì cũng sẽ trở nên
vô nghĩa Sự kém hiệu quả, yếu kém của CQĐP theo nhiều nghĩa chính lànguyên nhân dẫn tới nhiều bất cập trong hoạt động của bộ máy nhà nước,trong đó trực tiếp là tình trạng "trên rải thảm, dưới rải đinh", "trên nóng, dướilạnh" như tình trạng được đề cập đến nhiều trong thời gian vừa qua
1.2 Tổ chức chính quyền địa phương ở huyện theo Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015
1.2.1 Chính quyền địa phương và cấp chính quyền địa phương ở huyện
Một trong những điểm mới nổi bật của Hiến pháp năm 2013 so vớicác hiến pháp trường đây là quy định phân biệt giữa "Chính quyền địaphương" và "Cấp chính quyền địa phương" Điều 111, Hiến pháp năm 2013quy định:
"1 Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính củanước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2 Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy bannhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn
vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định"
Như vậy, "Chính quyền địa phương" và "Cấp chính quyền địa phương"
là hai khái niệm khác nhau được sử dụng trong tổ chức của CQĐP của ViệtNam CQĐP là các cơ quan nhà nước được tổ chức ở địa phương, thực hiệncông việc nhà nước tại địa phương Ở bất kỳ đơn vị hành chính nào của NướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng đều có CQĐP để thực hiện côngviệc nhà nước tại nơi đó Trong khi đó, Cấp CQĐP là CQĐP song về mặt tổchức nó phải có HĐND và UBND Theo tinh thần của Hiến pháp thì khôngphải bất kỳ ĐVHC nào của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng
Trang 17đều có Cấp CQĐP, nói cách khác không phải bất kỳ CQĐP nào cũng được tổchức đầy đủ như Cấp CQĐP Tùy đặc điểm của từng ĐVHC mà quyết địnhCQĐP nơi đó có phải là Cấp CQĐP hay không6
Tuy Hiến pháp năm 2013 có sự phân biệt giữa CQĐP và cấp CQĐPLuật tổ chức CQĐP lại không thể hiện rõ sự phân biệt này Điều 1, Luật tổchức CQĐP quy định: "Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhândân và Ủy ban nhân dân được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tại Điều 2 của Luật này" Như vậy, ởtất cả các ĐVHC của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều tổ chứcCấp CQĐP gồm HĐND và UBND
Theo quy định của Luật tổ chức CQĐP năm 2015, trên địa bàn củahuyện hiện nay có hai cấp CQĐP là CQĐP cấp huyện và CQĐP cấp xã.Trong các CQĐP cấp xã gồm có các CQĐP xã và CQĐP thị trấn của huyện
đó Ở tất cả các CQĐP tại tất cả các ĐVHC này, cho dù là ĐVHC nông thôn(xã, huyện) hay ĐVHC đô thị (thị trấn), đều tổ chức cấp CQĐP gồm HĐND
và UBND
Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành thì thuật ngữ chínhxác để nói tới CQĐP tại các ĐVHC của huyện phải là Cấp CQĐP chứ khôngphải là CQĐP Tuy nhiên, để phù hợp với cách sử dụng thông thường và cũngbởi vì trong hệ thống CQĐP hiện nay của Việt Nam không có CQĐP nàokhông phải là cấp CQĐP nên trong luận văn này cũng sử dụng thuật ngữ
"Chính quyền địa phương" và "Cấp chính quyền địa phương" có cùng nghĩavới nhau
1.2.2 Tổ chức chính quyền địa phương cấp huyện theo Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015
Theo quy định của Luật tổ chức CQĐP năm 2014, ĐVHC cấp huyệncủa Việt Nam gồm có huyện, quận, thị xã thành phố thuộc tỉnh, thành phố
6 Nguyễn Cửu Việt (2015), Đa dạng hóa mô hình chính quyền địa phương nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương phải là nội dung cốt lõi của Luật tổ chức chính quyền địa phương, Tạp chí
Khoa học pháp lý, số 2, tr 6.
Trang 18trực thuộc thành phố trực thuộc trung ương Ở tất cả các ĐVHC cấp huyệnđều có cấp CQĐP bao gồm HĐND và UBND HĐND là cơ quan đại diện củanhân dân ở địa phương, cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do nhândân địa phương trực tiếp bầu ra trong cuộc bầu cử phổ thông, bình đẳng, trựctiếp và kín UBND là cơ quan chấp hành của HĐND cùng cấp và cơ quanhành chính nhà nước ở cấp trên Như vậy, HĐND là cơ quan ra quyết định vàUBND là cơ quan chấp hành quyết định.
Nhìn chung, HĐND ở tất cả các ĐHVC nói trên đều được tổ chứcgiống nhau Đây đều là các cơ quan được tổ chức và làm việc theo chế độ tậpthể, trong cơ cấu tổ chức đều có thường trực HĐND và các ban của HĐND.Thường trực HĐND đều bao gồm Chủ tịch HĐND và hai Phó Chủ tịchHĐND và các trưởng ban của HĐND Chủ tịch HĐND có thể là đại biểuchuyên trách, Phó chủ tịch HĐND là đại biểu hoạt động chuyên trách Sốlượng các ban chuyên trách của HĐND cũng tương tự nhau HĐND thành lập
3 ban là Ban pháp chế, Ban kinh tế - xã hội, nơi nào có nhiều dân tộc thiểu sốthì thành lập Ban dân tộc HĐND Sự khác biệt trong tổ chức HĐND ở cácĐVHC cấp huyện chỉ nằm ở quy mô của HĐND
Theo quy định tại Điều 26, Luật tổ chức CQĐP năm 2015, số lượngđại biểu HĐND huyện được xác định theo nguyên tắc sau đây:
- Huyện miền núi, vùng cao, hải đảo có từ bốn mươi nghìn dân trởxuống được bầu ba mươi đại biểu; có trên bốn mươi nghìn dân thì cứ thêmnăm nghìn dân được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá bốnmươi đại biểu;
- Huyện không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này có từtám mươi nghìn dân trở xuống được bầu ba mươi đại biểu; có trên tám mươinghìn dân thì cứ thêm mười nghìn dân được bầu thêm một đại biểu, nhưngtổng số không quá bốn mươi đại biểu;
- Số lượng đại biểu HĐND ở huyện có từ ba mươi đơn vị hành chínhcấp xã trực thuộc trở lên do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định theo đề
Trang 19nghị của Thường trực HĐND cấp tỉnh, nhưng tổng số không quá bốn mươilăm đại biểu.
