Phần I Қhóa luận tốt nghiệp Lê văn Dũng Chăn nuôi thú y 38 Phần I MỞ ĐẦU 1 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm vừa qua, tình hình kinh tế xã hội nói chung và nông dân nói riêng đã có những thay đổi rất đáng[.]
Trang 1Hiện nay, đàn lợn nái nội đang có xu hướng giảm dần trong cơ cấu đàn và thay thếvào đó là lợn nái lai và nái ngoại Trong các nông hộ chăn nuôi lợn nái vùng đồngbằng sông Hồng, hộ chăn nuôi lợn nái lai chiếm tỷ lệ khá cao 47,27% (Vũ Đình Tôn,
Võ Trọng Thành, 2005) Sử dụng lợn nái lai F1( L x Y ) và F1 ( Y x Matter_1904 )làm nền để sản xuất lợn lai nuôi thịt có năng suất và tỷ lệ nạc cao có thể phát triển tốttrong điều kiện chăn nuôi nông hộ (Võ Trọng Hốt và cs, 1999) Nhiều nghiên cứu đãkhẳng định tổ hợp lai giữa nái F1( L x Y ) lai F1( Y x Matter_1904 ) phối với đựcPietrain cũng cho tốc độ sinh trưởng nhanh, năng suất thịt và tỷ lệ nạc cao ở đời con.Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu về nái F1(Y x L) với đực Duroc trong điều kiệnchăn nuôi nông hộ
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm:
“Đánh giá khả năng sinh sản và phát triển của giống lợn cái Landrat x đực giống Yorkshire ; lợn cái Yorkshire x đực giống Matter_1904, tại trại giống lợn P01_ xã Khánh Thủy_ huyện Yên Khánh_ tỉnh Ninh Bình”
Trang 21.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
Mục đích
Đánh giá năng suất sinh sản của hai tổ hợp lai giữa lợn nái Yorkshire phối với
đực giống Yorkshire ; Cái Yorkshire x đực giống Maxter_1904 tại trại lợn P_01
huyện Yên Khánh – tỉnh Ninh Bình
Đánh giá năng suất sinh trưởng của đàn lợn con được sinh ra từ hai tổ hợp laigiữa lợn nái F1(Yorkshire x Landrace ; Yorkshire x Maxter_1904) tại trại P_01huyện Yên Khánh – tỉnh Ninh Bình
Yêu cầu
Theo dõi thu thập đầy đủ, chính xác số liệu về các chỉ tiêu năng suất sinh sảncủa lợn nái lai F1(L x Y ; Y x Maxter_1904)
Trang 3Phần II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Một số tư liệu về loài lợn
Khi lợn rừng được thuần hóa thành lợn nhà các tài liệu khảo cổ học cho rằng đã
có sự thay đổi, về tầm vóc giảm đi so với tự nhiên lợn của các dân tộc cơ sở nói chung
là rất nhỏ bé
Trong quá trình thuần dưỡng, để phục vụ nhu cầu thực phẩm và nguồn phân bón con người đã có tác động ảnh hưởng lên sự phát triển của loài lợn từ hàng ngàn năm nay, qua thuần dưỡng có chọn lọc, lai tạo liên tục người ta đã tạo nên nhiều giốnglợn có nguồn gốc khác nhau
Từ nhu cầu ngày một cao hơn của con người về số lượng thịt và chất lượng thịt,chúng ta đã nhập những giống lợn từ Anh, Đan Mạch, Mỹ, Bỉ…nhiều giống lợn được
du nhập vào nước ta với mục đích lai tạo và nâng cấp giống lợn nái, hy vọng đáp ứng được nhu cầu về số lượng và chất lượng thịt phục vụ đời sống con người
2.1.2 Một số giống lợn
Hiện nay, 150 giống lợn mới được phát huy được hiệu quả tại Việt Nam:
_ Giống lợn Yorkshire : (Anh)
_ Giống lợn Landrace : (Đan Mạch)
Trang 4xẻ cao, tỷ lệ nạc trên 62% Ở 2 tháng tuổi tăng trọng 300 – 315g/ngày, 4 tháng tuổi tăng trọng 816 – 866g/ngày, 6 tháng tuổi tăng trọng 850g/ngày và đạt 100kg khi được
150 ngày tuổi Tiêu tốn 2,6 – 2,7kg thức ăn/1kg tăng trọng
2.2.2 Giống heo Yorkshire
Giống Lợn Yorshire Tên tiếng anh: Yorkshire, tên khác: Lợn Đại Bạch hay Lợntrắng lớn là một giống lợn nuôi có nguồn gốc ở Yorkshire, Là một giống của nhóm lợn Yorkshire, được tạo nên tại (làng) bang Yorkshire - Anh lợn được nuôi nhiều ở vùng Đông Bắc nước Anh, nhân dân ở đây có tập quán nuôi heo chăn thả trên đồng
cỏ Sau đó, heo được cải tiến thành nhiều nhóm khác nhau Vào những năm đầu thế
kỷ XVI, nhiều người chú ý đến việc phát triển chăn nuôi heo ở Anh phát triển giống heo Đến năm những 1770, heo Trung Quốc được nhập vào Anh theochủng Sus
indicus và cho lai tạo với Sus scrofa Mãi năm 1851 JosephLuley, là người tạo giống
đã tạo giống heo Yorkshire ở vùng Bắc Shires Trong thời gian này, nhà chọn
Bakewell đã cải tạo lợn Leicestershire, của giống heo đại phương Bắc Shires,
Yorkshire và Lancashire, của Lincolnshire và Leicestershire để tạo ra giống heo Yorkshire ngày nay nhưng đến năm 1884, Hội đồng giống Hoàng gia Anh mới công nhận giống heo Yorkshire Được nhập từ Liên Xô (cũ) (1964), Cu Ba (1970), Nhật Bản (1986), Bỉ (1986), Mỹ (2000), sau đó du nhập vào Việt Nam và phân bố rộng khắp các tỉnh Bắc, Trung, Nam Lợn trắng lớn gốc ở Yorkshire vì thế còn được gọi là lợn Yorkshire Đầu tiên được công nhận vào năm 1868, giống lợn nuôi này là tổ tiên của lợn Yorkshire Mỹ (chỉ gọi là đơn giản là Yorkshire) tại Bắc Mỹ Lợn trắng lớn là một trong những giống lợn nuôi được sử dụng rộng rãi trong lai tạo giống lợn nuôi khắp thế giới Đúng như tên gọi của nó, giống lợn này có da màu trắng, với tai dựng lên và mặt hình đĩa Ban đầu nó được phát triển như là một giống lợn nuôi ngoài trời, nhưng ngày nay đây là giống nuôi nhốt và được thị trường ưa chuộng vì có lượng thịt nạc lớn Toàn thân có màu trắng Lông da trắng tuyền, tai to, đứng, trán rộng, mặt gẫy.Bốn chân chắc, khoẻ, thân hình vững chắc, nhìn ngang có hình chữ nhật, mình dài,
Trang 5mông vai nở, lưng thẳng, bụng thon Có 12 vú Lợn đực nặng 250 - 320kg/con, lợn cáinặng 200 - 250kg/con Năng suất, sản phẩm: Bắt đầu phối giống lúc 8 tháng tuổi Một năm đẻ 2,0-2,1 lứa, mỗi lứa để 10-13 con Tỷ lệ nạc cao.
