I Đề án môn học LỜI NÓI ĐẦU Trong những năm gần đây , nhờ có chủ trương , đường lối , chính sách khuyến khích khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống của Đảng và nhà nước ta thì các làng ng[.]
Trang 1
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây , nhờ có chủ trương , đường lối , chính sáchkhuyến khích khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống của Đảng vànhà nước ta thì các làng nghề truyền thống đã có sự phát triển mạnh mẽ , sốlượng các làng nghề tăng nhanh , nhiều nghề truyền thống có nguy cơ bị maimột , thất truyền nay được khôi phục và phát triển trở lại Các làng nghề truyềnthống phát triển đã tạo ra những chuyển biến mới trong đời sống xã hội ở nôngthôn , thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá -hiện đại hoá nông thôn, góp phần tạoviệc làm và tăng thu nhập cho người lao động , nâng cao đời sống dân cư trongvùng , hạn chế được việc dịch chuyển lao động không có việc làm từ nông thôn
ra thành thị , tạo ra một khối lượng hàng hoá đa dạng và phong phú phục vụtiêu dùng và xuất khẩu , góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hộicủa cả nước và đồng thời góp phần gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc…Điều nàythể hiện đường lối khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống của Đảng vànhà nước ta là một hướng đi đúng đắn góp phần cho sự nghiệp phát triển đấtnước thời kì hiện nay Tuy nhiên , song song với đó thì sự phát triển làng nghềtruyền thống cũng đã phát sinh nhiều vấn đề bức xúc, ảnh hưởng trực tiếp đếnchính các làng nghề , cũng như sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội của vùngnông thôn và của cả nước Vấn đề quan trọng và nổi bật nhất chính là việc quản
lý và sử dụng đất làng nghề truyền thống và tình trạng ô nhiễm môi trường trầmtrọng tại các làng nghề này xét thấy tầm quan trọng của vấn đề trên , em đã
quyết định chọn đó làm nội dung đề án của mình với tên đề án: “Giải pháp quản lý và sử dụng đất làng nghề truyền thống Bát Tràng.”
Trang 2
Ở Nông thôn Việt Nam , Làng đã được hình thành và phát triển từ thời
xa xưa trong lịch sử đất nước Làng được dùng để chỉ tụ điểm dân cư truyền
thống của người nông dân Việt , có ranh giới riêng, có cơ cấu tổ riêng …nhưnglại rất chặt chẽ và hoàn chỉnh do có tính liên kết chặt chẽ bằng tình cảm ,họ tộc ,phong tục tậpquán riêng Mỗi một làng đều có những nét truyền thống riêngbiệt về phong tục , tập quán , lối sống Vì vậy đều có những bản sắc văn hoá
riêng của làng Làng Quan niệm về làng vẫn chưa có sự thống nhất chung
nhưng đều có những điểm chung và có thể hiểu như sau:
Làng là một thuật ngữ để nói về khối dân cư ở nông thôn gồm nhiều gia đình
sinh sống quần tụ và có sự liên kết nhất định hình thành một khối khá thống nhất
Làng nghề : Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư thôn , ấp , bản ,
làng , buôn , phun , sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã , thịtrấn , có các hoạt động ngành nghề nông thôn , sản xuất ra một hoặc nhiều loạisản phẩm khác nhau
Làng nghề Việt Nam đã hình thành và phát triển rất phong phú và đa dạng
về lịch sử quá trình hình thành và phát triển , về quy mô và về ngành nghề củalàng Trong quá trình phát triển , làng nghề được lan rộng và theo lịch sử hìnhthành và phát triển có làng nghề truyền thống và làng nghề mới