Trong khi đó, Điều 53, Luật tổ chức CQĐP năm 2015 quy định sốlượng đại biểu HĐND thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phốtrực thuộc trung ương được xác định như sau:
- Thị xã có từ bảy mươi nghìn dân trở xuống được bầu ba mươi đạibiểu; có trên bảy mươi nghìn dân thì cứ thêm mười nghìn dân được bầu thêmmột đại biểu, nhưng tổng số không quá bốn mươi đại biểu;
- Thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trungương có từ một trăm nghìn dân trở xuống được bầu ba mươi đại biểu; có trênmột trăm nghìn dân thì cứ thêm mười nghìn dân được bầu thêm một đại biểu,nhưng tổng số không quá bốn mươi đại biểu;
- Số lượng đại biểu HĐND ở thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phốthuộc thành phố trực thuộc trung ương có từ ba mươi đơn vị hành chính cấp xãtrực thuộc trở lên do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị củaThường trực HĐND cấp tỉnh, nhưng tổng số không quá bốn mươi lăm đại biểu
Ủy ban nhân dân của các ĐVHC cấp huyện đều có cơ cấu, tổ chứcgiống nhau UBND đều bao gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên làngười đứng đầu các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, Ủy viênphụ trách quân sự, Ủy viên phụ trách công an của huyện Tất nhiên, số lượngcác ủy viên có thể khác nhau do số lượng các đơn vị chuyên môn của ủy ban
ở từng ĐVHC cấp huyện ở đô thị và nông thôn có thể khác nhau Số lượngPhó chủ tịch ở UBND cấp huyện loại 1 không quá 3 và loại 2 không quá 2
1.2.3 Tổ chức chính quyền địa phương cấp xã theo Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015
Theo Luật tổ chức CQĐP năm 2015, CQĐP cấp xã bao gồm CQĐP xã
và CQĐP thị trấn Ở cả hai ĐVHC này cho dù khác nhau về tính chất nông thôn,
đô thị song được tổ chức tương tự nhau CQĐP xã, phường, thị trấn đều gồmHĐND và UBND có vị trí, tính chất tương tự như HĐND và UBND cấp huyện
Trang 20Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn đều có thường trực HĐNDgồm Chủ tịch HĐND, 1 Phó Chủ tịch HĐND Chủ tịch HĐND có thể hoạtđộng chuyên trách, Phó chủ tịch HĐND hoạt động chuyên trách HĐND xã,phường, thị trấn được tổ chức thành các ban gồm có Ban pháp chế, Ban kinh
1.3.1 Hoạt động của chính quyền địa phương cấp huyện theo Luật
tổ chức chính quyền địa phương năm 2015
Nhìn chung, CQĐP ở tất cả các ĐVHC cấp huyện đều hoạt động theophương thực giống nhau HĐND làm việc theo chế độ hội nghị, theo kỳ họp.Mỗi năm HĐND có hai kỳ họp thường kỳ Mọi quyết định của HĐND cóhiệu lực khi có quá nửa tổng số đại biểu HĐND thông qua UBND hoạt độngtheo chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách kết hợp với vai trò lãnh đạocủa Chủ tịch UBND Sự khác biệt trong hoạt động của CQĐP ở các ĐVHChuyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố thuộctrung ương có lẽ nằm ở phạm vi nhiệm vụ quyền hạn mà Luật tổ chức CQĐPquy định cho các CQĐP này
Theo Điều 24, Luật tổ chức CQĐP năm 2015, CQĐP huyện có nhữngnhiệm vụ, quyền hạn sau:
- Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địabàn huyện
- Quyết định những vấn đề của huyện trong phạm vi được phân quyền,phân cấp theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan
- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nước cấptrên ủy quyền
- Kiểm tra, giám sát tổ chức và hoạt động của CQĐP cấp xã
Trang 21- Chịu trách nhiệm trước CQĐP cấp tỉnh về kết quả thực hiện cácnhiệm vụ, quyền hạn của CQĐP ở huyện.
- Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyềnlàm chủ của nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và pháttriển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn huyện
Theo Điều, 45, Luật tổ chức CQĐP năm 2015, CQĐP quận có nhữngnhiệm vụ, quyền hạn sau:
- Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địabàn quận
- Quyết định những vấn đề của quận trong phạm vi được phân quyền,phân cấp theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan
- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nước cấptrên ủy quyền
- Kiểm tra, giám sát tổ chức và hoạt động của CQĐP ở phường
- Chịu trách nhiệm trước CQĐP ở thành phố trực thuộc trung ương vềkết quả thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của CQĐP ở quận
- Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyềnlàm chủ của Nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và pháttriển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn quận
Theo Điều 52, Luật tổ chức CQĐP, CQĐP thị xã, thành phố thuộctỉnh, thành phố thuộc thành phố thuộc trung ương có những nhiệm vụ, quyềnhạn sau:
- Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bànthị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương
- Quyết định những vấn đề của thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phốthuộc thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi được phân quyền, phâncấp theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan
Trang 22- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nước cấptrên ủy quyền.
- Kiểm tra, giám sát tổ chức và hoạt động của CQĐP cấp xã
- Chịu trách nhiệm trước CQĐP cấp tỉnh về kết quả thực hiện cácnhiệm vụ, quyền hạn của CQĐP ở thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phốthuộc thành phố trực thuộc trung ương
- Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyềnlàm chủ của Nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và pháttriển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn thị xã, thànhphố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương
1.3.2 Hoạt động của chính quyền địa phương cấp xã theo Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015
Chính quyền địa phương cấp xã cũng có cách thức hoạt động tương tựCQĐP cấp huyện HĐND của CQĐP cấp xã cũng hoạt động theo chế độ hộinghị, quyết định theo đa số UBND cấp xã cũng là cơ quan HCNN hoạt độngtheo chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách với vai trò lãnh đạo của Chủtịch UBND Tuy nhiên, phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của CQĐP cấp xã hẹphơn nhiều so với CQĐP cấp huyện
Theo Điều 31, 59, 66, Luật tổ chức CQĐP năm 2015, CQĐP cấp xã
có nhiệm vụ, quyền hạn sau:
- Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địabàn cấp xã
- Quyết định những vấn đề của xã trong phạm vi được phân quyền, phâncấp theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan
- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nước cấptrên ủy quyền
- Chịu trách nhiệm trước CQĐP cấp huyện về kết quả thực hiện cácnhiệm vụ, quyền hạn của CQĐP cấp xã
Trang 23- Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyềnlàm chủ của nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và pháttriển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn ĐVHC cấp xã.