Khả năng sản xuất, sinh trưởng phát dục: Trọng lượng sơ sinh trung bình 1 - 1,2
kg, heo trưởng thành đạt 350 - 380 kg, dài thân 170-185 cm, vòng ngực 165-185 cm Con cái có cân nặng 250-280 kg, heo thuộc giống heo cho nhiều nạc sinh sản: heo cái
đẻ trung bình 10 - 12 con/lứa Có lứa đạt 17-18 con, cai sữa 60 ngày tuổi đạt 16-20 kg/con Với nhưng đặc điểm đặc biệt trên lợn Yorkshire được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới, được nuôi ở nhiều nơi Ở nước ta được nhập vào từ những năm 1920 ỏ miền Nam để tạo ra heo Thuộc Nhiêu Nam Bộ Đến 1964, lợn được nhập vào miền Bắc thông qua Liên Xô cũ Đến năm 1978, chúng ta đã nhập lợn Yorkshire từ Cu Ba Những năm sau 1990, Yorkshire được nhập vào nước ta qua nhiều con đường của nhànước, công ty và từ nhiều dòngkhác nhau như Yorkshire Pháp, Bỉ, Anh, Úc, Mỹ, Nhật Mỗi dòng đều có những đặc điểm ngoại hình và sản xuất đặc trưng của nó Giống lợn này cũng một trong những giống nước ta đang chọn cho chương trình nạc hóa đàn lợn
Đặc điểm ngoại hình Toàn thân có màu trắng tuyền, đầu nhỏ, dài, tai to dài rủ
Trang 6có dáng hình thoi nhọn giống như quả thủy lôi, đây là giống lợn tiêu biểu cho hướng nạc.
Khả năng sản xuất của giống lợn Landerace đăc biệt tiêu biêu: có khả năng sinhsản cao, mắn đẻ và đẻ nhiều: Trung bình đạt (1,8 – 2) lứa/năm Mỗi lứa đẻ 10 -12 con,trọng lượng sơ sinh (Pss) trung bình đạt (1,2 -1,3) kg, trọng lượng cai sữa (Pcs) từ (12 – 15) kg Sức tiết sữa từ (5 – 9) kg/ngày Khả năng sinh trưởng của heo rất tốt
Landrace có rất nhiều ưu điểm: Sinh sản tốt, tăng trong nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp,
tỷ lệ nạc cao và chất lượng thịt tốt heo có khả năng tăng trọng từ (750-800) g / ngày,
6 tháng tuổi lợn thịt có thể đạt (105-125) kg Khi trưởng thành con đực nặng tới 400
kg, con cái (280-300) kg
Với những đặc điểm về giống trên lợn Landrace được coi là giống lợn tốt nhất trên thế giới hiện nay và được nuôi rất phổ biến ở nhiều nơi Giống lợn này được nhậpvào nước ta vào khoảng 1970 qua Cuba Những năm sau 1990, heo Yorkshire được nhập vào ta qua nhiều con đường của nhà nước, công ty và từ nhiều dòng khác nhau như Yorkshire Pháp, Bỉ, Anh, Úc, Mỹ, Nhật Mỗi dòng đều có những đặc điểm ngoại hình và sản xuất đặc trưng của nó Giống lợn Landrace được chọn một trong những giống tốt để thực hiện chương trình nạc hóa đàn lợn ở Việt Nam.Sức sảnxuất của đàn lợn là khả năng sinh sản hay khả năng tăng trọng của mỗi giống lợn Đây là kết quả của quá trình tổ chức chăn nuôi Chúng ta có thể nói sức sản xuất là đặc điểm quan trọng nhất của lợn Sức sản xuất phụ thuộc vào các yếu tố như: Giống, dòng, cá thể vàcác điều kiện ngoại cảnh (khí hậu, dinh dưỡng, chăm sóc, quản lý và sử dụng)
Nói đến giống, dòng, cá thể tức là ta đang đề cập đến tiềm năng di truyền hay kiểu gencủa chúng (G) Về cơ bản giống, dòng, cá thể là có kiểu di truyền "gần như nhau" Tuy nhiên do những xáo trộn của vật chất di truyền trong phân bào giảm nhiễm như tạo giao tử tinh trùng và trứng và hơn thế nữa do sự phân bố ngẫu nhiên và tổ hợp tự
Trang 7do của các nhiễm sắc thể trong phân chia giảm nhiễm tạo giao tử Trong việc kết hợp
2 giao tử lại với nhau để tạo thành hợp tử (cơ thể mới), và hai cá thể cũng có những sựkhác nhau nhất định về kiểu gen (trừ các cá thể sinh đôi cùng trứng) Từ đó, chúng cũng có những sự khác nhau về khả năng sản xuất Tất cả mọi sinh vật đều chịu sự tácđộng qua lại của môi trường, vì vậy chúng luôn bị các ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến sức sản xuất Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường lên con vật cũng rất phức tạp, rất khó đo đếm Nhìn chung có thể chia các yếu tố môi trường làm 2 nhóm: Các yếu tố môi trường tự nhiên: Nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, gió, mưa, độ cao so với mặt nước biển, đất đai Những yếu tố này tác động liên tục lên con vật và rất khó thay đổi Có thể một đàn gia súc của một giống được sống tại một vị trí cố định, song phản ứng của cơ thể đối với các tác động của các yếu tố này rất khác nhau Khả năng sản xuất của các giống hay các cá thể tùy theo từng giống hay loại lợn Chúng ta cần xác định các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật cụ thể để đánh giá sức sản xuất của giống lợn hay loại lợn nào đó.Sau khi lợn nái phối giống có kết quả, hợp tử bám chặt và làm tổ ở tử cung và bắt đầu phát triển bình thường Đồng thời các cơ quan bộ phận liên quan (nhau thai, bọc ối, niệu, tử cung và bầu vú) đều được phát triển trong thời gian 114 ngày Trong thời gian có chửa heo nái có nhiều đặc điểm thay đổi, do vậy việc chăm sóc nuôi dưỡng chúng phải phù hợp và đảm bảo để có số lợn con sơ sinh cao; trọng lượng trung bình củaheo con cai sữa cao; lợn con cái(BF, mm); tuổi và trọng lượng động dục lần đầu lợn nái kiểm định có các chỉ tiêu: Tuổi và trọng lượng phối giống lần đầu, số con sơ sinh, trọng lượng lợn con sơ sinh, số con cai sữa, trọng lượng lợn con cai sữa, độ đồng đều (%), thời gian động dục trở lại sau khi cai sữa (ngày), số lứa