Nghề truyền thống là nghề đã đươc hình thành từ lâu đời , tạo ra những sản
phẩm độc đáo , có tính riêng biệt , được lưu truyền và phát triển đến ngày nayhoặc có nguy cơ bị mai một , thất truyền
Trang 3Làng nghề truyền thống : là làng nghề có nghề truyền thống được hình
thành lâu đời , trải qua thử thách của thời gian , vẫn được duy trì , phát triển vàđược lưu truyền từ đời này sang đời khác
Làng nghề truyền thống có lịch sử phát triển lâu đời với nghề truyềnthống Qua quá trình phát triển lâu dài , làng nghề truyền thống hình thành lênnhững nét văn hoá đặc trưng của riêng làng và đó chính là nét văn hoá truyềnthống Những ngày hội làng , ngày giỗ tổ nghề…luôn được coi trọng và gìn giữ
ở làng nghề truyền thống Ở đó , những nét văn hoá đặc trưng của nông thônViệt Nam luôn tồn tại Là nơi hội tụ những thuần phong mỹ tục , đoàn kết cộngđồng , tinh hoa nghề nghiệp , nếp sinh hoạt quần cư Nghề truyềnthống cùngnhững nét văn hoá truyền thống được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác 1.1.2.Tiêu chí xác định làng nghề , làng nghề truyền thống
Những tiêu chí chung đưa ra để có thể xác định làng nghề , ngành nghề
truyền thống , làng nghề truyền thống :
Tiêu chí công nhận là nghề truyền thống: Nghề được công nhận
là nghề truyền thống phải đạt 3 tiêu chí : (1) Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ
50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận (2) Nghề tạo ra những sản phẩmmang tính bản sắc văn hoá dân tộc (3) Nghề gắn với tên của nghệ nhân hay địadanh của làng nghề
Tiêu chí công nhận là làng nghề : làng nghề được công nhận phải đạt 3 tiêuchí : (1) Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngànhnghề nông thôn (2) Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tínhđến thời điểm đề nghị công nhận.(3) Chấp hành tốt chính sách , pháp luật củaNhà nước
Tiêu chí công nhận là làng nghề truyền thống : Phải đạt tiêu chí làng nghề và
có ít nhất một nghề truyền thống theo khái niệm nói trên Nếu chưa đạt tiêuchuẩn số hộ tối thiểu như đã quy định tại tiêu chí công nhận làng nghề thì cũngphải có ít nhất một nghề thống được công nhận là làng nghề truyền thống
Trang 4Ngoài những tiêu chí chung đưa ra ở trên , mỗi địa phương sẽ quy định cụ thểdựa trên thực tế địa phương Còn đưa ra các tiêu chí vê flao động , số hộ , giá trịsản xuất và thu nhập từ nghề truyền thống
Sự phát triển của các làng nghề truyền thống đã tạo ra những chuyển biến to lớntrong đời sống xã hội nông thôn :
Một là , Tạo ra một khối lượng hàng hoá đa dạng , phong phú phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Các làng nghề truyền thống đang dần được khôi
phục và phát triển đã tạ ra khối lượng hàng hoá đa dạng và phong phú không chỉđáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn vươn tới nhiều thị trường nướcngoài Mỗi một làng nghề lại có một nghề đặc trưng , sảm phẩm mang tính riêngbiệt , độc đáo và đậm tính văn hoá của mỗi vùng miền ví dụ như : Gốm sứ BátTràng , Tranh Đông Hồ , may tre đan Dương Quang, Giấy Dương Ổ…Những sảnphẩm làng nghề rất phong phú và đa dạng , xuất khẩu sản phẩm làng nghề trongnhững năm qua đóng vai trò quan trọng cho việc đóng góp giá trị gia tăng nền