Trang 24Chương 2 THỰC TIỄN TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG Ở HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG,
m Địa hình đồi núi phức tạp, chia cắt mạnh, hiểm trở bởi nhiều khe suối, vựcsâu; trên 80% diện tích tự nhiên của huyện thuộc địa hình núi cao, độ dốc lớnđược cấu tạo bởi những dãy núi cao chạy dài theo hướng Tây Bắc - ĐôngNam Cấu trúc núi cao là phổ biến và chiếm phần lớn diện tích tự nhiên toànhuyện Đồi núi ở đây bị bào mòn mạnh thành những thung lũng hẹp, thềm bãibồi dọc các con sông, suối
Diện tích toàn huyện 120.686,24ha Trong đó đất sản xuất nông nghiệplà: 79.224,92 ha, trong số này chỉ có hơn 2000ha là đất trồng lúa nước,14.560,07ha đất trồng lúa nương, đất có rừng hơn 30.000ha còn lại là đất phinông nghiệp và đất khác, tỷ lệ độ che phủ rừng đạt 25,51% (số liệu năm 2017)
Dạng địa hình này phức tạp, hiểm trở, gây khó khăn trong việc đầu tưphát triển kết cấu hạ tầng và phát triển sản xuất nông nghiệp
Khí hậu: Khí hậu Điện Biên Đông mang đặc điểm chung của khí hậuvùng Tây Bắc, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa hè nóng
Trang 25ẩm, mưa nhiều; mùa đông khô lạnh, ít mưa Mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10nóng ẩm mưa nhiều; Mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau lạnh và khôhanh điển hình cho khí hậu gió mùa.
- Nhiệt độ: Trung bình cả năm 220C, nhiệt độ ban đêm trung bìnhnăm 17,80C, nhiệt độ trung bình ban ngày 290C, biên độ nhiệt ngày đêmtương đối lớn
- Lượng mưa: Trung bình cả năm 1.559 mm, phân bố không đều Mưalớn thường tập trung vào các tháng 6,7,8 trong năm và chiếm tới 80% lượngmưa cả năm Do mưa tập trung nên thường gây ra lũ quét, sạt lở đất và gâyhiện tượng rửa trôi, xói mòn Ngược lại mùa khô lượng mưa ít chỉ chiếmkhoảng 20% lượng mưa cả năm, vào thời kỳ này lượng bốc hơi cao, gây ratình trạng khô hạn ảnh hưởng lớn tới sản xuất và sinh hoạt của người dân
- Độ ẩm trung bình cả năm 84%
- Sương mù: Là hiện tượng khá phổ biến ở vùng núi Tây Bắc Số ngày
có sương mù tại huyện Điện Biên Đông lên tới trên 100 ngày/năm Sương mùxuất hiện nhiều nhất vào các tháng 12 và tháng 1 năm sau (khoảng 10-20ngày/tháng) và ít nhất vào tháng 6 và tháng 7 (khoảng 02 - 05 ngày/tháng)
- Sương muối: Với đặc điểm mùa đông lạnh, khô hanh và ít gió là điềukiện thuận lợi cho sự hình thành và xuất hiện sương muối Vào tháng 12 vàtháng 1 hàng năm có xuất hiện sương muối nhưng ít và tập trung nhiều ở cácthung lũng, các khe đồi thấp tại các xã vùng cao
Nhìn chung trong những năm gần đây nhiệt độ có xu hướng tăng, độ
ẩm giảm so với những năm trước đây song khí hậu thuận lợi cho sản xuấtnhất là sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên có những bất lợi cần khắc phục, nhưhạn hán, nắng nóng kéo dài, thỉnh thoảng có dông, mưa đá, sạt lở đất, gâykhông ít khó khăn cho sản xuất và đời sống
Thủy văn: Huyện Điện Biên Đông thuộc lưu vực sông Mê Kông vàsông Mã với hệ thống sông suối khá phong phú Sông, suối là nguồn nướcchính cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất của người dân trong huyện Tuy
Trang 26nhiên, do lượng nước tập trung theo mùa, nên vào mùa mưa thì dư thừa lượngnước, gây ngập úng, lũ quét nhưng đến mùa khô lượng nước khan hiếm hạnchế trong việc cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất tại một số khu vực
Mùa mưa lũ kéo dài 4 tháng, từ tháng 6 đến tháng 9 Lượng nướctrong mùa này thường chiếm tới 70% tổng lượng nước trong năm Dòng chảylớn nhất thường rơi vào tháng 7; 8; 9 chiếm 61% tổng lượng nước.Những đặcđiểm về địa hình cộng với diện tích lớp thảm thực vật đang ngày càng bị thuhẹp là nguyên nhân gây nên lũ quét lớn trong khu vực
Mùa khô trong huyện kéo dài 8 tháng, với lượng nước chiếm chưa tới30% Đặc biệt tháng kiệt nhất là tháng 3, lượng nước chỉ chiếm 2% tổnglượng nước trong năm
- Về đất đai: Tổng diện tích tự nhiên: 120.686,24 ha, trong đó:
Trang 27+ Môi trường đất: Kết quả quan trắc cho thấy chất lượng đất trên địabàn huyện có các chất dinh dưỡng như kali, nitơ, phốt pho và cacbon hữu cơtổng số có hàm lượng khá cao; các hóa chất bảo vệ thực vật (nhóm clo hữu cơ
và Pyrethoid) có hàm lượng thấp hơn ngưỡng phát hiện, và đạt quy chuẩn chophép Các thông số kim loại nặng (Cd, Cu, Pb, Zn) và hóa chất bảo vệ thựcvật (nhóm clo hữu cơ và Pyrethoid) đều nằm trong giới hạn cho phép Chấtlượng đất có phần suy giảm nhẹ, nguyên nhân do sự thay đổi của thời tiết,mưa lớn gây rửa trôi xói mòn, ngoài ra do tập quán canh tác, trong quá trìnhtrồng trọt, không có biện pháp bồi dưỡng, bảo vệ đất như bón phân hữu cơ,trồng xen hoặc luân canh các loài cây, trồng độc canh Chất lượng môi trườngđất chưa biểu hiện ô nhiễm, tỷ lệ chất hữu cơ với các khoáng cation, tỷ lệ cáckim loại và kim loại nặng trong đất ở mức độ trung bình
2.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hóa của huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
2.2.1 Đặc điểm kinh tế của huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