đẻ nái/năm lợn nái cơ bản có các chỉ tiêu như số con cai sữa, trọng lượng lợn con cai sữa, độ đồng đều (%), thời gian động dục trở lại sau khi cai sữa (ngày), số lứa đẻ
Trang 82.3 Một số công thức lai tạo
Công thức tạo lợn lai F1 (Ngoại x Nội) có 50% máu ngoại:
+ Đực giống (Yorkshire x Móng Cái) tạo ra lợn lai F1
+ Đực giống (Landrace x Móng Cái) tạo ra lợn lai F1
Hai tổ hợp trên cho tỷ lệ nạc từ 39 – 43 % vafddang được nuôi rộng rãi trong cảnước Đây là những công thức phù hợp với những hộ chưa có điều kiện đầu tư chăn nuôi thâm canh các giống lợn lại có tỷ lệ máu ngoại cao và các giống lợn ngoại nái nền F1 cho việc tạo ra lợn lai F2, 75% máu ngoại
Công thức tạo lợn lai F1 (Ngoại x Ngoại)
+ Đực (Yorkshire x Landrace) tạo ra lợn lai F1 ( Y x L)
+ Đực (Duroc x Yorkshire) tạo ra lợn lai F1 (D x Y)
Hai tổ hợp lai trên cho tỷ lệ nac 53 – 55% và được áp dụng trong sản xuất tạo nái nền cho công thức lai 3 giống lợn ngoại
2.4 Sinh Lý, sinh dục lợn cái
2.4.1 Âm hộ
Âm hộ là lỗ sinh dục cái, có 2 mép âm hộ Khi động đực, âm hộ sưng, đỏ hồng
Âm đạo dài 10-20 Cm Cổ tư cung có hệ thống cơ khá phát triển Thân Tử cung dài
5-10 Cm Hệ thống cơ của nó kém phát triển so với cổ tư cung Từ thân tư cung tách ra
2 sừng tư cung Ơ lợn cái trưởng thành (đã sinh sản), sừng tử cung có thể dài đến 1m
Cả 2 sừng có có khối lượng có thể đạt 600-800g Ống dẫn trứng dài 20-35 cm, đường kính 2-3 mm, tận cùng có cấu tạo hình phễu có đường kính đến 9 cm Khi trứng rụng,
nó đi qua loa vòi Trong ống dẫn trứng, nhờ nhu động định hướng của lông nhung, đã đẩy tế bào trứng đi về phía sừng tử cung, trong khi đó, tinh trùng có đặc điểm di
chuyển ngược dòng với nhu động trên, đã tiến vào gặp tế bào trứng để tiến hành quá trình thụ tinh
Trang 92.4.2 Buồng trứng
Buồng trứng có 2 chức năng: hình thành tế bào trứng và sản sinh ra hormon sinh sản Buồng trứng dài 2-7 cm, rộng 1,5-4 cm, khối lượng 2-15g Trong buồng trứng có 2 vùng: vùng phía ngoài (vùng nang trứng hoặc vùng vỏ) và vùng phía trong (vùng tủy) Trong vùng vỏ có vô số nang trứng phát triển ở các thời kỳ khác nhau (và cũng có những nang bị thui chột) Trong vùng tủy có nhiều sợi thần kinh, mạch máu,
hệ thống lâm ba Sự phát triển của nang trứng, Những nang trứng nhỏ nhất nằm ở bề mặt của lớp vỏ Ở lợn cái sơ sinh, số lượng nang trứng rất nhiều Từ những nang trứngmầm, chúng dần dần phát triển qua các giai đoạn khác nhau, trở thành nang trứng chín Trong quá trình sinh tinh, khi tạo thành tinh bào thứ cấp, đã xuất hiện 2 nhân Nhưng ở quá trình tạo trứng, vì chỉ có một tế bào nên một nhân nằm lại giữa tế bào, còn một nhân bị đẩy ra cực của tế bào Một nhân trứng được bao bọc bởi sinh chất thì tạo nên noãn bào thứ cấp hoàn chỉnh, còn nhân kia biến thành thể cực Do đó trong quá trình tạo trứng, từ một noãn bào sơ cấp chỉ tạo nên 1 tế bào trứng
2.4.3 Hormon của buồng trứng
Buồng trứng sản sinh ra 2 hormon tính cái Một hormon được tạo thành trong tếbào trứng của nang trứng, hormon kia được tạo thành từ tế bào của thể vàng Hormon trong nang trứng thúc đẩy sự phát triển những đặc điểm tính dục thứ hai của lợn cái, làm biến đổi trạng thái cơ quan sinh dục và biểu hiện vẻ ngoài của lợn khi động dục Hormon trong tế bào thể vàng làm biến đổi các trạng thái và phù hợp cho quá trình mang thai lợn thuộc loại có hoạt tính dục quanh năm Mỗi chu kỳ thường khoảng 3 tuần Có thể tạm chia chu kỳ tính dục của lợn cái thành 3 giai đoạn:hưng phấn, ức chế
và cân bằng, Trong giai đoạn hưng phấn thường biểu hiện bằng hiện tượng động đực, các phản ứng chung, chịu đực và rụng trứng Động đực xảy ra khi mà trong buồng
Trang 10Biểu hiện bên ngoài của động đực là âm hộ sưng, đỏ hồng, có nước nhờn từ âm đạo tiết ra Phản ứng chung biểu hiện bằng trạng thái không yên tĩnh của lợn cái, thíchgần lợn đực nhưng không cho lợn đực nhảy Nhiều lợn có biểu hiện động đực và phảnứng chung cùng một lúc Trong giai đoạn động đực, đường kính của sừng tử cung tăng lên và mức độ co bóp của sừng, thân và cổ tử cung cũng được gia tăng Chịu đực
là thời kỳ hưng phấn cao độ nhất ở lợn cái, xảy ra quãng 20-40 giờ tính từ khi bắt đầu động đực Bấy giờ lợn cái đứng yên cho lợn đực nhảy Nếu lấy một vật nặng đè lên lưng lợn, hoặc cưỡi lên lưng nó, lợn sẽ đứng yên và có những biểu hiện tiếp thu sự giao phối (giai đoạn này còn được gọi là mê ì) Rụng trứng là thời điểm quan trọng nhất của chức năng sinh sản của lợn cái Quá trình này xảy ra sau khi có biểu hiện mê
