1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Lv ths luật kt kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh điện biên, thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả

81 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Điện Biên, thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả
Trường học Trường Đại học luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật học
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 138,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

74 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 7 1 1 Cơ sở lý luận 7 1 2 Quy định pháp luật hiện hành về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật 19 Chươ[.]

Trang 1

1.2 Quy định pháp luật hiện hành về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật 19

Chương 2: THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA VĂN BẢN QUY

PHẠM PHÁP LUẬT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐIỆN BIÊN 412.1 Những kết quả đạt được trong hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm

2.2 Hạn chế, nguyên nhân hạn chế của hoạt động kiểm tra văn bản quy

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM TRA VĂN BẢN

QUY PHẠM PHÁP LUẬT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐIỆN

3.1 Cần nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của công tác kiểm tra văn bản

3.2 Nâng cao vai trò lãnh đạo của cấp ủy đảng, đề cao trách nhiệm chính

trị của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong công tác xây dựng, ban

hành, bảo đảm chất lượng của văn bản quy phạm pháp luật nói

chung, kiểm tra văn bản trái pháp luật nói riêng, đồng thời gắn với

63

Trang 2

3.3 Hoàn thiện quy định pháp luật về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật 643.4 Tăng cường cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị có liên quan

trong công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, thực hiện gắn

kết giữa công tác kiểm tra văn bản với soạn thảo, thẩm định và tổ

3.5 Tập trung phát hiện, kiên quyết xử lý kịp thời các văn bản trái pháp

luật, bám sát yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, Trung ương 663.6 Nâng cao chất lượng, năng lực cán bộ, công chức làm công tác kiểm

3.7 Bảo đảm các điều kiện cho hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản quy

phạm pháp luật như xây dựng cơ chế tài chính, cơ sở vật chất và

trang thiết bị kỹ thuật; cơ sở dữ liệu phục vục cho công tác kiểm tra

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

HĐND : Hội đồng nhân dân

QPPL : Quy phạm pháp luật

UBND : Ủy ban nhân dân

VBQPPL : Văn bản quy phạm pháp luật

Trang 4

2.4 Số VBQPPL trái pháp luật và xử lý qua tự kiểm tra trên địa bàn

tỉnh Điện Biên từ ngày 01/01/2014 đến 30/6/2018 462.5 Số VBQPPL trái pháp luật và xử lý qua kiểm tra theo thẩm

quyền trên địa bàn tỉnh Điện Biên từ ngày 01/01/2014 đến

2.6 Số người làm công tác pháp chế các sở ngành tỉnh, công chức

Phòng Tư pháp cấp huyện và công chức Tư pháp hộ tịch cấp xã 51

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Namcũng đặt ra nhiều nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, trong đó có nhiệm vụ xây dựng hệthống pháp luật minh bạch, công khai, dân chủ và là cơ sở bảo đảm cho các cơ quanhành pháp hoạt động trong khuôn khổ pháp luật Trong bối cảnh đó, việc tăngcường công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) (sau đây viết tắt làkiểm tra văn bản) là trách nhiệm của các cơ quan hành pháp nhằm hoàn thiện cácvăn bản bản quy phạm pháp luật Hoạt động kiểm tra VBQPPL có ý nghĩa trước hết

là phục vụ trực tiếp cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, bởi vì kiểmtra văn bản được thực hiện nhằm phát hiện những nội dung trái pháp luật của vănbản để kịp thời đình chỉ thi hành, sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ bảo đảm tínhhợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật Việc kiểm tra vănbản sẽ góp phần loại bỏ những văn bản trái pháp luật, những quy phạm pháp luậtmẫu thuẫn, chồng chéo, góp phần tạo nên một hệ thống pháp luật thống nhất, đồng

bộ từ Trung ương đến địa phương

Dưới góc độ quản lý nhà nước, kiểm tra văn bản còn có ý nghĩa quan trọngtrong việc giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý kịp thời những văn bản tráipháp luật Thực tiễn ban hành VBQPPL cho thấy, còn có nhiều văn bản được banhành không đúng thẩm quyền Những văn bản trái pháp luật này nếu không đượcsửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ kịp thời sẽ gây ra những hậu quả nhất định,xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước và làm suy giảm hiệu lực, hiệu quả quản lýcủa các cơ quan nhà nước

Đồng thời, việc kiểm tra văn bản có ý nghĩa dưới góc độ dân chủ, bảo đảmquyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Một số văn bản trái pháp luật đã làm ảnhhưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và người dân, nếu không kịpthời đình chỉnh thi hành, bãi bỏ toàn bộ hoặc một phần văn bản kịp thời sẽ làm ảnhhưởng, giảm lòng tin của người dân đối với cơ quan nhà nước và đối với tính pháp chế

Trang 6

xã hội chủ nghĩa Sự tồn tại của hoạt động kiểm tra đòi hỏi các cơ quan ban hànhVBQPPL có trách nhiệm hơn, nghiêm túc hơn trong hoạt động xây dựng, ban hànhVBQPPL, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của VBQPPL Kiểm tra văn bảncũng góp phần tích cực cho công tác rà soát, hệ thống hóa, pháp điển hóa VBQPPL.

Trong những năm qua, công tác kiểm tra VBQPPL trên địa bàn tỉnh ĐiệnBiên đã tổ chức triển khai tuy chưa đồng bộ giữa các cấp nhưng đã đạt được một sốkết quả nhất định Bên cạnh nhưng ưu điểm nêu trên, qua triển khai thực hiện vàtình hình thực tế, công tác này vẫn còn tồn tại, hạn chế nhất định như: việc gửi vănbản sau khi được ban hành đến cơ quan có thẩm quyền kiểm tra chưa được thựchiện nghiêm túc; các VBQPPL do Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân(UBND) cấp huyện, cấp xã ban hành còn nhiều sai sót; đối với các văn bản có saisót do cơ quan Tư pháp phát hiện, có ý kiến đề nghị xử lý chưa được các Sở, ngànhquan tâm thực hiện để kịp thời đình chỉ thi hành, bãi bỏ hoặc thay thế; các Sở,ngành còn thiếu chủ động, còn phụ thuộc vào kết quả kiểm tra của Sở Tư pháp.Nhận thức được tầm quan trọng của công tác kiểm tra VBQPPL nói chung và kiểmtra VBQPPL của HĐND, UBND các cấp nói riêng, để dần loại bỏ nhưng khó khăn,hạn chế nêu trên, đưa công tác kiểm tra, xử lý văn bản trên địa bàn tỉnh ngày càngvào nền nếp; đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện hiện nay và vấn đề cốt lõi

nhất của đề tài làm sao phải "để công tác này không phải của riêng cơ quan tư pháp

ở địa phương và theo đúng tinh thần quy định của pháp luật hiện hành về kiểm tra

văn bản quy phạm pháp luật" nên học viên đã chọn đề tài "Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Điện Biên, thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả" làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài luận văn

Những năm gần đây, đã có nhiều bài báo khoa học, luận văn, đề tài nghiêncứu về hoạt động xây dựng và ban hành cũng như việc nâng cao chất lượng banhành VBQPPL Đây là chủ đề được nhiều nhà khoa học khác nhau như luật học,văn bản học, hành chính học…tiếp cận khai thác vấn đề dưới nhiều góc độ, để làmtài liệu tham khảo cho bài nghiên cứu, công trình khoa học của mình như:

Trang 7

- Đề tài: "Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện" của Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (năm 2003).

- "Thực hiện pháp luật về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam" của Phạm Văn Dũng, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện Chính trị - Hành

chính Quốc gia Hồ Chí Minh, 2011

- TS Lê Hồng Sơn: "Vai trò của công tác kiểm tra văn bản QPPL trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật", Tạp chí Dân chủ pháp luật, số

chuyên đề năm 2007

- TS Đoàn Thi Tố Uyên: "Lý luận và thực tiễn về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay", Nxb Công an nhân dân năm 2017.

Ngoài ra, cũng có một số nghiên cứu riêng về hoạt động kiểm tra VBQPPL

của HĐND và UBND như: Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật - thực trạng và giải pháp hoàn thiện, Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp; Kiểm tra và

xử lý văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành ở nước ta hiện nay, của Trương Thị Phương Lan, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2007; Luận án tiến sĩ: Kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay, của Đoàn Thị Tố Uyên, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2012.

Những đề tài, công trình, bài viết nêu trên đã nghiên cứu và làm sáng tỏ một

số vấn đề lý luận và thực trạng hoạt động kiểm tra VBQPPL, về thực hiện pháp luậttrong hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản Nhìn chung các công trình đều đề cập đếncông tác kiểm tra VBQPPL ở diện rộng và nghiên cứu về công tác kiểm traVBQPPL nói chung Tuy nhiên, đến thời điểm này chưa có công trình nào nghiêncứu từ góc độ thực tiễn để đánh giá thực trạng công tác kiểm tra VBQPPL của tỉnhĐiện Biên, đồng thời đưa ra nhưng khó khăn hạn chế của hoạt động này, làm rõcác nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng công tác kiểm tra VBQPPL ở địaphương; việc tìm ra các giải pháp nâng cao chất lượng kiểm tra VBQPPL là cấpthiết với tình hình ở địa phương và phù hợp với tinh thần của quy định hiện hành vềcông tác này

Trang 8

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn hướng đến đối tượng nghiên cứu là hoạt động kiểm tra VBQPPL

do HĐND, UBND các cấp trên địa bàn tỉnh Điện Biên ban hành

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Là hoạt động kiểm tra VBQPPL do HĐND, UBND các cấp trên địa bàntỉnh ban hành trong phạm vi từ 01/01/2014 đến hết 30/6/2018

4 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

4.1 Mục tiêu nghiên cứu

Kế thừa những vấn đề lý luận về kiểm tra VBQPPL, đồng thời đánh giáthực trạng về kiểm tra VBQPPL của HĐND, UBND các cấp trên địa bàn Điện Biênthời gian qua, chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế trong công tác này; đề xuấtcác giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra VBQPPL của HĐND,UBND các cấp trên địa bàn Điện Biên trong thời gian tới

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hoạt động kiểm tra VBQPPL nhưkhái niệm, đặc điểm, nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự thủ tục, vai trò và các yếu tốtác động đến kiểm tra VBQPPL theo quy định pháp luật hiện hành

- Đánh giá thực trạng về công tác kiểm tra VBQPPL của HĐND, UBNDcác cấp trên địa bàn Điện Biên, trong đó nêu những mặt tích cực, những vấn đề cònhạn chế và nguyên nhân của hạn chế

- Trên cơ sở phân tích thực trạng, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằmnâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động kiểm tra VBQPPL của HĐND, UBND cáccấp trên địa bàn tỉnh Điện Biên trong thời gian tới, góp phần bảo đảm tính hợp hiến,hợp pháp, thống nhất, công khai, minh bạch của hệ thống VBQPPL

5 Các phương pháp nghiên cứu

Luận văn được tiếp cận trên cơ sở phương pháp luận của học thuyết Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; các quan điểm của Đảng

Trang 9

-và Nhà nước về đổi mới tổ chức -và hoạt động của Nhà nước theo yêu cầu xây dựngNhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa; các quan điểm của Đảng và Nhànước về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong giai đoạn hiện nay.Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử được áp dụng trong quá trìnhnghiên cứu phần lý thuyết.