Điện Biên Đông có 14 đơn vị hành chính (13 xã và 1 thị trấn) dân số
có hơn 65.000 dân (theo số liệu thống kê hết năm 2017, gồm 7 dân tộc anh
em sinh sống trong đó dân tộc Mông chiếm 52%, dân tộc thái chiếm 32% cònlại là dân tộc Khơ Mú, Lào, Sinh Mun, Kinh, Mường Báo cáo chính trị củaBan Chấp hành Đảng bộ huyện trình Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ
V nhiệm kỳ 2015-2020 đánh gia như sau:
Về kinh tế:
Sản xuất nông - lâm nghiệp, thủy sản:
- Về sản xuất lương thực, hằng năm đều tăng trên cả 3 mặt: diện tích,năng suất và sản lượng Tổng diện tích gieo trồng năm 2015 dự ước đạt15.556 ha (tăng 4,3% = 642 ha so với năm 2010, diện tích khai hoang mới là658,1 ha); tổng sản lượng lương thực đạt 28.349 tấn (tăng 20% = 4.704 tấn sovới năm 2010, đạt 93% so với Nghị quyết Đại hội); bình quân lương thực đầungười đạt 458kg/người/năm (đạt 93,5% so với Nghị quyết Đại hội) Diện tíchcây công nghiệp ngắn ngày năm 2015 ước đạt 1.175 ha
Trang 28- Về chăn nuôi: Đã chú trọng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vàosản xuất, chăn nuôi Công tác thú y thường xuyên được quan tâm làm tốt, đãkịp thời ngăn chặn dịch bệnh gây hại cho đàn gia súc, gia cầm, duy trì tốt nhịp
độ tăng trưởng của đàn gia súc từ 4-5%/năm Tổng đàn gia súc hiện có trên81.850 con (đạt 96,3% so với Nghị quyết Đại hội), trong đó đàn trâu đạt trên19.470 con, đàn bò đạt trên 10.520 con, đàn lợn đạt trên 51.850 con Tổngđàn gia cầm đạt trên 352.000 con
* Lâm nghiệp: Thực hiện tốt công tác bảo vệ và trồng rừng, đã tiếnhành quy hoạch và tổ chức giao đất rừng cho các hộ gia đình Trong nhiệm kỳqua, đã trồng mới được 488,1 ha rừng; khoanh nuôi tái sinh, bảo vệ rừng tựnhiên và rừng trồng đạt 15.282,9 ha, tỷ lệ che phủ rừng đạt 29% năm 2014,tăng 3,6% so với năm 2010 (đạt 69% so với Nghị quyết Đại hội)
* Ngư nghiệp: Diện tích, sản lượng nuôi trồng thủy sản năm sau đềutăng so với năm trước, năm 2015 diện tích nuôi trồng hiện có 105 ha tăng 45
ha so với năm 2010, sản lượng ước đạt 115,3 tấn
Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ:Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn có mức tăngtrưởng khá Năm 2015, giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng đạt 84,5 tỷđồng (theo giá hiện hành), tăng 37,29 tỷ đồng so với năm 2010; sản phẩm chủyếu là khai thác vàng, cát sỏi, đá xây dựng, chế biến lương thực, chế biến gỗ
Hoạt động thương mại tiếp tục có những đóng góp quan trọng choviệc thúc đẩy phát triển sản xuất, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân.Giá trị thương mại dịch vụ (theo giá hiện hành) đến năm 2015 đạt 60,35 tỷđồng, tăng 34,47 tỷ đồng so với năm 2010
Công tác quản lý tài nguyên và môi trường:
Quản lý chặt chẽ các nguồn tài nguyên trên địa bàn; công tác khai tháckhoáng sản đã có những kết quả rõ nét tạo nguồn thu cho ngân sách Hoànthiện công tác lập và quản lý quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch
sử dụng đất 5 năm đầu kỳ 2011-2015 Các hoạt động quản lý đất đai, cấp giấy
Trang 29chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện đảm bảo; công tác thẩm địnhphương án bồi thường, bảo vệ môi trường được quan tâm thực hiện
Phong trào toàn dân bảo vệ môi trường được phát động sâu rộng trongquần chúng nhân dân; hằng năm đều tổ chức cho cán bộ, học sinh và nhândân tham gia hưởng ứng Ngày môi trường thế giới, Tết trồng cây và hưởngứng tích cực việc bảo vệ môi trường xanh sạch đẹp, trồng cây xanh ở các khuvực thị trấn, các trung tâm cụm xã và các nhà trường
Hoạt động tài chính, ngân hàng:
Hoạt động thu, chi ngân sách trong nhiệm kỳ qua tiếp tục được quantâm chỉ đạo, thực hiện đúng Luật Ngân sách Nhà nước Tổng thu ngân sáchhằng năm đều tăng, cơ bản đảm bảo ngân sách cho các hoạt động chi thườngxuyên, chi cho các chương trình mục tiêu, phát triển kinh tế, xóa đói giảmnghèo Đến năm 2015: tổng thu ngân sách đạt 580,075 tỷ, tăng 340,098 tỷđồng so với năm 2010; thu trên địa bàn đạt 6 tỷ đồng, tăng 2,238 tỷ đồng sovới năm 2010 (đạt 92,31% Nghị quyết Đại hội); tổng chi ngân sách là580,075 tỷ đồng, tăng 355,625 tỷ đồng so với năm 2010
Hoạt động tín dụng của các ngân hàng có nhiều tiến bộ trong việc chovay vốn phát triển sản xuất kinh doanh, xóa đói giảm nghèo, với nhiềuchương trình tín dụng, các mức lãi suất thường xuyên được điều chỉnh phùhợp với nhu cầu vay vốn của hộ gia đình và các tổ chức kinh tế - xã hội
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Tính đến thời điểm hiện tại ngành Nông - Lâm và Thủy sản chiếm tỷtrọng 76%, tăng 2% so với năm 2010; Công nghiệp - Xây dựng 14%, giảm3% so với năm 2010; Thương mại - Dịch vụ 10%, tăng 1% so với năm 2010
Đến nay, toàn huyện có trên 700 hộ đăng ký kinh doanh, 35trang trại và hàng trăm mô hình trang trại tổng hợp, đã góp phần khai tháctiềm năng đất đai và giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho nhân dân Tậptrung đầu tư xây dựng và quy hoạch các vùng kinh tế; quan tâm phát triển cơ