Trang 5kinh tế mỗi địa phương nói riêng và cả nước nói chung Các sản phẩm làng nghềViệt nam đã có mặt ở nhiều nước trên thế giới , trong đó có các thị trường lớn nhưHoa Kỳ , EU, Nhật Bản …Năm 1991, xuất khẩu sản phẩm làng nghề cả nước đạt6,8 triệu USD, năm 2000 là 30 triệu USD và năm 2007 đạt trên 78 triệu USD…
Hai là, Phát triển làng nghề truyền thống là biện pháp hữu hiệu để giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn Người lao động ở nông thôn
chủ yếu là làm nông nhiệp cho thu nhập thấp , tình trạng thiếu việc làm là phổbiến , nhất là những lúc nông nhàn Chính vì vậy có sự dịch chuyển lao động ồ
ạt từ nông thôn ra thành thị , gây sức ép quá tải cho các thành phố , nhất là đốivới những thành phố lớn Trong những năm qua , các làng nghề được khôi phục
và phát triển đã tạo việc làm cho hơn 60 vạn lao động thường xuyên ở nông thôn, khoảng 30 vạn lao động làm việc theo thời vụ chiếm 39,5% lực lượng lao độngnông thôn Có những làng nghề phát triển , các hộ trong làng đã chuyển hếtsang sản xuất kinh doanh nghề , không làm nông nghiệp nữa ví dụ như : BátTràng ( Hà Nội) Cả nước có 1,4 triệu hộ tham gia sản xuất nghề và có nguồnthu nhập chính từ nghề thủ công , đã phần nào giải quyết được tình trạng thiếuviệc làm ở nông thôn Nhiều làng nghề sau khi được khôi phục và phát triển đãtận dụng được nhiều lao động dư thừa trước đây Nhiều làng nghề tạo việc làmcho cả người già và trẻ em Không những thế , các làng nghề còn thu hút laođộng của vùng lân cận đến làm thuê tại làng
Ba là ,Góp phần thúc đẩy gia tăng thu nhập , cải thiện đời sống dân cư ở nông thôn và tăng tích luỹ Thu nhập của người dân ở các làng nghề không
ngừng tăng lên Trước đây khi làng nghề chưa phát triển , sản xuất nghề truyềnthống mới chỉ được coi là nghề phụ gắn với sản xuất nông nghiệp để giải quyếtviệc làm lúc nông nhàn Hiện nay ở nhiều làng nghề phát triển , thu nhập từlàm nghề truyền thống đã trở thành thu nhập chính của các hộ gia đình Thunhập bình quân đầu người của một lao động làm nghề đã cao gấp 2-3 lần laođộng thuần nông Nhiều làng nghề không còn hộ gia đình nào sản xuất nông
Trang 6người dân tăng cao , họ có điều kiện để cải thiện đời sống gia đình Đời sốngvật chất và tinh thần của người dân được tăng lên Người dân cũng có điều kiện
tự cải tạo hệ thống cở hạ tầng kỹ thuật và xã hội của địa phương phục vụ cho đờisống sinh hoạt và sản xuất
Bốn là, Phát triển làng nghề truyền thống làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế , đóng vai trò quan trọng cho sự nghiêp công nghiệp hoá , hiện đại hoá nông thôn Sự phát triển của các làng nghề truyền thống đã có tác dụng tích cực cho
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành côngnghiệp , tiểu thủ công nghiệp ,xây dựng , dịch vụ , giảm tỉ trong ngành nôngnghiệp trong tổng sản phẩm xã hội Những công trình cơ sở hạ tầng nông thônđược xây dựng phục vụ sản xuất và sinh hoạt Đời sống dân cư nông thôn đượccải thiện theo hướng hiện đại hoá , dần rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữathành thị và nông thôn
Năm là, Góp phần gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc Nghề truyền thống
