1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Lv ths luật kt quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh điện biên thực trạng và giải pháp

82 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luật Ths Luật Kt Quản Lý Nhà Nước Về Luật Sư Và Hành Nghề Luật Sư Trên Địa Bàn Tỉnh Điện Biên Thực Trạng Và Giải Pháp
Trường học Trường Đại học Quyền và Pháp luật - https://duquyphapluat.edu.vn/
Chuyên ngành Luật học
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Điện Biên
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 147,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LUẬT SƯ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ, QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LUẬT SƯ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ 7 1 1 Khái quát chung về luật sư và hành nghề luật sư 7 1 2 Khái quát chung[.]

Trang 1

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LUẬT SƯ HÀNH NGHỀ LUẬT

SƯ, QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LUẬT SƯ HÀNH NGHỀ

1.1 Khái quát chung về luật sư và hành nghề luật sư 71.2 Khái quát chung về quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư 121.3 Phân biệt quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư với hoạt

động tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư 22

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LUẬT SƯ VÀ

HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐIỆN BIÊN 292.1 Khái quát chung về điều kiện tự nhiên, dân số, kinh tế - xã hội và

hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh Điện Biên 292.2 Thực tiễn quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư trên địa

2.3 Đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LUẬT SƯ VÀ HÀNH NGHỀ

3.1 Phương hướng tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về luật sư và

Trang 2

HNLS : Hành nghề luật sư

UBND : Ủy ban nhân dân

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước luôn là nhiệm vụ trung tâm trongviệc đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta trong thời gian qua Trong hơn 30 nămthực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết quan trọng về hoànthiện bộ máy nhà nước, không ngừng nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý của Nhànước, đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới Xây dựngnhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) dưới sự lãnh đạo của Đảng lànhiệm vụ chiến lược với phương châm Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật,mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức và mọi công dân có nghĩa vụ chấp hànhHiến pháp và pháp luật

Cùng với việc cải cách bộ máy nhà nước và cải cách nền hành chính, Đảng

đã đề ra nhiều nghị quyết về cải cách tư pháp Ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị đã raNghị quyết số 49-NQ/TW về "Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020" Cảicách tư pháp luôn được coi là một bộ phận quan trọng gắn liền với nhiệm vụ xâydựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam Mục tiêu của cải cách tư pháp làxây dựng một hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh có phương thức tổchức, hoạt động khoa học, hiện đại góp phần quan trọng vào việc giữ gìn trật tự kỷcương phép nước Nội dung chủ yếu của cải cách tư pháp là củng cố, kiện toàn bộmáy các cơ quan tư pháp, phân định lại thẩm quyền của Tòa án, đổi mới tổ chức vàhoạt động của Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án và cơ quan, tổchức bổ trợ tư pháp, trong đó có tổ chức luật sư Do đó, hoàn thiện thể chế luật sưphải được đặt trong bối cảnh cải cách tư pháp nói riêng và trong tổng thể cải cách

bộ máy nhà nước nói chung

Nghiên cứu các văn kiện của Đảng về cải cách tư pháp cho thấy, trong việcxây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam, Đảng ta rất chú trọng đến cảicách tổ chức và hoạt động luật sư Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành

Trung ương Đảng khóa VIII đã nêu rõ: "Đổi mới quản lý nhà nước đối với các hoạt

động luật sư… phù hợp với chủ trương xã hội hóa, kết hợp quản lý nhà nước với

Trang 4

vai trò tự quản của các tổ chức nghề nghiệp Đào tạo và phát triển đội ngũ luật sư

có phẩm chất đạo đức, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phát huy vai trò của họ trong tư vấn pháp luật và trong tố tụng".

Các văn kiện của Đảng ta, đặc biệt là Nghị quyết số 08-NQ/TW và Nghịquyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra những định hướng rất quan trọng đốivới việc xây dựng và hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động luật sư cho phù hợpvới tình hình mới của đất nước trước xu hướng phát triển và hội nhập Chỉ thị số33-CT/TW ngày 30/3/2009 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối

với tổ chức hoạt động luật sư nêu rõ: Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà

nước đối với tổ chức và hoạt động của luật sư; chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra để bảo đảm hoạt động của luật sư được thực hiện theo đúng đường lối, quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư Đồng thời phát huy vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trong việc phát triển đội ngũ luật sư và nâng cao chất lượng của tổ chức và hoạt động luật sư.

Để đưa được các quan điểm chỉ đạo đó trở thành hiện thực đòi hỏi chúng taphải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp cơ bản trong đó phải kể đến các biện pháp vềđổi mới nhận thức, đổi mới về công tác tổ chức, hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệuquả hoạt động của luật sư Việc thực hiện các biện pháp đó phải gắn liền với nhiệm vụnâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư (HNLS) phùhợp với mục tiêu của cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước phápquyền XHCN ở Việt Nam

Nghề luật sư có nhiều đặc thù và được điều chỉnh bằng những quy định củapháp luật và quy tắc đạo đức nghề nghiệp Ở các nước trên thế giới pháp luật đềuquy định về việc quản lý nhà nước và tự quản của tổ chức luật sư Việc quản lýnghề luật sư ở mỗi nước một khác và phụ thuộc vào tính truyền thống của từngnước mà không theo một khuôn mẫu nhất định và vấn đề tự quản đối với nghề luật

sư đến đâu là do quy định của từng quốc gia

Trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang tiếp tục đẩy mạnhtoàn diện công cuộc đổi mới, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, tạo nền tảng

Trang 5

để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Để thực hiện được mục tiêu đó, việc nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý của Nhànước nói chung, quản lý nhà nước về luật sư và HNLS nói riêng là vô cùng quantrọng, bảo đảm quản lý khoa học, hiệu quả các mặt đời sống kinh tế - xã hội, đápứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN

Thể chế hóa chủ trương của Đảng, nhiều văn bản pháp luật về luật sưđược ban hành kịp thời và nhanh chóng triển khai trên thực tế Hoạt động luật sưtrong cả nước nói chung cũng như trên địa bàn tỉnh Điện Biên nói riêng đã cónhững chuyển biến mạnh mẽ, số lượng luật sư và tổ chức HNLS tăng lên rõ rệt.Tuy nhiên, việc tăng về số lượng luật sư và tổ chức HNLS cũng làm phát sinhnhiều vấn đề đối với hoạt động quản lý nhà nước, đó là công tác tuyên truyền, phổbiến về nội dung của pháp luật về luật sư, vị trí, vai trò tầm quan trọng của luật sư,

sự phối hợp giữa Sở Tư pháp với Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư trong việc quản lýluật sư và HNLS, công tác thanh tra, kiểm tra về tình hình tổ chức, hoạt động củaluật sư Cùng với chủ trương xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền ViệtNam XHCN, thì việc tăng cường quản lý nhà nước đối với tổ chức và hoạt độngluật sư là một yêu cầu cấp thiết

Việc ban hành Luật Luật sư số 65/2006/QH11 ngày 29/6/2006 1 đã tạokhung pháp lý quan trọng cho quản lý nhà nước về luật sư và HNLS Luật đã quyđịnh rõ vai trò của Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp đối với công tác này, cụ thể là Bộ Tưpháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về luật sư vàHNLS, còn Sở Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh thực hiện quản lýnhà nước về luật sư và HNLS tại địa phương Bên cạnh những kết quả đạt được,công tác quản lý nhà nước về luật sư và HNLS trên thực tiễn vẫn còn những vướngmắc, khó khăn nhất định

Thực tiễn quản lý nhà nước về luật sư và HNLS trên địa bàn tỉnh Điện Biênnhững năm vừa qua đã có nhiều thành tựu, nhưng cũng đã bộc lộ nhiều khó khăn,hạn chế cần được nghiên cứu, đánh giá cụ thể, đầy đủ để đề ra phương hướng, giảipháp khắc phục và tiếp tục nâng cao hiệu quả

1 Luật này đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 20/2012/QH13 ngày 20/11/2012.

Trang 6

Từ những lý do nêu trên mà việc chọn và nghiên cứu đề tài luận văn thạc sĩ

luật học: "Quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh

Điện Biên - Thực trạng và giải pháp" là cần thiết để đáp ứng yêu cầu về lý luận và

thực tiễn được đặt ra ở Việt Nam hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Lĩnh vực luật sư nói chung, quản lý nhà nước về luật sư và HNLS nói riêng

đã được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu dưới góc độ lý luận cũng như thựctiễn Đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này, trong đó có thể kể đến một

số công trình tiêu biểu, có giá trị tham khảo cho việc thực hiện đề tài "Quản lý nhà

nước về luật sư và hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh Điện Biên - Thực trạng và giải pháp", như: Đề tài cấp bộ năm 2005: "Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hành nghề luật sư trong điều kiện mới ở Việt Nam"

của Nguyễn Văn Thảo, Vụ trưởng Vụ Bổ trợ tư pháp, Bộ Tư pháp làm chủ nhiệm

Đề tài; Đề tài cấp bộ năm 2005: "Dịch vụ pháp lý ở Việt Nam, thực trạng nhu cầu

và định hướng phát triển" do TS Nguyễn Văn Tuân làm chủ nhiệm đề tài; Đề tài

nhánh KX-04-06-05: "Cải cách tổ chức và hoạt động bổ trợ tư pháp trong Nhà

nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân" (thuộc Đề tài cấp nhà

nước KX-04-06 do TS Uông Chu Lưu làm chủ nhiệm đề tài bảo vệ năm 2006) do

TS Nguyễn Văn Tuân làm chủ nhiệm đề tài; Luận án tiến sĩ năm 2003 của Phan

Trung Hoài về "Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hành nghề luật trong điều kiện

mới ở Việt Nam"; Luận văn thạc sĩ năm 2010 của Dương Đình khuyến về "Vấn đề

xã hội hóa hoạt động luật sư và tư vấn pháp luật"; cuốn sách "Một số vấn đề về luật

sư và nghề luật" của TS Nguyễn Văn Tuân, xuất bản năm 2012 Bên cạnh đó, còn

có nhiều bài báo khoa học được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành luật như Tạpchí Luật học, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chíNhà nước và Pháp luật, đề cập đến những khía cạnh chuyên sâu, cụ thể của quản lýnhà nước về luật sư và HNLS

Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập và giải quyết vấn đề luật sư vàHNLS ở nhiều góc độ khác nhau, có nhiều nội dung liên quan đến quản lý nhà nước

về luật sư và HNLS, song những nghiên cứu đó mới chỉ phân tích, đánh giá vấn đề

Trang 7

luật sư và HNLS ở một số phương diện nhất định, hoặc ở một góc nhìn khác, chưa

có công trình nào nghiên cứu về lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước về luật sư

và HNLS một cách đầy đủ, đặc biệt là đối với một địa bàn cụ thể như tỉnh ĐiệnBiên Mặc dù vậy, các công trình trên vẫn là nguồn tài liệu quý giá, có ý nghĩa quantrọng đối với việc nghiên cứu đề tài luận văn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực tiễn quản lý nhànước về luật sư và HNLS trên địa bàn tỉnh Điện Biên, trên cơ sở đó đưa ra nhữngphương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về luật sư vàHNLS ở Việt Nam nói chung và trên địa bàn tỉnh Điện Biên nói riêng

Phù hợp với mục đích nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Làm rõ những vấn đề về cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về luật sư

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quan điểm lý luận, chính trị; hệthống các quy định của pháp luật thực định, thực trạng quản lý nhà nước về luật sư

và HNLS ở Việt Nam nói chung và trên địa bàn tỉnh Điện Biên nói riêng

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận

và thực tiễn quản lý nhà nước về luật sư và HNLS từ khi ban hành Luật Luật sưnăm 2006 đến nay trên địa bàn tỉnh Điện Biên

5 Các phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về nhà nước và pháp luật, đặcbiệt là chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, cải cách nền hành chínhquốc gia và cải cách tư pháp