sở hạ tầng cho vùng kinh tế động lực, vùng kinh tế phía Bắc và Tây Bắc, vùngkinh tế phía Nam và Tây Nam
Trang 30Đầu tư xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội:
Trong 5 năm thực hiện kế hoạch 2011-2015, được sự quan tâm đầu tư,
hỗ trợ của Nhà nước nên các nguồn vốn đầu tư cho phát triển trên địa bànhuyện ngày một tăng; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư đã gópphần quan trọng trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng trưởngkinh tế, phát triển văn hóa xã hội, đảm bảo an ninh chính trị trên địa bàn, từngbước cải thiện điều kiện sản xuất và đời sống cho nhân dân Năm 2015, tổngvốn đầu tư xây dựng cơ bản ước đạt 287,5 tỷ đồng, tăng 157,5 tỷ đồng so vớinăm 2010
Hệ thống đường giao thông nông thôn những năm qua phát triển khánhanh Đến nay huyện đã có 14/14 xã, thị trấn có đường ô tô đến trung tâm
xã, (trong đó có 10/14 xã có đường ô tô đến trung tâm xã đi được cả 2 mùa);100% số bản đã có đường dân sinh
Trong 5 năm qua huyện đã chú trọng đầu tư các công trình thủy lợi, kênhmương, cầu, cống đảm bảo giao thông và nước tưới tiêu cho 2 vụ gieo trồng
Đưa điện lưới quốc gia đến 14/14 xã, thị trấn (đạt 100% so với Nghịquyết Đại hội) Tỷ lệ hộ sử dụng điện là 8.934/11.480 = 77,9% số hộ (đạt119,8% so với Nghị quyết Đại hội)
Hoàn thành chương trình kiên cố hóa trường, lớp học, nhà công vụcho giáo viên theo Quyết định 120 của Thủ tướng Chính phủ và giữ vữngchuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở ở 14/14 xã, thị trấn (đạt chỉ tiêu Nghịquyết Đại hội đề ra) Bệnh viện, phòng khám khu vực, trạm y tế, trụ sở làmviệc, nhà văn hóa bản và các công trình công cộng phục vụ dân sinh khác đã
và đang tiếp tục được quan tâm đầu tư xây dựng, nâng cấp; bộ mặt của huyện,các trung tâm cụm xã và cụm dân cư đã có nhiều khởi sắc
Chương trình xây dựng nông thôn mới:
Ngay sau khi có Quyết định 800/QĐ-TTg, ngày 04/6/2010 của Thủtướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựngnông thôn mới, giai đoạn 2010-2020 và các văn bản hướng dẫn của Trung
Trang 31ương, của tỉnh; huyện đã chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện trên địa bàn 13
xã trong toàn huyện Đến nay đã hoàn thành việc lập quy hoạch, phê duyệtquy hoạch và công bố quy hoạch, đồng thời hoàn chỉnh việc thẩm định và phêduyệt Đề án xây dựng nông thôn mới cho 13 xã trên địa bàn huyện Sau ba nămtriển khai thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới toàn huyện
có 01 xã đạt 04 tiêu chí, 03 xã đạt 03 tiêu chí, 09 xã đạt 02 tiêu chí Cùng với cácnguồn vốn theo Chương trình Nghị quyết 30a của Chính phủ nhiều công trình
hạ tầng thiết yếu như giao thông, thủy lợi, nước sinh hoạt, điện sinh hoạt,trường lớp học được chú trọng đầu tư; bước đầu tạo được sự chuyển biến vềmặt nhận thức của nhân dân trong việc chung tay xây dựng nông thôn mới
2.2.2 Đặc điểm văn hóa - xã hội của Huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
Thực hiện chính sách xã hội và công tác xóa đói giảm nghèo:
Công tác xóa đói giảm nghèo và thực hiện các chính sách xã hội trênđịa bàn huyện có chuyển biến, đời sống của một bộ phận nhân dân từng bướcđược cải thiện Trong 5 năm đã tạo việc làm cho 2.713 lao động (đạt 90,4% sovới Nghị quyết Đại hội đề ra), có 150 lao động tham gia xuất khẩu, bình quânmỗi năm có 36 lao động tham gia xuất khẩu (đạt 51,43% so với Nghị quyếtĐại hội) Tổ chức tốt việc cai nghiện tại cộng đồng, thường xuyên quan tâmchăm lo cho các đối tượng chính sách và người yếu thế; số đối tượng bảo trợ
xã hội được hưởng trợ cấp hàng tháng trên 990 đối tượng Hoàn thành việc hỗtrợ nhà ở theo Quyết định 167/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ cho2.644 hộ trên địa bàn Việc triển khai thực hiện Nghị quyết 30a của Chínhphủ đã góp phần đẩy nhanh công tác xóa đói giảm nghèo Đến năm 2014 tỷ lệ
hộ nghèo giảm còn 42,7%, dự ước đến năm 2015 tỷ lệ hộ nghèo giảm còn37,8%, trung bình mỗi năm giảm 5% (đạt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội)
Công tác giáo dục - đào tạo:
Trong 5 năm qua công tác giáo dục và đào tạo có nhiều tiến bộ; hệthống trường, lớp học được quan tâm đầu tư; chất lượng dạy và học được
Trang 32nâng lên Đến nay toàn huyện có 60 trường và 01 Trung tâm giáo dục thườngxuyên; tỷ lệ huy động học sinh ra lớp của các cấp học, tỷ lệ học sinh chuyểnlớp, hoàn thành chương trình tiểu học và tốt nghiệp trung học cơ sở hằng nămđạt trên 98% trở lên; duy trì đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở, phổcập GDTHĐĐT, phổ cập giáo dục Mầm Non cho trẻ em 5 tuổi; số lượng giáoviên dạy giỏi và học sinh giỏi cấp tỉnh, huyện đều tăng ở cả ba cấp học Tínhđến thời điểm hiện tại toàn ngành có 17 trường đạt chuẩn quốc gia, 22 trườngPTDTBT; 01 trường Nội trú Công tác xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh,hoạt động của Hội khuyến học, Trung tâm học tập cộng đồng và gia đình hiếuhọc đã thúc đẩy phong trào học tập trong nhân dân.
