1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Phan tich kho tho thu 2 trong trang giang cua huy can ngu van 11 chon loc (1)

7 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích khổ thơ thứ hai trong trang giang của huy cận ngu văn 11 chon loc (1)
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Bài luận phân tích
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 204,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 Đề bài Phân tích khổ thơ thứ hai bài “Tràng giang” Huy Cận “Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu, Đây tiếng làng xa vãn chợ chiều, Nắng xuống, trời lên sâu chót vót Sông dài, trời rộng, bến cô liêu” 1 Phân tí[.]

Trang 1

Đề bài: Phân tích khổ thơ thứ hai bài “Tràng giang” - Huy Cận

“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu, Đây tiếng làng xa vãn chợ chiều, Nắng xuống, trời lên sâu chót vót:

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”

1 Phân tích đề

- Yêu cầu: phân tích nội dung khổ thơ thứ hai bài Tràng giang

- Phạm vi tư liệu, dẫn chứng : từ ngữ, chi tiết tiêu biểu trong khổ thơ thứ hai của bài Tràng giang (Huy Cận)

- Phương pháp lập luận chính: phân tích

2 Hệ thống luận điểm

- Luận điểm 1: Khung cảnh cồn bến hoang vắng trong nắng chiều

- Luận điểm 2: Tâm trạng của thi nhân

3 Lập dàn ý chi tiết:

a) Mở bài

- Giới thiệu đôi nét về tác giả và tác phẩm:

+ Huy Cận (1919 - 2005) là nhà thơ tiêu biểu với tiếng thơ yêu đời, lạc quan và tràn đầy sức sống, một thi sĩ hàng đầu trong phong trào Thơ mới

+ Tràng giang là sáng tác tiêu biểu nhất của Huy Cận giai đoạn trước năm 1945, được in trong tập Lửa thiêng, là tiếng lòng của một chàng thi sĩ đa sầu đa cảm

- Dẫn dắt vào vấn đề: Khổ hai bài thơ đã tái hiện lên một khung cảnh cồn bến hoang vắng trong nắng chiều, tô đậm thêm nỗi cô đơn của con người

b) Thân bài

* Khái quát chung

- Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ được sáng tác vào một buổi chiều thu vào năm

1939, Huy Cận đứng ở bờ Nam bến Chèm bên sông Hồng ngắm cảnh không

Trang 2

- Giá trị nội dung: Bài thơ diễn tả tâm trạng, cảm xúc của thi nhân khi đứng trước cảnh sông nước bao la trong một buổi chiều đầy tâm sự

- Ý nghĩa nhan đề:

+ “Tràng giang” gợi hình ảnh một con sông dài, rộng lớn

+ Tác giả đã sử dụng từ Hán Việt để gợi không khí cổ kính trang nghiêm Tác giả còn sử dụng từ biến âm “tràng giang” thay cho “trường giang”, hai âm "ang"

đi liền nhau đã gợi lên trong người đọc cảm giác về con sông, không chỉ dài vô cùng mà còn rộng mênh mông, bát ngát

- Câu thơ đề từ: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” gợi nỗi buồn sâu lắng trong lòng người đọc Đồng thời cho người đọc thấy rõ hơn cảm xúc chủ đạo của tác giả xuyên suốt tác phẩm Đó là tâm trạng “bâng khuâng”; nỗi buồn mênh mang, không rõ nguyên cớ nhưng da diết, khôn nguôi Đó còn là không gian rộng lớn “trời rộng sông dài” khiến hình ảnh con người càng trở nên nhỏ bé, lẻ loi, tội nghiệp

* Phân tích khổ 2 bài thơ Tràng giang

Luận điểm 1: Khung cảnh cồn bến hoang vắng trong nắng chiều

- Nỗi lòng nhà thơ được gợi mở nhiều hơn qua hình ảnh quạnh vắng của không gian lạnh lẽo:

“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

+ Góc nhìn của nhân vật trữ tình lúc này bao quát hơn, rộng hơn khi từ cảnh sông Hồng chuyển sang không gian bao la của trời đất, bến bờ Đó là một không gian vắng lặng, yên tĩnh: có cảnh vật (cồn, gió, làng, chợ…) nhưng cảnh vật lại quá ít ỏi, nhỏ nhoi (nhỏ, xa, vãn )