- Ngoài ra, luận văn còn sử dụng chủ yếu các phương pháp nghiên cứumang tính truyền thống như sau:

5.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp

Phương pháp này được sử dụng trong tất cả các chương của Luận văn Qua

đó, nhằm lý giải, đánh giá thực trạng, khái quát hóa, rút ra những vấn đề thuộc về bảnchất, các quan điểm liên quan đến vấn đề nghiên cứu, từ đó, đề xuất giải pháp nângcao chất lượng hoạt động kiểm tra VBQPPL do HĐND, UBND các cấp ban hành

5.2 Phương pháp nghiên cứu dữ liệu thứ cấp

Thông qua tổng hợp và phân tích tư liệu, tài liệu, số liệu sẵn có để đưa ra vàphân tích, đánh giá thực trạng kiểm tra VBQPPL do HĐND, UBND các cấp tỉnhĐiện Biên ban hành Phương pháp này được sử dụng chủ yếu để phục vụ việc tổnghợp, phân tích, đánh giá các nội dung được đưa ra tại Chương 2 của luận văn

5.3 Phương pháp so sánh

Được sử dụng nhằm so sánh hoạt động kiểm tra VBQPPL do HĐND,UBND các cấp ban hành qua các giai đoạn khác nhau và đưa ra các đánh giá, nhậnđịnh về tình hình thực hiện hoạt động này qua từng giai đoạn Đồng thời, sử dụngphương pháp này nhằm so sánh, phân biệt hoạt động kiểm tra văn bản với hoạt động

rà soát VBQPPL ở Chương 1 của luận văn

Trang 10

Tiếp cận liên ngành: Có sự phối hợp của nhiều ngành khoa học xã hội nhânvăn như khoa học lịch sử, xã hội học, chính trị học, luật học so sánh…

Tiếp cận lịch sử: Quan điểm lịch sử cụ thể được quán triệt trong quá trìnhnghiên cứu, đặc biệt việc xem xét mối quan hệ này qua từng giai đoạn lịch sử khácnhau Đồng thời khi phân tích, đánh giá từng mặt của mối quan hệ này được quántriệt trong những bối cảnh lịch sử và những điều kiện cụ thể nhìn nhận dưới góc độlogic phát triển

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần giải đáp một số vấn đề về lýluận nhất là thực tiễn về kiểm tra VBQPPL nói chung và tỉnh Điện Biên nói riêng;góp phần nâng cao nhận thức của lãnh đạo, cán bộ, công chức về công tác kiểm traVBQPPL; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong công tác kiểm traVBQPPL của tỉnh Điện Biên

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaluận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về kiểm tra văn bản văn bản quy phạmpháp luật

Chương 2: Thực trạng thực hiện hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm phápluật trên địa bàn tỉnh Điện Biên

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra văn bản văn bảnquy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Điện Biên

Trang 11

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái quát chung về văn bản quy phạm pháp luật

1.1.1.1.Khái niệm về văn bản quy phạm pháp luật

Hiện nay, có rất nhiều loại văn bản do cơ quan nhà nước và người có thẩmquyền ban hành như VBQPPL, văn bản áp dụng pháp luật, văn bản hành chínhthông thường, văn bản chuyên môn và văn bản kỹ thuật

Trong đó VBQPPL là kênh quan trọng để đưa đường lối, chủ trương củaĐảng, chính sách của Nhà nước đi vào cuộc sống, là công cụ để quản lý nhà nước

và xã hội

Khái niệm "văn bản quy phạm pháp luật" được quy định lần đầu trong LuậtBan hành VBQPPL năm 1996, sau đó, tiếp tục được quy định với một số điểm thayđổi trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành VBQPPL năm 2002;Luật ban hành VBQPPL của HĐND, UBND năm 2004 và Luật Ban hành VBQPPLnăm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành Khái niệm này là căn cứ để các cơquan có thẩm quyền phân biệt VBQPPL với văn bản hành chính và văn bản áp dụngpháp luật, góp phần hạn chế đáng kể số lượng văn bản hành chính có chứa quyphạm pháp luật Tuy nhiên, do cách định nghĩa trong Luật còn nặng nề về học thuật,chưa cụ thể nên gây khó khăn trong việc xác định VBQPPL đối với công chức trựctiếp thực hiện

Để khắc phục những khó khăn trong việc xác định VBQPPL và khắc phụchạn chế từ thực tiễn triển khai, Luật năm 2015 đã đưa ra 02 khái niệm và tách kháiniệm "Văn bản quy phạm pháp luật" và khái niệm "Quy phạm pháp luật", theo đó,

"văn bản quy phạm pháp luật" là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được banhành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật banhành VBQPPL Trong đó, "quy phạm pháp luật" là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực

Trang 12

bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cánhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhànước, người có thẩm quyền quy định trong Luật ban hành VBQPPL và được Nhànước bảo đảm thực hiện Đồng thời Luật năm 2015 quy định "một văn bản có chứaquy phạm, pháp luật nhưng được ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình

tự, thủ tục quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì không phải

là văn bản quy phạm pháp luật"

Có thể nói, trong một VBQPPL, dấu hiệu đặc trưng để phân biệt với cácvăn bản khác là văn bản đặt ra các quy phạm pháp luật (QPPL) Các QPPL này códấu hiệu đặc trưng (nhằm phân biệt với các quy phạm xã hội, quy phạm đạo đức,quy phạm tôn giáo ) Từ khái niệm QPPL đã được nêu trên, thì QPPL có các đặcđiểm sau:

Thứ nhất, là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung Trong đó, quy tắc xử sự chung là những chuẩn mực mà mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuân theo khi tham gia vào các quan hệ xã hội mà quy tắc đó điều chỉnh

Quy phạm pháp luật có tính áp dụng chung, tính trừu tượng, không đặt racho người này, người kia một cách xác định mà nhằm tới phạm vi đối tượng rộnghơn (ví dụ: tất cả các công dân, tất cả những người trên 18 tuổi, các thương gia, cácChủ tịch tỉnh hoặc Chủ tịch huyện ) Các QPPL được áp dụng đối với những ngườithuộc đối tượng được các QPPL đó điều chỉnh Như vậy, một quyết định bổ nhiệmmột người vào chức vụ Chủ tịch huyện không phải là VBQPPL nhưng văn bản quyđịnh một số quyền hạn cho các Chủ tịch huyện sẽ là VBQPPL

Quy phạm pháp luật có hiệu lực bắt buộc chung Quy phạm này được bảođảm tuân thủ và thực hiện bởi sự cưỡng chế nhà nước Nhà nước có thể dùng lựclượng công quyền để bảo đảm cho việc áp dụng QPPL bằng việc áp dụng các chếtài Các chế tài có thể rất đa dạng: chế tài hình sự như hình phạt tù hoặc phạt tiền,chế tài dân sự như hủy bỏ hợp đồng dân sự, bồi thường thiệt hại dân sự ngoài hợpđồng Như vậy, bất luận là VBQPPL do cơ quan nào có thẩm quyền ban hành haybất luận là hình thức văn bản nào (luật, pháp lệnh, nghị định, nghị quyết, quyết

Trang 13

định do cơ quan nhà nước trung ương hay các cấp chính quyền địa phương banhành) thì chúng đều phải được tuân thủ và thực hiện

Thứ hai, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định.

Việc được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần."Áp dụng nhiều lần" hoàn toàn khác với "áp dụng trong một thời gian dài" Quy tắc xử sự được áp dụng nhiều lần

là khi chủ thể này ở trong tình huống đó thì phải thực hiện cách xử sự đã quy định,khi chủ thể khác ở vào tình huống đó cũng phải thực hiện như vậy Tức là áp dụng

mỗi lần đối với một chủ thể và nhiều lần là ở các chủ thể khác nhau (cũng có thể cùng một chủ thể nhưng ở những lần khác nhau).

Ví dụ: tại Điều 9 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định "Ngườitham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường,phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ", việc tuân thủnguyên tắc này được thực hiện "lặp đi lặp lại" với bất kỳ ai khi tham gia giao thôngđường bộ Đối với Nghị quyết về dự toán và phân bổ ngân sách cho một huyện Btrong năm là 10 tỷ thì đây là nhiệm vụ cụ thể giao cho một chủ thể phải thực hiệntrong một thời gian dài chứ không phải là một quy phạm thực hiện nhiều lần đối vớimọi chủ thể hay một nhóm chủ thể

Thứ ba, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định trong Luật ban hành VBQPPL

Cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền theo quy định của luật gồm: Quốchội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao,Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang

bộ, Tổng kiểm toán nhà nước; đối với VBQPPL ở địa phương, cơ quan nhà nước cóthẩm quyền ban hành là: HĐND, UBND các cấp

Thứ tư, được Nhà nước bảo đảm thực hiện

Các biện pháp bảo đảm thi hành VBQPPL có thể là: tuyên truyền, giáo dục,thuyết phục hoặc các biện pháp về tổ chức, hành chính, kinh tế; trong trường hợp

Trang 14

cần thiết thì Nhà nước áp dụng biện pháp cưỡng chế bắt buộc thi hành và quy địnhchế tài đối với người có hành vi vi phạm.

Như vậy, QPPL gồm 04 đặc điểm cơ bản gắn bó hữu cơ, không tách rời.Bốn yếu tố này đã tạo nên những đặc trưng để phân biệt VBQPPL với văn bản hànhchính thông thường hoặc các loại văn bản khác Việc xác định rõ khái niệm QPPL,VBQPPL và có ý nghĩa quan trọng trong lý luận và thực tiễn Ngoài những ý nghĩathực tế trong quá trình soạn thảo văn bản, việc xác định đâu là VBQPPL, QPPL còn

có ý nghĩa trong quá trình thực hiện các trình tự, thủ tục từ khâu soạn thảo đến khâu

xử lý hậu quả do nội dung trái pháp luật của văn bản gây ra

Nếu xác định là văn bản hành chính thông thường, quá trình soạn thảo vănbản sẽ không phải qua các trình tự, thủ tục bắt buộc về đánh giá tác động, lấy ý kiếngóp ý (trong đó có ý kiến của đối tượng chịu tác động), lấy ý kiến thẩm định của cơquan có thẩm quyền ; trong quá trình ban hành, không phải thực hiện các thủ tụcđăng công báo hoặc niêm yết, công khai văn bản, gửi văn bản để cơ quan có thẩmquyền thực hiện kiểm tra; trong quá trình thực hiện, phạm vi ảnh hưởng và đốitượng tác động của VBQPPL và văn bản hành chính thông thường là hoàn toànkhác nhau; trường hợp phát hiện văn bản đã ban hành có nội dung trái pháp luật, thìphương án xử lý đối với VBQPPL và văn bản hành chính thông thường là khácnhau, trách nhiệm của người đã tham mưu, ban hành văn bản trái pháp luật đó cũngkhác nhau; việc xử lý hậu quả do nội dung trái pháp luật trong văn bản gây ra đốivới hai loại văn bản này cũng không giống nhau

Như vậy, tất cả các VBQPPL, do các cơ quan nhà nước ở trung ương haycác cấp chính quyền địa phương ban hành đều phải có đầy đủ các dấu hiệu nêu trên

1.1.1.2 Vị trí, vai trò văn bản quy phạm pháp luật

Nhà nước, trong mọi trường hợp đều mong muốn tạo ra các thay đổi vàphát triển bằng việc thiết lập môi trường lành mạnh, trong đó, con người có thể ứng

xử theo cách làm tăng sự chuyên môn hóa, sự trao đổi, tăng năng suất lao động vàdẫn đến tăng phúc lợi xã hội Tuy nhiên, làm thế nào để tạo dựng được môi trường

mà ở đó có những hành vi xử sự như nhà quản lý mong muốn? Việc thay đổi thể

Trang 15

chế và quá trình xây dựng thể chế có tác động đến sự phát triển của một đất nước,hay của một địa phương như tỉnh, huyện, xã hay không?