gắn liền với làng tạo nên nét đặc trưng của làng nghề truyền thống ở nông thônViệt Nam Khi nghề truyền thống được khôi phục và phát triển , song song vớilối sống hiện đại hoá do đời sống được cải thiện, những phong tục truyền thốngcủa làng cũng được khôi phục và gìn giữ như ngày hội làng , ngày giỗ tổ củanghề…Văn hoá truyền thống cũng được thể hiện qua những sản phẩm của làngnghề Nét văn hoá truyền thống cũng được gìn giữ và thể hiện qua những sảnphẩm mang tính nghệ thuật như các sản phẩm gốm sứ , trạm khảm …
1.2 Vị trí, vai trò của quản lý, sử dụng hợp lý đất làng nghề truyền thống cho sự phát triển bền vững của làng nghề
Thực tế những năm qua đã chỉ rõ vai trò quan trọng của sự phát triển làng
nghề góp phần vào quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đang diễn ra mạnh
mẽ nói riêng và sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung Điều đó thể hiện chủ trương khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống củaĐảng và Nhà nước ta là một hương đi đúng đắn Tuy nhiên chính sự phát triểncủa những làng nghề này cũng đã và đang phát sinh ra nhiều vấn đề bức xúc ảnh
Trang 7hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững của các làng nghề , cũng như sự pháttriển kinh tế - xã hội của vùng nông thôn Một trong những vấn đề quan trọng,không thể coi nhẹ đó là vấn đề quản lý và sử dụng đất tại các làng nghề nó có
ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của các làng nghề bởi nó tác động trực tiếp hoặcgián tiếp tới các vấn đề bức xúc khác đang tồn tại ở làng nghề truyền thống Mặt khác công tác quy hoạch sử dụng đất tại các làng nghề hầu như chưađược coi trọng Trong khi cần phải có những tiêu chuẩn , những quy định riêng
về quản lý , sử dụng đất làng nghề cho hợp lý với tính chất của các làng nghề thìviệc quy hoạch sử dụng đất tại các làng nghề vẫn còn chung chung giống nhưcác địa phương khác , chưa cụ thể , chưa mang đặc tính riêng Quy hoạch không
dự báo chính xác nhu cầu phát triển nên gây ra sự thiếu , thừa trong sự phân bổcho các mục đích khác nhau Việc quản lý đất đai , xây dựng còn yếu kém ,không kiểm soát được sự hình thành các cơ sở sản xuất ngành nghề truyềnthống một cách tự phát , lẫn lộn , chen chúc trong khu dân cư gây ô nhiễm môitrường nghiêm trọng và gây ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của người dân Việc quy hoạch , xây dựng những cụm công nghiệp làng nghề ở một số làngnghề đã có nhiều điểm tích cực , nhất là trong việc giảm thiểu ô nhiễm môitrường và tăng hiệu quả đầu tư phát triển nghề truyền thống
Như vậy , việc quản lý và sử dụng đất hợp lý tại các làng nghề truyềnthống có vai trò rất quan trọng , ảnh hưởng lớn đến sự phát triển bền vững củachính các làng nghề này và sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của cả nước Nhất là vào giai đoạn tới khi công cuộc công nhiệp hoá , hiện đại hoá đất nước
là nhu cầu bức thiết , quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước
1.3.Chủ chương, chính sách của nhà nước về vấn đề quản lý , sử dụng đất hợp lý phục vụ cho phát triển làng nghề truyền thống
1.3.1 Chủ trương , đường lối về sự phát triển các ngành nghề nông thôn, làngnghề truyền thống
Trang 8Thời kỳ trước đổi mới , khi đất nước vừa bước vào thời kỳ khôi phục kinh
tế sau chiến tranh , Đảng và nhà nước ta đã thấy rõ được tầm quan trọng củangành nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn đối với sự nghiệp khôi phục vàphát triển kinh tế - xã hội đất nước Thời kỳ này Đảng và nhà nước ta đã cónhiều Nghị quyết , chỉ thị đề ra phương hướng, biện pháp khôi phục và phát
triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp như : Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (1977) và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (1981) tiếp chủ trương khôi phục vàphát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn ; đặc biệt là khôi phục
và phát triển các ngành nghề truyền thống
Bước vào thời kỳ đổi mới , Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (05/04/1988)
đã triển khai chủ trương , đường lối của Đảng tại Đại hội Đảng bộ toàn quốc lầnthứ VI về phát triển công nghiệp , tiểu thủ công nghiệp , vận tải dịch vụ ở nôngthôn dưới nhiều hình thức , trong từng vùng và tiểu vùng Chú trọng đầu tư xâydựng những cơ sở sản xuất với quy mô vừa và nhỏ nhưng kỹ thuật hiện đại ,công nghệ thích hợp để tạo nhiều mặt hàng tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
có giá trị cao ra thị trường nước ngoài Thực tế kết quả của quá trình phát triển
đã thể hiện chủ trương khôi phục và phát triển ngành nghề truyền thống , làngnghề truyền thống của Đảng và nhà nước ta là một hướng đi đúng đắn Chủtrương này luôn được đề cập trong các văn kiện của các kỳ Đại hội Đảng toànquốc lần thứ VII, VIII, IX của Đảng với mục tiêu thúc đẩy quá trìn công nghiệphoá , hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn theo đường lối đổi mới của Đảng ; TạiHội nghị lần thứ năm của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã ra Nghịquyết về đẩy nhanh công nghiệp hoá , hiện đại hoá nông nghiệp , nông thôn thời
kỳ 2001-2010 , trong đó đã chỉ rõ việc phát triển kết cấu hạ tầng và đô thị hoá
nông thôn cũng như vạch ra giải pháp về quy hoạch :’’ Quy hoạch phát triển nông nghiệp , nông thôn phải dặt trong tổng thể chung của cả nước , trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế , sự phát triển mạnh mẽ của khoa học , công nghệ
…Quản lý , cập nhật thông tin kịp thời điều chỉnh quy hoạch ; Quy hoạch xây dựng xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội ; quy hoạch phát triển khu dân cư ,
Trang 9xây dựng làng xã , thị trấn …giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc” Năm 2006 ,
chính phủ ban hành Nghị định 66/ 2006 /NĐ-CP (ngày 07/07/2006) về phát triểnngành nghề nông thôn , trong đó nhấn mạnh chương trình bảo tồn , phát triểnlàng nghề bao gồm : bảo tồn , phát triển làng nghề truyền thống , phát triển làngnghề gắn với du lịch , phát triển làng nghề mới , phong tặng nghệ nhân ưu tú ,
nghệ nhân nhân dân , thương hiệu làng nghề thủ công nởi tiếng cho những đơn
vị , cá nhân có công bảo tồn , phát triển ngành nghề thủ công truyền thống ,ngành nghề mới ở nông thôn
1.3.2 Chính sách về quản lý , sử dụng đất đai nhằm duy trì và phát triển bềnvững làng nghề truyền thống :
Trong những năm qua , thực hiện chủ trương khôi phục và phát triển ngànhnghề , nhất ngành nghề truyền thống ở nông thôn Nhà nước đã đưa ra nhữngchính sách về các mặt khác nhau nhằm định hướng , khuyến khích , hỗ trợ chocác làng nghề truyền thống phát triển bền vững góp phần vào sự nghiệp pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước Và những chính sách về quản lý , sử dụngđất đai làng nghề truyền thống cũng được thực hiện Nhà nước đã ban hànhnhiều văn bản pháp luật đất đai , trong đó có các quy định nhằm khuyến khích