Trang 8

-Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể đểthực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, như phương pháp tổng hợp, phân tích, hệ thốnghóa các quy định pháp luật; số liệu thực tiễn; Trên cơ sở đó, đối sánh với vấn đềquản lý nhà nước về luật sư và HNLS trong thực tiễn trên địa bàn tỉnh Điện Biênnhằm đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện, kiến nghị tích cực, phù hợp

và có giá trị ứng dụng cao

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện ở cảphương diện lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước về luật sư và HNLS trên địabàn tỉnh Điện Biên; luận văn có một số đóng góp khoa học sau đây:

- Góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về luật sư

và HNLS trong điều kiện cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN

- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về luật sư và HNLS trênđịa bàn tỉnh Điện Biên Rút ra những bài học kinh nghiệm để phát huy những mặtmạnh, hạn chế những tồn tại nhằm tăng cường hiệu quả công tác này trong thực tiễn

- Kiến nghị phương hướng và những giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý

về luật sư và HNLS trên địa bàn tỉnh Điện Biên trong thời gian tới

Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảotrong nghiên cứu và giảng dạy tại các cơ sở đào tạo cử nhân luật, cử nhân hànhchính, các trường, trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán, bộ công chức và trong hoạtđộng thực tiễn quản lý nhà nước về luật sư và HNLS hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaluận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Nhận diện quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư; Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư

trên địa bàn tỉnh Điện Biên;

Chương 3: Phương hướng, giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước

về luật sư và hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh Điện Biên

Trang 9

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LUẬT SƯ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ,

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LUẬT SƯ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ

1.1 Khái quát chung về luật sư và hành nghề luật sư

1.1.1 Khái niệm luật sư

Luật sư là chức danh nghề nghiệp của người được công nhận có đủ tiêuchuẩn, điều kiện "hành nghề luật sư" theo quy định của pháp luật Trong đó, "hànhnghề luật sư" là việc luật sư thực hiện những việc chuyên môn, nghiệp vụ trongphạm vi chức danh nghề nghiệp của mình theo quy định của pháp luật Bên cạnh

đó, nói đến "nghề luật sư" là nói đến một nghề trong xã hội, nghề của những ngườiđược công nhận là luật sư Nói đến nghề luật sư là nói đến cái chung, còn nói đếnluật sư là nói đến cái cụ thể, đến con người cụ thể Tuy nhiên tùy thuộc vào phápluật truyền thống của từng nước mà khái niệm, tiêu chuẩn và điều kiện, phạm viHNLS được quy định khác nhau 2

Luật sư hành nghề bằng kiến thức pháp luật, kỹ năng nghề nghiệp của cánhân luật sư Nói cách khác, phẩm chất và năng lực cá nhân của luật sư là yếu tốquyết định trong nghề luật sư Nhìn chung, người muốn HNLS phải được công nhận

là luật sư Pháp luật các nước trên thế giới thường không đưa ra khái niệm luật sư

mà chỉ quy định về tiêu chuẩn (qualification) để trở thành luật sư Theo đó, tiêuchuẩn phổ biến để được công nhận luật sư là:

- Là công dân của ở nước sở tại;

- Có bằng cử nhân luật;

- Có phẩm chất đạo đức tốt;

Ngoài các tiêu chuẩn trên, muốn trở thành luật sư phải qua đào tạo nghề,tập sự HNLS hoặc chỉ cần đỗ kỳ thi quốc gia để được công nhận luật sư và điều đócòn phụ vào quy định của pháp luật của mỗi nước 3

2 Nguyễn Văn Tuân (2012), Một số vấn đề về luật sư và nghề luật sư, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr 125-126.

3 Nguyễn Văn Tuân, tlđd, tr 126.

Trang 10

Căn cứ vào pháp luật của các nước trên thế giới quy định về tiêu chuẩn luật

sư và quy trình trở thành luật sư, có thể phân được thành các nhóm sau:

Thứ nhất, qua một kỳ thi quốc gia mà không phải đào tạo nghề và tập sự

HNLS Ví dụ như ở Hoa kỳ

Thứ hai, phải qua đào tạo nghề, nhưng không phải qua tập sự HNLS Ví dụ

như ở Nhật Bản

Thứ ba, phải qua hai giai đoạn đào tạo nghề Ví dụ như ở Anh.

Thứ tư, phải qua đào tạo nghề và tập sự HNLS Ví dụ như ở Pháp.

Thứ năm, có thể lựa chọn giữa đào tạo nghề hoặc thực tập HNLS Ví dụ

như ở bang Victoria - Australia

Thứ sáu, phải qua một kỳ thi quốc gia công nhận đủ tiêu chuẩn luật sư và

tập sự HNLS Ví dụ như ở Trung Quốc

Thứ bảy, phải qua hai kỳ thi Ví dụ như ở Cộng hòa Liên bang Đức.

Theo quy định pháp luật về luật sư của một số nước trên thế giới, có thể rút

- Thẩm quyền công nhận luật sư có thể là Tòa án tối cao hay Bộ Tư pháphoặc chỉ cần đăng ký gia nhập một Đoàn luật sư thì trở thành luật sư 4

Khái niệm luật sư luôn là vấn đề gặp nhiều khó khăn trong quá trình xâydựng pháp luật về luật sư và HNLS Tham khảo pháp luật về luật sư một số nước

4 Nguyễn Văn Tuân, tlđd, tr 126.

Trang 11

cho thấy, không phải nước nào cũng đưa ra khái niệm hoặc định nghĩa về luật sư.Khái niệm luật sư quy định không giống nhau giữa các nước trên thế giới Hầu hết ởcác nước có nghề luật sư phát triển, việc đưa ra khái niệm hoặc định nghĩa về luật

sư chỉ mang tính quy ước, khái niệm luật sư thường mang tính hình thức hơn là kháiniệm về mặt nội dung

Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987 của nước ta đã chính thức hóa thuậtngữ "luật sư" Tuy nhiên, Pháp lệnh chưa đưa ra được một khái niệm hay định nghĩahoàn chỉnh về luật sư Theo quy định Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987, ngườimuốn trở thành luật sư phải gia nhập Đoàn luật sư Thành viên của Đoàn luật sư làcác luật sư và luật sư tập sự Một người muốn trở thành luật sư hoàn toàn do Hộinghị toàn thể Đoàn luật sư quyết định

Pháp lệnh luật sư năm 2001 được ban hành thay thế Pháp lệnh tổ chức luật

sư năm 1987 Pháp lệnh Luật sư năm 2001 đã định nghĩa: "Luật sư là người có đủ

điều kiện hành nghề theo quy định của Pháp lệnh này và tham gia hoạt động tố tụng, thực hiện tư vấn pháp luật, các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật" (khoản 1 Điều 1).

Kế thừa và phát triển những quy định nêu trên, Luật luật sư sửa đổi năm

2012 định nghĩa "Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy

định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng)" (Điều 2) Như vậy, khái niệm luật sư ở

nước ta được thể hiện theo hướng xác lập chức danh luật sư gắn với nghề luật sư vàđiều kiện HNLS theo quy định của pháp luật

1.1.2 Khái niệm hành nghề luật sư

Trong ngôn ngữ Việt Nam, chúng ta thường gặp thuật ngữ "hành nghề luậtsư", "nghề luật sư" Thực ra như vậy không hoàn toàn chính xác về mặt ngôn ngữ,bởi vì "luật sư" là danh từ chỉ người, chứ không phải chỉ nghề Theo thói quen củaviệc sử dụng ngôn ngữ Việt Nam trong văn nói cũng như văn viết thì thuật ngữ

"nghề luật sư" có thể chấp nhận được, cũng như thuật ngữ "nghề kiến trúc sư",

"nghề bác sĩ", "nghề giáo viên"… còn trong tiếng Anh có thể dịch "lawyer" là luật

Trang 12

sư và "paractice of law" là HNLS hoặc hành nghề luật Tuy nhiên, thuật ngữ "nghềluật" và "hành nghề luật" thì sẽ được hiểu rộng hơn "nghề luật sư" và "hành nghềluật sư", bởi nghề thẩm phán, nghề công tố… cũng có thể được hiểu là nghề luật 5.

Pháp lệnh luật sư năm 2001 chính thức chấp nhận các cụm từ "nghề luật sư",

"nghề nghiệp luật sư" và "hành nghề luật sư" Theo quy định của Pháp lệnh này thì

"hành nghề luật sư" được hiểu là việc luật sư tham gia hoạt động tố tụng, thực hiện

tư vấn pháp luật, các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức nhằmbảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật (khoản 1 Điều 1)

Luật luật sư sửa đổi năm 2012 đã khái quát, mở rộng hơn khái niệm "hànhnghề luật sư" Theo đó, HNLS là việc luật sư thực hiện dịch vụ pháp lý bao gồmtham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng và làm cácdịch vụ pháp lý (Điều 4)

"Hành nghề luật sư" theo quy định của Luật luật sư sửa đổi năm 2012 làphải hành nghề chuyên nghiệp, có trình độ chuyên môn sâu về kiến thức pháp lý và

kỹ năng hành nghề Việc HNLS chủ yếu bằng trình độ và kinh nghiệm chuyên môn

mà đối tượng phục vụ là khách hàng Luật sư cung cấp "dịch vụ pháp lý" cho kháchhàng và nhận thù lao từ khách hàng

Chức năng xã hội của luật sư là tham gia bảo vệ công lý, góp phần bảo đảmcông bằng xã hội, bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của công dân, bảo vệ quyền, lợiích của hợp pháp của cá nhân, tổ chức thông qua việc tham gia tố tụng, tư vấn phápluật, đại diện ngoài tố tụng, tư vấn pháp luật và thực hiện dịch vụ pháp lý khác Cácnước trên thế giới và các nước trong khu vực đều có quan niệm chung là coi nghềluật sư là một nghề đặc biệt so với các ngành nghề khác Tính đặc thù của nghề luật

sư được thể hiện như sau:

Thứ nhất, nghề luật sư không lấy điểm xuất phát là vốn và cũng không dựa

vào vốn mà chủ yếu dựa vào kiến thức pháp luật và kỹ năng hành nghề của luật sư.Nghề luật sư gắn với pháp luật và việc thi hành pháp luật Chính vì vậy luật sưtrước hết là một chuyên gia pháp luật, một cố vấn pháp luật Theo đó, để có những

kỹ năng nghề nghiệp thực thụ, các luật sư cần có kiến thức pháp luật, thông thạo kỹ

5 Nguyễn Văn Tuân, tlđd, tr 125.

Trang 13

năng nghề nghiệp để thực hiện tốt nhiệm vụ cung cấp dịch vụ pháp lý của mình.Luật sư phải là người có bằng cử nhân luật, qua đào tạo nghề luật sư và tập sựHNLS (Điều 10 Luật luật sư sửa đổi năm 2012).