Trong bối cảnh ấy, Nhà nước có thể sử dụng pháp luật như thế nào để quản

lý tốt? Quản lý tốt có nghĩa là xã hội phải phát triển Do đó, pháp luật hay VBQPPLcủa Nhà nước không đơn giản chỉ dừng ở việc điều chỉnh các quan hệ xã hội theonghĩa "bảo đảm trật tự an ninh xã hội" mà ở tầm vĩ mô, pháp luật còn phải phục vụcho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội Với tư cách là công cụ chính, quan trọngcủa các cơ quan quản lý nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội, VBQPPL cóvai trò quan trọng trong việc bảo đảm sự ổn định và phát triển xã hội Khoản 1 Điều 8

Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: "1 Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ" Như vậy, VBQPPL có vai trò vô cùng to lớn trong việc

quản lý xã hội, ở các góc độ sau đây:

Thứ nhất, VBQPPL có thể điều tiết những vấn đề thực tiễn Xã hội ngày

càng phát triển đa dạng, đa chiều với những mối quan hệ phức tạp, nhiều vấn đề liênquan trực tiếp đến sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đang đặt ra cho Nhànước những vấn đề thực tiễn cần phải giải quyết trong quá trình quản lý, điều hành

Thứ hai, VBQPPL thể chế hóa và bảo đảm thực hiện các chính sách Pháp

luật là hình thức thể hiện của các chính sách Pháp luật được ban hành có thể đưa racác biện pháp gián tiếp, thông qua việc tạo ra hành lang pháp lý mà trong phạm vi

đó, từng cá nhân đóng vai trò là động lực Luật pháp có thể đem lại công bằng xã

hội, giảm đói nghèo, tạo ra động lực cho xã hội phát triển Tuy nhiên, cần lưu ý là

phát triển thôi chưa đủ mà còn cần phải phát triển bền vững Yêu cầu phát triển bềnvững đặt ra cho các cơ quan ban hành văn bản của địa phương phải có các biệnpháp quản lý bảo đảm cho sự phát triển bền vững Điều đó có nghĩa là sẽ không chỉkhai thác cạn kiệt các nguồn lực mà không tính các hệ quả tiếp theo và môi trườngsau này Phát triển bền vững đòi hỏi khi đưa ra các biện pháp quản lý, nhà quản lýphải tính đến việc bảo vệ môi trường Bằng các VBQPPL trung ương cũng nhưchính quyền địa phương đưa ra các biện pháp thu hút đầu tư, khuyến khích sự pháttriển của các doanh nghiệp, các cơ chế thực thi hiệu quả

Trang 16

Thứ ba, VBQPPL có thể tạo ra/phân bổ/phát huy các nguồn lực nhằm phát triển kinh tế Pháp luật có thể tạo điều kiện để tăng việc làm và tăng thu nhập Pháp

luật tạo điều kiện cho các chủ sở hữu tiếp cận với các công nghệ thông tin và thịtrường, với các kỹ năng về tín dụng và quản lý, qua đó giúp họ tăng năng suất laođộng và tăng thu nhập Trong trường hợp pháp luật thiếu hiệu quả dẫn đến việc đấtnước hay từng vùng địa phương nghèo đói và kém phát triển, người ta gọi đó là "thểchế có vấn đề" Các nhà soạn thảo cần phải chú ý đưa ra các biện pháp pháp lý để

mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa, thị trường lao động… đồng thời phát huyđược các nguồn lực

Thứ tư, VBQPPL góp phần làm ổn định trật tự xã hội, tạo cơ hội quản lý tốt và phát triển Cần phân biệt quy phạm pháp luật với các quy phạm xã hội khác.

Trong khi các quy phạm mang tính xã hội, dù được xã hội thừa nhận, nhưng vẫnkhông được bảo đảm bằng các biện pháp cưỡng chế của nhà nước, thì trái lại, quyphạm pháp luật luôn luôn được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước

Thứ năm, VBQPPL làm thay đổi các hành vi xử sự không mong muốn và thiết lập các hành vi xử sự phù hợp Muốn tạo điều kiện cho phát triển, chúng ta

cần phải sử dụng pháp luật để làm thay đổi hành vi xử sự của phần lớn nhân dân,đặc biệt là của các cán bộ nhà nước Các cán bộ địa phương một mặt thực hiện cácnhiệm vụ mà pháp luật quy định nhưng mặt khác, đây cũng là sự phó thác củanhân dân đối với đại diện trực tiếp (HĐND) hay gián tiếp (UBND) của mình trong

bộ máy chính quyền Nếu như những người đại diện cho dân chúng không bảođảm cho những người mà họ đại diện có cuộc sống ấm no, an bình nghĩa là họthực hiện trách nhiệm chưa đầy đủ Để tránh việc văn bản pháp luật trao cho cáccán bộ thực thi pháp luật quyền tự định đoạt quá lớn, bên cạnh các cơ quan dân cử,vẫn cần phải có sự tham gia trực tiếp của người dân vào quá trình ra quyết địnhcủa các cơ quan nhà nước Để tránh sự lộng quyền của cán bộ thực thi pháp luật,chỉ có sự quy định chặt chẽ của văn bản pháp luật mới bảo đảm trách nhiệm củanhững cơ quan thực thi pháp luật, cán bộ thực thi pháp luật, từ đó bảo đảm lợi ích

của người dân ''Thiếu sự quản lý bằng pháp luật, cơ chế trách nhiệm, tính minh

Trang 17

bạch và sự tham gia của người dân, các quyết định sẽ trở nên tùy tiện, cán bộ chính quyền sẽ sử dụng quyền lực nhà nước không phải vì lợi ích của đa số nhân dân mà là cho riêng họ''

Tóm lại, VBQPPL có vai trò vô cùng quan trọng: không chỉ quy định các

giá trị mà người quản lý coi đó là giá trị cơ bản của xã hội, không chỉ đưa ra cácbiện pháp khuyến khích thực thi pháp luật, đem lại ổn định trật tự xã hội mà cònbảo đảm cho xã hội phát triển Từ trách nhiệm chung của nhà nước, của quốc gia,mỗi cấp chính quyền địa phương có thể thấy được trọng trách của mình Công cụ đểcác cấp chính quyền địa phương thực hiện quản lý và bảo đảm phát triển chính làpháp luật

1.1.2 Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

1.1.2.1 Khái niệm, mục đích, ý nghĩa của kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

a) Khái niệm kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

Kiểm tra VBQPPL là một khâu quan trọng trong quá trình xây dựng, banhành và thực hiện pháp luật nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thốngnhất của hệ thống pháp luật Kiểm tra văn bản được coi là một trong các hoạt động

"hậu kiểm" tức là sau khi VBQPPL ban hành được ban hành (rà soát, giám sát,kiểm sát kiểm tra văn bản) và đối tượng được kiểm tra là các VBQPPL do các bộ,

cơ quan ngang bộ và chính quyền địa phương ban hành, thời điểm tiến hành kiểmtra văn bản được phân biệt rõ với các hoạt động kiểm tra trước khi VBQPPL đượcban hành (thẩm định, thẩm tra dự thảo VBQPPL) Hoạt động này tách khỏi hoạtđộng soạn thảo, ban hành văn bản

Hoạt động kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên nhằm phát hiệnnhững sai sót của các VBQPPL để kịp thời sửa chữa, khắc phục sai sót đó Do vậy,không phụ thuộc vào việc văn bản có dấu hiệu trái pháp luật hay không, cơ quannhà nước có thẩm quyền kiểm tra văn bản vẫn phải tiến hành kiểm tra văn bản trongphạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình

Trang 18

Các quy định pháp luật về hoạt động kiểm tra văn bản từ trước đến nay đãquy định về khái niệm về kiểm tra văn bản cụ thể như sau: Nghị định số135/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2003 về kiểm tra và xử lý VBQPPL chưađưa ra khái niệm cụ thể về "Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật".

Nghị định số 40/2010/NĐ-CP, ngày 12 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ về

kiểm tra và xử lý VBQPPL "Kiểm tra văn bản là việc xem xét, đánh giá và kết luận

về tính hợp pháp của văn bản nhằm phát hiện những nội dung trái pháp luật, kịp thời đình chỉ việc thi hành, hủy bỏ hoặc bãi bỏ văn bản có nội dung sai trái, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật ".

Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi

tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành VBQPPL "Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là việc xem xét, đánh giá kết quả về tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật được kiểm tra và xử lý văn bản trái pháp luật'.

Từ những nhận định nêu trên và các quy định pháp luật về hoạt động kiểmtra văn bản, thì khái niệm kiểm tra VBQPPL (bao gồm cả VBQPPL của Bộ, cơ

quan ngang Bộ, HĐND, UBNB các cấp ban hành) được hiểu là hoạt động được tiến hành thường xuyên của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các VBQPPL theo quy định của pháp luật, qua đó phát hiện những dấu hiệu trái pháp luật (về thẩm quyền ban hành văn bản; về nội dung văn bản; về căn cứ ban hành, thể thức kỹ thuật trình bày, trình tự thủ tục xây dựng, ban hành văn bản) để kịp thời xử lý, đề xuất, kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xử lý văn bản trái pháp luật, nhằm góp phần bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật

Từ khái niệm trên, hoạt động kiểm tra VBQPPL có những đặc điểm sau:

Đối tượng của hoạt động là các VBQPPL do cơ quan, người có thẩm quyền

thuộc các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương và các cấp chính quyền địaphương ban hành: Đây là đặc điểm khá cơ bản của hoạt động này Theo đó, chỉ các vănbản do hệ thống cơ quan hành chính nhà nước từ cấp bộ trở xuống các cấp chínhquyền địa phương ban hành mới thuộc đối tượng của hoạt động kiểm tra VBQPPL

Trang 19

Chủ thể có thẩm quyền kiểm tra văn bản là người có thẩm quyền trong các

cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương và địa phương: Bao gồm: Thủ tướngChính phủ; bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ; Chủ tịch UBND các cấp

Nội dung của hoạt động kiểm tra là kết luận về tính hợp hiến, hợp pháp,

tính thống nhất của VBQPPL: Cơ quan, người có thẩm quyền có trách nhiệm đốichiếu, đánh giá và kết luận về giá trị pháp lý của văn bản ở các khía cạnh tính hợphiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của văn bản và phải chịu trách nhiệm về kếtluận của mình Văn bản được kiểm tra được coi là hợp hiến hợp pháp, thống nhấtkhi phù hợp với VBQPPL của cấp trên về nội dung, thẩm quyền, căn cứ ban hành,trình tự, thủ tục ban hành văn bản Trên cơ sở kết luận kiểm tra, cơ quan, người cóthẩm quyền kiểm tra văn bản kiến nghị cơ quan đã ban hành văn bản xử lý văn bảnhoặc tự mình xử lý văn bản theo thẩm quyền

