1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bài giữa kì nckh 30tr

29 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài giữa kì nckh 30tr
Trường học Trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng
Chuyên ngành Quản trị và Phát triển nguồn nhân lực
Thể loại Bài giữa kỳ nghiên cứu
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 198,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 1 Lời mở đầu 1 Đặt vấn đề Trong những năm gần đây xã hội đang thay đổi từng ngày với một tốc độ chóng mặt Nó bị ảnh hưởng bởi những luồng tư tưởng từ khắp nơi xâm nhập vào Vì thế mà xã hội ngày[.]

Trang 1

Chương 1: Lời mở đầu

1 Đặt vấn đề:

Trong những năm gần đây xã hội đang thay đổi từng ngày với một tốc độchóng mặt Nó bị ảnh hưởng bởi những luồng tư tưởng từ khắp nơi xâm nhậpvào Vì thế mà xã hội ngày càng phát triển nhưng bên cạnh đó nó cũng làm thayđổi về tư tưởng, về lối sống của nhiều người

Đặt biệt ở đây, một vấn đề rất được quan tâm là lối sống của sinh viênngày nay.Nói đến sinh viên Việt Nam tức là nói đến một thế hệ trẻ đầy đủ sứcsống và sức sáng tạo Họ nắm trong tay tri thức của thời đại, chìa khóa mở racánh cửa cho tiến bộ xã hội nói chung và sự phát triển đất nước nói riêng Vềmặt số lượng, sinh viên là lực lượng không nhỏ Về mặt chất lượng, sinh viên làlớp người trẻ được đào tạo toàn diện và đầy đủ nhất, bao gồm các chuyên ngànhhọc trên khắp các lĩnh vực tự nhiên, xã hội, khoa hoc chịu ảnh hưởng củanhiều yếu tố: chuyên ngành học, khu vực sinh sống và học tập, lối sống của sinhviên Việt Nam nhìn chung là rất đa dạng và phong phú

Nhưng xã hội ngày văn minh hiện đại, công nghệ thông tin ngày càngphát triển, công cuộc hội nhập với thế giới càng cao, đời sống con người càngđược nâng cao thì đặt ra cho sinh viên, tầng lớp tri thức, giới trẻ ngày nay càngnhiều thử thách Khi mà các nền văn hóa phương Tây, đang du nhập vào ViệtNam, có những điều tốt đẹp nhưng không ít những giá trị văn hóa không thíchhợp với tư tưởng, truyền thông của phương Đông, câu hỏi đặt ra là sinh viên,tầng lớp tri thức sẽ thích ứng thế nào với một môi trường mới? Họ sẽ chọn lọcnhững cái hay, cái đẹp phù hợp với bản thân hay học theo cái xấu không phùhợp để rồi dần dần đánh mất đi những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Mỗingười có một cách thích ứng riêng nên nó đã tạo nên nhiều lối sống trong sinhviên và giới trẻ

Sinh viên là lớp thanh niên trí thức đại diện và quyết định cho tương laiđất nước, chính vì thế, để có một tương lai tốt đẹp cho nước nhà, đội ngũ sinh

Trang 2

viên phải được bồi dưỡng song song giữa kiến thức và kĩ năng, kinh nghiệm.Kiến thức thì trong trường dường như cung cấp gần đủ mọi thứ cho sinh viên,sinh viên chỉ cần việc học và hiểu Còn phần kĩ năng, kinh nghiệm nhiều sinhviên học hỏi từ những câu lạc bộ kĩ năng mềm hay tìm kinh nghiệm từ việc làmthêm ngoài giờ học Nhưng, để tìm một việc làm thêm phù hợp với năng lực haykhả năng của sinh viên, không ảnh hưởng đến việc học tập quả là khó Cũng vìthế, việc bàn về việc làm thêm của sinh viên là một điều quan trọng.