Nguồn nhân lực của huyện ngày càng được nâng lên cả về số lượng vàchất lượng Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được đào tạo, đào tạo lạitừng bước đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao Tỷ lệ lao động đượcđào tạo nghề trong lực lượng lao động nông nghiệp và các ngành nghề khácngày càng tăng
Công tác y tế, dân số, bảo vệ chăm sóc trẻ em:
Hệ thống y tế từ huyện đến cơ sở được củng cố và phát triển, chấtlượng công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân ngày càng được chú trọng vànâng cao, đến nay có 14/14 xã, thị trấn có trạm y tế (đạt 100% mục tiêu Nghịquyết đề ra); có 5 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia, 89% số bản có y tá Các mụctiêu, chương trình y tế quốc gia thực hiện đạt kết quả khá, đã có trên 95% sốtrẻ em trong toàn huyện được tiêm chủng Trong nhiệm kỳ qua, huyện đã cấp296.745 thẻ bảo hiểm y tế cho các đối tượng trên địa bàn (trung bình mỗi nămcấp 59.349 thẻ bảo hiểm y tế), tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế hằng năm đạt trên98% dân số toàn huyện Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình có chuyểnbiến tích cực, góp phần làm giảm tỷ lệ sinh hằng năm Quy mô dân số theomục tiêu đề ra vào năm 2015 là 61.900 người, dự ước kết quả thực hiện đếnnăm 2015 dân số huyện Điện Biên Đông là 61.898 người (đạt so với Nghịquyết Đại hội) Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 19,96%o vào năm 2011 và
Trang 3316,04%o năm 2015 (đạt so với mục tiêu Nghị quyết Đại hội đề ra) Công tácbảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em được quan tâm bằng các hoạt động thiếtthực của các cấp, các ngành và toàn xã hội.
Hoạt động văn hóa - thông tin, thể dục - thể thao:
Hoạt động văn hóa, văn nghệ tiếp tục có những chuyển biến tích cực,quan tâm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc Trong 5 nămqua, đã tổ chức trên 400 buổi tuyên truyền cổ động, văn nghệ tại cơ sở; trên
950 buổi chiếu phim video phục vụ đồng bào các dân tộc vùng cao Toànhuyện hiện có trên 50 đội văn nghệ hoạt động thường xuyên
Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" đượcquan tâm, chú trọng Phong trào thể dục,thể thao quần chúng phát triển mạnh.Thường xuyên quan tâm tổ chức các giải thi đấu thể thao trong các dịp lễ, tết,mừng Đảng, mừng Xuân; tổ chức thành công Đại hội Thể dục thể thao huyệnlần thứ VI và tham gia Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Điện Biên lần thứ IX đạtđược nhiều thành tích cao Toàn huyện có 55 câu lạc bộ đăng ký xây dựngcâu lạc bộ thể thao, 1.660/11.618 hộ gia đình đăng ký gia đình thể thao; sốtrường đảm bảo giáo dục thể chất 41 trường
Công tác truyền thanh, truyền hình được chú trọng đầu tư; chất lượng,nội dung, thời lượng phát sóng đảm bảo phục vụ tốt công tác tuyên truyền cácchủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và nhucầu hưởng thụ văn hóa của đồng bào các dân tộc Toàn huyện hiện có 2 trạmphát lại truyền hình, 03 trạm truyền thanh, tỷ lệ số hộ được phủ sóng truyềnhình vệ tinh và phát thanh Trung ương đạt 100%
Công tác dân tộc:
Công tác dân tộc tiếp tục được quan tâm Các chủ trương chính sáchcủa Đảng, Nhà nước trên các lĩnh vực được triển khai thực hiện Kết cấu hạtầng kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc được đầu tư, từng bước đáp ứngnhu cầu đi lại, điện nước, phục vụ sinh hoạt và sản xuất của nhân dân Cácchính sách hỗ trợ về y tế, giáo dục, chăm sóc sức khỏe nhân dân, an sinh xã
Trang 34hội vùng đồng bào dân tộc được triển khai kịp thời Đời sống vật chất và tinhthần của đồng bào dân tộc ít người từng bước được nâng lên.
Về lĩnh vực cải cách hành chính:
Thực hiện tốt các nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính; xây dựng vànâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; làm tốt côngtác cải cách tài chính công và từng bước hiện đại hóa nền hành chính Các cơquan, đơn vị, các xã, thị trấn thực hiện thống nhất một bộ thủ tục hành chính;các thủ tục hành chính liên ngành, liên thông đều có quy định cụ thể về thờigian của mỗi cơ quan tham gia giải quyết thủ tục hành chính
Tiếp tục kiện toàn, nâng cao chất lượng tổ chức, hoạt động của các cơquan chuyên môn của huyện, UBND các xã, thị trấn Phân định rõ thẩmquyền, trách nhiệm của tập thể UBND với Chủ tịch UBND các cấp; giữa cácphòng, ban của huyện với UBND các xã, thị trấn Đổi mới lề lối, tác phonglàm việc trong cơ quan nhà nước, hiện đại hóa các cơ quan hành chính Xâydựng nếp sống văn minh công sở, kỷ luật, kỷ cương trong cơ quan nhà nước,thái độ phục vụ nhân dân
Giao quyền tự chủ tài chính, thực hiện khoán biên chế và chi phí hànhchính cho các cơ quan, đơn vị Quản lý và sử dụng có hiệu quả kinh phí theoquy định của Nhà nước, không để xảy ra tham nhũng, lãng phí
Công tác xây dựng chính quyền:
Các cấp ủy đảng đã quan tâm lãnh đạo củng cố, xây dựng chính quyềnngày càng vững mạnh
Hội đồng nhân dân từ huyện đến cơ sở đã quan tâm đổi mới nội dung,phương thức hoạt động, ngày càng thể hiện rõ hơn vai trò là cơ quan quyềnlực Nhà nước ở địa phương; duy trì các kỳ họp theo đúng quy định, nội dungcác kỳ họp được chuẩn bị chu đáo, phát huy dân chủ, tập trung trí tuệ của đạibiểu bàn và quyết định các vấn đề quan trọng về kinh tế - xã hội, an ninh -quốc phòng và xây dựng chính quyền các cấp Hoạt động giám sát của HĐNDcác cấp được thực hiện thường xuyên và đem lại nhiều kết quả quan trọng
Trang 35Tăng cường tiếp xúc cử tri, dành nhiều thời gian trong các kỳ họp cho thảoluận, chất vấn và trả lời chất vấn Xây dựng nghị quyết sát hợp với tình hìnhthực tế.