Kiểm tra văn bản phải gắn liền với xử lý VBQPPL trái pháp luật: Kiểm tra

VBQPPL có mục đích là phát hiện và xử lý VBQPPL trái pháp luật, góp phần hoànthiện hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ Chủ thể có thẩm quyền xử lý văn bảnbằng các hình thức khác nhau, gồm: đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ toàn bộ hoặcmột phần văn bản trái pháp luật

b) Mục đích, ý nghĩa của hoạt động kiểm tra văn bản QPPL

Kiểm tra văn bản là hoạt động "hậu kiểm", được thực hiện sau khi văn bảnđược ký ban hành, nhằm mục đích:

Thứ nhất, phát hiện những nội dung trái pháp luật của văn bản mà trong giai

đoạn thẩm định, thẩm tra có thể không hoặc chưa phát hiện được để kịp thời đìnhchỉ việc thi hành, hủy bỏ, bãi bỏ, để bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thốngnhất, đồng bộ của văn bản trong hệ thống pháp luật Bảo đảm các VBQPPL củaQuốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đượctriển khai thi hành thống nhất từ trung ương đến địa phương; Tăng cường tínhchuyên nghiệp, kỷ luật, trách nhiệm của các cơ quan, người có thẩm quyền trongquá trình xây dựng, ban hành VBQPPL, góp phần bảo đảm kỷ luật, kỷ cương tronghoạt động ban hành VBQPPL, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng và

Trang 20

hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Thứ hai, bảo đảm tính nghiêm minh trong quản lý nhà nước, góp phần bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, công dân qua đó tăng cườnglòng tin của nhân dân với cơ quan quản lý nhà nước (thực tế cho thấy, một sốVBQPPL trái pháp luật làm suy giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý của cơ quan nhànước và ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, công dân,nếu không được kiểm tra, xử lý kịp thời sẽ ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân đốivới hoạt động của các cơ quan nhà nước)

Thứ ba, thông qua việc xem xét, đánh giá, kết luận về tính hợp pháp của

văn bản, công tác kiểm tra, xử lý chỉ ra những thiếu sót, khiếm khuyết trong quytrình ban hành văn bản, từ đó có kiến nghị nhằm đổi mới, hoàn thiện quy trình xâydựng và ban hành VBQPPL, tạo dựng môi trường pháp lý minh bạch, ổn định, lànhmạnh, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, hội nhập quốc tế

Xuất phát từ mục đích, hoạt động kiểm tra văn bản có ý nghĩa quan trọngtrong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành nói chung và nângcao chất lượng VBQPPL nói riêng, thể hiện ở những điểm sau1:

- Hoạt động kiểm tra VBQPPL góp phần đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp,tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống pháp luật Thông qua hoạt động kiểm tra,những quy định mẫu thuẫn, chồng chéo, trái pháp luật, không phù hợp được loại bỏlàm cho hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch và đảm bảo tính hợp pháp Nếu coihoạt động thẩm định dự thảo VBQPPL là biện pháp "phòng" những dấu hiệu tráipháp luật, không phù hợp của VBQPPL thì kiểm tra văn bản sau khi ban hành làbiện pháp "chống", vì thông qua hoạt động này, các cơ quan nhà nước có thẩmquyền phát hiện những quy định mâu thuẫn, chồng chéo, trái pháp luật của văn bản

mà khi thẩm định có thể chưa hoặc không phát hiện ra Ngoài ra, hoạt động kiểm travăn bản có thể phát hiện và xử lý nhanh chóng, kịp thời những văn bản kiếm khuyết

vì hoạt động này được tiến hành thường xuyên ngay sau khi văn bản được ban hành

1 TS Đoàn Thị Tố Uyên, Cơ sở lý luận và thực tiễn về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở Việt

Nam hiện nay, Nxb công an nhân dân, 2017.

Trang 21

- Duy trì trật tự quản lý nhà nước bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của

cá nhân, tổ chức Trên thực tế cho thấy, một số VBQPPL có dấu hiệu trái pháp luậtđược ban hành đã xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước, làm suy giảm hiệu lực,hiệu quả quản lý nhà nước của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và ảnh hưởng đếnquyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân Vì vậy, thông qua hoạt độngnày, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã kịp thời xử lý, khắc phục những saisót, văn bản trái pháp luật, không phù hợp với văn bản cấp trên, điều này cũng phầnnào bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức

- Nâng cao chất lượng quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL Vì thôngqua việc xem xét, đánh giá VBQPPL, chủ thể tiến hành sẽ chỉ ra được những thiếusót, chưa hoàn chỉnh trong quy trình ban hành, đồng thời có những kiến nghị nhằmđổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng VBQPPL Đối với hoạt động soạn thảo, banhành VBQPPL thông qua việc kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền sẽ phát hiện ra saisót như: Ban hành không đúng thẩm quyền về hình thức và nội dung; không tuânthủ theo trình tự thủ tục xây dựng, ban hành VBQPPL Khi phát hiện và kiến nghị

để xử lý về những vấn đề sai sót, trái pháp luật, không phù hợp, hoạt động kiểm travăn bản cũng đồng thời góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm cơ quan soạn thảo,ban hành VBQPPL

- Hoạt động kiểm tra văn bản có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo tínhkhả thi của VBQPPL, giúp cho những quy định trong văn bản được tổ chức thực hiện,

áp dụng một cách hiệu quả vào thực tiễn theo đúng "mong muốn" của Nhà nước

1.1.2.2 Phân biệt hoạt động kiểm tra với rà soát văn bản QPPL

Hoạt động kiểm tra, rà soát văn bản đều là những hoạt động của các chủ thể

có thẩm quyền nhằm thực hiện quyền lực nhà nước, chúng có chung mục tiêu là bảođảm sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Thực tếtiến hành các hoạt động này, các chủ thể thường nhầm lẫn khi "nhận diện" các hoạtđộng này, dẫn đến mục đích, yêu cầu của hoạt động này "đưa lại" những kết quảkhác nhau, thường là chất lượng không cao, không hiệu quả

Trang 22

Rà soát văn bản là việc xem xét, đối chiếu, đánh giá các quy định của văn

bản được rà soát với văn bản là căn cứ để rà soát, tình hình phát triển kinh tế - xãhội nhằm phát hiện, xử lý hoặc kiến nghị xử lý các quy định trái pháp luật, mâuthuẫn, chồng chéo, hết hiệu lực hoặc không còn phù hợp Từ khái niệm về rà soátvăn bản ta nhận thấy rằng, kiểm tra văn bản và rà soát văn bản đều là cơ chế "hậukiểm" nhằm mục đích bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng bộ của hệthống pháp luật

Tuy có điểm giống nhau đều là tiến hành sau khi văn bản được ban hành vàđều nhằm phát hiện những quy định mẫu thuẫn, trái pháp luật, tuy nhiên, giữa haihoạt động này có những điểm khác nhau cơ bản:

Về đối tượng: Hoạt động kiểm tra văn bản được tiến hành đối với những

văn bản do các bộ, ngành, địa phương ban hành Còn hoạt động rà soát văn bảnđược thực hiện ở phạm vi rộng hơn, ngoài việc rà soát đối với văn bản của các bộ,ngành, địa phương còn tiến hành rà soát văn bản do Quốc hội, Ủy ban thường vụQuốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành

Về thời điểm tiến hành: Kiểm tra văn bản được tiến hành ngay sau khi văn

bản được thông qua hoặc ban hành và căn cứ để đối chiếu kiểm tra là các VBQPPLcủa các cơ quan nhà nước cấp trên mà văn bản được kiểm tra sử dụng làm căn cứban hành hoặc liên quan tại thời điểm ban hành văn bản được kiểm tra đối với ràsoát văn bản được tiến hành trong suốt thời gian văn bản đang có hiệu lực thi hànhkhi có các sự kiện pháp lý nhất định như: tình hình kinh tế - xã hội đã thay đổi hoặckhi cơ quan nhà nước cấp trên ban hành văn bản mới làm cho nội dung văn bản đókhông còn phù hợp hoặc khi cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản mới mà trongvăn bản đó chưa chỉ rõ những văn bản nào trước đây bị hủy bỏ, bãi bỏ, thay thế

Về phạm vi tiến hành: Kiểm tra văn bản xem xét, đánh giá về tính hợp pháp

của văn bản nhằm phát hiện những nội dung trái pháp luật của văn bản Rà soát vănbản, ngoài việc phát hiện quy định trái pháp luật, còn nhằm phát hiện mâu thuẫn,chồng chéo, hết hiệu lực hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế -

xã hội

Trang 23

Về hình thức xử lý: Hoạt động kiểm tra văn bản có các hình thức xử lý là:

đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản; bãi bỏ một phầnhoặc toàn bộ nội dung văn bản; đính chính văn bản Hoạt động rà soát văn bản,ngoài các hình thức như kiểm tra văn bản thì còn có hình thức sửa đổi, bổ sung,thay thế, ban hành văn bản mới, ngưng hiệu lực văn bản Ngoài ra, tùy theo giaiđoạn tiến hành công việc mà trình tự, thủ tục kiểm tra, rà soát cũng được tiến hànhkhác nhau; chủ thể tiến hành cũng khác nhau nếu như công tác kiểm tra VBQPPLchủ yếu tập trung ở cơ quan pháp chế các bộ, ngành, Sở Tư pháp… thì công tác ràsoát văn bản được "tản" đi nhiều cơ quan khác nhau thực hiện

Có thể thấy rõ mục đích của hai hoạt động này là giúp cho việc tìm hiểu,

sử dụng, áp dụng một cách dễ dàng, thuận tiện các văn bản pháp luật, đồng thờiphát hiện những quy định có mẫu thuẫn, chồng chéo để sửa đổi, bổ sung hoànthiện chúng

1.2 Quy định pháp luật hiện hành về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, hoạt động kiểm tra VBQPPL được quyđịnh tại Luật ban hành VBQPPL năm 2015 (Điều 165, Điều 166 và Điều 167) vàNghị định 34/2016/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/5/2016 quy định chi tiết và biệnpháp thi hành Luật ban hành VBQPPL năm 2015 mà trực tiếp là Chương VIII, baogồm những quy định về:

1.2.1 Nguyên tắc kiểm tra văn bản QPPL

Để hoạt động kiểm tra VBQPPL thực sự có chất lượng, hiệu quả, các cơquan có thẩm quyền khi tiến hành kiểm tra văn bản cần phải tuân theo nhữngnguyên tắc cơ bản

Trước hết, bảo đảm tính toàn diện, kịp thời, khách quan, công khai, minhbạch: Nguyên tắc này đòi hỏi cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra văn bản xemxét văn bản được kiểm tra với tất cả những vấn đề có liên quan thật thận trọng,không vì một động cơ hay mục đích cá nhân nào, trong đó có sự phối hợp nhịpnhàng, chặt chẽ với các cơ quan có liên quan, cơ quan, người đã ban hành văn bản