2 Lí do chọn đề tài:

Việc làm thêm hiện nay đã không còn là hiện tượng nhỏ lẻ mà đã trởthành một xu thế Nó đã gắn chặt với đới sống học tập, sinh hoạt của sinh viênngay cả khi đang còn ngồi trên ghế nhà trường Không những vì mục đích làtăng thêm thu nhập mà còn giúp sinh viên tích lũy được nhiều kinh nghiệm, trảinghiệm thực tế, học hỏi thực tế nhiều hơn Vốn dĩ việc làm thêm là một xu thếhiện nay là do kinh tế thị trường đang cạnh tranh mạnh mẽ, kiến thức xã hội vàkiến thức thực tế ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tư duy cũng như khả năng làmviệc của sinh viên sau khi tốt nghiệp

Tuy nhiên, một kết quả học tập tương đối tốt, những khái niệm tích lũydồi dào, này có đạt được hay không tùy vào khả năng sắp xếp, cân đối thời gianhọc và làm của bản thân họ Bởi khi đi làm thêm nghĩa la bạn phải chấp nhậnquỹ thời gian eo hẹp, áp lực cũng như những khó khăn gặp phải trong cuộc sốnglàm thêm của mình

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng khảo sát: thực trạng làm thêm của sinh viên trong các trường Đại học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Trang 3

- Khách thể nghiên cứu: sinh viên của trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng.

- Phạm vi nghiên cứu: trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng

5 Phương pháp nghiên cứu:

5.1 Thiết kế bảng hỏi,tiến hành điều tra5.1.1 Thiết kế bảng hỏi

Xuất phát từ thực tế và mục đích nguyên cứu,chúng tôi chia đối tượngnghiên cứu làm hai mảng chính:Những người đi làm thêm và những ngườikhông đi làm thêm

Chúng tôi xây dựng bảng hỏi dựa trên những nội dung như mức độ biểuhiện ảnh hưởng, nguyên nhân và giải pháp của việc đi làm thêm Đối với nhữngngười đi làm thêm, chúng tôi có thêm những câu hỏi như: bạn làm thêm, chúngtôi có thêm những câu hỏi như: bạn làm công việc tay chân hay đầu óc, mộtngày làm bao nhiêu ca, một ca bao nhiêu tiếng, mức lương nhận được là baonhiêu

Để đảm bảo tính chặt chẽ và khả thi của việc nghiên cứu, chúng tôi tiếnhành thiết kế hai lần bảng hỏi Bảng hỏi lần 1 sẽ bổ sung cho bảng hỏi lần 2

5.1.2 Tiến hành điều tra

Sau khi thiết kế bảng hỏi xong, chúng tôi tiến hành điều tra thử lần 1 là

30 khách thể

Sau khi chỉnh sửa bảng hỏi chúng tôi tiến hành điều tra chính thức trên 60khách thể

5.2 Phương pháp xử lý số liệu

Sau khi việc điều tra kết thúc,chúng tôi tiến hành xử lí số liệu

Đầu tiên là phải chỉnh dữ liệu bằng việc kiểm tra chọn lọc những phiếuhợp lệ, phiếu tốt

Sau đó sử dụng phần mềm SPSS,excel để xử lý số liệu và vẽ biểu đồ

5.3 Phương pháp phân tích,tổng hợp,so sánh

5.3.1 Tiến hành điều tra:

5.3.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh:

Trang 4

Phân tích là nghiên cứu các tài liệu, lý luận khác nhau bằng cách phân tíchchúng thành từng bộ phận để tìm hiểu sâu sắc về đối tượng Tổng hợp là liênkết từng mặt, từng bộ phận thông tin đã được phân tích tạo ra một hệ thông

lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc về đối tượng

6 Khái niệm:

Theo cố vấn Văn phòng lao động Quốc tế giăng Mute đưa ra quan điểm “việc làm như một tình trạng, trong đó có sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật, do

có sự tham gia tích cực có tính chất cá nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản suất

Theo ông Đinh Văn Hường, chủ nhiệm Khoa Báo Chí ở một trường tại

Hà Nội “ việc làm thêm đối với sinh viên theo quan niện của tôi có nghĩa là sựtham gia làm việc ngay khi vẫn đang học ở trường tại các công ty, các tổ chức,các đơn vị, cá hộ gia đình với mục đích có thêm nhu nhập hoặc với mục tiêuhọc hỏi, tích lũy kinh nghiệm, cọ sát hơn với thực tế cuộc sống…