Thứ hai, luật sư với tư cách là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các

chủ thể pháp lý nên luật sư có nhiệm vụ đảm bảo sự công bằng, khách quan củapháp luật Thông qua việc tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật và cung cấp các dịch

vụ pháp lý khác, luật sư góp phần trực tiếp vào việc thi hành pháp luật, đưa phápluật vào cuộc sống Vì thế, các nước trên thế giới đều cho rằng nghề luật sư là mộtnghề trong xã hội, là công cụ hữu hiệu góp phần bảo vệ công lý Bằng hoạt độngnghề nghiệp của mình luật sư góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủcủa công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh

tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, xã hội dân chủ, côngbằng, văn minh (Điều 3 Luật luật sư sửa đổi năm 2012)

Thứ ba, nguyên tắc của nghề luật sư là phải độc lập, liêm chính, nhân đạo

và dũng cảm Tính khách quan trong nghề luật sư được đề cao Nghề luật sư là nghềkhông chịu chi phối của quyền lực Vì vậy, nghề luật sư rất chú trọng đến vai trò cánhân, uy tín nghề nghiệp của luật sư và tính chất của nghề tự do trong tổ chứcHNLS Đây là yêu cầu cần thiết để luật sư có thể hoàn thành tốt trách nhiệm củamình Nguyên tắc HNLS được quy định tại Điều 5 Luật Luật sư sửa đổi năm 2012

Thứ tư, nghề luật sư là một nghề tự do, các luật sư độc lập trong hành nghề,

tự chịu trách nhiệm về việc hành nghề của mình theo quy định của pháp luật HNLSkhông chỉ đòi hỏi về mặt chuyên môn, tuân thủ pháp luật mà còn phải chịu sự điềuchỉnh khắt khe bởi quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư do tổ chức xã hội -nghề nghiệp của luật sư ban hành, cụ thể là Liên đoàn Luật sư Việt Nam

Luật sư được cung cấp các dịch vụ pháp lý nêu trên, tuy nhiên ngoài luật sưcòn có trợ giúp viên pháp lý được cung cấp dịch vụ pháp lý như luật sư nhưngkhông được thu phí như luật sư và khi cung cấp dịch vụ pháp lý không với tư cáchluật sư mà với tư cách trợ giúp viên pháp lý Hay nói cách khác trợ giúp pháp lýkhông được HNLS Ngoài ra, còn có tư vấn viên pháp luật được tư vấn pháp luậttheo quy định của Nghị định số 77/2008/NĐ-CP ngày 16/07/2008 của Chính phủ

Trang 14

về tư vấn pháp luật (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 05/2012/NĐ-CPngày 02/02/2012).

1.2 Khái quát chung về quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư

1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư

Khi bàn đến hoạt động quản lý và người quản lý cần khởi đầu từ khái niệm

"tổ chức" Do tính đa nghĩa của thuật ngữ này mà có thể xem xét thuật ngữ này ở

những phương diện khác nhau Theo Từ điển tiếng Việt, "Tổ chức là tập hợp người

được tổ chức lại, hoạt động vì những quyền lợi chung, nhằm một mục đích chung" 6.Nói cách khác, xét về hình thức, tổ chức được hiểu như là một nhóm có cấu trúcnhất định những con người cùng hoạt động vì một mục đích chung nào đó mà để đạtđược mục đích gì đó một con người riêng lẻ không thể đạt đến Bất luận một tổchức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và cóngười quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình Nói cách khác,

xét về nội dung, "Tổ chức tức là phối hợp, liên kết hoạt động của nhiều người để

thực hiện mục tiêu đã đề ra, là yếu tố quyết định đem lại hiệu quả cho quản lý" 7

Cốt lõi của khái niệm quản lý, đó là trả lời câu hỏi; Ai quản lý? (Chủ thểquản lý); Quản lý ai? Quản lý cái gì? (Đối tượng quản lý); Quản lý như thế nào?(Phương thức quản lý); Quản lý bằng cái gì? (Công cụ quản lý); quản lý để làm gì?(Mục tiêu quản lý) Có thể nói quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngànhkhoa học khác nhau, vì vậy, mà cũng có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý.Trong đó, định nghĩa về quản lý theo Điều khiển học được thừa nhận là định nghĩa

bao quát nhất, cụ thể: "Quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá

trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được những mục đích đã định trước"8

6 Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr 1007.

7 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà

Nội, tr 11.

8 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Tlđd, tr 10.

Trang 15

Quản lý là hiện tượng tồn tại trong mọi chế độ xã hội Bất kỳ ở đâu, lúc nàocon người có nhu cầu kết hợp với nhau để đạt mục đích chung đều xuất hiện quản

lý Quản lý trong xã hội nói chung là quá trình tổ chức điều hành các hoạt độngnhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trên những quy luật kháchquan Xã hội càng phát triển, nhu cầu và chất lượng quản lý càng cao

Các nhà kinh điển Mác - Lênin đưa ra quan điểm về quản lý lao động trongquá trình sản xuất nhưng chúng ta có thể áp dụng trong bất kỳ hoạt động quản lýchung nào của con người, theo đó "quản lý" được hiểu "là một chức năng đặc biệt

nảy sinh từ bản chất xã hội loài người" Mác cho rằng: "Quản lý là một chức năng

đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động và lao động giám sát và quản lý cần thiết ở tất cả những nơi mà hoạt động sản xuất trực tiếp có hình thức của một quá trình phối hợp mang tính xã hội chứ không phải là lao động riêng lẻ của những người sản xuất độc lập"9 "Chúng ta có thể thấy ở đâu cứ có sự hợp tác

của nhiều con người ở đó có nhu cầu quản lý, quản lý sinh ra như một tất yếu xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn của xã hội"10

Chủ thể quản lý xã hội là con người hoặc tổ chức của con người Hoạt động

do họ điều hành đối với cá nhân, tổ chức khác là hoạt động quản lý xã hội Suy chocùng đối tượng của quản lý xã hội là con người và tổ chức của con người (cá nhân,

tổ chức trong xã hội) Khách thể của quản lý xã hội, nói một cách ngắn gọn đó là

"trật tự xã hội" - trật tự quản lý do các quy phạm xã hội (quy phạm đạo đức, quyphạm chính trị, quy phạm tôn giáo, quy phạm pháp luật, v.v ) quy định11 Bởi mụcđích cần đạt được của chủ thể quản lý xã hội là làm sao cho hành vi (hành động vàkhông hành động) của đối tượng quản lý phải thực hiện theo ý chí của chủ thể quản

lý Mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý được thể hiện thôngqua mối quan hệ "quyền uy - phục tùng"

Từ khi xuất hiện nhà nước, "một lực lượng nảy sinh từ xã hội", một lựclượng "tựa hồ như đứng trên xã hội" có nhiệm vụ làm giảm bớt, dịu bớt những xung

9 C Mác (1960), Tư bản, Quyển I, tập 2, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr 29-30.

10 Phạm Hồng Thái, Đinh Văn Mậu (2009), Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội,

tr 22.

11 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Tlđd, tr 13.

Trang 16

đột, điều hòa các lợi ích cá nhân và giữ cho sự xung đột đó nằm trong một trật tựnhất định, thì phần quản lý xã hội quan trọng nhất do nhà nước đảm nhiệm Đóchính là quản lý nhà nước Quản lý phần công việc còn lại của xã hội ngoài nhànước vẫn được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác như các tổ chức chính trị, đảngphái, gia đình… Khái niệm quản lý nhà nước chỉ xuất hiện và tồn tại cùng với sự rađời và tồn tại của nhà nước

Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức, điều hành của cả

bộ máy nhà nước, là sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phươngdiện lập pháp, hành pháp và tư pháp Theo cách hiểu này, quản lý nhà nước là hoạtđộng của cả ba hệ thống cơ quan nhà nước: cơ quan thực thi quyền lập pháp, cơ

quan thực thi quyền hành pháp, cơ quan thực thi quyền tư pháp "Nói cách khác,

quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật, tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước"12 Theo đó, quản lý nhà nước có các đặc điểm sau đây:

- Chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan, cán bộ, công chức trong bộ máynhà nước được trao quyền lực công gồm: quyền lập pháp, quyền hành pháp vàquyền tư pháp

- Đối tượng quản lý nhà nước là tất cả các cá nhân, tổ chức sinh sống vàhoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia

- Quản lý nhà nước có tính toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xãhội: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao…

Mục tiêu của quản lý nhà nước là phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định vàphát triển bền vững trong xã hội

Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước được hiểu chủ yếu là quá trình tổ chức,

điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội

và hành vi hoạt động của con người theo mục tiêu nhất định nhằm đạt được mục tiêu theo yêu cầu của quản lý nhà nước Nói cách khác, theo nghĩa này, quản lý nhà

nước được hiểu đồng nhất với "quản lý hành chính nhà nước" - "Một hình thức hoạt

động của nhà nước được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành

12 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Tlđd, tr 13-14.

Trang 17

chính nhà nước, có nội dung là bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước, nhằm tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp

và thường xuyên công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa xã hội và hành chính chính trị Nói cách khác quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành - điều hành của nhà nước"13 Sở dĩ, có quan niệm quản lý nhà nước theo nghĩa hẹpnhư trên là do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó, chủ yếu là do các văn bảnquy phạm pháp luật hiện hành ở Việt Nam rất hiếm khi sử dụng thuật ngữ "quản lýhành chính nhà nước" mà thay vào đó lại chủ yếu sử dụng thuật ngữ "quản lý nhànước" để biểu đạt cho chức năng, nhiệm vụ, hoạt động của các cơ quan hành chínhnhà nước, cũng như cho việc thực thi quyền hành pháp

-Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước có những đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, quản lý nhà nước là hoạt động mang quyền lực nhà nước (quyền

hành pháp) Các chủ thể có thẩm quyền thể hiện ý chí nhà nước thông qua phương

tiện nhất định, trong đó phương tiện cơ bản và đặc biệt quan trọng được sử dụng làquyết định hành chính Bằng việc ban hành quyết định hành chính, chủ thể quản lýnhà nước thể hiện ý chí của mình dưới dạng các chủ trương, chính sách, pháp luậtnhằm tổ chức, chỉ đạo các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội

Thứ hai, quản lý nhà nước là hoạt động được tiến hành bởi những chủ thể

được sử dụng quyền hành pháp Theo cách hiểu phổ biến hiện nay thì quyền lực nhànước gồm: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Theo đó, hoạt động

sử dụng quyền lập pháp là hoạt động lập pháp (xây dựng và ban hành văn bản luật);hoạt động sử dụng quyền hành pháp là hoạt động quản lý nhà nước (hoạt động chấphành - điều hành của nhà nước); hoạt động sử dụng quyền tư pháp là hoạt động tưpháp (điều tra, truy tố, xét xử) Trong đó, quyền hành pháp trước hết và chủ yếuthuộc về các cơ quan hành chính nhà nước Do đó, có thể nhận thấy chủ thể quản lýhành chính nhà nước trước hết và chủ yếu là các cơ quan hành chính nhà nước

Tất nhiên, các cơ quan nhà nước nói chung cũng được sử dụng quyền hànhpháp, cũng là chủ thể quản lý hành chính nhà nước khi tiến hành các hoạt động nhằmxây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình, chẳng hạn ra

13 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Tlđd, tr 14.

Trang 18

quyết định thành lập, chia tách, sát nhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình; đềbạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, ban hành quy chế làm việc nội bộ, v.v

Thứ ba, quản lý nhà nước là hoạt động có tính thống nhất, được tổ chức

chặt chẽ Để bảo đảm tính pháp chế trong hoạt động hành pháp, bộ máy các cơ quanhành chính nhà nước được tổ chức thành một khối thống nhất từ trung ương tới địaphương, đứng đầu là chính phủ, nhờ đó các hoạt động của bộ máy được chỉ đạo,điều hành thống nhất, bảo đảm lợi ích chung của cả nước, bảo đảm sự liên kết, phốihợp nhịp nhàng giữa các địa phương, tạo ra sức mạnh tổng hợp, tránh được sự cục

bộ phân hóa giữa các địa phương hay vùng miền khác nhau Tuy nhiên, do mỗi địaphương đều có những nét đặc thù riêng về điều kiện kinh tế - xã hội, nên để có thểphát huy tối đa những yếu tố của từng địa phương, tạo sự năng động sáng tạo trongquản lý điều hành, bộ máy hành chính nhà nước còn được tổ chức theo hướng phâncấp, trao quyền tự quyết, tạo sự chủ động sáng tạo cho chính quyền địa phương

Thứ tư, quản lý nhà nước mang tính chấp hành và điều hành của nhà nước.