Trang 24

để nắm rõ tình hình và các vấn đề khác liên quan đến văn bản được kiểm tra Trên

cơ sở nghiên cứu, xem xét, cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra văn bản kết luận

về tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản được kiểm tra Đây là một khâu trong quátrình này phải rõ ràng, ai cũng có thể hiểu về quy trình, ai cũng có thể biết được kếtquả của hoạt động kiểm tra một văn bản cụ thể, như các kết luận kiểm tra văn bản,các yêu cầu xử lý văn bản trái pháp luật, hay các quyết định xử lý nội dung trái phápluật của văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền… người dân và doanhnghiệp dễ dàng tiếp cận với các thông tin trên, từ đó, nắm rõ về tình trạng pháp lýcủa một VBQPPL, góp phần cho việc áp dụng pháp luật cũng như việc tự bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, công dân

Đồng thời, việc kiểm tra VBQPPL phải đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục,thông qua việc xem xét, đánh giá VBQPPL, cơ quan, người có thẩm quyền chỉ ranhững thiếu sót, chưa hoàn chỉnh trong quy trình, trình tự ban hành văn bản

Đảm bảo việc kết hợp giữa việc kiểm tra của cơ quan, người có thẩm quyềnvới việc tự kiểm tra của cơ quan, người ban hành văn bản; bảo đảm sự phối hợpgiữa các cơ quan có liên quan Không chỉ cần thiết đối với hoạt động kiểm traVBQPPL mà còn có ý nghĩa đối với nhiều hoạt động khác của quản lý nhà nước, cóvai trò quan trọng trong công việc tạo ra cơ chế lựa chọn phương thức kiểm tra của

cơ quan nhà nước có thẩm quyền Sự kết hợp này thể hiện trong việc cơ quan nhànước ban hành có trách nhiệm gửi ngay VBQPPL đến cơ quan có thẩm quyền kiểmtra văn bản trong thời gian quy định hoặc cung cấp các văn bản là đối tượng kiểmtra khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu

Nguyên tắc cuối cùng đó là không được lợi dụng việc kiểm tra văn bản vìmục đích vụ lợi, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyềnban hành văn bản và can thiệp vào quá trình xử lý văn bản trái pháp luật Cơ quan,người có thẩm quyền kiểm tra văn bản chịu trách nhiệm về kết luận kiểm tra

1.2.2 Đối tượng của hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

Theo quy định tại Điều 103 Nghị định 34/2016/NĐ-CP đối tượng của kiểmtra VBQPPL gồm:

Trang 25

- Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ;

- Thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ vớiChánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

- Nghị quyết của HĐND, quyết định của UBND;

- Văn bản có chứa QPPL nhưng không được ban hành bằng hình thứcVBQPPL; văn bản có chứa QPPL hoặc có thể thức như VBQPPL do cơ quan, ngườikhông có thẩm quyền ban hành

1.2.3 Nội dung kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

Kiểm tra là một trong những nội dung của hoạt động quản lý nhà nước vàmang tính quyền lực nhà nước Biểu hiện rõ nét nhất là cơ quan kiểm tra đượcquyền áp dụng những biện pháp xử lý mang lại hậu quả bất lợi cho cơ quan banhành văn bản Việc cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản "tuyên bố" một vănbản có dấu hiệu trái pháp luật không chỉ mang tính pháp lý đơn thuần mà còn mangtính chính trị bởi nó ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan ban hành văn bản và là biểuhiện tiêu cực của hoạt động quản lý nhà nước Vì vậy, để việc tiến hành kiểm travăn bản khoa học và phù hợp với quy định hiện hành, phải xác định rõ những nội dungkiểm tra là việc xem xét, đánh giá và kết luận về tính hợp hiến, hợp pháp, thốngnhất của văn bản theo quy định tại Điều 104 Nghị định 34/2016/NĐ-CP như sau:

1.2.3.1 Kiểm tra về thẩm quyền ban hành văn bản gồm kiểm tra thẩm quyền về hình thức và kiểm tra thẩm quyền về nội dung

Thứ nhất, đúng thẩm quyền về hình thức là việc cơ quan, người có thẩm

quyền ban hành văn bản theo đúng hình thức (tên loại văn bản) đã được quy địnhcho cơ quan, người có thẩm quyền đó theo quy định tại Điều 4 của Luật ban hànhVBQPPL năm 2015

Ví dụ: Quyết định số 01/2017/QĐ-UBND của UBND huyện Mường Chàquy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Phòng Tư pháphuyện Mường Chà Quyết định số 01/2017/QĐ-UBND ban hành đúng thẩm quyềnhình thức được quy định tại khoản 2 Điều 28 Luật Tổ chức chính quyền địa phương

Trang 26

năm 2015 "Quy định tổ chức bộ máy và nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện".

Thứ hai, đúng thẩm quyền về nội dung là việc cơ quan, người có thẩm

quyền chỉ ban hành các văn bản có nội dung phù hợp với thẩm quyền của mìnhđược pháp luật cho phép hoặc đã được phân công, phân cấp Thẩm quyền này đượcxác định trong các văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn quy định về phân công,phân cấp; văn bản quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước

cụ thể của từng cơ quan, từng cấp, từng ngành đối với từng lĩnh vực

Ví dụ: Quyết định số 01/2017/QĐ-UBND ban hành đúng thẩm quyền vềnội dung được quy định tại khoản 1 Điều 11 Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày5/5/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND

huyện, quận, thị xã thành phố thuộc tỉnh "Điều 11 Ủy ban nhân dân cấp huyện: 1 Quy định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện theo hướng dẫn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh".

Văn bản QPPL được ban hành không đúng thẩm quyền là văn bản ban hànhkhông bảo đảm được các quy định về thẩm quyền nêu trên, thể hiện dưới một sốdạng: Thẩm quyền của cơ quan cấp trên, cơ quan cấp dưới ban hành văn bản để quyđịnh; thẩm quyền của cơ quan này, cơ quan khác không có thẩm quyền ban hànhvăn bản để quy định

Ví dụ: Nghị quyết số 24/2012/NQ-HĐND ngày 20/7/2012 của HĐNDhuyện Tủa Chùa về đặt tên đường phố trên địa bàn thị trấn Tủa Chùa, huyện TủaChùa, tỉnh Điện Biên: Nghị quyết số 24/2012/NQ-HĐND sai thẩm quyền về nộidung, vì theo quy định tại khoản 6 Điều 17 Luật Tổ chức HĐND, UBND năm 2003,

HĐND tỉnh có thẩm quyền "Thông qua đề án thành lập mới, nhập, chia và điều chỉnh địa giới hành chính để đề nghị cấp trên xem xét, quyết định; quyết định việc đặt tên, đổi tên đường, phố, quảng trường, công trình công cộng ở địa phương theo quy định của pháp luật" và Điều 16 Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005

của Chính phủ ban hành quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công

cộng "Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thẩm quyền

Trang 27

quyết định đặt tên, đổi tên đường, phố; công trình công cộng có quy mô lớn, có ý nghĩa quan trọng" Như vậy, theo quy định của Luật Tổ chức HĐND, UBND và

Nghị định số 91/2005/NĐ-CP, việc đặt tên đường phố trên địa bàn thị trấn TủaChùa, huyện Tủa Chùa thuộc thẩm quyền của HĐND tỉnh Điện Biên, văn này đãđược bãi bỏ

1.2.3.2 Kiểm tra văn bản có nội dung phù hợp với quy định của pháp luật

Văn bản có nội dung phù hợp với quy định của pháp luật là văn bản mà nộidung được ban hành phù hợp với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháplệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ tịchnước; các văn bản do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơquan ngang bộ ban hành và các văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn; quyết định củaUBND phải phù hợp với nghị quyết của HĐND cùng cấp; Nghị quyết của HĐNDcấp huyện phải phù hợp với văn bản của các cơ quan nhà nước Trung ương và vănbản của HĐND, UBND cấp tỉnh; Nghị quyết của HĐND cấp xã phải phù hợp vớivăn bản của các cơ quan nhà nước Trung ương, văn bản của HĐND, UBND cấptỉnh và cấp huyện

Ví dụ: Nghị quyết số 69/2017/NQ-HĐND ngày 13/7/2017 của HĐND tỉnh

Điện Biên Ban hành quy định quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện chế độ áp dụngbiện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; chế độ đối với người

tự nguyện chữa trị, cai nghiện tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xãhội và tổ chức cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng, quản lý sau cai nghiện matúy trên địa bàn tỉnh Điện Biên

Khoản 3 Điều 7 Quy định về mức chi hỗ trợ người nghiện ma túy cai

nghiện ma túy tại gia đình và cộng đồng có nội dung: "Tiền thuê người nấu ăn trong thời gian chữa trị, cai nghiện: Nếu có ít nhất từ 30 người cai nghiện trở lên thì được thuê 01 cấp dưỡng với mức hỗ trợ bằng mức lương cơ sở hiện hành" Tuy

nhiên, Điều 13 Thông tư liên tịch số 148/2014/TTLT-BTC-BLĐTBXH không quyđịnh về nội dung hỗ trợ này

Trang 28

Khoản 5, Điểm i, g Khoản 8 Điều 10 Quy định về các khoản đóng góp đốivới người tự nguyện chữa trị, cai nghiện tại Trung tâm có các nội dung:

- "5 Tiền mua sắm vật dụng cá nhân: 960.000 đồng/người/đợt điều trị";

- "g) Tiền mua sắm vật dụng cá nhân: 50.000 đồng/người/tháng";

- "i) Tiền vệ sinh phụ nữ: 20.000đ/người/tháng".

Tuy nhiên, Điều 8 Thông tư liên tịch số 148/2014/TTLT-BTC-BLĐTBXHkhông có các khoản đóng góp này

Khoản 4, 6, 7, 8, 9, 10 Điều 14 Quy định ban hành kèm theo Nghị quyết vềchế độ đóng góp của người sau cai nghiện ma túy áp dụng biện pháp quản lý sau cainghiện tại Trung tâm có quy định các nội dung:

- "4 Tiền điện, nước, vệ sinh: 30.000 đồng/người/tháng";

- "6 Tiền đóng góp sửa chữa cơ sở vật chất: 25.000 đồng/người/ tháng";

- "7 Chi phí quản lý + phục vụ (chi tiền công, khám chữa bệnh, giáo dục, dịch vụ công cộng, thông tin liên lạc…): 100.000 đồng/người/tháng";

- "8 Tiền vệ sinh phụ nữ: 20.000 đồng/người/tháng";

- "9 Học nghề (nếu đối tượng có nhu cầu) theo mức quy định tại Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020";

- "10 Tiền viện phí (nếu trong thời gian cai nghiện đối tượng phải đi điều trị tại bệnh viện): Thực hiện theo điểm c, khoản 1 Điều 4 Thông tư 121/2010/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 12/8/2010 của Bộ Tài chính - Bộ Lao động Thương binh và Xã hội"

Tuy nhiên Điều 3 Thông tư liên tịch số 121/2010/TTLT-BTC-BLĐTBXHngày 12/8/2010 của Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định

về chế độ đóng góp của người sau cai nghiện ma túy áp dụng biện pháp quản lý saucai nghiện tại Trung tâm không có các khoản đóng góp này

Nghị quyết số 354/2014/NQ-HĐND ngày 10/12/2014 của HĐND tỉnhĐiện Biên quy định danh mục mức thu phí, lệ phí và tỷ lệ phân chia tiền thu phí, lệ

Trang 29

phí trên địa bàn tỉnh Điện Biên: có một số nội dung chưa phù hợp với văn bản cấptrên, cụ thể:

Lệ phí trước bạ (đối với ô tô dưới 10 chỗ ngồi kể cả lái xe): Quy định mức

thu lệ phí áp dụng chung 10%, chưa phù hợp với quy định tại Khoản 4 Điều 1 và

Khoản 2 Điều 2 Nghị định số 23/2013/NĐ-CP: "a) Ô tô chở người dưới 10 chỗ ngồi (kể cả lái xe) nộp lệ phí trước bạ lần đầu với mức thu 10%, b) Ô tô chở người dưới 10 chỗ ngồi (kể cả lái xe) nộp lệ phí trước bạ lần thứ 2 trở đi với mức thu 2%

và áp dụng thống nhất trên toàn quốc" Do vậy, cần quy định cụ thể là mức thu lệ

phí 10% là áp dụng cho lần đầu

Quyết định của UBND cấp tỉnh phải phù hợp với văn bản của các cơ quannhà nước Trung ương và nghị quyết của HĐND cấp tỉnh; Quyết định của UBNDcấp huyện phải phù hợp với văn bản của các cơ quan nhà nước Trung ương, văn bảncủa HĐND, UBND tỉnh và nghị quyết của HĐND cấp huyện; Quyết định củaUBND cấp xã phải phù hợp với văn bản của các cơ quan nhà nước Trung ương, vănbản của HĐND, UBND tỉnh, huyện và nghị quyết của HĐND cấp xã

Ví dụ:

- Quyết định số 18/2015/QĐ-UBND ngày 21/10/2015 của UBND tỉnhĐiện Biên ban hành quy chế quản lý đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viênchức thuộc tỉnh Điện Biên: Khoản 1 Điều 5 Quyết định số 18/2015/QĐ-UBND quyđịnh điều kiện để công chức được cử đi đào tạo trung cấp, cao đẳng, đại học: cócam kết thực hiện nhiệm vụ, công vụ sau khi hoàn thành chương trình đào tạo ítnhất gấp 2 (hai) lần thời gian đào tạo; có thời gian công tác ít nhất từ đủ 03 năm trởlên đối với cán bộ, công chức cấp tỉnh, huyện và đủ 02 năm trở lên đối với cán bộ,công chức cấp xã; có cam kết thực hiện nhiệm vụ, công vụ sau khi hoàn thànhchương trình đào tạo ít nhất bằng 2 (hai) lần thời gian đào tạo Đối chiếu theo quyđịnh tại Điều 19; 20 Nghị định số 18/2010/NĐ-CP chỉ quy định trong điều kiệncông chức được cử đi đào tạo trung cấp, cao đẳng, đại học: (1) Cơ quan, đơn vịđược tổ chức, sắp xếp lại (2) Công chức đã được bổ nhiệm vào ngạch, chức vụlãnh đạo mà chưa đáp ứng tiêu chuẩn trình độ đào tạo; (3) Có cam kết tiếp tục thực

Trang 30

hiện nhiệm vụ, công vụ sau khi hoàn thành chương trình đào tạo trong thời gian ítnhất gấp 03 lần thời gian đào tạo Theo đó, việc UBND tỉnh Điện Biên quy địnhđiều kiện để công chức được cử đi đào tạo trung cấp, cao đẳng, đại học như trên làkhông đúng quy định

Theo quy định của pháp luật, công chức, viên chức được cử đi đào tạo, bồidưỡng được cơ quan quản lý, sử dụng bố trí thời gian và kinh phí theo quy định Vìvậy, Điểm b khoản 4 Điều 5 Quyết định số 18/2015/QĐ-UBND quy định côngchức, viên chức không nằm trong quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng của cơ

quan đơn vị được cử đi đào tạo, bồi dưỡng ở các loại hình, hệ đào tạo, bồi dưỡng

phải tự túc toàn bộ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng là không phù hợp.

- Quyết định số 36/2017/QĐ-UBND ngày 28/11/2017 của UBND tỉnh Điện

Biên về việc Ban hành quy định quy trình công nhận sáng kiến trên địa bàn tỉnh

Điện Biên: Điều 5 Quyết định số 36/2017/QĐ-UBND quy định: Các trường hợp

được đặc cách công nhận sáng kiến Tuy nhiên hiện nay pháp luật không quy định

các trường hợp được đặc cách công nhận sáng kiến, theo đó các sáng kiến khi đápứng đủ các điều kiện quy định tại Điều 3, Điều 4 của Nghị định số 13/2012/NĐ-CPthì nộp đơn yêu cầu công nhận sáng kiến và được xem xét công nhận Vì vậy, việcUBND tỉnh Điện Biên ban hành Quyết định quy định các trường hợp được đặc cáchcông nhận sáng kiến, từ đó quy định về thẩm quyền công nhận sáng kiến đối vớitrường hợp đặc cách (Khoản 4 Điều 11 Quyết định số 36/2017/QĐ-UBND) làkhông có cơ sở

- Quyết định số 02/2016/QĐ-UBND ngày 03/11/2016 của UBND huyệnMường Nhé về việc ban hành Quy chế làm việc của UBND huyện Mường Nhénhiệm kỳ 2016-2021: Ghi về thời điểm có hiệu lực chưa đúng quy định tại khoản 1Điều 151 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015

Nội dung trực tiếp đề nghị HĐND huyện xử lý văn bản trái pháp luật củaUBND cấp xã tại điểm c khoản 1 Điều 32 quy chế ban hành kèm theo Quyết định

số 02/2016/QĐ-UBND quy định về việc ký văn bản của Chủ tịch UBND huyện:

"Đình chỉ việc thi hành văn bản trái pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp xã và đề

Trang 31

nghị Hội đồng nhân dân huyện xử lý theo quy định của pháp luật" trái với quy định

tại khoản 2 Điều 120 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP về thẩm quyền của Chủ tịch

UBND cấp tỉnh, cấp huyện trong việc xử lý văn bản trái pháp luật: "1 Đình chỉ việc thi hành nghị quyết trái pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp, báo cáo Ủy ban nhân dân để đề nghị Hội đồng nhân dân cùng cấp bãi bỏ" Trong

trường hợp này Chủ tịch UBND huyện phải báo cáo UBND huyện để đề nghịHĐND huyện bãi bỏ văn bản

- Nghị quyết số 03/2016/NQ-HĐND ngày 01 tháng 8 năm 2016 của HĐNDthị xã Mường Lay về việc phê chuẩn kế hoạch tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội,đảm bảo quốc phòng an ninh 6 tháng cuối năm 2016: Tại Điều 3 Nghị quyết quy

định "Nghị quyết có hiệu lực sau 07 (bảy ngày) kể từ ngày Hội đồng nhân dân thị

xã Mường Lay thông qua…" chưa phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 74 Nghị

định số 34/2016/NĐ-CP "Hiệu lực thi hành của văn bản phải được xác định cụ thểngày, tháng, năm có hiệu lực của văn bản"

Văn bản QPPL không quy định lại các nội dung đã được quy định trongVBQPPL khác

Hiện nay, việc các VBQPPL của các địa phương quy định lại các nội dung

đã được quy định trong VBQPPL khác ở Trung ương còn khá phổ biến, ví dụ:Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND ngày 05/01/2018 của UBND tỉnh Điện Biên vềviệc phân chia nguồn thu tiền chậm nộp cho ngân sách các cấp chính quyền địaphương tỉnh Điện Biên, giai đoạn 2017-2020: Quyết định số 05/2018/QĐ-UBNDquy định lại các nội dung đã được quy định tại Nghị quyết số 84/2017/NQ-HĐNDngày 09/12/2017 của HĐND tỉnh Điện Biên về việc phân chia nguồn thu tiền chậmnộp cho ngân sách các cấp chính quyền địa phương tỉnh Điện Biên, giai đoạn 2017-

2020 là không phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 8 Luật ban hành VBQPPL:

"Văn bản quy phạm pháp luật phải quy định cụ thể nội dung cần điều chỉnh, không quy định chung chung, không quy định lại các nội dung đã được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật khác".

Văn bản do các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành phải bảo

Trang 32

đảm yêu cầu không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

1.2.3.3 Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đúng thể thức và kỹ thuật trình bày

Thể thức là cách thức thể hiện văn bản Nói cách khác đó là tập hợp cácthành phần cấu thành văn bản (bao gồm phần mở đầu, phần nội dung, phần kếtthúc) Thể thức và kỹ thuật trình bày VBQPPL được quy định tại Luật ban hànhVBQPPL năm 2015, Chương V Nghị định số 34/2016/NĐ-CP; VBQPPL được banhành đúng thể thức và kỹ thuật trình bày là văn bản được ban hành tuân theo đúngcác quy định của các văn bản trên

Trong thực tế kiểm tra VBQPPL, nhiều trường hợp văn bản được ban hànhkhông bảo đảm các quy định nêu trên, ví dụ: Số văn bản không được ghi bằng chữ

số Ả Rập (15a, 16a, 30a ); đánh số văn bản còn lẫn giữa VBQPPL với văn bản hànhchính; bố cục văn bản (Phần, Chương, Mục, Điều không có tiêu đề ); phần nơinhận thiếu các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, giám sát, thiếu cơ quan công báo

- Nghị quyết số 01/2016/NQ-HĐND ngày 29/7/2016 của HĐND thành phốĐiện Biên Phủ về một số nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm để thực hiện kế hoạchphát triển kinh tế - xã hội 6 tháng cuối năm 2016: Tại phần căn cứ pháp lý của Nghịquyết số 01/2016/NQ-HĐND chưa tuân thủ quy định tại khoản 3 Điều 61 Nghị định

số 34/2016/NĐ-CP "Căn cứ ban hành văn bản được thể hiện bằng chữ in thường,

kiểu chữ nghiêng, cỡ chữ 14, trình bày dưới phần tên của văn bản; sau mỗi căn cứ phải xuống dòng, cuối dòng có dấu chấm phẩy (;), dòng cuối cùng kết thúc bằng dấu chấm (.)" và mẫu số 20 kèm theo Nghị định số 34/2016/NĐ-CP; Điều 1 Nghị

quyết số 01/2016/NQ-HĐND chưa tuân thủ quy định tại khoản 1, 2 Điều 62 Nghịđịnh số 34/2016/NĐ-CP"

- Quyết định số 11/2017/QĐ-UBND ngày 15/9/2017 của UBND huyệnMường Chà ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chứccủa Phòng Kinh tế và hạ tầng huyện Mường Chà: Bố cục tại Điều 2, 3 quyết địnhchưa phù hợp với quy định của pháp luật: tại khoản 1, khoản 2 Điều 1 bố cục là

Trang 33

điểm 1.1; điểm 1.2; và Điều 3 bố cục văn bản là gạch đầu dòng (-) chưa phù hợp vớiđiểm đ khoản 1 Điều 62 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP

1.2.3.4 Kiểm tra văn bản được ban hành đúng trình tự, thủ tục

Văn bản được ban hành đúng trình tự, thủ tục là văn bản được xây dựng,ban hành tuân thủ đầy đủ các quy định về trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành theoquy định của Luật ban hành VBQPPL năm 2015, Nghị định số 34/2016/NĐ-CP và