+ Từ láy “lơ thơ” diễn tả sự thưa thớt, rời rạc của những cồn đất nhỏ nhoi mọc lên giữa dòng tràng giang Trên những cồn đất nhỏ đó, mọc lên những cây lau,

Trang 3

sậy, khi gió thổi qua thì âm thanh phát ra nghe man mác, nghe “đìu hiu” não ruột

+ Có âm thanh nhưng âm thanh ấy lại phát ra từ ngôi “chợ chiều” đã “vãn” mà làng lại xa nên không đủ sức làm cho cảnh vật sinh động, có hồn

+ Chỉ một câu thơ mà mang nhiều sắc thái gợi lên âm thanh xa xôi, không rõ rệt:

"Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều"

• “Đâu tiếng làng xa” có thể là câu hỏi "đâu" như một nỗi niềm khao khát, mong mỏi của nhà thơ về một chút sự hoạt động, âm thanh sự sống của con người

• Cũng có thể là "đâu có", một sự phủ định hoàn toàn, vì chung quanh đây chẳng hề có chút gì sống động để xua bớt cái tịch liêu của thiên nhiên Tất cả vẫn chỉ là sự im lặng bao trùm lên dòng chảy tràng giang

Luận điểm 2: Tâm trạng của thi nhân

- Hai câu thơ tiếp theo, không gian được mở ra bát ngát:

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”

+ Huy Cận đã vẽ nên một khung cảnh không gian ba chiều rộng lớn: có chiều cao (nắng xuống, trời lên), có chiều rộng (trời rộng) và cả chiều dài (sông dài), thậm chí là có cả độ “sâu”

-> Vũ trụ thì bao la, vô tận, còn con người thì quá nhỏ bé, cô độc lẻ loi

+ Nhà thơ nhìn lên bầu trời và thấy bầu trời “sâu chót vót”:

• Cách dùng từ thật độc đáo vì nhà thơ không dùng từ “cao” mà dùng từ “sâu”

• “Cao” chỉ độ cao vật lý của bầu trời, còn “sâu” không chỉ diễn tả được độ cao vật lí mà còn diễn tả được sự rợn ngợp trước không gian ấy

Trang 4

-> Đó chính là sự rợn ngợp trong tâm hồn của thi nhân trước cái vô cùng của vũ trụ

=> Cách sử dụng từ hết sức mới lạ bởi tác giả đã lồng chiều cao vào chiều sâu; ông đang ngắm cảnh bầu trời cao “chót vót” dưới mặt nước “sâu” thăm thẳm Không gian càng rộng, hình ảnh con người lại càng nhỏ bé, cô độc, lẻ loi đến tội nghiệp

+ Hình ảnh “bến cô liêu” với âm hưởng man mác của hai chữ “cô liêu” ấy, một lần nữa lại gợi ra một nỗi buồn nhân thế, nỗi buồn về sự sống quá nhỏ nhoi, rất hữu hạn trong thiên nhiên, mà vũ trụ thì cứ mở ra mãi đến vô tận, vô cùng

=> Không gian càng vắng lặng rộng lớn bao la thì hình ảnh con người càng cô đơn đến tột cùng Nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, bao trùm lên cảnh vật

=> Khổ thơ thứ 2 cho ta thấy được tâm trạng buồn bã, băn khoăn, ngơ ngác trước những ngã rẽ của cuộc đời Thi nhân cảm nhận rõ sự nhỏ bé, lẻ loi, cô độc của một kiếp người giữa dòng đời rộng lớn Đây không phải là nỗi buồn của cá nhân ông mà là cảm xúc chung của cả một thế hệ, đặc biệt là giới văn nghệ sĩ đầu thế

kỉ XX

* Đặc sắc nghệ thuật

- Bài thơ là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp cổ điển và hiện đại:

+ Cổ điển ở thể thơ, cách đặt nhan đề, bút pháp “tả cảnh ngụ tình”