và tạo điều kiện cho việc phát triển ngành nghề ở nông thôn :
- Quyết định 132/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 của Thủ tướng chính phủ vềmột số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn đã tạo điềukiện thuận lợi cho việc đầu tư phát triển mở rộng sản xuất trong các làng nghềtruyền thống Chính sách tạo điều kiện trong việc cấp giấy chứng nhận quyền
sử dung đất cho các cơ sở sản xuất ngành nghề , đối với những cơ sở sản xuất cónhu cầu về mặt bằng để mở rộng sản xuất , di dời nơi sản xuất nhằm giảm thiểu
ô nhiễm môi trường thì được ưu tiên cho thuê đất với mức giá thấp Trên cơ sởquy hoạch , kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh , thành phố trực thuộc trung ương,phân bổ đất đai cho các mục đích khác nhau , trong đó cho phép chuyển mộtphần diện tích đất nông nghiệp , lâm nghiệp sang sử dụng vào mục đích công
Trang 10nghiệp , dịch vụ phục vụ cho phát triển ngành nghề truyền thống , quy hoạchxây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật , các khu , cụm tiểu thủ công nghiệp
- Luật đất đai 2003 và các văn bản dưới Luật được thực thi với nhiều đổimới trong chính sách quản lý , sử dụng đất đai Những quy định về các nội dungquản lý nhà nước về đất đai ; về quyền của người sử dụng đất đã tạo điều kiệncho người dân yên tâm đầu tư cho sản xuất
- Chỉ thị số 11/2006 /CT-TTg ngày 27/3/2006 , Thủ tướng Chính phủ đãchỉ thị các địa phương trực thuộc Trung ương khẩn trương tổ chức rà soát , điềuchỉnh quy hoạch các dự án sử dụng đất nông nghiệp phù hợp với quy hoạch pháttriển kinh té-xã hội của địa phương , của từng vùng và cả nước , gắn quy hoạch
sử dụng đất nông nghiệp với phát triển các ngành nghề , đặc biệt quan tâm đếnviệc khôi phục các ngành nghề truyền thống, tạo quỹ đất tái định cư , quy hoạchđất dịch vụ và đất liền kề các khu công nghiệp
Những chính sách xây dựng và phát triển các cụm công nghiệp làng nghềnhằm giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường và tăng hiệu quả đầu tư ở các
làng nghề cũng được đề ra và thực hiện
Trên cơ sở những chính sách về quản lý , sử dụng đất đai ở các làng nghề củaChính phủ , các địa phương có làng nghề đã áp dụng thực hiện và đưa ra nhữngchính sách cụ thể của địa phương mình sao cho phù hợp với tình hình tại đó
Thực tế phát triển trong những năm qua cho thấy những chính sách này đãđạt được những hiệu quả nhất định trong việc tạo điều kiện thuận lợi hơn ,khuyến khích sự phát triển kinh tế - xã hội những làng nghề truyền thống , thúcđẩy sự nghiệp công nghiệp hoá , hiện đại hoá nông thôn góp phần phát triểnkinh tế đất nước Tuy nhiên những chính sách này vẫn chưa mang tính đồng bộvới các chính sách về các mặt khác Trong đó nhiều chính sách về đất đai làngnghề truyền thống mới chỉ được thể hiện thông qua nhiều chính sách chungchung khác nhau mà chưa có sự thống nhất , đồng bộ dành riêng cho việc quản
lý , sử dụng đất làng nghề truyền thống
Trang 11CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ , SỬ DỤNG ĐẤT LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG BÁT TRÀNG
2.1.Giới thiệu tổng quan về làng nghề truyền thống Bát Tràng