ì rõ rệt của lợn cái Nếu tính từ lúc bắt đầu chịu đực, lợn cái tơ rụng trứng sau 25-30 giờ và heo nái sinh sản sau 20-24 giờ
2.5 Sinh lý sinh dục đực
Lượng tinh xuất (V) Dùng vải gạc hoặc giấy lọc tinh dịch vào bình có chia ml
để loại bỏ chất keo nhầy sau đó đọc và ghi chép V, V nhiều hay ít phụ thuộc vào giống, tuổi, sức khỏe lợn, kỹ thuật lấy tinh v.v…
Màu sắc, mùi tinh dịch Tinh dịch bình thường có màu trắng sữa Tinh dịch loãng thì màu trong Không sử dụng tinh dịch có màu đỏ (lẫn máu), vàng (lẫn nước tiểu) hoặc xanh (lẫn mủ) Tinh dịch bình thường có mùi hơi tanh, hắc Không sử dụng tinh dịch có mùi khai, thối, khắm Sức hoạt động của tinh trùng được đánh giá qua khảnăng thụ thai của tinh trùng phụ thuộc nhiều vào sức hoạt động của tinh trùng
Milovanop V.K (1962) dựa vào sức hoạt động tiến thẳng của tinh trùng để cho điểm theo 10 cấp: Nếu có 95-100% tinh trùng tiến thẳng, có 85-95% tinh trùng tiến thẳng,
và có 5-10% tinh trùng tiến thẳng Tổng số tinh trùng tiến thẳng trong tinh dịch
(VAC) Đây là một trong các chỉ tiêu quan trọng (là tích của VxAxC), có liên quan
Trang 11chặt chẽ với sức sống tinh trùng và số liều tinh dịch có thể sản xuất được, Sức kháng thẩm thấu có liên quan đến chất lượng và sức sống của tinh trùng Dùng dung dịch NaCl 0,8% pha loãng với tinh dịch (1:4), kiểm tra sức sống tinh trùng sau 3 giờ bảo tồn ở ôn độ trong phòng, sẽ có tổng hoạt lực tinh trùng (tổng A) Tra bảng tính sẵn, sẽ
có Ro, từ đó phân loại chất lượng tinh dịch
Lợn đực giống có các chỉ tiêu như: Tăng trọng tính bằng gam/ngày hay
kg/tháng, tiêu tốn thức ăn, tính bằng kg thức ăn/ kg tăng trọng), độ dày mỡ lưng (BF, mm) Các chỉ tiêu phẩm chất tinh dịch của đực giống: Thể tích (V, ml); hoạt lực (A,
%); nồng độ (C, triệu/ml); sức kháng (R); Tỷ lệ kỵ hình (K, %); Tỷ lệ tinh trùng chết (Ch, %), tổng số tinh trùng tiến thẳng/1lần xuất tinh (VAC, tỷ) Ngoài ra còn các chỉ tiêu sinh lý hình thái của tinh dịch: Màu, mùi, độ pH, và độ vẫn
2.6 Yếu tố dinh dưỡng trong chăn nuôi lợn
2.6.1 Thức ăn đậm đặc
Thức ăn đậm đặc là loại thức ăn đã được chế biến sẵn, có ít nhất từ ba nguồn nguyên liệu, phối hợp theo những công thức nhất định, đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng cho từng đối tượng vật nuôi, độ tuổi, năng suất sản phẩm khác nhau Hiên nay thức ăn đậm đặc đã trở nên phổ biến không chỉ trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, mà
cả cho thuỷ sản, động vật quý hiếm khác
Đặc điểm của thức ăn đậm đặc là: tổng hợp từ nhiều nguồn nguyên liệu và đều qua chế biến nên hàm lượng dinh dưỡng cao, dễ tiêu hoá, hấp thu, hợp vệ sinh và tiện lợi trong bảo quản, vận chuyển và sử dụng Sản xuất công nghiệp nên giá thành hạ Hiệu quả chăn nuôi cao khi sử dụng hợp lý thức ăn đậm đặc
Phân loại thức ăn đậm đặc Dựa vào thành phần thức ăn đậm đặc mà phân ra các loại: Thức ăn đậm đặc Thành phần chính là thức ăn tinh, có trộn thêm khoáng,
Trang 12vitamin, kháng sinh và các chất có hoạt tính sinh học khác Khi sử dụng trộn thêm với thức ăn thô, xanh, củ quả, nhiều nước để có khẩu phần hoàn chỉnh.
2.6.2 Thức ăn siêu đậm đặc
Thức ăn siêu đậm đặc thành phần gồm đầy đủ các yếu tố dinh dưỡng theo nhu cầu của đối tượng vật nuôi Khi sử dụng chỉ cần cho vật nuôi ăn theo hướng dẫn trên bao bì và uống đủ
2.6.3 Thức ăn đậm đặc bổ sung
Thức ăn đậm đặc bổ sung là hỗn hợp nhằm bổ sung khoáng, vitamin, kháng sinh, kích tố, hoặc các hoạt chất sinh học khác Khi sử dụng chỉ bổ sung với lượng nhỏ (theo hướng dẫn) để hiệu quả sử dụng khẩu phần tăng lên.Trên cơ sở hiểu biết cơ bản về các loại thức ăn trên đây, người chăn nuôi sẽ lựa chọn và chế biến, bảo quản,
sử dụng cho phù hợp với từng đối tượng vật nuôi và điều kiện chăn nuôi cụ thể
2.7 Tác dụng thành phần dinh dưỡng trong thức ăn
2.7.1 Tác dụng của protein
Protein là thành phần quan trọng cấu tạo nên các tổ chức; giữ chức năng sinh học quan trọng trong các enzyme trao đổi chất, các hormon, các chất kháng thể Thức
ăn protein sau khi được tiêu hóa, hấp thu dưới dạng các acid amin
Các acid amin sẽ theo máu về gan tuần hoàn tới các mô bào Ngoài các acid amin có nguồn gốc từ thức ăn, máu còn tiếp nhận các acid amin là sản phẩm của quá trình phân giải protein trong các tổ chức Các acid amin tham gia vào quá trình chuyểnhóa trong cơ thể
Thực hiện sự cân đối các acid amin trong khẩu phần là biện pháp giảm thấp mức tiêu hao protein có hiệu quả nhất trong chăn nuôi hiện nay Ðể thực hiện sự cân đối này, trong chăn nuôi lợn và gia cầm người ta sử dụng nhiều protein có nguồn gốc động vật hoặc bổ sung các acid amin không thay thế Các acid amin này tổng hợp
Trang 13bằng con đường hóa học hoặc visinh vật Để đánh giá chất lượng của protein trong thức ăn, người ta dùng chỉ tiêu giá trị sinh vật học của protein.