+ Còn hiện đại trong việc xây dựng thi liệu, đặc biệt là cách dùng từ mới lạ “sâu chót vót”

- Sử dụng từ ngữ chọn lọc đắt giá, giàu giá trị gợi hình biểu cảm

- Ngắt nhịp thơ hiệu quả

c) Kết bài

- Khái quát giá trị nội dung khổ thơ thứ 2 bài “Tràng giang”

- Nêu cảm nhận của em

Trang 5

4 Phân tích khổ 2 bài “Tràng giang” tham khảo:

“Tràng giang” là bài thơ kiệt tác của Huy Cận rút trong tập thơ “Lửa thiêng” 1940) Bài thơ có một câu đề từ rất đậm đà: "Bâng khuâng trời rộng, nhớ sông dài” Tác giả đã có lần nói: “Tràng giang là một bài thơ tình và tình gặp cảnh, một bài thơ về tâm hồn”, “Tràng giang” tiêu biểu cho vẻ đẹp của hồn thơ Huy Cận trước cách mạng: hàm súc, cổ điển, giàu chất suy tưởng triết lí, thấm thía một nỗi buồn nhân thế “sầu trăm ngả" Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn trường thiên, có 4 khổ thơ hợp thành một bộ tứ bình về tràng giang một chiều thu Nếu cả bài thơ “Tràng giang” là một bức tranh sông nước rợn ngợp những nỗi buồn, nỗi sầu thương thì khổ thứ hai trong bài đã gợi lên một khung cảnh hoang vắng đến xác xơ, tiều tụy

“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều Nắng xuống trời lên sâu chót vót Sông dài trời rộng bến cô liêu.”

Cảm nhận chung về những dòng thơ này là một khung cảnh hoang vắng Làng xóm ven sông vắng lặng, cảnh sông nước thật mênh mang trong một không gian nhiều chiều Câu thơ đã gợi ra cảnh tượng: một vài cồn cát chạy nổi giữa dòng sông với sự đơn độc, lẻ loi Trên những cồn cát đó chỉ thấy lơ thơ vài cây mọc hoang Đây là dòng sông mùa nước, nước sông cứ dềnh mãi lên Cảnh tượng thực này lại mang rất nhiều tính biểu tượng trong nó Nếu trước đó ta thấy con thuyền bị vây bủa bởi những lớp sóng như những nỗi buồn điệp điệp thì ở đây ta lại gặp con người như những cồn cát nhỏ bé, chơi vơi đang bị dòng lũ cuộc đời nhấn chìm dần Hình tượng thơ đó còn gợi lên cảm giác suy ngẫm

về những cuộc đời trong xã hội cũ Tất cả đều được sắp đặt, an bài, đều bị phủ lấp Hình ảnh những cồn cát lơ thơ giữa dòng nước gợi một cái gì thật buồn bã trước sự trùm phủ Nó chẳng khác nào cành củi khô, nhỏ bé lập lờ giữa dòng nước mênh manh Trong khung cảnh đó, thoáng những cơn gió đìu hiu Cái cảm giác đìu hiu như lan tỏa, khung cảnh câu thơ như gợi ra sự quạnh quẽ, hoang tàn

Trang 6

Đây là sự kế thừa và sáng tạo bút pháp của Chinh phụ ngâm Chính Huy Cận đã cho biết:ông viết dòng thơ này với sự ảnh hưởng từ thơ Chinh phụ ngâm:

"Non Kì quạnh quẽ trăng treo Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò”

Câu thơ “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều” có nhiều cách hiểu khác nhau Đâu

đó, đâu đây hình như đang vẳng lại những tiếng lao xao của cảnh chợ chiều Những tiếng chợ chiều vẳng lại trong gió đã gợi được cái tĩnh lặng của khung cảnh Phải yên tĩnh lắm mới có thể nghe được những âm thanh đó Nhưng những tiếng lao xao của cảnh chợ chiều lại chỉ gợi ra những gì là tàn tạ, thê lương Bởi còn gì buồn hơn cảnh chợ chiều, chợ tàn Cảnh ở đây vắng lặng đến tuyệt đối Cảnh không những không có sự hoạt động của con người mà ngay đến âm thanh của hoạt động đó cũng không có Dẫu sao thì cảnh ở đây vẫn thiếu một cái gì đó

có thể lôi cuốn, vỗ về con người Dù là có hay không có những âm thanh của tiếng chợ chiều, ta vẫn không thấy được bất kì mối liên hệ nào giữa những cồn cát lơ thơ và tiếng chợ chiều Thế nhưng tất cả vẫn gắn với nhau trong một biểu hiện chung, gợi lên những cảm giác cô đơn, buồn bã và hiu hắt