Tính chấp hành và điều hành của quản lý nhà nước thể hiện trong việc những hoạtđộng này được tiến hành trên cơ sở pháp luật và nhằm mục đích thực hiện phápluật, cho dù đó là hoạt động chủ động sáng tạo của chủ thể quản lý thì cũng khôngđược vượt quá khuôn khổ pháp luật, điều hành cấp dưới, trực tiếp áp dụng pháp luậthoặc tổ chức những hoạt động thực tiễn…, trên cơ sở quy định pháp luật nhằm hiệnthực hóa pháp luật

Như vậy, thuật ngữ "quản lý nhà nước" có thể được hiểu theo nghĩa rộng vànghĩa hẹp khác nhau Tuy vậy, để phù hợp với mục đích và phạm vi nghiên cứu đềtài mà Luận văn này thống nhất sử dụng thuật ngữ này theo nghĩa hẹp

Từ các luận cứ đã nêu trên, có thể hiểu: Quản lý nhà nước về luật sư và

HNLS là một hình thức của quản lý nhà nước do các chủ thể được sử dụng quyền hành pháp thực hiện, có nội dung là bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước và tổ chức thực hiện pháp luật đối với luật sư và HNLS.

Trang 19

1.2.2 Nguyên tắc quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư

Cũng giống như bất kỳ một hoạt động có mục đích nào, quản lý nhà nước

về luật sư và HNLS được tiến hành trên cơ sở những nguyên tắc nhất định Đó lànhững tư tưởng chỉ đạo rất quan trọng trong tổ chức và hoạt động giúp cho các chủthể quản lý thực hiện có hiệu quả các công việc của mình khi được phân công Cácnguyên tắc quản lý nhà nước về luật sư và HNLS được xác định là những tư tưởngchỉ đạo bắt nguồn từ cơ sở của khoa học quản lý, từ bản chất của chế độ, được quyđịnh trong pháp luật Các nguyên tắc trong quản lý nhà nước về luật sư và HNLSđược ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật, thể hiện tính chất pháp lý của

nó tạo ra cơ sở để buộc các chủ thể phải tuân thủ một cách thống nhất và chính xáctrong hoạt động quản lý của mình

Do quản lý nhà nước về luật sư và HNLS là một hình thức của quản lý nhànước, nên quản lý nhà nước về luật sư và HNLS cần phải tuân thủ tất cả các nguyêntắc cơ bản của quản lý nhà nước nói chung, như: Nguyên tắc Đảng lãnh đạo;Nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý nhà nước; Nguyêntắc tập trung dân chủ; Nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc; Nguyên tắc pháp chếXHCN; Nguyên tắc quản lý theo ngành, chức năng kết hợp với quản lý theo địaphương; Nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo chức năng và phốihợp quản lý liên ngành14 Trong đó, do luật sư và HNLS là một lĩnh vực cụ thể củaquản lý nhà nước, Điện Biên là nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống,nên hoạt động quản lý nhà nước về luật sư và HNLS trên địa bàn tỉnh Điện Biên cầnphải đặc biệt chú trọng đến việc phát huy vai trò quản lý của Sở Tư pháp tỉnh ĐiệnBiên và những chính sách, biện pháp ưu tiên cho đồng bào dân tộc thiểu số ở ĐiệnBiên có cơ hội ngang bằng với các dân tộc khác trong việc trở thành luật sư và thụhưởng các dịch vụ HNLS Bên cạnh đó, quản lý nhà nước về luật sư và HNLS cònphải tuân thủ những nguyên tắc pháp lý đặc thù được quy định tại Điều 6 Luật luật

sư sửa đổi năm 2012, cụ thể:

14 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Tlđd, tr 85-114.

Trang 20

Thứ nhất, quản lý luật sư và HNLS được thực hiện theo nguyên tắc kết hợp

quản lý nhà nước với chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tổchức HNLS

Nguyên tắc này thể hiện tầm quan trọng trong việc quản lý nhà nước đốivới luật sư, đồng thời khẳng định vai trò tham gia quản lý luật sư của các tổ chức xãhội - nghề nghiệp của luật sư và tổ chức HNLS; mối quan hệ, sự phối hợp của cơquan nhà nước có thẩm quyền với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư và tổ chứcHNLS Tăng cường quản lý nhà nước đối với luật sư và phát huy tính tự quản của tổchức xã hội - nghề nghiệp của luật sư và tổ chức HNLS là đường lối, chủ trươngcủa Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước trong giai đoạn hiện nay ở nước ta

Đảm bảo nguyên tắc kết hợp quản lý nhà nước về luật sư với phát huy vai trò

tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư và tổ chức HNLS có nghĩa là:

- Thể chế hóa đầy đủ, phân định rõ thẩm quyền quản lý nhà nước, nội dungquản lý nhà nước, nội dung tự quản và sự phối hợp trong công tác quản lý luật sưgiữa nhà nước và tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tổ chức HNLS

- Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa nhà nước và tổ chức xã hội nghềnghiệp của luật sư, tổ chức HNLS trong việc quản lý luật sư Đồng thời trong quátrình thực hiện quy định của pháp luật về quản lý luật sư cũng được quán triệt vàtriệt để nhằm phát huy hết hiệu lực, hiệu quả quản lý luật sư của nhà nước và tổchức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tổ chức HNLS

Thứ hai, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tổ chức HNLS thực hiện

quản lý luật sư và HNLS của tổ chức mình theo quy định của pháp luật, Điều lệ củaLiên đoàn Luật sư Việt Nam và Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sưViệt Nam; Nhà nước thống nhất quản lý về luật sư và HNLS theo quy định củapháp luật

Theo nguyên tắc này, Nhà nước không chỉ thống nhất quản lý về luật sư vàHNLS trực tiếp đối với các cá nhân luật sư mà còn được thực hiện thông qua việcquản lý đối với các tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tổ chức HNLS Theo

đó, các tổ chức này được tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật và chịu

sự quản lý của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việc làm này là cần thiết

Trang 21

nhưng không được can thiệp vào quyền tự chủ và công việc nội bộ của tổ chức xãhội - nghề nghiệp của luật sư, tổ chức HNLS.

Theo quy định của Luật luật sư sửa đổi năm 2012, tổ chức xã hội - nghềnghiệp của luật sư được thành lập để đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp củaluật sư, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ luật sư, giám sát việc tuân theo pháp luật,Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam, thực hiện quản lý HNLStheo quy định của pháp luật Tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư là Đoàn luật

sư ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Liên đoàn Luật sư Việt Nam Tổchức HNLS gồm văn phòng luật sư và công ty luật Ngoài việc tuân thủ các quyđịnh của pháp luật về doanh nghiệp, văn phòng luật sư và công ty luật còn phải tuânthủ các quy định có liên quan của pháp luật về luật sư và HNLS

Để phát huy hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về luật sư và HNLS cầnvận dụng một cách phù hợp, sáng tạo các nguyên tắc quản lý nêu trên trong từnggiai đoạn phát triển của nghề luật sư Nhà nước không thể áp dụng một cách máymóc các nguyên tắc quản lý, đề cao nguyên tắc chung coi nhẹ nguyên tắc riêng,nguyên tắc đặc thù hay ngược lại

1.2.3 Nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư

Muốn tăng cường hiệu lực, hiệu quả của hoạt động luật sư nhằm củng cốvai trò của luật sư đối với đời sống kinh tế - xã hội, cần thiết phải xác định nhữngnội dung cụ thể của hoạt động quản lý nhà nước về luật sư và HNLS

Để thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về luật sư và HNLS, một trongnhững vấn đề quan trọng là phải xác định rõ những nội dung mà nhà nước cần thựchiện Thông lệ chung trên thế giới, nội dung quản lý nhà nước về luật sư và HNLSthường tập trung vào những vấn đề như xây dựng chiến lược và chính sách pháttriển nghề luật sư, ban hành hướng dẫn thi hành các văn bản quy phạm pháp luật vềluật sư và HNLS, kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạmpháp về luật sư và HNLS

Trang 22

Tuy nhiên, những nội dung quản lý nhà nước được quy định phải tương ứngvới sự phát triển của luật sư và nghề luật sư, phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị -

xã hội của mỗi nước

Theo quy định của Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987, quản lý nhà nước

về luật sư được giao cho Bộ Tư Pháp, Hội đồng nhân dân, UBND Ủy ban Mặt trận

Tổ quốc cấp tỉnh và Giám đốc Sở Tư pháp (trong phạm vi một số việc được Bộtrưởng Bộ Tư pháp ủy quyền) Pháp lệnh này còn quy định chức năng, nhiệm vụquyền hạn của Đoàn luật sư trong việc quản lý luật sư Nhưng những quy định nàycòn chung chung, chưa có sự phân cấp rõ ràng Việc quản lý nhà nước về luật sưcòn thiếu chặt chẽ, nội dung, phương thức quản lý còn chưa thực sự phù hợp

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đất nước ta có sự chuyển biến tolớn về mọi mặt trong đời sống xã hội Trong tình hình đó, nhiều quy định của Pháplệnh Tổ chức luật sư năm 1987 không còn phù hợp với thực tiễn, làm cho hoạt độngluật sư không đáp ứng nhu cầu giúp đỡ pháp lý ngày càng cao của xã hội Trong đóphải kể đến các quy định về điều kiện và thủ tục công nhận luật sư, hình thức hànhnghề, đặc biệt là vấn đề quản lý luật sư và HNLS

Pháp lệnh Luật sư năm 2001 được ban hành thay thế Pháp lệnh Tổ chứcluật sư năm 1987, cùng với việc nâng cao vai trò tự quản của tổ chức luật sư,khuyến khích phát triển nghề luật sư ở Việt Nam và tăng cường sự quản lý của nhànước đối với luật sư và HNLS Pháp lệnh Luật sư năm 2001 đã quy định rõ hơn nộidung quản lý, thẩm quyền quản lý và phân định rõ hơn quản lý nhà nước với tựquản của các Đoàn luật sư và phát huy vai trò tự quản của các Đoàn luật sư Pháplệnh luật sư năm 2001 đã thể hiện theo hướng vừa bảo đảm sự quản lý của Nhànước đối với tổ chức luật sư và HNLS, vừa phát huy tính tự quản, tự chịu tráchnhiệm của các Đoàn luật sư

Tuy nhiên Pháp lệnh Luật sư chưa làm rõ mối quan hệ giữa quản lý nhànước với tự quản của Tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư Từ đó dẫn đến côngtác quản lý còn chung chung, có nơi có lúc cơ quan nhà nước làm thay công việccủa Đoàn luật sư, can thiệp vào hoạt động nghề nghiệp luật sư Ngược lại có tìnhtrạng phó thác cho Đoàn luật sư, buông lỏng quản lý đối với luật sư và HNLS

Trang 23

Một trong những quan điểm chỉ đạo, định hướng xây dựng Luật Luật sưnăm 2006 là "Phân định rõ và hợp lý giữa công tác quản lý nhà nước về luật sư vàchế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư theo hướng Nhà nướcchỉ làm những gì thuộc về chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, tổ chức xã hội -nghề nghiệp phát huy vai trò tự quản đối với luật sư và tổ chức hành nghề luật sư".