ở địa phương tuân thủ theo đúng trình tự, thủ tục được quy định tại Quyết định số13/2018/QĐ-UBND ngày 26/3/2018 của UBND tỉnh Điện Biên Ban hành Quy chếxây dựng và ban hành VBQPPL của UBND tỉnh Điện Biên Cơ quan kiểm tra xemxét về quy trình ban hành văn bản đó (như có lấy ý kiến của cá nhân, tổ chức, đốitượng chịu tác động trực tiếp của văn bản hay không; văn bản có được thẩm địnhhay không )

1.2.4 Phương thức tiến hành kiểm tra văn bản

Song song với việc thực hiện nghiêm các nguyên tắc kiểm tra văn bản thìviệc đa dạng hóa và kết hợp linh hoạt các phương thức kiểm tra văn bản là một yếu

tố quan trọng quyết định đến chất lượng và hiệu quả của công tác kiểm traVBQPPL Phương thức để thực hiện kiểm tra văn bản gồm:

Thứ nhất, tự kiểm tra văn bản Nhằm nâng cao trách nhiệm của cơ quan ban

hành văn bản trong việc đảm bảo không để xảy những dấu hiệu trái pháp luật,không phù hợp với văn bản, quy định cấp trên Thông qua phương thức tự kiểm traVBQPPL, cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản một lần nữa xem xét lại nhưngnội dung được quy định tại Điều 104 của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP

Thứ hai, kiểm tra văn bản theo thẩm quyền Cơ quan kiểm tra theo quy định

pháp luật được phân công khi nhận được văn bản do cơ quan ban hành văn bản gửiđến; khi nhận được yêu cầu, kiến nghị của các cơ quan, tổ chức, cá nhân phản ánh

về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật (hay còn gọi là phương thức kiểm tra văn bảntheo các nguồn thông tin); Kiểm tra văn bản theo chuyên đề, địa bàn (tại cơ quanban hành văn bản) hoặc theo ngành, lĩnh vực, cụ thể:

* Kiểm tra văn bản do cơ quan, người ban hành văn bản gửi đến

Trang 34

Ví dụ: Văn bản của HĐND, UBND cấp tỉnh sau khi ban hành phải được gửiđến Cục Kiểm tra VBQPPL - Bộ Tư pháp và tổ chức pháp chế các bộ có thẩmquyền kiểm tra theo ngành, lĩnh vực; Văn bản của HĐND, UBND cấp huyện gửiđến Sở Tư pháp; Văn bản của HĐND, UBND cấp xã gửi đến Phòng Tư pháp.

* Kiểm tra văn bản khi nhận được yêu cầu, kiến nghị của các tổ chức, cánhân phản ánh về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật;

Ví dụ: Khi cá nhân phản ánh về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật đến Sở

Tư pháp, văn bản phải được phân loại, tổ chức kiểm tra theo thẩm quyền, khi có kếtquả thì thông tin cho cá nhân phản ánh biết

* Kiểm tra văn bản theo địa bàn, chuyên đề, ngành, lĩnh vực thuộc phươngthức kiểm tra theo thẩm quyền Trong đó, kiểm tra văn bản theo địa bàn là việc tổchức kiểm tra văn bản trực tiếp tại cơ quan ban hành; kiểm tra văn bản theo chuyên

đề là việc tổ chức kiểm tra văn bản theo thẩm quyền đối với lĩnh vực, hoặc nhómlĩnh vực mà văn bản điều chỉnh

1.2.5 Quy trình kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

Trong hoạt động kiểm tra VBQPPL, quy trình kiểm tra rất quan trọng ảnhhưởng lớn đến hiệu quả của hoạt động này, quy trình kiểm tra là một chỉnh thể khépkín, gồm nhiều khâu, nhiều bước, từ việc gửi, nhận, tổ chức kiểm tra và kiến nghị

xử lý văn bản Quy trình kiểm tra mà hợp lý, khoa học sẽ giúp cho người kiểm trathực hiện việc kiểm tra được nhanh chóng, hiệu quả và đạt chất lượng cao Theoquy định tại Điều 106 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, việc kiểm tra, xử lý văn bảnđược tiến hành bởi 02 phương thức đã được nêu tại mục 2.4 Phương thức tiến hànhkiểm tra văn bản, đồng thời, kết hợp với những nội dung thực tiễn tại địa phươngkhi tiến hành hoạt động này

1.2.5.1 Quy trình tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

* Thẩm quyền, trách nhiệm tự kiểm tra văn bản

Tự kiểm tra văn bản là hoạt động kiểm tra văn bản được thực hiện bởi cơquan, người có thẩm quyền đã ban hành hoặc liên tịch ban hành văn bản được kiểmtra với tinh thần là tự xem xét, đánh giá tính hợp pháp của văn bản do mình đã ban

Trang 35

hành Tự kiểm tra văn bản nhằm giúp cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hànhvăn bản đó phát hiện nội dung không bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thốngnhất của văn bản do mình ban hành một cách sớm nhất, nhanh nhất để có biện pháp

xử lý kịp thời ngay tại nơi văn bản đó được ban hành Đặc biệt, việc tự kiểm tra vănbản ngay sau khi ban hành có thể tránh được hậu quả do nội dung trái pháp luật gây

ra Hoạt động tự kiểm tra văn bản đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và đềcao ý thức chấp hành đầy đủ trình tự, thủ tục từ quá trình tham mưu, soạn thảo,thẩm định, ký ban hành văn bản, góp phần nâng cao chất lượng xây dựng văn bản ởcác cơ quan, từ đó tạo lập một hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, minh bạch

Việc tổ chức tự kiểm tra văn bản được thực hiện khi cơ quan, người cóthẩm quyền ban hành văn bản hoặc liên tịch ban hành theo quy định, nhận được yêucầu, kiến nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân và các phương tiện thông tin đại chúng

về văn bản do mình ban hành có dấu hiệu trái pháp luật hoặc không còn phù hợp

Theo quy định tại Điều 111 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP thì Bộ trưởng,Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, HĐND, UBND các cấp, chính quyền địa phương ởđơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt tự kiểm tra văn bản do mình ban hành hoặc liêntịch ban hành ngay sau khi văn bản được ban hành hoặc nhận được yêu cầu, kiếnnghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân Để tự mình tiến hành thực hiện hoạt động tựkiểm tra, các chủ thể nêu trên không thể xem xét, đánh giá hiệu quả tốt nhất củahoạt động này, phải có cơ quan, người "giúp việc", "tham mưu" làm để triển khaihoạt động tự kiểm tra theo Điều 111 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, vậy cơ quan,người có trách nhiệm nào giúp các chủ thể nêu trên tự kiểm tra văn bản theo quy định:

Thứ nhất, người đứng đầu tổ chức pháp chế thuộc bộ, cơ quan ngang bộ là

đầu mối giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ thực hiện việc tự kiểm trathông tư, thông tư liên tịch do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh

án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành;

Thứ hai, Cục trưởng Cục Kiểm tra VBQPPL thuộc Bộ Tư pháp là đầu mối

giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện việc tự kiểm tra thông tư, thông tư liên tịch

do Bộ trưởng Bộ Tư pháp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện

Trang 36

kiểm sát nhân dân tối cao ban hành;

Thứ ba, người đứng đầu tổ chức pháp chế cơ quan thuộc Chính phủ phối

hợp với tổ chức pháp chế thuộc bộ mà Bộ trưởng bộ đó đã ban hành văn bản thuộclĩnh vực hoạt động của cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện việc tự kiểm tra văn bản;

Thứ tư, Ban Pháp chế HĐND giúp HĐND thực hiện việc tự kiểm tra văn

bản của HĐND;

Thứ năm, Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng Phòng Tư pháp, người đứng đầu

cơ quan được UBND ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt giao là đầu mối giúpUBND cùng cấp thực hiện việc tự kiểm tra văn bản;

Thứ sáu, công chức tư pháp - hộ tịch giúp UBND cấp xã thực hiện việc tự

kiểm tra văn bản

Để đảm bảo sự thống nhất trong việc xem xét, đánh giá toàn diện hệ thốngVBQPPL, quy định hiện hành còn giao trách nhiệm cho Cục trưởng Cục Kiểm traVBQPPL thuộc Bộ Tư pháp, người đứng đầu tổ chức pháp chế bộ, cơ quan ngang

bộ có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, đơn vị có liên quan thuộc Tòa án nhân dântối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao để tự kiểm tra thông tư liên tịch giữa Bộtrưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Việntrưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Về trách nhiệm chung, các cơ quan, đơn vị có liên quan phải kịp thời cungcấp thông tin, tư liệu, tài liệu cần thiết và phối hợp với Cục Kiểm tra VBQPPL, tổchức pháp chế bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ban Pháp chếHĐND, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, cơ quan được UBND ở đơn vị hành chính - kinh

tế đặc biệt giao, công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã trong việc tự kiểm tra văn bản

* Quy trình tự kiểm tra văn bản

Hoạt động tự kiểm tra văn bản được tiến hành tại chính cơ quan ban hànhvăn bản đối với văn bản do mình ban hành Việc tự kiểm tra văn bản được giao cho

tổ chức pháp chế bộ, cơ quan tư pháp địa phương trực tiếp thực hiện hoặc phâncông cho các đơn vị thuộc bộ, ngành, các sở, ban, ngành tham mưu văn bản tại địaphương thực hiện theo lĩnh vực được giao phụ trách, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ

Trang 37

và phát huy vai trò đầu mối của cơ quan pháp chế, tư pháp trong việc đôn đốc, theodõi, báo cáo kết quả công tác tự kiểm tra văn bản.

Văn bản QPPL sau khi ban hành phải được tổ chức tự kiểm tra kịp thời theoquy định, việc tự kiểm tra được thực hiện như sau:

- Gửi văn bản để tự kiểm tra: Thông thường đối với VBQPPL đã được cơ

quan, người có thẩm quyền ký ban hành, khi phát hành văn bản, cơ quan, đơn vịlàm nhiệm vụ phát hành văn bản có trách nhiệm đồng thời gửi văn bản cho đơn vịđược phân công làm đầu mối tự kiểm tra văn bản đó để thực hiện việc tự kiểm tra.Đối với VBQPPL liên tịch, đơn vị được phân công kiểm tra văn bản của bộ, ngành

có trách nhiệm tự kiểm tra các nội dung thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của bộ,ngành mình, đồng thời, phối hợp với các đơn vị hữu quan thuộc Tòa án nhân dân tốicao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao để kiểm tra toàn bộ nội dung văn bản

Trường hợp nhận được yêu cầu, kiến nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân vềVăn bản có chứa QPPL ban hành không đúng hình thức, thẩm quyền như văn bảncủa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, HĐND, UBND các cấp có chứaQPPL nhưng không được ban hành bằng hình thức Thông tư của Bộ trưởng, nghịquyết của HĐND, quyết định của UBND Văn bản có thể thức và nội dung nhưVBQPPL, văn bản có thể thức không phải là VBQPPL nhưng có chứa QPPL do cơquan, cá nhân không có thẩm quyền ban hành VBQPPL ban hành: Thủ trưởng cơquan thuộc Chính phủ, Thủ trưởng đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quanthuộc Chính phủ ban hành hoặc do Chủ tịch UBND các cấp, Thủ trưởng các cơquan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện, người đứng đầu các cơ quan,đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ được tổ chức ở cấptỉnh, cấp huyện ban hành (bao gồm cả văn bản có thể thức và nội dung như trênđược ký thừa lệnh) thì cơ quan, đơn vị có trách nhiệm ban hành những văn bản đógửi ngay đến cơ quan, đơn vị được phân công để tự kiểm tra

- Nhận văn bản tự kiểm tra: Cơ quan, đơn vị được phân công làm đầu mối

tự kiểm tra phải vào "Sổ văn bản đến" (cần phân biệt rõ Sổ này với Sổ công văn đến của cơ quan kiểm tra) để theo dõi việc gửi và nhận văn bản tự kiểm tra Mục đích

Trang 38

của việc vào sổ là để cơ quan làm đầu mối tự kiểm tra có thể theo dõi, kiểm trađược số văn bản mà cơ quan có thẩm quyền đã ban hành, đồng thời cũng theo dõiđược văn bản đã tự kiểm tra, thời gian kiểm tra đối với văn bản đó.