Ủy ban nhân dân các cấp có nhiều cố gắng trong việc nâng cao hiệuquả của công tác quản lý, điều hành; tích cực đổi mới nội dung, phương thứchoạt động và lề lối làm việc; cụ thể hóa và tổ chức thực hiện Nghị quyết củaĐảng bằng việc xây dựng, thực hiện quy hoạch, kế hoạch và các dự án pháttriển kinh tế - xã hội cụ thể; tập trung chỉ đạo các nhiệm vụ trọng tâm củahuyện; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm, đảmbảo sự lãnh đạo của Đảng, phát huy trí tuệ của tập thể và nâng cao tráchnhiệm cá nhân Năng lực, hiệu quả hoạt động của UBND các cấp được tăngcường Bộ máy chính quyền cơ sở không ngừng được củng cố Quan tâm kiệntoàn bộ máy tổ chức, cán bộ của các phòng, ban chuyên môn thuộc UBNDhuyện; tiến hành sắp xếp lại theo chủ trương của cấp trên Quản lý nhà nướctrên tất cả các lĩnh vực được thực hiện khá nghiêm túc, cải cách hành chínhđược đẩy mạnh; tích cực áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý, điều hành
đã phát huy được hiệu quả, quy chế dân chủ được đảm bảo
Hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân vàcác Hội quần chúng:
* Mặt trận Tổ quốc: Thực hiện tốt vai trò trung tâm trong việc chăm locủng cố, tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc; tích cực tham gia xâydựng củng cố hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở; phát huy tốt vai trò giámsát, phản biện xã hội; đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, phát huyquyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.Thực hiện tốt cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ởkhu dân cư" và cuộc vận động "Ngày vì người nghèo", kết hợp với các phongtrào "Đền ơn đáp nghĩa", nhân đạo, từ thiện Trong 5 năm, đã vận độngquyên góp ủng hộ quỹ "Vì người nghèo" được 1 tỷ 79 triệu đồng, trong đó đã
hỗ trợ dựng 46 "Nhà đại đoàn kết" cho các hộ nghèo
Trang 36* Hội Nông dân: Làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục hội viên vàquần chúng nhân dân về chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luậtcủa Nhà nước Tích cực phát động các phong trào thi đua lao động sản xuất,phong trào sản xuất kinh doanh giỏi; tập trung xây dựng các mô hình điểnhình tiên tiến, nhất là mô hình kinh tế trang trại ở nông thôn()
* Liên đoàn Lao động: Tích cực tuyên truyền, vận động, giáo dụctruyền thống cách mạng, ý thức tổ chức kỷ luật cho công nhân, viên chức, laođộng; triển khai, thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 6 (khóa X) vềxây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa -hiện đại hóa đất nước Quan tâm đến đời sống của công nhân, viên chức, laođộng, chú trọng đến công tác phát triển đoàn viên và xây dựng công đoàn cơ
sở Hiện nay, toàn huyện có 102 Công đoàn cơ sở (tăng 10 Công đoàn cơ sở
so với đầu nhiệm kỳ), tổng số đoàn viên công đoàn toàn huyện là 2.813 đoànviên (tăng 405 đoàn viên so với đầu nhiệm kỳ) Công tác vận động ủng hộ cácquỹ nhân đạo từ thiện được thực hiện có hiệu quả()
* Đoàn Thanh niên: Làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng,truyền thống cho đoàn viên thanh niên, nâng cao ý thức trách nhiệm cho đoànviên thanh niên trong việc phát triển kinh tế xã hội - đảm bảo quốc phòng anninh của huyện và thực hiện các phong trào của đoàn, hội, đội Trong phongtrào thanh niên xung kích tình nguyện được triển khai thực hiện có hiệu quả
Thực hiện hoạt động "Đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn" đoàncác cấp thăm hỏi tặng quà các gia đình chính sách với số tiền 18.250.000 đồng.Công tác chăm sóc thiếu niên nhi đồng được thực hiện thường xuyên
* Hội Liên hiệp Phụ nữ: Tích cực đổi mới nội dung và phương thứchoạt động của các cấp hội từ huyện đến cơ sở bằng các hình thức vận động cụthể, thiết thực, thu hút và tập hợp được nhiều đối tượng phụ nữ tham gia Đẩymạnh các hoạt động hỗ trợ chị em phụ nữ nghèo, có hoàn cảnh khó khăn, phụ
nữ đơn thân vươn lên phát triển kinh tế() Công tác phát triển tổ chức hội vàhội viên được quan tâm thực hiện, trong 5 năm đã phát triển được 2.617 hội
Trang 37viên mới, nâng tổng số hội viên phụ nữ toàn huyện lên 9.434 hội viên (tăng33,4% so với đầu nhiệm kỳ).