Nếu như Pháp lệnh Luật sư năm 2001 chỉ có một chương (Chương VI) quyđịnh về "Quản lý nhà nước về tổ chức luật sư và hành nghề luật sư" thì nay, LuậtLuật sư sửa đổi năm 2012 đã dành Chương VII quy định về "Quản lý hành nghềluật" với hai điều quy định về "Trách nhiệm quản lý nhà nước về luật sư và hànhnghề luật sư" (Điều 83) và "Trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệpcủa luật sư" (Điều 84) Theo đó, trách nhiệm quản lý nhà nước về luật sư và HNLSthuộc về Chính phủ, Bộ Tư pháp, các bộ, cơ quan ngang bộ và UBND cấp tỉnh Tổchức xã hội - nghề nghiệp của luật sư thực hiện tự quản luật sư và HNLS theo quyđịnh của Luật Luật sư và Điều lệ của mình Tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật

sư phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước trong việc quản lý luật sư và HNLS

Mặc dù, đã được hoàn thiện đáng kể so các pháp lệnh về luật sư trước đónhưng Luật luật sư sửa đổi năm 2012 không trực tiếp quy định cụ thể, rõ ràng vềcác nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về luật sư và HNLS Các nội dung nàyđược Luật gián tiếp quy định thông qua các quy định về trách nhiệm quản lý nhànước về luật sư và HNLS của các cơ quan nhà nước tại Điều 83; cụ thể như sau:

Ở trung ương, Chính phủ là cơ quan có trách nhiệm thống nhất quản lý nhànước về luật sư và HNLS Tuy vậy, Bộ Tư pháp mới là cơ quan giữ vai trò trungtâm trong công tác này Các bộ khác và cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ,quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc quản lýnhà nước về luật sư và HNLS

Ở địa phương, UBND cấp tỉnh là cơ quan có trách nhiệm quản lý nhà nước

về luật sư và HNLS Tuy vậy, Sở Tư pháp mới là cơ quan giữ vai trò trung tâmtrong công tác này

Trang 24

Căn cứ vào quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về luật sư và HNLStại Điều 83 của Luật luật sư sửa đổi năm 2012, có thể khái quát quản lý nhà nước vềluật sư và HNLS có những nội dung cơ bản sau:

- Xây dựng, ban hành chiến lược, chính sách về luật sư và HNLS;

- Xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết,hướng dẫn thi hành Luật luật sư;

- Quản lý nhà nước đối với cơ sở đào tạo nghề luật sư; tổ chức xã hội - nghềnghiệp của luật sư và tổ chức HNLS;

- Quản lý nhà nước về hợp tác quốc tế về luật sư;

- Cấp, thu hồi, gia hạn chứng chỉ, giấy phép HNLS;

- Thực hiện các biện pháp hỗ trợ phát triển nghề luật sư;

- Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản

lý nhà nước về luật sư và HNLS;

- Tổng kết, báo cáo công tác quản lý nhà nước về luật sư và HNLS

Như vậy, Luật Luật sư sửa đổi năm 2012 đã quy định theo hướng phân định

rõ giữa trách nhiệm quản lý của nhà nước đối với luật sư, HNLS và trách nhiệm của tổchức xã hội - nghề nghiệp của luật sư với tư cách là tổ chức tự quản của luật sư và tổchức HNLS Theo các quy định này, Nhà nước chỉ thực hiện những công việc thuộc vềchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, còn những vấn đề về giám sát, tự quảnhoạt động nghề nghiệp thì giao cho tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư và tổchức HNLS thực hiện Luật luật sư sửa đổi năm 2012 cũng đã quy định rõ hơn sự phốihợp của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tổ chức HNLS với cơ quan quản lýnhà nước trong việc thực hiện một số công việc liên quan đến quản lý luật sư vàHNLS

1.3 Phân biệt quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư với hoạt động tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư

Đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động luật sư trong thời gian qua, Chiếnlược phát triển nghề luật sư đến năm 2020 cho thấy đội ngũ luật sư nước ta đã có sựphát triển nhanh chóng về số lượng, chất lượng cũng như tính chuyên nghiệp tronghoạt động hành nghề Công tác quản lý nhà nước về luật sư và HNLS cũng đạt được

Trang 25

nhiều kết quả, tập trung vào việc xây dựng, ban hành, hoàn thiện thể chế, địnhhướng điều tiết và hỗ trợ phát triển đối với tổ chức, hoạt động luật sư Tổ chức xãhội - nghề nghiệp của luật sư được xây dựng và củng cố, vai trò tự quản của tổ chức

xã hội - nghề nghiệp của luật sư bước đầu được phát huy

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, tổ chức và hoạt động luật sư ở nước tavẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, trong đó phải kể đến vai trò tự quản của các Đoànluật sư trong việc quản lý luật sư và HNLS còn bộc lộ những hạn chế Liên đoànLuật sư Việt Nam mới thành lập, tuy đã triển khai có kết quả nhiều hoạt động, bướcđầu phát huy được vai trò tự quản, tuy nhiên vẫn còn trong giai đoạn xây dựng,hoàn thiện tổ chức và phương thức hoạt động Bên cạnh đó, công tác quản lý nhànước về luật sư và HNLS còn bất cập, cơ chế quản lý có phần còn lỏng lẻo chưa đápứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới Sự quan tâm lãnh đạo của cấp ủyđảng đối với tổ chức và hoạt động của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư còn

Công tác quản lý luật sư và HNLS chưa được quan tâm đúng mức, chưađược đầu tư nghiên cứu một cách bài bản về lý luận cũng như tổng kết thực tiễn Về

lý luận chưa làm rõ được nguyên tắc quản lý nhà nước kết hợp với tự quản của tổchức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, chưa làm rõ nội dung quản lý nhà nước vớinội dung tự quản và đặc biệt là chưa xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước đến đâuđối với việc quản lý luật sư và HNLS và trách nhiệm của tổ chức xã hội - nghềnghiệp của luật sư trong việc tham gia quản lý luật sư và HNLS như thế nào? Mặc

dù quan điểm xây dựng Luật Luật sư là Nhà nước chỉ làm những gì thuộc về chứcnăng, nhiệm vụ của Nhà nước

Trang 26

Vấn đề được đặt ra là những nhiệm vụ nào thuộc nội dung quản lý nhànước, những nhiệm vụ nào thuộc nội dung tự quản của Đoàn luật sư, Liên đoànLuật sư Việt Nam và những nhiệm vụ nào cần có sự phối hợp giữa cơ quan nhànước với Đoàn luật sư, Liên đoàn Luật sư Việt Nam Ngoài những nhiệm vụ, quyềnhạn được quy định tại Điều 83 "Trách nhiệm quản lý nhà nước về luật sư và hànhnghề luật sư" của Luật Luật sư sửa đổi năm 2012, còn có những nhiệm vụ, quyềnhạn nào thuộc nội dung quản lý nhà nước về luật sư và HNLS hay không Có phảitất cả nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 61 "Nhiệm vụ quyền hạn củaĐoàn luật sư" và Điều 65 "Nhiệm vụ quyền hạn của tổ chức luật sư toàn quốc" củaLuật này là nội dung tự quản của Đoàn luật sư, Liên đoàn luật sư hay không?Những nhiệm vụ nào được quy định trong Luật Luật sư và các quy định khác củapháp luật có liên quan thuộc nội dung quản lý nhà nước, trong đó có nhiệm vụ nào

mà Nhà nước nên giao cho tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư thực hiện.Những nội dung tự quản nào của Đoàn luật sư, Liên đoàn Luật sư Việt Nam đượcquy định trong Luật Luật sư sửa đổi năm 2012, còn những nội dung tự quản nàođược Đoàn luật sư, Liên đoàn Luật sư Việt Nam quy định trong Điều lệ của mình vàcác quy định khác do Đoàn luật sư, Liên đoàn Luật sư Việt Nam ban hành Trongnhững nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn luật sư, Liên đoàn luật sư có những quy địnhnào thuộc nội dung quản lý nhà nước, mà Nhà nước lại giao cho Đoàn luật sư, Liênđoàn Luật sư Việt Nam thực hiện

Để làm rõ vấn đề nêu trên thì nhất thiết phải phân biệt quản lý nhà nước vềluật sư và HNLS ở các phương diện cơ bản sau:

Thứ nhất, về định nghĩa.

Như đã nêu quản lý nhà nước về luật sư và HNLS là một hình thức củaquản lý nhà nước do các chủ thể được sử dụng quyền hành pháp thực hiện, có nộidung là bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyềnlực nhà nước và tổ chức thực hiện pháp luật đối với luật sư và HNLS

Theo Từ điển tiếng Việt, tự quản được hiểu là "tự mình trông coi, quản lý

với nhau công việc của mình, không cần có ai điều khiển"15 Theo đó, có thể hiểu

15 Viện Ngôn ngữ học (2002), Tlđd, tr 1077.

Trang 27

hoạt động tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư là hoạt động điềukhiển, chỉ đạo do tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư tiến hành đối với các tổchức, cá nhân trực thuộc trên cơ sở căn cứ vào các quy định của pháp luật và quyđịnh do mình ban hành.

Thứ hai, về chủ thể tiến hành hoạt động.

Như đã nêu, chủ thể quản lý nhà nước về luật sư và HNLS là những cơquan, cán bộ, công chức được sử dụng quyền hành pháp trong lĩnh vực quản lý nhànước về luật sư và HNLS Căn cứ vào quy định tại Điều 83 của Luật Luật sư sửađổi năm 2012, các cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về luật sư và HNLSgồm: Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh và Sở Tư pháp Trong đó,

Bộ tư pháp là cơ quan có vai trò trọng tâm trong công tác quản lý nhà nước về luật

sư và HNLS ở trung ương; Sở Tư pháp là cơ quan có vai trò trọng tâm trong côngtác quản lý nhà nước về luật sư và HNLS ở địa phương

Chủ thể tiến hành hoạt động tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật

sư là Đoàn luật sư và Liên đoàn Luật sư Việt Nam Các tổ chức này đều là tổ chức

xã hội, nên chúng có những đặc điểm của tổ chức xã hội nói chung, cụ thể như sau16:

- Các tổ chức xã hội được hình thành trên cơ sở tự nguyện của các thànhviên cùng chung một lợi ích hay cùng giai cấp, cùng nghề nghiệp, sở thích…

- Các tổ chức xã hội nhân danh tổ chức mình để tham gia hoạt động quản lýnhà nước, chỉ trong những trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định tổ chức xã hộimới hoạt động nhân danh nhà nước Đặc điểm này của tổ chức xã hội xuất phát từnguyên nhân tổ chức xã hội không phải là bộ phận trong cơ cấu của bộ máy nhànước Nhà nước thừa nhận và bảo hộ sự tồn tại của các tổ chức xã hội bằng việc chophép tổ chức xã hội được thành lập đồng thời quy định các quyền và nghĩa vụ pháp

lý của chúng Khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý này, các tổ chức xã hộinhân danh tổ chức mình Trong một số trường hợp nhất định, nhà nước trao quyềncho tổ chức xã hội được nhân danh Nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước

- Các tổ chức xã hội hoạt động tự quản theo quy định của pháp luật và theođiều lệ do các thành viên trong tổ chức xây dựng Dù tổ chức xã hội hoạt động theo

16 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Tlđd, tr 270-274.

Trang 28

điều lệ hay theo quy định của pháp luật thì hoạt động của tổ chức xã hội vẫn mangtính tự quản Nhà nước không can thiệp vào công việc nội bộ của các tổ chức xã hộicũng như không sử dụng quyền lực nhà nước để sắp xếp người lãnh đạo tổ chức haycách chức họ trong tổ chức xã hội.