“Nắng xuống trời lên sâu chót vót Sông dài trời rộng bến cô liêu.”

Đến hai câu thơ này, ta lại thấy gợi lên một nỗi buồn mênh mang khắp sông dài trời rộng Tạo vật ở đây có nhiều nét độc đáo Độc đáo trước hết ở chỗ tạo dựng không gian: những chữ “xuống, lên, dài, rộng, sâu” đã gợi được một không gian nhiều chiều, có cài gì thăm thẳm hun hút, lại có cái dài rộng, mênh mang Chút nắng chiều sót lại, rơi xuống tạo cảm giác bầu trời như cao thêm lên Những tia nắng của ngày tàn đó đang rơi vào thăm thẳm để đẩy bầu trời lên cao chót vót,

xa vời Nhưng cái nhìn của Huy Cận hướng về bầu trời lại thấy cảm giác sâu chót vót như ông bị hút vào cái thăm thẳm của bầu trời trong một cảm giác rợn

Trang 7

thứ ba gợi cảm nhận về bầu trời cao thì câu thứ tư lại gợi về hình ảnh dòng sông dài, rộng mênh mang Câu “nắng xuống trời lên sâu chót vót” gợi sự hiu hắt còn câu "sông dài trời rộng bến cô liêu” lại gợi một nỗi sầu dằng dặc Mặt khác hai dòng thơ này còn tạo sự kết hợp mang cảm giác vũ trụ - cảm giác thường thấy ở thơ Huy Cận Giữa hai dòng thơ ta còn thấy một sự đăng đối: "sâu chót vót - bến

cô liêu” Sự đăng đối này tạo ra quan hệ ý nghĩa: mối sầu chất ngất bắt đầu từ cái thăm thẳm của bến cô liêu Huy Cận đã dùng cái thực tế để biểu hiện cái hư ảo khó thấy và lại dùng cái hư ảo để lột tả tinh thần của cái thực tế đến tàn nhẫn Cũng với những dòng thơ này ta còn thấy nỗi buồn của Huy Cận đã vượt khỏi lòng mình để nhuộm sầu cả vũ trụ Nhân vật trữ tình trong Tràng giang có nỗi buồn mênh mang, trải khắp và thấm đượm cả một không gian bát ngát, bao la Sông dài, trời rộng, vũ trụ mênh mang và nỗi buồn của con người cũng là vô tận Phân tích khổ thơ thứ hai bài Tràng giang thấy rõ rằng: Nếu trước đó ta thấy

sự tương phản giữa cành củi và dòng sông thì ở đây ta lại gặp sự đối lập giữa bến

cô liêu và sông dài trời rộng Đây vẫn là cái nhìn tương quan trong cảm giác về con người giữa vũ trụ vô cùng

Khổ thơ thứ hai khép lại trong cái cô liêu chơi vơi của cả lòng người và tạo vật, cảnh sắc tràng giang là một không gian nghệ thuật đẹp mà buồn, vẻ đẹp của những dòng sông trên mọi miền đất nước hội tụ trong tâm hồn thi nhân, vẻ đẹp của tình yêu quê hương, tình yêu sông núi Tình yêu đó mang nỗi buồn sông núi, nỗi buồn về đất nước của Huy Cận, của thế hệ các nhà thơ thời tiền chiến

“Tràng giang” đã hợp lưu trong lòng người hơn 60 năm rồi Đọc đoạn thơ trên,

ta mới thấu hiểu nỗi lòng thi nhân trước Cách mạng: “Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm ”

Ngày đăng: 20/02/2023, 18:59

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w