2.7.2 Giá trị sinh vật học
Giá trị sinh vật học của protein phụ thuộc vào loại thức ăn (protein động vật caohơn thực vật) vào loại gia súc sử dụng thức ăn, vào phương pháp chế biến sử dụng thức ăn Có hai biện pháp chính nhằm nâng cao giá trị sinh vật học của protein trong thức ăn Hỗn hợp các loại thức ăn với nhau Nguyên nhân của sự tăng này là sự bổ sung cho nhau giữa các acid amin
2.7.3 Tác dụng của lipid
Lipid là chất dinh dưỡng cần thiết đối với cơ thể vì:Là thành phần quan trọng trong cấu trúc tế bào, và chất oxy hóa cho nhiệt năng lớn nhất: gấp 2,25 lần so với glucid và protein, ngoài ra dung môi hòa tan một số vitamin A, D, E, K nhờ đó nó xúctiến quá trình hấp thucác vitamin này trong cơ thể Trong cơ thể, nguồn dự trữ năng lượng lớn nhất cũng là lipid, nó được tích lũy trong các mô ở dưới da hoặc trong xoang bụng
2.8 Hoạt động sinh lý sinh dục cuả lợn nái
2.8.1 Phát hiện động dục
Muốn phát hiện và phối giống cho lợn nái hậu bị đúng lúc và có kết quả tốt, người chăn nuôi phải cho lợn nái vận động với lợn đực giống và theo dõi các hoạt động của chúng, nếu thấy lợn nái có hiện tượng chịu đực thì chúng ta cần tách lợn nái
đó ngay để phối giống
Các lợn nái khác vẫn được vận động với lợn đực giống vào các buối sáng từ 30
- 45 phút để lợn cái được tiếp xúc với đực giống và được kích thích về hoạt động sinh dục Cho vận động cả nhóm lợn hậu bị hay lợn nái chờ phối với lợn đực giống Nái
Trang 14hậu bị nên được phối giống khi nái ngoại 8 - 10 tháng tuổi, trọng lượng đạt từ 110 kg trở lên.
+ Quá trình rụng trứng: Quá trình hoạt động sinh sản của gia súc, muốn có quá trình rụng trứng và thụ thai phải xảy ra sự hình thành các tế bào trứng, sự thành thục
và rụng trứng Dưới tác dụng của hormon FSH của tuyến yên, tế bào hạt xung quanh bao noãn phân chia nhiều, làm khối lượng bao noãn tăng lên, đồng thời LH kích thích
tế bào hạt tiết ra Estrogen và dịch Lượng dịch nhiều làm thể tích bao noãn tăng và nổilên trên bề mặt buồng trứng, đó là các noãn chín có dường kính từ 0,8 - 1,2 cm
Hormon LH của tuyến yên tăng tiết có tác dụng hoạt hoá enzym phân giải protein làm vách tế bào bao noãn mỏng ra và vỡ, trứng được rơi ra khỏi buồng rứng gọi là sự rụng trứng Mỗi lần trứng rụng kéo dài từ 6 - 10giờ Số trứng rụng trong một chu kỳ động dục lần đầu tiên là 11; chu kỳ thứ hai là 12; ở nái trưởng thành là 21; trung bình
là 15 - 20
Số lượng trứng rụng tuỳ thuộc vào giống, tuổi, nồng độ hormon FSH và LH, ngoài ra còn phụ thuộc vào điều kiện dinh dưỡng Nếu khẩu phần thiếu protein sẽ làm giảm số trứng rụng Số lượng trứng rụng sau một chu kỳ động dục là giới hạn cao nhấtcủa số con đẻ ra trong một lứa
Trong thực tế mỗi lần lợn nái đẻ trên dưới 10 con Như vậy bao giờ số trứng rụng cũng nhiều hơn số con đẻ ra, sự chênh lệch đó có thể do một số trứng rụng
nhưng không được thụ tinh và một số trứng được thụ tinh nhưng không phát triển thành hợp tử Do số trứng rụng ở chu kỳ 1 ít, nên ở lợn thường cho phối giống ở chu
kỳ 2 hoặc 3 Số lượng trứng rụng chịu ảnh hưởng của giao phối cận huyết, hệ số cận huyết cứ tăng lên 10% thì số trứng rụng sẽ giảm từ 0,6 - 1,7 trứng
+ Kỹ thuật phối: Để nâng cao tỷ lệ thụ thai, ngoài việc phải xác định đúng thời điểm phối tinh thích hợp, kỹ thuật phối tinh và chất lượng tinh trùng cũng hết sức
Trang 15quan trọng Tiến hành xác định thời điểm phối thích hợp: Khi phối giống phải chú ý xác định đúng thời điểm phối tinh thích hợp Nguyên tắc là phối vào lúc nào để có nhiều tinh trùng gặp được nhiều tế bào trứng rụng nhất Muốn vậy khi heo nái hậu bị đến tuổi phối giống, lúc động dục phải tăng cường theo dõi để xác định thời điểm phốitinh thích hợp Chu kỳ tính và sự thành thục về thể vóc Phối vào buổi sáng sớm, lúc mát mẻ, yên tĩnh, thao tác đúng kỹ thuật (nếu là thụ tinh nhân tạo) Có thể áp dụng cáchình thức phối lắp, phối kép để nâng cao tỷ lệ thụ thai Sau khi phối xong, phải ghi chép đầy đủ và theo dõi.
+ Thụ tinh: Thụ tinh là quá trình đồng hoá giữa trứng (n NST) và tinh trùng (nNST) để tạo thành hợp tử (2n NST) có bản chất hoàn toàn mới và có khả năng phân chia nguyên nhiễm liên tiếp để tạo thành phôi, đó là kết quả của sự tái tổ hợp các gen
từ hai nguồn gen khác nhau Sự thụ tinh phụ thuộc chủ yếu vào thời điểm phối giống Thời gian động dục của lợn nái nội là 3 ngày, thời gian chịu đực 2 ngày, thời gian động dục của nái ngoại thuần kéo dài 5 - 7 ngày nhưng thời gian chịu đực chỉ khoảng 2,5 ngày, phối giống trong thời gian chịu đực đạt kết quả cao nhất Sự lựa chọn của trứng trong quá trình thụ tinh: trứng luôn chọn tinh trùng có quan hệ xa với trứng và chọ những tinh trùng khoẻ mạnh Khi phối giống trực tiếp, ảnh hưởng của con đực sẽ làm tăng tỷ lệ thụ thai Thụ tinh nhân tạo có thể làm giảm tỷ lệ thụ thai do kỹ thuật phối giống không tốt Hiệu quả sinh sản kém nhất vào các tháng có nhiệt độ cao và thời gian chiếu sáng giảm Nhiệt độ cao trong không khí ức chế hoạt động động dục,
và nó kéo dài trong vòng 15 ngày sau giao phối, tỷ lệ thụ thai giảm rõ rệt Nhiệt độ không khí cao cũng làm lợn chậm động dục trở lại
2.8.2 Quá trình phát triển bào thai
Quá trình phát triển bào thai lợn chia làm 3 giai đoạn:
Trang 16+ Giai đoạn phôi thai: Từ ngày có chửa thứ 1 đến ngày thứ 22, hình thành các mầm mống của các bộ phận cơ thể và chính ở giai đoạn này là giai đoạn quan trọng cho việc tạo ra các cơ quan ban đầu của cơ thể lợn.