- Các tổ chức xã hội hoạt động không nhằm mục đích lợi nhuận mà nhằmbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên Đặc điểm này phân biệt tổchức xã hội với tổ chức kinh tế

Liên đoàn Luật sư Việt Nam là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sưtrong phạm vi cả nước, đại diện cho luật sư, các Đoàn luật sư, có điều lệ, có tư cáchpháp nhân, có con dấu và tài khoản, hoạt động theo nguyên tắc tự trang trải bằngnguồn thu từ phí thành viên, các khoản đóng góp của thành viên và nguồn thu hợppháp khác Thành viên của Liên đoàn Luật sư Việt Nam là các Đoàn luật sư và cácluật sư Các luật sư tham gia Liên đoàn Luật sư Việt Nam thông qua Đoàn luật sưnơi mình gia nhập Các cơ quan của Liên đoàn Luật sư Việt Nam gồm có:

- Đại hội đại biểu luật sư toàn quốc là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Liênđoàn Luật sư Việt Nam;

- Hội đồng luật sư toàn quốc là cơ quan lãnh đạo của Liên đoàn Luật sưViệt Nam giữa hai kỳ Đại hội đại biểu luật sư toàn quốc;

- Ban thường vụ Liên đoàn Luật sư Việt Nam là cơ quan điều hành công việccủa Liên đoàn Luật sư Việt Nam giữa hai kỳ họp của Hội đồng luật sư toàn quốc;

- Các cơ quan khác do Điều lệ của Liên đoàn Luật sư Việt Nam quy định.Liên đoàn Luật sư Việt Nam có vị trí, vai trò rất quan trọng đối với việcquản lý luật sư từ góc độ nghề nghiệp Liên đoàn thực hiện nhiều nhiệm vụ quantrọng được Nhà nước chuyển giao, thể hiện chức năng tự quản của luật sư như: Phốihợp với Bộ Tư pháp trong việc ban hành Quy chế tập sự HNLS, đào tạo nghề luật

sư, kiểm tra kết quả tập sự HNLS; ban hành và giám sát việc tuân theo Quy tắc đạođức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư, giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với việc xử

lý kỷ luật luật sư

Đoàn luật sư là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư ở tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương, được UBND cấp tỉnh cho phép thành lập sau khi thống nhất

Trang 29

với Bộ trưởng Bộ Tư pháp khi có từ 3 người có chứng chỉ HNLS trở lên Đoàn luật

sư được tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật về luật sư và Điều lệ củaLiên đoàn Luật sư Việt Nam Đoàn luật sư có tư cách pháp nhân, có con dấu và tàikhoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự trang trải bằng nguồn thu từ phí thànhviên, các khoản đóng góp của thành viên và các nguồn thu hợp pháp khác Các cơquan của Đoàn luật sư gồm có:

- Đại hội toàn thể hoặc Đại hội đại biểu luật sư của Đoàn luật sư là cơ quanlãnh đạo cao nhất của Đoàn luật sư

- Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư là cơ quan chấp hành của Đại hội toàn thểhoặc Đại hội đại biểu luật sư của Đoàn luật sư, do Đại hội toàn thể hoặc Đại hội đạibiểu luật sư bầu ra

- Hội đồng khen thưởng, kỷ luật của Đoàn luật sư do Đại hội toàn thể hoặcĐại hội đại biểu luật sư của Đoàn luật sư bầu ra theo nhiệm kỳ của Ban chủ nhiệmĐoàn luật sư

Chức năng cơ bản của Đoàn luật sư là đại diện, bảo vệ quyền lợi ích hợppháp của luật sư, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ luật sư, giám sát việc tuân theopháp luật, quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư, thực hiện quản lý HNLStheo quy định của pháp luật về luật sư Đoàn luật sư thực hiện những nhiệm vụ thểhiện tính tự quản như: Đăng ký và giám sát người tập sự HNLS, kết nạp luật sư,giám sát việc tuân theo pháp luật, quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp đối với tổchức luật sư và cá nhân luật sư, xử lý kỷ luật đối với luật sư, giải quyết khiếu nại, tốcáo Đoàn luật sư là một đối tượng vừa chịu sự quản lý của Nhà nước, vừa là một tổchức thực hiện chế độ tự quản nên Đoàn luật sư khi ban hành các văn bản thực hiệnchế độ tự quản cần chú ý để không lẫn lộn hoặc lấn sân sang chức năng quản lý nhànước của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Thứ ba, về phương tiện quản lý.

Phương tiện quản lý nhà nước về luật sư và HNLS chủ yếu là quy phạmpháp luật Điều này được xác định theo quan niệm của nhà nước pháp quyền là nhànước quản lý xã hội bằng pháp luật Tuy các tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật

sư cũng sử dụng quy phạm pháp luật để tiến hành hoạt động tự quản, song phương

Trang 30

tiện chủ yếu của hoạt động tự quản này lại là các quy định do chính tổ chức xã hội nghề nghiệp của luật sư xây dựng và ban hành; trong đó, chủ yếu là điều lệ.

-Điều lệ của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư cũng có chung đặcđiểm với điều lệ của các tổ chức xã hội nói chung, cụ thể là: Điều lệ của các tổ chức

xã hội không được trái pháp luật và được cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước phêduyệt Điều lệ của tổ chức xã hội không phải là văn bản pháp luật, các quy định củađiều lệ không mang tính pháp lý, chúng chỉ điều chỉnh quan hệ nội bộ của tổ chức

xã hội và chỉ có hiệu lực đối với các thành viên trong tổ chức

Thứ tư, về tính quyền lực nhà nước.

Quản lý nhà nước về luật sư và HNLS được tiến hành trên cơ sở quyền lựcnhà nước (quyền hành pháp), theo đó các mệnh lệnh quản lý có tính bắt buộc phảithực hiện và được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước Do đó,quản lý nhà nước về luật sư và HNLS được tiến hành bởi các chủ thể có thẩmquyền, theo thủ tục, hình thức, nội dung được pháp luật quy định

Hoạt động tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư không đượctiến hành trên cơ sở quyền lực nhà nước và không được bảo đảm bằng cưỡng chếnhà nước Do đó, hoạt động tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sưđược tiến hành bởi các chủ thể, theo thủ tục, hình thức, nội dung được các quy tắc

xử sự nội bộ của Đoàn luật sư và Liên đoàn Luật sư Việt Nam quy định

Luật sư là một nghề dựa trên sự hiểu biết và áp dụng pháp luật liên quanđến hoạt động của cơ quan nhà nước, đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.Chính vì vậy, Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc tạo hành lang pháp lý, tạođiều kiện và khuyến khích luật sư trong hành nghề Việc quản lý luật sư và HNLSkhông hoàn toàn giao phó cho tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư mà cần có

sự hỗ trợ, giúp đỡ từ phía Nhà nước Nhà nước bảo đảm cho luật sư hành nghề đúngpháp luật, người HNLS phải hội đủ các tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật vànhững người có đủ tiêu chuẩn đều có quyền HNLS Các tổ chức xã hội - nghềnghiệp của luật sư cần tập trung vào việc giám sát luật sư về mặt đạo đức nghềnghiệp và giúp đỡ bảo vệ luật sư trong hành nghề

Trang 31

Để phát triển đội ngũ luật sư ở Việt Nam hiện nay đáp ứng yêu cầu xâydựng nhà nước pháp quyền XHCN thì không thể thiếu được vai trò của quản lý nhànước về luật sư và HNLS Với quyền hạn của mình Nhà nước ban hành các văn bảnpháp luật về luật sư và tổ chức thực hiện các văn bản này, đồng thời có các biệnpháp nhằm hỗ trợ phát triển nghề luật sư, không can thiệp vào hoạt động tự quảncủa các tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư Là cơ quan quản lý luật sư, Bộ Tưpháp có vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện cơ sở pháp lý, tạo điều kiện thuậnlợi cho nghề luật sư phát triển, đồng thời chú trọng hơn nữa đến việc đào tạo, bồidưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho luật sư và coi trọng các chuẩn mực đạo đức nghềnghiệp, đề cao chữ đức, chữ tâm trong hoạt động nghề nghiệp luật sư.

Trang 32

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LUẬT SƯ

VÀ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐIỆN BIÊN

2.1 Khái quát chung về điều kiện tự nhiên, dân số, kinh tế - xã hội và hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh Điện Biên

2.1.1 Khái quát chung về điều kiện tự nhiên, dân số, kinh tế- xã hội của tỉnh Điện Biên

Điện Biên là tỉnh miền núi, biên giới, nằm ở phía Tây Bắc của Việt Nam, códiện tích tự nhiên là 9.562,2 km2, có 10 đơn vị hành chính cấp huyện (01 thành phố,

01 thị xã và 08 huyện) với 130 xã, phường, thị trấn; có 04 huyện nghèo nằm trongdanh mục 62 huyện nghèo của cả nước; có đường biên giới dài 400,861km, trong đó:tiếp giáp với Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào là 360 km, tiếp giáp với Trung Quốc

là 40,861km; có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng - an ninh, làđầu mối giao thông quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội khu vực vùng Tây Bắc

Hiện nay, tỉnh Điện Biên có khoảng 53 vạn người, gồm 19 dân tộc, trongđó: Dân tộc Thái chiếm 38,1%; dân tộc Mông chiếm 34,9%; dân tộc Kinh chiếm18,5%, còn lại là các dân tộc khác Mật độ dân số trung bình là 51 người/km2, phân

bố không đồng đều, chủ yếu tập trung ở thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên(1.300 người/km2); đối với vùng cao, vùng sâu, vùng xa có nơi chỉ có 12 người /km2

Điện Biên vẫn là tỉnh đặc biệt khó khăn, chất lượng nguồn nhân lực khôngđồng đều; thu nhập bình quân theo đầu người khoảng 1000 USD/người/năm; ngânsách hàng năm do trung ương hỗ trợ trên 96 %; tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao; kinh tế,

xã hội phát triển không đồng đều giữa khu vực thành phố và các huyện thị; tốc độ

đô thị hóa chậm, thị trường vốn, thị trường bất động sản tài chính, ngân hàng chưahình thành Các doanh nghiệp hoạt động tại địa bàn đa số là các doanh nghiệp vừa

và nhỏ kinh doanh giới hạn trong vùng miền, các nhà đầu tư nước ngoài và doanhnghiệp nước ngoài hoạt động trên địa bàn hầu như không có Các khu công nghiệp,khu kinh tế trọng điểm, khu kinh tế cửa khẩu đang trong thời kỳ quy hoạch chưa đivào hoạt động hoặc đã hoạt động nhưng sơ khai không đáng kể Tình hình hoạt

Trang 33

động của bọn tội phạm có chiều hướng gia tăng, diễn biến phức tạp, nhất là tộiphạm về ma túy ở tuyến biên giới Tình hình tội phạm, tệ nạn xã hội đã được kiềmchế, song vẫn còn tai nạn giao thông xảy ra một số vụ nghiêm trọng; tình trạngkhiếu kiện về đất đai có chiều hướng gia tăng, tranh chấp không chỉ giữa cá nhân, tổchức mà còn liên quan đến tranh chấp đất nương, rẫy đất rừng giữa các dòng họ,giữa các bản sau khi được chia tách.