Trên đây là một số quan niệm đi làm thêm đối với sinh viên hiện nay, từ

đó rút ra khái niệm chung về đi làm thêm của sinh viên “ việc làm thêm đối vớisinh viên có nghĩa là sự tham gia làm việc ngay khi vẫn đang học ở trường tạicác công ty, cơ sở hay hộ gia đình mà không bị pháp luật ngăn cấm, không làmảnh hưởng nhiều đến việc học tập…với mục đích có thêm thu nhập hoặc cóthêm kinh nghiệm, cọ sát trong cuộc sống

Trang 5

Chương 2: Cơ sở lí luận:

1 Các thuyết liên quan

1.1 Thuyết nhu cầu của Maslow

Theo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hainhóm chính: nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs)[cầndẫn nguồn]

Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như mongmuốn có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ Những nhu cầu cơ bản nàyđều là các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng đủnhững nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại được nên họ sẽ đấu tranh để có được vàtồn tại trong cuộc sống hàng ngày

Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao.Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng,

an tâm, an toàn, vui vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhânv.v

Trang 6

Các nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên chú ý trước so với những nhu cầubậc cao này Với một người bất kỳ, nếu thiếu ăn, thiếu uống họ sẽ không quantâm đến các nhu cầu về vẻ đẹp, sự tôn trọng Tuy nhiên, tuỳ theo nhận thức,kiến thức, hoàn cảnh, thứ bậc các nhu cầu cơ bản có thể đảo lộn Ví dụ như:người ta có thể hạn chế ăn, uống, ngủ nghỉ để phục vụ cho các sự nghiệp cao cảhơn Ngược lại, theo chủ thuyết cách mạng vô sản, của cải, sở hữu tài sản là nhucầu số một bỏ qua các nhu cầu bậc cao khác

1.2 Thuyết nhận thức-hành vi:

Sơ lược về Thuyết hành vi: S -> R -> B (S là tác nhân kích thích, R làphản ứng, B là hành vi) Thuyết cho rằng con người có phản ứng do có sự thayđổi của môi trường để thích nghi Như vậy, khi có 1 S sẽ xuất hiện nhiều R củacon người, nhưng dần dần sẽ có 1 R có xu hướng lặp đi lặp lại do chúng ta đượchọc hay được củng cố khi kết quả của phản ứng đó mang lại điều gì chúng tamong đợi Như vậy theo thuyết này thì hành vi con người là do chúng ta tự học

mà có và môi trường là yếu tố quyết định hành vi (Do trời mưa, do tắc đườngnên nghỉ học…) Các mô hình trị liệu hành vi vì thế mà nhiều khi được sử dụngmột cách sai lầm như phương pháp thưởng phạt Phương pháp này gây cho đốitượng cảm giác bị áp đặt

Thuyết nhận thức-hành vi:

- Thuyết trị liệu nhận thức – hành vi hay còn gọi là thuyết trị liệu nhận thức(behavioral cognitive therapy) bởi nền tảng của nó là các ý tưởng hành vi hoặc

là trị liệu nhận thức xã hội do sự liên kết của nó với lý thuyết học hỏi xã hội

- Nội dung của thuyết: thuyết này cho rằng: chính tư duy quyết định phản ứngchứ không phải do tác nhân kích thích quyết định Sở dĩ chúng ta có nhữnghành vi hay tình cảm lệch chuẩn vì chúng ta có những suy nghĩ không phù hợp

Do đó để làm thay đổi những hành vi lệch chuẩn chúng ta cần phải thay đổichính những suy nghĩ không thích nghi

- Mô hình: S -> C -> R -> B

Trang 7

Trong đó: S là tác nhân kích thích, C là nhận thức, R là phản ứng, B là kết quảhành vi.