+ Giai đoạn tiền bào thai: Từ ngày có chửa thứ 23 đến ngày thứ 38, giai đoạn này tiếp tục hình thành các tổ chức sụn, cơ, hệ thần kinh, tuyến sữa, đặc tính của giống, tính đực, cái và các đặc điểm cấu tạo cơ thể của lợn
+ Giai đoạn phát triển bào thai: Từ ngày thứ 39 đến ngày thứ 114, khối lượng và thể tích bào thai tăng lên rất nhanh, chiều dài thân, cao vai phát triển mạnh, bộ xương được hình thành, các cơ quan nội tạng và bốn chân phát triển rõ
Bảng I: Quá trình phát triển của bào thai lợn
Trang 17+ Đặc điểm phát triển của các tổ chức có liên quan: (Dịch ối, dịch niệu, Nhau thai, dịch ối, dịch niệu) Tử cung lợn mẹ, Tốc độ sinh trưởng lợn mẹ Trong thời gian
có chửa lợn mẹ không xuất hiện động dục, trao đổi chất tăng, “quá trình đồng hoá chiếm ưu thế hơn so với dị hoá” Tính tình trở nên hiền lành và dễ chăm sóc nuôi dưỡng, tốc độ sinh trưởng nhanh Như vậy cơ thể mẹ và bào thai tăng nhanh theo thời gian chửa Đặc biệt 60 ngày chửa đầu (trung bình 600 - 650 g/ ngày), sau đó giảm xuống (400 - 450 g/ ngày), tăng trọng giai đoạn chửa đầu chủ yếu là tăng trọng cơ thể
mẹ, còn tăng trọng giai đoạn cuối có chửa chủ yếu lại tăng trọng của bào thai và các tổchức có liên quan
Do vậy, dinh dưỡng đòi hỏi cung cấp cho lợn mẹ trong giai đoạn có chửa ngày càng cao, nhất là giai đoạn tháng chửa cuối, nhưng điều này mâu thuẩn với khả năng
ăn được của lợn mẹ Vì vậy để thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng cho lợn nái chửa tháng cuối, người chăn nuôi phải thu nhỏ dung tích của khẩu phần và chia nhỏ lượng thức ăn
để cho lợn mẹ ăn thêm bữa trong ngày
2.8.3 Nguyên nhân làm chết phôi thai và lợn con chết
+ Tỷ lệ chết phôi và chết thai nói chung từ lúc thụ tinh đến lúc đẻ chiếm 30 - 40% và gần 1/3 số đó rơi vào giai đoạn đầu của kỳ có chửa Theo nghiên cứu của nhiều tác giả thấy giai đoạn 9 - 13 ngày sau khi phối là giai đoạn khủng hoảng của sự phát triển vì phần lớn các trường hợp chết phôi diễn ra trong giai đoạn này
+ Các nguyên nhân chủ yếu làm lợn con chết trong giai đoạn từ sơ sinh đến cai sữa là: Bị mẹ đè, Thiếu máu, Chết khi đẻ ra, Khối lượng sơ sinh thấp, Dinh dưỡng kém, Cảm lạnh, Bệnh đường ruột, Bị đói, Lợn mẹ ăn, Do bệnh truyền nhiễm
Trang 18Phần III
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian bắt đầu từ tháng 11/2011 đến tháng 3/2012 kết thúc
Tại trại lợn giống P01_ xã Khánh Thủy_ huyện Yên Khánh_ tỉnh Ninh Bình.
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
“Đánh giá khả năng sinh sản và phát triển của giống lợn cái Landrat x đực giống Yorkshire ; lợn cái Yorkshire x đực giống Matter_1904, tại trại giống lợn P01_ xã Khánh Thủy_ huyện Yên Khánh_ tỉnh Ninh Bình”
3.2 Chăm sóc lợn nái trong giai đoạn lợn mang thai.
Sau thời gian phối từ 18-21 ngày nếu lợn không đòi đực lại thì coi như lợn đã
có chửa Yêu cầu chính của giai đoạn nuôi này cần đảm bảo đủ dinh dưỡng để bào
Trang 19thai phát triển được, đồng thời cho sinh trưởng của lợn đẻ lứa đầu, do cơ thể còn tăng trưởng.
Thời gian lợn chửa 114 ngày (3tháng + 3 tuần + 3 ngày) ± 3 ngày Giai đoạn
1-90 ngày tùy tầm vóc của lợn nái mập, gầy mà cho ăn lượng thực phẩm hợp lý 2-2,5 kg/con/ngày Từ 91 ngày trở đi cho lợn ăn tăng lên từ 2,5-3,0kg/con/ngày Trước khi sinh 3 ngày phải giảm thức ăn xuống từ 3 kg - 2kg - 1 kg/ngày
Khẩu phần ăn cho lợn nái cần cung cấp đầy đủ Vitamine và chất khoáng Thiếu khoáng lợn con chậm lớn, lợn nái dễ bị bại liệt sau khi sinh Khẩu phần thức ăn cho lợn nái đầy đủ và cân đối sẽ kéo dài thời gian khai thác sinh sản Nếu nuôi nái ở
chuồng chung, phải chuyển sang chuồng đẻ trước ngày mang thai thứ 110 Ngày lợn
đẻ có thể không cho ăn để tránh sốt sữa
Trong thời gian chửa 2 tháng đầu không nên di chuyển lợn nhiều, tránh gây sợ sệt lợn sẽ bị tiêu thai, cho lợn ăn thêm rau xanh, cỏ xanh, cung cấp nước sạch cho lợn uống theo nhu cầu.chuồng đẻ phải được dọn sạch và sát trùng cẩn thận, 5-7 ngày trướckhi chuyển nái đẻ đến Lợn nái chửa cần được chăm sóc chu đáo, tránh va chạm và không vận chuyển xa, dễ gây sẩy thai Trước khi đẻ 2 tuần, chuyển lợn sang ô nuôi lợn đẻ và nuôi con Tẩy giun sán nhằm tránh lây từ mẹ sang con Trước khi đẻ 1 tuần, giảm thức ăn đạm để phòng bệnh sưng vú do căng sữa sau khi đẻ Lợn chửa cần hạn chế thức ăn nhiều tinh bột và cho ăn thêm rau xanh Ăn rau nhằm bổ sung 1 số nguyên
tố cho lợn nái, đồng thời tăng độ chán trong dạ dày để lợn không có cảm giác đói Cầntăng chất khoáng và vitamin để lợn chuyển hoá tốt thức ăn và phòng táo bón
Thời gian lợn chửa kỳ 1, cho ăn hạn chế (60-70% khẩu phần hàng ngày), kéo dài 90 ngày, sau đó cho ăn đầy đủ theo quy định Đối với lợn nái tơ chửa lần đầu dưới
24 tháng tuổi, có thể tăng khẩu phần lên 10-15%, vì ngoài việc nuôi bào thai còn cho
Trang 20Cần chú ý đề phòng lợn sẩy thai: không cho thức ăn ôi mốc, thiếu các nguyên tốkhoáng và vitamin, nền chuồng trơn, dốc Nhu cầu về năng lượng trong khẩu phần ăn cần 6800-7000Kcal/ngày Trên 1kg thức ăn hỗn hợp có 2850Kcal, với tỷ lệ đạm tiêu hoá là 13-14% - thì khẩu phần một ngày cho lợn có khối lượng 200kg ăn 2-2.2kg.