Đội ngũ luật sư còn thiếu nếu tính 10.000 dân có 01 luật sư thì tỉnh ĐiệnBiên cần phát triển thêm 30 luật sư Tuy nhiên, phát triển số lượng luật sư còn phụthuộc vào số vụ, việc luật sư được mời hoặc tham gia để luật sư có thể sống bằngnghề, do đó trong kế hoạch triển khai thực hiện chiến lược "Phát triển nghề luật sưđến năm 2020" trên địa bàn tỉnh của tỉnh Điện Biên có lộ trình như sau: giai đoạn Iđến năm 2015 có: 15 Luật sư; giai đoạn II đến năm 2020 có: 50 Luật sư

Để giảm nghèo bền vững theo Nghị quyết số 76/2014/QH13 ngày 24/6/2014của Quốc hội, bên cạnh các chính sách giảm nghèo về kinh tế, y tế, giáo dục… đểgiảm nghèo bền vững về pháp lý; ngày 08/08/2016 Thủ tướng Chính phủ ban hànhQuyết định số 32/2016/QĐ-TTg về chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo,đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện nghèo, xã nghèo, thôn bản đặc biệt khó khăngiai đoạn 2016 - 2020 và hỗ trợ vụ việc tham gia tố tụng có tính chất phức tạp hoặcđiển hình Quyết định số 32/2016/QĐ-TTg được ban hành trên có sở tích hợp có kếthừa và phát huy những kết quả đạt được của việc triển khai thực hiện Quyết định số52/2010/QĐ-TTg ngày 18/08/2010 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ pháp

lý nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật cho người nghèo, đồng bào dân tộcthiểu số tại các xã nghèo giai đoạn 2013 - 2020 và Quyết định số 59/2012/QĐ-TTgngày 24/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách trợ giúp pháp lý chongười nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các xã nghèo giai đoạn 2013 - 2020

Khoảng hơn 80% người dân của tỉnh Điện Biên thuộc đối tượng được trợgiúp pháp lý Hiện nay Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh mới có 04 trợ giúpviên pháp lý Vì vậy, Trung tâm đã phải huy động sự tham gia của đội ngũ luật sưtheo tinh thần xã hội hóa công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh Dự kiến, Trungtâm sẽ lựa chọn và ký hợp đồng với 40 luật sư để thực hiện trợ giúp pháp lý Số vụ

Trang 34

việc trợ giúp pháp lý bằng hình thức tham gia tố tụng không ngừng tăng (năm 2015:

120 vụ việc; năm 2016: 167 vụ việc và năm 2017: 444 vụ việc)17

2.1.2 Khái quát chung về hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh Điện Biên

Khoản 1 Điều 42 của Pháp lệnh Luật sư năm 2001 quy định: "1 Người

được công nhận là luật sư theo quy định của Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987 thì được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư để hành nghề luật sư theo quy định của Pháp lệnh này; đối với luật sư đang là cán bộ, công chức thì được tiếp tục hành nghề luật sư trong thời hạn là 3 năm, kể từ ngày Pháp lệnh này có hiệu lực" Ở thời

điểm này, Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh Lai Châu 100% là cán bộ, công chức, do

đó các luật sư này chỉ được hành nghề đến 01/10/2004 Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ

Tư pháp, tỉnh Lai Châu đã lên phương án tạo nguồn luật sư để thực hiện duy trì tổchức và hoạt động luật sư Tháng 6 năm 2002 UBND tỉnh đã cử 08 cử nhân luật điđào tạo luật sư (khóa II) tại trường đào tạo các chức danh tư pháp Tuy nhiên, donghề luật sư khi đó chưa phát triển, việc sống bằng nghề luật sư không dễ dàng đốivới một tỉnh miền núi khó khăn Cân nhắc thiệt hơn giữa làm cán bộ, công chức vàlàm luật sư, nên sau khi kết thúc khóa đào tạo số học viên này không tham gia Đoànluật sư mà vào cơ quan nhà nước làm cán bộ, công chức

Đến ngày 01/10/2004 trước thời điểm lựa chọn quyết định khó khăn là làmcán bộ, công chức hay là HNLS Kết quả là toàn bộ số luật sư kiêm nhiệm hiện cócủa tỉnh đã không có ai theo con đường luật sư và từ thời điểm này trở đi tỉnh ĐiệnBiên không có luật sư và Đoàn luật sư Trong gần (02 năm) tỉnh Điện Biên không

có luật sư, vì vậy, phải mời hoặc thuê luật sư của các tỉnh khác Theo báo cáo củaTòa án nhân dân tỉnh Điện Biên thì tiền chi trả cho việc mời luật sư ở các tỉnh khácđến bình quân hết 15.000.000đ/vụ Từ tình hình thực tế đó, Sở Tư pháp đã tích cực

17 Nguồn báo cáo tổng hợp của Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên.

Trang 35

chủ động tham mưu làm thủ tục cấp giấy phép đăng ký hoạt động cho Chi nhánhVăn phòng luật sư Thế Inh thuộc Đoàn luật sư tỉnh Yên Bái (28/11/2006); Vănphòng luật sư Bảo Châu và cộng sự thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội(20/12/2006) nhằm giải quyết khó khăn do địa phương chưa có luật sư, đồng thờiphối hợp với Bộ Tư pháp cử đào tạo miễn phí 03 cử nhân luật tham gia học lớp đàotạo nghiệp vụ luật sư nhằm tạo nguồn luật sư cho tỉnh để chuẩn bị các điều kiệnthành lập Đoàn luật sư Ngày 23/4/2009 UBND tỉnh Điện Biên ra quyết định số594/QĐ-UBND cho phép thành lập Đoàn luật sư tỉnh Điện Biên.

Từ khi ban hành Luật Luật sư năm 2006 đến nay, hoạt động luật sư trên cảnước nói chung và địa bàn tỉnh Điện Biên nói riêng đã có những bước phát triển,đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, khẳng định ngàycàng rõ hơn vị trí, vai trò quan trọng của luật sư trong đời sống xã hội, đáp ứng nhucầu ngày càng tăng về dịch vụ pháp lý của tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế thịtrường định hướng XHCN Thông qua hoạt động tham gia tố tụng, thực hiện tư vấnpháp luật và các dịch vụ pháp lý khác, đội ngũ luật sư không những đã có nhữngđóng góp tích cực cho công tác tư pháp nói chung, hoạt động xét xử nói riêng, màcòn là nhân tố hỗ trợ phát triển các quan hệ kinh tế thị trường định hướng XHCN

Qua hơn mười năm thực hiện Luật Luật sư năm 2006, số lượng luật sư và tổchức HNLS đã có sự phát triển, tăng nhanh về số lượng Theo thống kê của Cục Bổtrợ tư pháp thuộc Bộ tư pháp cho đến tháng 6/2018 cả nước hiện có khoảng 12.000luật sư với gần 4.000 tổ chức HNLS So với số lượng tổ chức HNLS và luật sư thờiđiểm trước khi Luật luật sư năm 2006 có hiệu lực (1.300 tổ chức HNLS và 3.000 luậtsư) Trên địa bàn tỉnh Điện Biên hiện có 08 tổ chức HNLS (02 Công ty luật và

06 Văn phòng luật sư) với 19 luật sư đang hành nghề trong đó: có 14 luật sư nam;

05 luật sư nữ; luật sư dân tộc kinh có 16 người; luật sư dân tộc khác là 03 người; độtuổi trung bình của các luật sư là 54,1 tuổi; Luật sư có tuổi cao nhất là 72 tuổi; luật

sư có tuổi thấp nhất là 32 tuổi; Trình độ có 01 người có trình độ thạc sĩ luật, 18 luật

sư có trình độ cử nhân luật; có 15/19 luật sư là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam;

có 08/19 luật sư thuộc diện được miễn đào tạo nghề luật sư (Điều tra viên, kiểm sátviên, thẩm phán)

Trang 36

Đến nay có 03/10 đơn vị cấp huyện đã có tổ chức HNLS gồm thành phốĐiện Biên Phủ, huyện Mường Chà, huyện Mường Nhé Tính từ năm 2012 đến nay,các tổ chức HNLS trên địa bàn tỉnh Điện Biên đã thực hiện 1.434 vụ việc, doanhthu 3.750.030.000 đồng18.

2.1.2.2 Đánh giá về tổ chức và hoạt động luật sư trên địa bàn tỉnh Điện Biên

* Ưu điểm

Luật Luật sư sửa đổi năm 2012 đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho cácluật sư và tổ chức HNLS phát triển Các tổ chức HNLS được thành lập, tạo ra sựcạnh tranh lành mạnh trong hoạt động luật sư Hoạt động luật sư đã trở nên thuậntiện và chuyên nghiệp hơn Các tổ chức HNLS đã từng bước hoạt động hiệu quả, về

cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ tố tụng tại địa phương Các luật sư đã có

ý thức trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ, kỹ năng tranh tụng chuyên nghiệp vàhiệu quả hơn; tích cực tham gia hoạt động hành nghề, ngoài các án chỉ định luật sưcòn tham gia tố tụng đối với các vụ án thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như dân sự,hôn nhân và gia đình; hành chính;ngoài ra các luật sư còn phối hợp với Trung tâmtrợ giúp pháp lý, Trung tâm tư vấn pháp luật thực hiện tư vấn pháp luật và trợ giúppháp lý cho người dân Hoạt động tham gia tố tụng của luật sư đã đảm bảo thựchiện tốt nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa, góp phần quan trọng trong việc thựchiện nhiệm vụ trọng tâm của cải cách tư pháp Thực tiễn trong thời gian qua chothấy, việc tham gia tố tụng của các luật sư không những đảm bảo tốt hơn quyền bàochữa của bị can, bị cáo, quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khác, mà còngiúp các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện, sửa chữa các sai sót, làm rõ sự thậtkhách quan, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, góp phần bảo vệ công lý

Các tổ chức HNLS trên địa bàn tỉnh Điện Biên đã thực hiện việc lập hồ sơ

đề nghị cấp giấy đăng ký HNLS theo đúng quy định; thực hiện tốt việc đăng ký condấu và quản lý con dấu; tuân thủ nghiêm túc quy định về công bố nội dung hoạtđộng, thông báo hoạt động, địa điểm giao dịch; các trang thiết bị cần thiết phục vụ

18 Nguồn báo cáo tổng hợp của Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên.

Trang 37

cho hoạt động của tổ chức, như: máy vi tính, máy in, tủ sách, tài liệu pháp luật…được các tổ chức HNLS trang bị tương đối đầy đủ.

Các tổ chức HNLS hoạt động theo đúng lĩnh vực hành nghề ghi trong Giấyđăng ký hoạt động; thực hiện đầy đủ những nội dung đã giao kết với khách hàng;chấp hành nghiêm việc cử luật sư tham gia tố tụng theo phân công của Đoàn luậtsư; cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng nhanh chóng và thuận tiện, đáp ứngđược yêu cầu của khách hàng cũng như yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng;trong quá trình hoạt động, các luật sư tuân thủ các quy tắc đạo đức và ứng xử nghềnghiệp của luật sư và Điều lệ của Liên đoàn Luật sư Việt Nam

Hoạt động của luật sư tại tỉnh Điện Biên chủ yếu tham gia vào những vụ ántheo quy định của pháp luật là chỉ định người bào chữa, đương sự là đối tượng đượctrợ giúp pháp lý (chiếm 90% các vụ án có sự tham gia bào chữa của luật sư), còn lại

là các loại án hành chính, dân sự khác Đặc biệt 100% các vụ án theo yêu cầu của

cơ quan tiến hành tố tụng đều có luật sư tham gia Nhìn chung các luật sư đã đápứng được yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, chấp hành nghiêm những quy địnhcủa pháp luật, nêu cao đạo đức và tinh thần trách nhiệm nên chưa có vi phạm phápluật cũng như vi phạm đạo đức hành nghề nào xảy ra

* Hạn chế

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động HNLS trên địa bàn tỉnhĐiện Biên vẫn còn một số khó khăn Do điều kiện kinh tế của tỉnh chậm phát triển,nhận thức về pháp luật của người dân chưa cao, chưa biết đến hoạt động hành nghềcủa luật sư, chưa sử dụng dịch vụ pháp lý do luật sư cung cấp, do đó luật sư chưathể yên tâm sống bằng nghề Địa bàn HNLS chưa được mở rộng ra toàn tỉnh, chỉ tậptrung ở khu vực trung tâm của tỉnh, phần lớn các luật sư chủ yếu tham gia tố tụngđối với án chỉ định và tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý Các tổ chức HNLS có quy

mô nhỏ, lĩnh vực hành nghề chủ yếu là tham gia tố tụng, vì vậy, doanh thu của các

tổ chức này khá khiêm tốn Việc cung cấp dịch vụ pháp lý của các tổ chức HNLStrong địa bàn tỉnh là chủ yếu Các vụ việc lớn trên địa bàn tỉnh Điện Biên lại do cácluật sư địa phương khác thực hiện

Trang 38

Địa bàn hoạt động hành nghề của luật sư chưa được mở rộng ra toàn tỉnh,chỉ tập trung ở khu vực trung tâm của tỉnh Việc phát triển đội ngũ luật sư của địaphương gặp nhiều khó khăn, do đặc điểm của nghề luật sư đòi hỏi các điều kiện vàtiêu chuẩn nghề nghiệp rất cao, cũng như áp lực, thách thức của hoạt động dịch vụpháp lý trong điều kiện kinh tế thị trường Hơn nữa để trở thành luật sư còn trải quathời gian học đào tạo nghề, thời gian tập sự, qua kỳ thi, vì vậy, rất ít cử nhân luật ratrường lựa chọn nghề luật sư hoặc là không theo nghề đến cùng Do vậy, đội ngũluật sư được bổ sung chủ yếu từ nguồn cán bộ, công chức, viên chức và các chứcdanh tư pháp đã nghỉ hưu nên không được "trẻ hóa".