Xã Bát Tràng gồm hai thôn Bát Tràng và Giang Cao thuộc huyện GiaLâm , Hà Nội Cách Trung tâm thành phố Hà nội khoảng 10 km về phí ĐôngNam Do có sự thuận lợi về giao thông đường bộ, đường thuỷ giúp cho việc mởrộng , giao lưu, thông thương hàng hoá ,tiêu thụ sản phẩm và thu hút khách tham
quan , du lịch Xã có diện tích đất tự nhiên là 164,03 ha
Xã có nghề truyền thống là gốm sứ và được công nhận là làng nghề truyềnthống Làng nghề truyền thống Bát Tràng có lịch sử phát triển từ hơn 500 năm.Trải qua bao thử thách , thăng trầm của thời gian , làng nghề vẫn tồn tại và pháttriển đến ngày nay Với sản phẩm truyền thống là những đồ gốm sứ phục vụ chođời sống sinh hoạt như bát đĩa , ấm chén , lọ hoa…phục vụ tiêu dùng trong nước
và xuất khẩu ra nước ngoài
Làng nghề Bát Tràng thuộc vùng đồng bằng sông Hồng , là vùng đất chật
người đông Tổng dân số toàn xã năm 2007 là 7.191 người Là địa phương có
điều kiện tự nhiên thuận lợi như về khí hậu , thuỷ văn Có nhiều lợi thế về kinh
tế ,văn hoá, xã hội , an ninh , quốc phòng… Là một làng ven đô ,nằm ngay sátsông Hồng , cách trung tâm thủ đô Hà nội không xa, có hệ thống giao thông cảđường bộ , đường thuỷ đều rất thuận lợi Do vậy chịu tác động mạnh mẽ của quá
Trang 12trình đô thị hoá Dân số tăng nhanh , nguồn lao động trẻ , dồi dào phục vụ tốtcho phát triển làng nghề
Hiện nay làng nghề truyền thống Bát Tràng không còn hộ gia đình nào sảnxuất nông nghiệp , các hộ gia đình đã chuyển sang sản xuất kinh doanh nghềchuyển thống Đời sống người dân được cải thiện đáng kể Cùng với đó quátrình đô thị hoá tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của một làng nghề ven đônhư Bát Tràng Nghề truyền thống được khôi phục và phát triển , không chỉ tao
việc làm cho lao đông của xã mà còn thu hút được một lượng lớn lao động từcác vùng lân cận Các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh đa dạng như : cáccông ty trách nhiệm hữu hạn, các công ty cổ phần , các doanh nghiệp tư nhân và
đa số là các cơ sở sản xuất của hộ gia đình …
Về quy mô lao động thì tỷ lệ lao động làm nghề truyền thống chiếm tỷ lệ
lớn , theo thống kê của xã tỷ lệ này là khoảng hơn 80% lao động trong xã.
Ngoài ra mỗi hộ sản xuất hàng ngày có khoảng 8-10 lao động làm thuê đến từcác xã lân cận
Về thu nhập của người lao động làm nghề truyền thống : Bát Tràng có thu
nhập bình quân của một lao động làm nghề rất cao khoảng 1.200.000-1.400.000 đồng /tháng , cao gấp 3-4 lần lao động sản xuất nông nghiệp trước đây Nhờ có
thu nhập tăng cao , đời sống của người dân được cải thiện đáng kể Nhờ đóngười dân có thể đóng góp để xây dựng , cải thiện và tu bổ hệ thống cơ sở hạtầng như điện , đường , trường , trạm… Các khu vui chơi , giải trí được xâydựng , các dịch vụ phục vụ đời sống cũng phát triển theo Người dân đã quantâm nhiều đến đời sống tinh thần của mình hơn Các công trình tôn giáo, các nhàthờ họ , những ngôi nhà cổ được tu tạo và gìn giữ Các hoạt động văn hoá cũngdần được khôi phục lại như những ngày hội làng , ngày giỗ tổ nghề …
Làng nghề Bát Tràng vẫn giữ được những nét văn hoá truyền thống củamột làng nghề truyền thống nông thôn Việt Nam Với những đình , đền chùa nổitiếng , có những ngôi nhà cổ , những lò nung cổ Nét đặc sắc văn hoá truyềnthống , tính nghệ thuật cao được thể hiện trên những sản phẩm của làng nghề và