3.3 Quá trình đẻ của lợn
3.3.1 Nguyên nhân đẻ
Nguyên nhân gây đẻ do Oestrogen của nhau thai tăng tiết đột ngột, làm tăng độ mẫn cảm của cơ trơn thành tử cung với oxytoxin, giải phóng ức chế progesteron Do Adrenalin Corticosteroid của tuyến thượng thận được tăng tiết, ức chế tiết
progesterone Do Prostagladin F2 ra, thể vàng bị phá vỡ, Progesterone trong máu giảmnhanh Do Relatin tăng tiết, kích thích tuyến yên tiết oxytoxine, tăng co bóp cơ tử cung Do bào thai phát triển, chèn ép cơ giới vào khung xoang chậu gây co bóp cơ giới Do trilon B giảm, trilon A tăng, gây nên sự vận động mạnh của cơ tử cung Lợn
mẹ rặn mạnh, đẩy thai ra ngoài
3.3.2 Thời kỳ đẻ của lợn
Bảng II: Thời gian đẻ của lợn
Thời gian (h) Giai đoạn đẻ GD con ra GD nhau ra
Quá trình đẻ của lợn được chia ra ở 4 thời kỳ:
- Thời kỳ mở cửa: Thân tử cung và sừng tử cung co bóp mạnh, lúc đầu co bóp ngắn, nghỉ dài về sau co bóp dài, nghỉ ngắn Khi tử cung co bóp thai và nước màng thai ép vào cổ tử cung làm cho cổ tử cung mở ra, một bộ phận màng thai chui qua cổ
Trang 21tử cung vào âm đạo Do các co bóp mạnh màng thai vỡ, nước ối chảy ra làm trơn đường thai ra.
- Thời kỳ thai ra: Lúc này cơ tử cung co bóp mạnh dồn dập kéo dài, cơ bụng, cơhoành cũng co bóp làm cho áp lực trong xoang chậu tăng lên Khi áp lực đạt cao nhất, thai đi qua cửa xoang chậu, qua âm đạo rồi ra ngoài Khi thai ra rốn của chúng tự đứt rời khỏi dạ con
- Thời kỳ nhau ra: Sau khi thai ra từ 1 - 6 h, do tử cung tiếp tục co bóp nên nhauthai sẽ được đẩy ra Nếu sau 6 h nhau thai không ra hết là hiện tượng bị sát nhau, phải can thiệp kịp thời để tránh viêm tử cung cho bào thai lợn mẹ
- Thời gian hồi phục tử cung: Thời gian này phụ thuộc rất lớn vào ba giai đoạn trên của quá trình đẻ, thông thường 2 -3 ngày Thời gian đẻ của lợn thường từ 1 - 5 h
để đẻ 9 – 14 thời gian rặn đẻ mỗi lần là 7 giây, đẻ 1 con là 3 giây, khoảng cách giữa các con 420 giây Lợn mẹ đẻ bình thường (1 - 2 h)
3.3.3 Chăm sóc nái trong giai đoạn đẻ
Nái mang thai từ 110 – 117 ngày, thai phát triển nhanh nhất vào tháng cuối của thời kỳ mang thai Trong suốt quá trình mang thai, nái cần được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng để dự trữ cho cơ thể cũng như để nuôi thai Trong khẩu phần ở giai đoạn cuối thời kỳ mang thai cho lợn nái phải có ít nhất 5-7% chất xơ Lượng chất xơ này giúp ngăn ngừa hiện tượng táo bón ở lợn khi đưa nái vào chuồng đẻ nên rửa sạch bụng và bầu vú bằng nước ấm Suốt thời gian trước đẻ nên cho lợn nái ăn giống như trong kỳ mang thai Tuy nhiên, nên cho ăn loại thức ăn có tính nhuận trường (giàu chất xơ) Hiện tượng sắp đẻ Khi thấy lợn căng bầu vú, nặn đầu vú có sữa trong tiết ra (sữa đầu), mông bị sụt là lợn sắp đẻ (khoảng sau 2-3 giờ) Trước đó khoảng 2 ngày,
âm hộ lợn sưng to, lợn đi lại quanh chuồng, bỏ ăn, ỉa phân cục không vào chỗ nhất
Trang 22Lợn tìm chỗ nằm,âm hộ chảy nước nhờn là lợn bắt đầu đẻ Cần chuẩn bị nơi kíngió, ấm, lót rơm mềm để nhốt riêng lợn con, hoặc nhốt vào thùng có lót lá khô, khăn hoặc vải mềm để lau khô lợn con mới sinh Khi lợn đẻ, bọc nước ra trước, lợn con ra theo, sau đó bình thường cứ 10 phút đẻ ra một con Thời gian đẻ từ 2-3 tiếng, nếu lâu
từ 8-10 tiếng là lợn mẹ yếu, có thể do suy dinh dưỡng hoặc bị bệnh Trường hợp này lợn con dễ bị ngạt chết
đẻ lợn nằm nghiêng một phía, bốn chân duỗi thẳng, thỉnh thoảng lưng co, bụng thót rặn đẻ, lúc đó là con sắp ra Nếu bình thường cứ để tự nhiên, không can thiệp Khithấy vú có sữa, nghĩa là nái sẽ đẻ trong vòng 24 giờ sau đó, chăm sóc nái trong lúc đẻ giúp giảm tỷ lệ lợn con chết trong và sau khi đẻ Thời gian đẻ kéo dài từ 30 phút đến 5giờ đồng hồ Trung bình mỗi con lợn đẻ cách nhau 15phút, nhưng có trường hợp đến vài giờ sau
Có thể dùng các biện pháp như: tiêm Oxytocin để hỗ trợ lợn nái trong quá trình sinh sản trong các trường hợp sau: lợn rặn đẻ yếu, sau 30phút lợn rặn nhưng chưa đẻ lợn con kế tiếp, hoặc lợn con đã ra hết nhưng nhau chưa ra
Chú ý: không nên dùng Oxytocin nếu lợn chưa đẻ ra con nào, hoặc có dấu hiệu rặn đẻ dữ dội nhưng thai không ra, cần phải kiểm tra trước khi dùng thuốc (điều này
do thai bị ngược, lệch hay kẹt trong cơ quan sinh sản) có thể hỗ trợ bằng tay chỉ áp dụng trong trường hợp lợn nái có dấu hiệu không thể đẻ được nếu không có sự trợ giúp Người xử lý nên đeo găng tay dài được bôi trơn bằng dầu thực vật, hay Vaselin trộn với kháng sinh, nái phải được tiêm kháng sinh ngay sau khi xử lý Sau khi sinh xong, nái được tiêm kháng sinh qua cơ bắp, đồng thời bơm kháng sinh vào đường âm đạo
Nên cho lợn con bú sữađầu (sữa có chứa kháng thể) ngay sau khi sinh lợn nái chỉ có khả năngcho sữa đầu từ 24 – 36 giờ sau khi sinh lợn con cũng chỉ có khả năng
Trang 23hấp thu trực tiếp kháng thể qua tế bào biểu mô ruột non ngay giờ đầu sau khi sinh đến 18-24 giờ sau đó Khi cho lợn con vừa đẻ ra bú ngay cũng tác dụng kích thích lợn nái rặn đẻ nhanh hơn, ít sót nhau hơn.