Theo Điều 40 và Điều 49 của Luật Luật sư sửa đổi năm 2012 thì tổ chứcHNLS, luật sư có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp Thực tế cho thấy,một số tổ chức HNLS chưa thực hiện nghiêm túc về việc mua bảo hiểm trách nhiệmnghề nghiệp cho luật sư của tổ chức mình hoặc trường hợp hợp đồng lao động cóthỏa thuận thì luật sư hành nghề với tư cách cá nhân phải mua bảo hiểm trách nhiệmcho hoạt động của mình theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm

2.2 Thực tiễn quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh Điện Biên

2.2.1 Công tác chỉ đạo, triển khai các văn bản pháp luật về luật sư trên địa bàn tỉnh Điện Biên

Nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của hoạt động luật sư, sau khi LuậtLuật sư năm 2006 có hiệu lực, UBND tỉnh Điện Biên đã tổ chức Hội nghị triển khaithi hành Luật Luật sư đến lãnh đạo các Sở, ngành cấp tỉnh, UBND các huyện, thànhphố, thị xã và các tổ chức, cá nhân có liên quan, đồng thời chỉ đạo các cơ quan tíchcực tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng nhữngnội dung cơ bản của Luật Luật sư và các văn bản hướng dẫn thi hành bằng nhiềuhình thức phong phú, hiệu quả nhằm nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành,cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân về tổ chức và hoạt động luật sư LuậtLuật sư đã được triển khai đồng bộ và sâu rộng đến các tầng lớp nhân dân trên địabàn tỉnh và được các cơ quan, tổ chức liên quan triển khai thực hiện có hiệu quả

Trang 39

Nhận thức của các cơ quan, tổ chức và nhân dân về ý nghĩa, vai trò của hoạt độngluật sư đã có sự chuyển biến tích cực

Để đảm bảo triển khai thi hành Luật Luật sư và các văn bản hướng dẫn thihành luật được thống nhất, đồng bộ và hiệu quả tại địa phương, UBND tỉnh ĐiệnBiên đã ban hành kế hoạch triển khai thi hành Luật Luật sư Trong kế hoạch đã xácđịnh mục đích, yêu cầu, nội dung, thời gian triển khai thực hiện, phân công cơ quanchủ trì, cơ quan phối hợp để triển khai thực hiện từng nội dung theo kế hoạch

Công tác phát triển đội ngũ luật sư luôn được tỉnh ủy, UBND tỉnh quan tâmchỉ đạo Thực hiện Quyết định số 123/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ vềphê duyệt phát triển đội ngũ luật sư hội nhập kinh tế quốc tế từ năm 2010 đến năm

2020, Quyết định số 1072/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiếnlược phát triển nghề luật sư đến năm 2020, ngày 28/11/2011 UBND tỉnh đã banhành Quyết định số 1163/QĐ-UBND về việc ban hành kế hoạch thực hiện chiếnlược phát triển nghề luật sư đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Điện Biên

Sở Tư pháp và Đoàn Luật sư đã ký Quy chế 01/STP-ĐLS ngày 04/5/2013

về việc phối hợp công tác quản lý nhà nước trong việc quản lý luật sư và hoạt độngHNLS trên địa bàn tỉnh Điện Biên

2.2.2 Thực trạng bộ máy quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật

sư trên địa bàn tỉnh Điện Biên

Luật Luật sư sửa đổi, bổ sung 2012 quy định rõ các nội dung quản lý, phânđịnh rõ trách nhiệm giữa Chính phủ, Bộ Tư pháp, các bộ, cơ quan ngang bộ có liênquan, UBND cấp tỉnh và Sở Tư pháp Nhiệm vụ quản lý được phân cấp phù hợpcho địa phương, tăng cường trách nhiệm của UBND cấp tỉnh và xác định rõ vai trò,trách nhiệm của Sở Tư pháp trong việc giúp UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước vềluật sư và HNLS trên địa bàn Trách nhiệm phối hợp trong công tác quản lý nhànước về luật sư và HNLS cũng được Luật Luật sư sửa đổi năm 2012 quy định rõ

Để đảm bảo bộ máy và con người trong việc tham mưu giúp Giám đốc Sở

Tư pháp quản lý nhà nước về luật sư và HNLS trên địa bàn tỉnh, ngày 08/7/2010UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 833/QĐ-UBND về việc kiện toàn tổ chức bộmáy của Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên Theo đó Phòng Hành chính tư pháp đã tách ra

Trang 40

và thành lập 2 phòng là Phòng Hành chính tư pháp và Phòng Bổ trợ tư pháp Khimới thành lập Phòng Bổ trợ tư pháp có 02 biên chế (01 Trưởng phòng và 01 chuyênviên) đến nay Phòng Bổ trợ tư pháp đã được kiện toàn 03 biên chế (01 Trưởngphòng và 02 chuyên viên) Các công chức thuộc Phòng Bổ trợ tư pháp đều có trình

độ cử nhân luật, 01/03 công chức đã qua khóa đạo tạo nghiệp vụ luật sư để có thểhiểu sâu về hoạt động luật sư và thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quản lý nhà nước vềluật sư và HNLS

Phòng Bổ trợ tư pháp có chức năng quản lý hoạt động luật sư, tư vấn phápluật; công chứng; giám định tư pháp; bán đấu giá tài sản; trợ giúp pháp lý; Quản tàiviên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản và hoạt động hành nghề quản lý, thanh

lý tài sản; thi hành án dân sự; trọng tài thương mại; thừa phát lại và các lĩnh vực tưpháp khác, có trách nhiệm tham mưu Lãnh đạo Sở Tư pháp thực hiện các nhiệm vụ:

- Thẩm định hồ sơ, trình UBND tỉnh quyết định cho phép thành lập, phêchuẩn kết quả Đại hội của Đoàn Luật sư, giải thể Đoàn Luật sư; chủ trì, phối hợpvới Sở Nội vụ thẩm định, trình UBND tỉnh xem xét, phê duyệt Đề án tổ chức Đạihội nhiệm kỳ, phương án xây dựng Ban Chủ nhiệm, Hội đồng khen thưởng, kỷ luậtnhiệm kỳ mới Cấp, thu hồi Giấy đăng ký hoạt động của tổ chức HNLS Việt Nam,

tổ chức HNLS nước ngoài tại Việt Nam, Trung tâm tư vấn pháp luật; cấp, thu hồiThẻ tư vấn viên pháp luật

- Tổ chức thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề côngchứng được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại địa phương và Đề án, kế hoạch pháttriển tổ chức hành nghề công chứng của tỉnh Trình UBND tỉnh quyết định thànhlập, chuyển đổi, giải thể Phòng Công chứng và cho phép thành lập, thay đổi, hợpnhất, sáp nhập, chuyển nhượng và thu hồi quyết định thành lập Văn phòng côngchứng theo quy định Cấp, thu hồi Giấy đăng ký hoạt động của Văn phòng côngchứng; ghi nhận thay đổi danh sách công chứng viên là thành viên hợp danh củaVăn phòng công chứng; xem xét, thông báo bằng văn bản cho Văn phòng côngchứng về việc đăng ký danh sách công chứng viên làm việc theo chế độ hợp đồng

Đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm, miễn nhiệm công chứng viên; quyết định

Ngày đăng: 20/02/2023, 20:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48/NQ/TW ngày 25/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48/NQ/TW ngày 25/5/2005của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luậtViệt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49/NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49/NQ/TW ngày 02/6/2005của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấphành Trung ương khóa X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội ssại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội ssại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
19. Phan Trung Hoài (2003), Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hành nghề luật trong điều kiện mới ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hành nghề luậttrong điều kiện mới ở Việt Nam
Tác giả: Phan Trung Hoài
Năm: 2003
21. C. Mác (1960), Tư bản, Quyển I, tập 2, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư bản
Tác giả: C. Mác
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1960
25. Quốc hội (2015), Bộ luật Tố tụng hình sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng hình sự
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2015
28. Phạm Hồng Thái, Đinh Văn Mậu (2009), Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận nhà nước và pháp luật
Tác giả: Phạm Hồng Thái, Đinh Văn Mậu
Nhà XB: Nxb Giaothông vận tải
Năm: 2009
29. Nguyễn Văn Thảo (Chủ nhiệm đề tài) (2005), Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hành nghề luật sư trong điều kiện mới ở Việt Nam, Đề tài khoa học cấp bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận và thực tiễn củaviệc hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hành nghề luật sư trong điều kiệnmới ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Thảo (Chủ nhiệm đề tài)
Năm: 2005
30. Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2011
32. Nguyễn Văn Tuân (Chủ nhiệm đề tài) (2005), Dịch vụ pháp lý ở Việt Nam, thực trạng nhu cầu và định hướng phát triển, Đề tài khoa học cấp bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch vụ pháp lý ở Việt Nam, thựctrạng nhu cầu và định hướng phát triển
Tác giả: Nguyễn Văn Tuân (Chủ nhiệm đề tài)
Năm: 2005
33. Nguyễn Văn Tuân (Chủ nhiệm đề tài) (2006), Cải cách tổ chức và hoạt động bổ trợ tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, Đề tài khoa học cấp bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách tổ chức và hoạt độngbổ trợ tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, dodân, vì dân
Tác giả: Nguyễn Văn Tuân (Chủ nhiệm đề tài)
Năm: 2006
34. Nguyễn Văn Tuân (2012), Một số vấn đề về luật sư và nghề luật sư , Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về luật sư và nghề luật sư
Tác giả: Nguyễn Văn Tuân
Nhà XB: Nxb Tưpháp
Năm: 2012
35. Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên (2011), Báo cáo số 119/BC-UBND ngày 28/9/2011 tổng kết 5 năm thi hành Luật luật sư trên địa bàn tỉnh Điện Biên, Điện Biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 119/BC-UBND ngày28/9/2011 tổng kết 5 năm thi hành Luật luật sư trên địa bàn tỉnh ĐiệnBiên
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên
Năm: 2011
36. Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên (2011) Quyết định 1163/QĐ-UBND ngày 28/11/2011 ban hành kế hoạch thực hiện chiến lược "Phát triển nghề luật sư đến năm 2020" trên địa bàn tỉnh Điện Biên, Điện Biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nghề luậtsư đến năm 2020
37. Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên (2014), Báo cáo số 93/BC-UBND ngày 09/4/2014 về việc thực hiện chiến lược phát triển nghề Luật sư đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Điện Biên, Điện Biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 93/BC-UBND ngày09/4/2014 về việc thực hiện chiến lược phát triển nghề Luật sư đến năm2020 trên địa bàn tỉnh Điện Biên
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên
Năm: 2014
38. Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên (2016), Báo cáo tình hình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Điện Biên từ 2010-2015, phương hướng đến năm 2020, Điện Biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình phát triển kinh tế - xãhội tỉnh Điện Biên từ 2010-2015, phương hướng đến năm 2020
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên
Năm: 2016
39. Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên (2017), Công văn số 2773/UBND-NC ngày 25/9/2017 về tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với tổ chức và hoạt động của luật sư trên địa bàn tỉnh, Điện Biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 2773/UBND-NC ngày25/9/2017 về tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với tổ chức vàhoạt động của luật sư trên địa bàn tỉnh
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên
Năm: 2017
40. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (1998), Pháp lệnh Cán bộ công chức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh Cán bộ công chức
Tác giả: Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Năm: 1998

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w