Trang 13thể hiện ở cả những công đoạn làm gốm cổ truyền Chính vì những nét đắc sắc
đó , làng nghề Bát Tràng đang là một trong những điểm du lịch nổi tiếng Một
số năm gần đây, du lịch làng nghề Bát Tràng rất phát triển Và phát triển du lịchlàng nghề cũng đang được coi là điểm trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh
Theo điều tra thì có hàng ngày có khoảng 6000-10000 lao động từ các nơi
đến làm thuê tại Bát Tràng Do tính chất công việc của nghề này mà vẫn cónhững người làm thuê ăn ở luôn tại các cơ sở sản xuất Bình quân mỗi hộ sản
xuất có khoảng 8-10 lao động làm thuê ở lại ăn ở tại cơ sở sản xuất Chính vì
vậy mà diện tích đất ở của các hộ gia đình ở đây vốn đã chật hẹp nay lại càngchật hẹp , lộn xộn hơn , không đảm bảo thoáng khí , môi trường ở bị ô nhiễmnghiêm trọng Những phần diện tích trước đây là sân , vườn nay được sử dụnglàm mặt bằng phục vụ cho sản xuất , kinh doanh Hiện nay, tại Bát Tràng diệntích đất vườn trồng cây xanh trong khuôn viên đất ở của các hộ gia đình hầunhư là không còn Không khí trong khuôn viên đất ở vốn đã bị ô nhiễm do bụi
và khí thải lại càng ô nhiễm hơn
Trang 14Theo điều tra thì ở Bát Tràng tỷ lệ các hộ gia đình sử dụng một phần diện
tích đất ở để làm cơ sở sản xuất kinh doanh là khoảng 93% Tổng số cơ sở sản xuất là 243 CSSX Trong đó có tới 226 CSSX được xây dựng trên đất ở Số còn
lại đã sử dụng đất thuộc cụm công nghiệp làng nghề để xây dựng cơ sở sản xuất,kinh doanh Chính vì vậy việc xác định diện tích , quy mô đất sản xuất kinhdoanh là rất khó khăn do không thể phân định rõ được khu ở và khu sản xuấtkinh doanh Hiện tại vì nhu cầu mở rộng sản xuất , kinh doanh của các cơ sở
sản xuất kinh doanh là rất lớn Nhu cầu về đất cơ sở sản xuất kinh doanh ngàycàng tăng Hầu hết các hộ sản xuất được hỏi đều mong muốn có thêm mặt bằng
để mở rộng cơ sở sản xuất đáp ứng nhu cầu Mặt khác cũng do nhu cầu mặtbằng sản xuất kinh doanh là rất lớn mà hầu như các hộ sản xuất đều lấn chiếmthêm đất giao thông , đất công cộng …Các phế thải rắn như xỉ lò than, phếphẩm được các hộ sản xuất chất đống ở ngoài đường làm cho lòng đường đãhẹp nay lại còn chật chội hơn và còn gây ra ô nhiễm Có nhiều cơ sở do thiếumặt bằng chứa nguyên vật liệu , thành phẩm …đã xây dựng trên nền nhà ở thêm2-3 tầng nữa Tuy nhiên việc xây dựng này chỉ mang tính tạm bợ , không đảmbảo về tiêu chuẩn xây dựng Ở cụm công nghiệp do có sự đầu tư tương đốiđồng bộ về cơ sở hạ tầng nên đã giảm thiểu được ô nhiễm , tạo ra sự chuyênmôn hoá cao trong sản xuất Tuy nhiên, theo quy hoạch cụm công nghiệp làng
nghề có diện tích khoảng 16.9 ha so với nhu cầu về mặt bằng của các hộ sản
xuất hiện tại và cả tương lai là chưa đáp ứng hết được
Về đất dùng để kinh doanh , giới thiệu sản phẩm làng nghề truyền thốngthì cũng đã được quy hoạch Chợ làng nghề được quy hoạch xây dựng và đãđược đưa vào sử dụng được 3 năm nay Với mục đích trưng bày giới thiệu sảnphẩm và bán sản phẩm cho khách du lịch Hệ thống các cửa hàng giới thiệu sảnphẩm và là nơi giao dịch các hợp đồng bán sản phẩm làng nghề được quy hoạchtrải đều, bám theo trục đường chính của xã , phục vụ tốt hơn cho việc trưngbày , giới thiệu sản phẩm
2.2.3 Thực trạng quản lý , sử dụng đất giao thông và cơ sở hạ tầng ở Bát Tràng