Khi lợn quan tâm đến con đẻ ra, lợn mẹ khi trở mình dễ đè chết con, cần theo dõi sát sao Lợn nái thường đẻ vào buổi chiều tối và đêm, ít khi đẻ ban ngày và sáng sớm
Cần phải trực tiếp theo dõi đến lúc đẻ xong Nếu lợn đẻ bọc cần xé bọc ngay sau khỉ ra khỏi âm hộ để lợn con khỏi chết ngạt Nếu lợn con bị ngạt, có thể hà hơi vào mồm lợn con, nâng hai chân trước lên xuống trong 5 phút, lợn sẽ sống và khỏe dần Nhau thai là một thành phần trong bào thai, nặng từ 2.0-5.5kg ở lợn lai, lợn ngoại, từ 0.5-1.0kg ở lợn nội Nhau thai càng nặng thì con càng to và khỏe Nhau ra sau cùng là lợn con khoẻ, nhau ra từng đoạn là đàn con yếu Cần theo dõi để lấy hết nhau, chăm sóc nái và đàn con Nhau thường ra sau khi đẻ con cuối cùng 15-20% phút Không để lợn mẹ ăn nhau ảnh hưởng đến tiết sữa
3.3.4 Chăm sóc lợn nái sau khi đẻ
Sau khi ra nhau, dùng nước ấm rửa sạch vú và âm hộ Thay rơm ướt ẩm bằng rơm khô mới cho nái nằm Trường hợp lợn mẹ khỏe, bình thường không nằm đè con thì nên cho lợn con bú tự do là tốt nhất Nếu nhốt vào ô úm thì tối thiểu cho bú 1 giờ 1lần Nên sắp xếp lợn con có khối lượng nhỏ cho bú vú phía trước để đàn lợn con phát triển đều cho lợn uống đầy đủ nước sạch có pha ít muối, vì sau khi đẻ lợn thường khát do mất máu Để tránh bệnh sưng vú, cho lợn mẹ ăn cháo trong 1-2 ngày đầu
Cho thêm rau tươi non phòng táo bón Thời kỳ lợn nái nuôi con, thức ăn phải tốt, máng phải sạch sẽ, không để thức ăn mốc, thừa, máng uống phải luôn đầy nước vìlợn tiết sữa sẽ uống rất nhiều nước, không nên thay đổi thức ăn của lợn nái Sau 3
Trang 24ngày theo dõi lợn nái có bị viêm tử cung, âm hộ có mủ chảy ra không Nếu bị viêm vúthì vú sưng đỏ, nóng Cần đo nhiệt độ hàng ngày sau khi đẻ 2-3 ngày.
3.3.5 Sự tiết sữa của lợn
Sữa đầu là sữa lợn mẹ tiết 2-3 ngày dầu sau khi đẻ Sữa đầu có đủ chất dinh dưỡng và kháng thể chống bệnh cho lợn con do mẹ truyền qua sữa Lợn con phải được
bú sữa đầu của chính mẹ nó Nếu muốn chuyển lợn con sơ sinh từ lợn mẹ này sang lợn mẹ khác nuôi, cần để cho đàn lợn con bú sữa đầu 1-2 ngày của chính mẹ nó Lợn nái cho lượng sữa cao trong 21-22 ngày đầu, sau đó giảm dần Lượng sữa nhiều hay ít phụ thuộc vào tính di truyền của giống và nuôi dưỡng con nái, ít phụ thuộc vào số con
đẻ ra Do lượng sữa ổn định, nên số con đẻ ra nhiều thì khối lượng lợn con nhỏ, đẻ ít thì con to và lớn hơn
hợp lợn nái ăn chưa đủ chất để sản xuất sữa nuôi con, lợn mẹ phải huy động chất dinh dưỡng trong cơ thể để đáp ứng nhu cầu sản xuất sữa nuôi con Vì vậy lợn
mẹ hao mòn cơ thể, nhanh phát sinh hiện tượng liệt chân sau, nhất là nái lai, động dục trở lại chậm, lứa đẻ thưa dần, lợn con chậm lớn, dễ bị loại thải.Sữa mẹ là nguồn thức
ăn có đầy đủ các chất dinh dưỡng, không loại thức ăn nào có thể thay thế được Cần đảm bảo cho lợn nái tăng khả năng tiết sữa để lợn con mau lớn, đạt khối lượng cao lúccai sữa
Lợn nái nuôi con ở giai đoạn này, cần được ăn tự do, ăn đủ chất Nếu 1kg thức
ăn có năng lượng từ 2950 Kcal đến 3000 Kcal, có tỷ lệ đạm tiêu hoá 15%, một ngày lợn nái nuôi con (số con đẻ ra nuôi từ 8-10con/ổ) có khối lượng 180-200 kg, cần được
ăn từ 5.5-6 kg Nhu cầu năng tượng một ngày của lợn nái nuôi con từ 15.000Kcal đến 15.500Kcal
Gần ngày cai sữa nên giảm lần bú của lợn con và tăng lượng thức ăn để chuẩn
bị cho giai đoạn sống tự lập Đồng thời giảm thức ăn của lợn mẹ để giảm tiết sữa