Giải thích mô hình: Theo sơ đồ thì S không phải là nguyên nhân trực tiếp củahành vi mà thay vào đó chính nhận thức C về tác nhân kích thích và về kết quảhành vi mới dẫn đến phản ứng R

- Quan điểm về nhận thức và hành vi: 2 quan điểm

+ Theo các nhà lý thuyết gia nhận thức- hành vi thì các vấn đề nhân cách hành

vi của con người được tạo tác bởi những suy nghĩ sai lệch trong mối quan hệtương tác với môi trường bên ngoài (Aron T Beck và David Burns có lý thuyết

về tư duy méo mó) Con người nhận thức lầm và gán nhãn nhầm cả từ tâm trạng

ở trong ra đến hành vi bên ngoài, do đó gây nên những niềm tin, hình tượng, đốithoại nội tâm tiêu cực Suy nghĩ không thích nghi tốt đưa đến các hành vi củamột cái tôi thất bại

+ Hầu hết hành vi là do con người học tập (trừ những hành vi bẩm sinh), đềubắt nguồn từ những tương tác với thế giới bên ngoài, do đó con người có thểhọc tập các hành vi mới, học hỏi để tập trung nghĩ về việc nâng cao cái tôi, điềunày sẽ sản sinh các hành vi, thái độ thích nghi và củng cố nhận thức

=> Như vậy, lý thuyết này cho ta thấy rằng cảm xúc, hành vi của con ngườikhông phải được tạo ra bởi môi trường, hoàn cảnh mà bởi cách nhìn nhận vấn

đề Con người học tập bằng cách quan sát, ghi nhớ và được thực hiện bằng suynghĩ và quan niệm của mỗi người về những gì họ đã trải nghiệm

Như vậy, thuyết này mang tính nhân văn cao cả và đúng đắn khi đã đặt đúngtrọng tâm vai trò của chủ thể con người trong hành vi của họ (khác với thuyếthành vi coi trọng yếu tố tác nhân kích thích; thuyết học tập xã hội coi trọng yếu

tố thói quen hay học tập)

1.3 Thuyết trao đổi và lựa chọn hợp lý:

Xã hội được hiểu là mạng lưới các quan hệ trao đổi giữa các cá nhân.Nguyên tắc trao đổi là “cùng có lợi”, vì vậy cá nhân phải cân nhắc, tính toánthiệt hơn để theo đuổi mục đích cá nhân

Trang 8

Thuyết này dựa vào tiền đề cho rằng con người luôn hành động một cách có chủđích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng nguồn lực một cách duy lý nhằm đạtkết quả tối đa với những chi phí tối thiểu.

Mỗi cá nhân đều xuất phát từ động cơ duy lý là: lự chọn hành động nào đem lạilợi ích nhất với chi phí và thiệt hại nhỏ nhất Nhưng trong điều kiện thiếu thôngtin, thiếu sự hợp tác, tức là thiếu tính xã hội nên từng hành động lựa chọn hợp lýcủa cá nhân đã ngăn cản việc xuất hiện một giải pháp, một kết cục tốt nhất cho

cả hai

1.4 Thuyết hệ thống:

Lý thuyết hệ thống được đề xướng năm 1940 bởi nhà sinh vật nổi tiếngLudwig và Bertalanffy Ông sinh năm 1901 tại Vienna, mất năm 1972 tại NewYork- Mĩ Sau này lý thuyết hệ thống được các nhà khoa học khác nghiên cứu

và phát triển như Hanson (1995), Mancoske (1981), Siporin (1980)

Nhìn nhận ở góc độ xã hội, thuyết hệ thống là một bộ phận không thế táchrời của quan điểm sinh thái Hành vi của con người không phải bộc lộ tự phátmột cách độc lập mà nằm trong mối quan hệ qua lại với những hệ thống kháctrong xã hội Thật vậy, con người là một bộ phận của xã hội chịu sự tác độngcủa hệ thống xã hội Sự thay đổi ở bất kỳ mắc xích nào trong hệ thống xã hộicũng tạo ra những ảnh hưởng đến hệ thống con người nằm trong nó, cụ thể là hệthống các cá thể thuộc xã hội đó

1.5 Thuyết hành vi

Tiếp cận hành vi là một trong những cố gắng rất lớn của tâm lý học thế giớiđây thế kỉ XX, nhằm khắc phục tính chủ quan trong nghiên cứu các hiện tượngtâm lý thời đó Kết quả đã hình thành một trường phái có ảnh hưởng mạnh mẽđến sự phát triển của tâm lý học Mỹ vả thế giới thế kỷ XX, mà đại biểu xuất sắc

là nhà tâm lý học kiệt xuất: J.Watson (1878-1958), E.Tomen (1886-1959), E.LTocdike (1874-1949)