- Phân công thực hiện tự kiểm tra: Khi nhận được văn bản, lãnh đạo cơ

quan, đơn vị được giao làm đầu mối tự kiểm tra phân công chuyên viên chuyêntrách thực hiện Tùy từng trường hợp, việc tự kiểm tra văn bản có thể do chuyênviên chuyên trách trực tiếp thực hiện hoặc giao cho cộng tác viên trên cơ sở ý kiến

đề xuất của chuyên viên chuyên trách và sự đồng ý của lãnh đạo cơ quan, đơn vịthực hiện tự kiểm tra Dù được thực hiện theo phương án nào thì chuyên viênchuyên trách vẫn là người chịu trách nhiệm theo dõi toàn bộ về các vấn đề liên quanđến văn bản này trong quá trình kiểm tra, từ khâu giao văn bản đến kết quả xử lýcuối cùng, như: thời gian hoàn thành tự kiểm tra, kết quả và chất lượng thực hiện tựkiểm tra, tổ chức các cuộc họp (trong trường hợp phát hiện văn bản tự kiểm tra cónội dung trái pháp luật hoặc không đáp ứng được yêu cầu quản lý), theo dõi quátrình và kết quả xử lý văn bản

- Quá trình tự kiểm tra: Do người kiểm tra thực hiện trên cơ sở đối chiếu

từng nội dung văn bản được kiểm tra với văn bản làm cơ sở pháp lý về từng nộidung kiểm tra được quy định tại Điều 104 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP như: Kiểmtra về thẩm quyền ban hành văn bản gồm kiểm tra thẩm quyền về hình thức và kiểmtra thẩm quyền về nội dung Kiểm tra về nội dung của văn bản Kiểm tra về căn cứban hành; thể thức, kỹ thuật trình bày; trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản.Sau khi kiểm tra, nếu không phát hiện dấu hiệu trái pháp luật, người kiểm tra phải

ký tên vào góc trên của văn bản để xác nhận đã thực hiện việc kiểm tra và nộp kếtquả kiểm tra văn bản không trái pháp luật và chuyển về bộ phận lưu trữ kết quảkiểm tra, để từ đó xem xét, kết luận về tính hợp pháp2 Trường hợp phát hiện vănbản có dấu hiệu trái pháp luật người kiểm tra tiến hành các bước sau:

Bước 1 Lập "Phiếu kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật"

2 Hiện nay, tại tỉnh Điện Biên Sở tư pháp, Phòng Tư pháp thực hiện đối với trường hợp văn bản qua kiểm tra

mà không phát hiện có dấu hiệu trái pháp luật, thì người kiểm tra làm "Báo cáo kết quả kiểm tra văn bản" để báo cáo thủ trưởng đơn vị được phân công làm đầu mối tự kiểm tra xem xét, quyết định.

Trang 39

Khi phát hiện nội dung của văn bản được kiểm tra có dấu hiệu trái phápluật, người kiểm tra văn bản phải báo cáo kết quả kiểm tra và đề xuất xử lý thôngqua "Phiếu kiểm tra văn bản" theo Mẫu quy định.

Bước 2 Hoàn thiện Hồ sơ kiểm tra văn bản; trình thủ trưởng đơn vị được

phân công làm đầu mối tự kiểm tra xem xét, quyết định Hồ sơ kiểm tra văn bản baogồm: văn bản có nội dung trái pháp luật, Phiếu kiểm tra văn bản theo Mẫu số 01Phụ lục III kèm theo Nghị định số 34/2016/NĐs-CP, kết quả xử lý văn bản và cáctài liệu khác có liên quan

Bước 3 Đối với văn bản có nội dung trái pháp luật, đơn vị được phân công

làm đầu mối tự kiểm tra có trách nhiệm phối hợp trao đổi làm rõ những nội dungtrái pháp luật, thống nhất các biện pháp xử lý và chuẩn bị báo cáo với cơ quan,người đã ban hành văn bản đó để xem xét, kịp thời xử lý theo quy định

Bước 4 Báo cáo kết quả tự kiểm tra văn bản gồm những nội dung cơ bản

sau đây: Tên văn bản được kiểm tra, cơ sở pháp lý để tự kiểm tra, quá trình tổ chức

tự kiểm tra, nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra, ý kiến của cơ quankiểm tra văn bản, ý kiến của đơn vị chủ trì soạn thảo văn bản và cơ quan, tổ chức,đơn vị liên quan (nếu có);

Bước 5 Sau khi thống nhất được những nội dung trái pháp luật tùy theo

mức độ trái pháp luật văn bản có thể đưa ra các phương án xử lý cụ thể, biện phápkhắc phục hậu quả

Công bố kết quả kiểm tra: Trên cơ sở báo cáo kết quả tự kiểm tra, cơ quan,

người có thẩm quyền có trách nhiệm xử lý kịp thời văn bản trái pháp luật đã banhành Kết quả xử lý VBQPPL trái pháp luật phải được cơ quan, người đã ban hànhvăn bản đó đăng Công báo, đăng trên Cổng thông tin hoặc Trang thông tin điện tửcủa cơ quan ban hành văn bản hoặc niêm yết tại các địa điểm theo quy định Các cơquan có thẩm quyền sau khi xử lý văn bản có nội dung trái pháp luật theo quy định(kể cả trường hợp văn bản được xử lý bằng hình thức đính chính) có trách nhiệmphải công khai quyết định xử lý văn bản có nội dung trái pháp luật, đưa tin trênphương tiện thông tin đại chúng, đăng trên Công báo, đăng trên Trang thông tin

Trang 40

điện tử của cơ quan ban hành văn bản hoặc được niêm yết tại trụ sở cơ quan banhành hoặc các địa điểm khác do Chủ tịch UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp xãquyết định (đối với văn bản do cấp huyện và cấp xã ban hành) Đối với việc côngkhai kết quả xử lý văn bản trái pháp luật cũng được áp dụng đối với kết quả xử lývăn bản trái pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản tự kiểmtra văn bản do mình ban hành

Kết quả xử lý văn bản có chứa QPPL nhưng không được ban hành bằnghình thức VBQPPL; văn bản có chứa QPPL hoặc có thể thức như VBQPPL do cơquan, người không có thẩm quyền ban hành phải được gửi cho các cơ quan, tổ chức,

cá nhân mà trước đó văn bản đã được gửi Trường hợp văn bản đó đã được đăngCông báo, đăng trên Cổng thông tin hoặc Trang thông tin điện tử của cơ quan banhành hoặc được niêm yết thì kết quả xử lý cũng phải được công bố trên các phươngtiện thông tin đó

1.2.5.2 Quy trình kiểm tra văn bản theo thẩm quyền

* Thẩm quyền, trách nhiệm kiểm tra văn bản theo thẩm quyền

Kiểm tra văn bản theo thẩm quyền là xem xét, đánh giá và kết luận về tínhhợp pháp của văn bản được kiểm tra của cơ quan, người có thẩm quyền ở bộ,ngành, địa phương đối với các văn bản có quy định liên quan đến lĩnh vực quản lýnhà nước của bộ, ngành, địa phương mình Nhằm bảo đảm nội dung của văn bản đãban hành phù hợp với pháp luật về lĩnh vực quản lý nhà nước của bộ, ngành có liênquan trong văn bản đó; bảo đảm sự phù hợp của văn bản được ban hành với văn bản

có hiệu lực pháp lý cao hơn Hoạt động kiểm tra theo thẩm quyền thực chất là sự

"kiểm soát chéo" giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện pháp luật và cóthể, từ hoạt động này mà những nội dung không phù hợp với pháp luật không đượcphát hiện ở giai đoạn tự kiểm tra sẽ được xem xét, đánh giá lại, bảo đảm tính hợphiến, hợp pháp của văn bản

Cũng như hoạt động tự kiểm tra văn bản, kiểm tra văn bản theo thẩm quyềnđược thực hiện bởi các cơ quan có thẩm quyền, cụ thể như sau:

Ngày đăng: 20/02/2023, 20:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Lê Hồng Sơn (Chủ biên) (2006), Tình huống nghiệp vụ kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, tập 1, tập 2, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình huống nghiệp vụ kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, tập 1, tập 2
Tác giả: Lê Hồng Sơn
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2006
16. Lê Hồng Sơn (2007), "Vai trò của công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật", Dân chủ và pháp luật, (Số chuyên đề) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
Tác giả: Lê Hồng Sơn
Nhà XB: Dân chủ và pháp luật
Năm: 2007
17. Lê Hồng Sơn (chủ biên) (2010), Nghiệp vụ kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật
Tác giả: Lê Hồng Sơn
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2010
18. Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2003), Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
Tác giả: Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2003
19. Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên (2014), Báo cáo số 331/BC-UBND ngày 28/11/2014 về công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật năm 2014 trên địa bàn tỉnh Điện Biên, Điện Biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 331/BC-UBND ngày 28/11/2014 về công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật năm 2014 trên địa bàn tỉnh Điện Biên
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên
Năm: 2014
21. Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên (2016), Báo cáo số 09/BC-UBND ngày 13/01/2017 về công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật năm 2016 trên địa bàn tỉnh Điện Biên, Điện Biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 09/BC-UBND ngày 13/01/2017 về công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật năm 2016 trên địa bàn tỉnh Điện Biên
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên
Năm: 2016
22. Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên (2017), Báo cáo số 379/BC-UBND ngày 29/12/2017 về công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật năm 2017 trên địa bàn tỉnh Điện Biên, Điện Biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 379/BC-UBND ngày 29/12/2017 về công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật năm 2017 trên địa bàn tỉnh Điện Biên
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên
Nhà XB: Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên
Năm: 2017
24. Đoàn Thị Tố Uyên (2012), Kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Đoàn Thị Tố Uyên
Nhà XB: Trường Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2012
25. Đoàn Thi Tố Uyên (2017), Lý luận và thực tiễn về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thực tiễn về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Đoàn Thi Tố Uyên
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2017
26. Viện Khoa học pháp lý (2003), Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện, Đề tài nghiên cứu khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
Tác giả: Viện Khoa học pháp lý
Nhà XB: Đề tài nghiên cứu khoa học
Năm: 2003
20. Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên (2015), Báo cáo số 173/BC-UBND ngày 19/19/2015 về công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trên địa bàn tỉnh Điện Biên, Điện Biên Khác
23. Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên (6/2018), Báo cáo số 167/BC-UBND ngày 18/6/2018 sơ kết 6 công tác tư pháp 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ giải pháp công tác 6 tháng cuối năm 2018, Điện Biên Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w