* Hội Cựu chiến binh: Luôn giữ vững và phát huy bản chất truyềnthống "Bộ đội Cụ Hồ"; tăng cường tuyên truyền, vận động hội viên tích cựctham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, đoàn kết, giúp đỡ, vận độnghội viên phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, góp phần tham gia giáo dụcthế hệ trẻ Đời sống của hội viên được quan tâm Công tác xây dựng Hội vàphát triển Hội viên đã được các cấp Hội quan tâm, chú trọng Trong 5 năm đãchia tách, thành lập mới được 57 Chi hội, nâng tổng số lên 159 Chi hội trongtoàn huyện; phát triển 135 hội viên mới, nâng tổng số hội viên cựu chiến binhlên 1.168 hội viên
* Hoạt động của các hội quần chúng: Các Hội quần chúng được thànhlập và duy trì hoạt động theo đúng các quy định Điều lệ hội Các tổ chức hội
đã cùng với các tổ chức đoàn thể huy động và tập hợp được đông đảo lựclượng hội viên, đoàn viên tham gia, góp phần mở rộng khối đại đoàn kết toàndân tộc, thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động hội viên chấp hành chủtrương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhất cuộc vận động
"Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa", phong trào xây dựng nông thônmới đã góp phần thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương
2.3 Mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra cho phát triển kinh tế, xã hội của huyện Điện Biên Đông đến năm 2020
Đại hội Đảng bộ Huyện Điện Biên Đông (năm 2015) đã xác định mụctiêu, nhiệm vụ về mọi mặt kinh tế - xã hội của Huyện Điện Biên Đông trongnhiệm kỳ 2015-2020 với những nội dung chính như sau:
* Về mục tiêu, chỉ tiêu phải đạt:
1 Cơ cấu kinh tế: Nông - lâm nghiệp 76%, công nghiệp - xây dựng14%, thương mại và dịch vụ 10%
2 Tổng sản lượng lương thực cây có hạt đạt 33.511 tấn, trong đó lúa17.261 tấn; ngô là 16.250 tấn Bình quân lương thực đầu người đạt 505kg/người/năm
Trang 383 Phấn đấu mở rộng diện tích khai hoang ruộng nước đạt từ 100 - 150 ha.
4 Tỷ lệ tăng đàn gia súc mỗi năm từ 4-5% Tổng đàn gia súc đạt100.130 con, trong đó: Đàn trâu 23.290 con, đàn bò 11.986 con, đàn lợn đạt64.854 con Tổng đàn gia cầm đạt 430.000 con
5 Tỷ lệ che phủ rừng đạt từ 34% trở lên
6 Có 4/13 xã đạt từ 10 tiêu chí, 9/13 xã đạt từ 7 tiêu chí nông thônmới trở lên
7 Thu ngân sách trên địa bàn đạt trên 10 tỷ đồng
8 Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 32% Đào tạo nghề cho lao động nôngthôn trên 700 lao động/năm Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề có việc làm tăngthu nhập đạt trên 50%
9 Phấn đấu 11/14 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, 12/14 xã, thị trấn cóbác sĩ và phấn đấu đạt 7,5 bác sĩ/vạn dân Quy mô dân số không vượt quá66.260 người
10 14/14 xã, thị trấn được phủ sóng truyền thanh, truyền hình
11 Hằng năm phấn đấu 78% số hộ gia đình ở nông thôn; 95% hộ giađình công chức, viên chức; 72% số bản, tổ dân cư; 85% các cơ quan, đơn vị,trường học trong huyện đạt tiêu chuẩn các danh hiệu văn hóa
12 Phấn đấu 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã đi lại đượctrong 2 mùa, 100% số bản trong huyện có đường dân sinh, trong đó có 40%
số km do huyện quản lý, 40% số km do xã quản lý được giải nhựa hoặc bêtông xi măng
13 Có trên 85% số bản có điện lưới quốc gia, 100% số dân có nướcsinh hoạt hợp vệ sinh
14 Có 70% số phòng học, nhà công vụ được xây dựng kiên cố; trên70% trường đạt chuẩn quốc gia và trường bán trú
15 Giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo quốc phòng - an ninh, kiềmchế, đẩy lùi tội phạm, tệ nạn xã hội
Trang 3916 100% số bản, trường học có đảng viên Hằng năm có 50% tổ chức
cơ sở đảng đạt trong sạch vững mạnh, không có cơ sở yếu kém; kết nạp từ
150 đảng viên trở lên
* Về các nhiệm vụ trọng tâm:
Sản xuất nông nghiệp - lâm nghiệp:
Tập trung làm tốt công tác quy hoạch sản xuất nông lâm nghiệp, gắnvới sắp xếp ổn định dân cư và triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ sảnxuất theo quy hoạch; quan tâm phát triển một số loại cây trồng và vật nuôiphù hợp với nhu cầu thị trường Tiếp tục đầu tư thủy lợi để tăng diện tích câylương thực trên đất ruộng, giảm dần diện tích cây trồng trên nương Đẩymạnh áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Phát triển đàn gia súc,gia cầm theo quy mô trang trại, kết hợp với các mô hình kinh tế hộ gia đình.Quan tâm đến công tác thú y, tăng cường các biện pháp phòng, chống các loạibệnh, dịch gây hại đối với đàn gia súc, gia cầm
Xác định rõ nhiệm vụ bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng là trọng tâm,chủ yếu; tiến hành giao đất giao rừng đến từng hộ dân, khuyến khích chuyểnnương rẫy sang trồng và khoanh nuôi bảo vệ rừng Triển khai có hiệu quả cácchương trình trồng rừng, thực hiện tốt việc quản lý và khai thác lâm sản
Công tác quản lý tài nguyên và môi trường:
Thực hiện tốt công tác quản lý đất đai, khoáng sản, tài nguyên nướctrên địa bàn huyện; thường xuyên tiến hành kiểm tra việc khai thác tàinguyên khoáng sản của các tổ chức, doanh nghiệp; tăng cường công tác quản
lý đất đai tại các xã, thị trấn; giải quyết kịp thời tranh chấp đất đai, địa giớihành chính
Xử lý chất thải, nước thải tại đô thị và các cơ sở y tế 100% số dân thịtrấn được cấp nước sạch sinh hoạt hợp vệ sinh và 100% số dân nông thônđược cấp nước sinh hoạt vào năm 2020
Tiếp tục triển khai thực hiện tốt quy hoạch lĩnh vực tài nguyên môitrường và quy hoạch sản xuất nông lâm ngư nghiệp; kết hợp với việc rà soát,