Trang 9

Theo quan niệm chung, cũng như quan niệm động năng tâm lý vẫn chorằng hành vi luôn xuất phát từ một quá trình từ ý thức con người Song chúng

ta có thể đặt ra một câu hỏi liệu rằng môi trường có gây tác động đến nhữnghành vi của con người hay là bản thân hành vi thể tự do bộc lộ theo đúng nhưmong muốn của con người Lý thuyết học tập xã hội không phủ nhận việc coihành vi diễn ra sau quá trình tâm trí của con người Vì vậy các hành vi đã đượcbộc lộ ra bên ngoài mà thôi Quan điểm này làm nên một phần trường phái hànhvi

Thuyết hành vi cổ điển bắt nguồn từ cơ sở của tâm lý cho rằng con người

có phản ứng do có một sự thay đổi của môi trường, gọi là tác nhân kích thích.Phản ứng của con người là nhằm thích nghi với tác nhân kích thích này Biểudiễn dưới dạng mô hình

Sinh viên có thể tìm kiếm việc làm thêm thông qua những kênh chủ yếunhư từ bạn bè, phương tiện thông tin đại chúng, qua nhà trường cụ thể là hộisinh viên và qua các trung tâm giới thiệu việc làm, trung tâm gia sư

Trang 10

Đi làm thêm có những tác động kể tích cực và tiêu cực đến kết quả họctập của sinh viên.

Chính từ nhận định trên nhóm chúng tôi đã xây dựng nên bảng hỏi sau đểphục vụ cho quá trình điều tra, khảo sát

PHIẾU KHẢO SÁT

Hiện nay, tình trạng sinh viên đi làm thêm diễn ra ngày càng phổ biến.Việc sinh viên đi làm thêm có nhiều yếu tố tích cực song cũng không ít tiêu cực.Với mục đích tìm hiểu “ Thực trạng làm thêm của sinh viên hiện nay” để hoànthành đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên Chúng tôi_sinh viên khoa Tâm LýGiáo Dục, trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng làm phiếu khảo sát này Rất mongnhận được sự đóng góp ý kiến của các bạn

Những thông tin thu thập được, chúng tôi sẽ sử dụng vào mục đíchnghiên cứu và hoàn toàn được giữ bí mật

A MỨC ĐỘ

A.1 Theo bạn, có tình trạng đi làm thêm ở sinh viên hiện nay không?

Có Không A2 Nếu có, bạn vui lòng cho biết mức độ đi làm thêm ở sinh viên hiện naynhư thế nào?

A Hiếm khi B Thỉnh thoảng C Thường xuyên D Rất thường

bao giờ

Thỉnhthoảng

Thườngxuyên

Rất thườngxuyênH1

2

Đi học xin về sớm

Đi học muộn

Trang 11

3

4

5

Ngủ gật trong lớpMất tập trung

Làm việc riêng

Thi lại, học lại

Biểu hiện khác C1

Rèn luyện kĩ năngsống

Trang 12

Tạo được nhiều mối

giờ

Thỉnhthoảng

Thườngxuyên

RấtthườngxuyênCQ

1

Muốn có thêm khoảng

tiền tiết kiệm

Trang 13

“giết” thời gian rãnh

Muốn hoàn thiện bản

thân

Muốn thể hiện mình

Có cơ hội rèn luyện

bản thân

Muốn nâng cao khả

năng giao tiếp

Trang 14

Thườngxuyên

Trang 15

tâm giới thiệu việc làm

+ Giai pháp khác

G Thông tin cá nhân:

Bạn vui lòng có thể cho biết:

 Trường:

 Lớp:

 Giới tính:

 Năm sinh:

 Nơi ở: Thành phố Nông thôn

Chương 2: Cách thức tổ chức

Nhóm chúng tôi, xây dựng bảng hỏi lần 1, gồm 30 bảng hỏi trên 30 khách thể Hầu hết, các bảng hỏi đã được các khách thể hoàn thành một cách thuyết phục

Xây dựng bảng hỏi lần 2, điều tra 60 bảng hỏi trên 60 khách thể khác nhau Là lần thứ 2 đi điều tra nên nhóm chúng tôi có kinh nghiệm hơn trong khi đi điều tra cũng như xử lí số liệu

Ngày đăng: 20/02/2023, 20:34

w