PHẦN I MỞ ĐẦU LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ c[.]
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho sự hoàn thành khóa luận này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõnguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2012
Sinh viên
Đinh Thị Yến
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội,Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, giáo viên hướng dẫn, tôiđược phân công về thực tập tại xã Phồn Xương, huyện yên Thế, tỉnh Bắc Giang
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, bên cạnh sự cố gắng và nỗ lựccủa bản thân cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
- Cô giáo, PGS.TS Nguyễn Thị Minh Hiền đã trực tiếp hướng dẫn vàgiúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
- Các thầy giáo, cô giáo khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn và toàn thểquý thầy, cô giáo trong trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội đã truyền đạt kiếnthức cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
- UBND xã Phồn Xương, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, phòng Nông
nghiệp và PTNT huyện Yên Thế, tổ tiết kiệm và vay vốn của thôn và đặc biệt làcác hộ nông dân điều tra trên địa bàn xã Phồn Xương đã giúp đỡ tôi trong suốtquá trình thực tập vừa qua
- Cùng gia đình, người thân và bạn bè đã động viên tôi trong suốt quátrình học và thực tập
Trong cả quá trình thực tập tốt nghiệp, mặc dù đã có nhiều cố gắng, tuynhiên do bước đầu tiếp cận với công tác nghiên cứu khoa học, thời gian hạn chếnên không tránh khỏi nhiều sai sót Kính mong quý thầy cô cùng bạn bè giúp đỡ
và đóng góp ý kiến để khóa luận được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày tháng năm 2012
Sinh viên
Đinh Thị Yến
Trang 3TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Nông nghiệp là ngành ra đời sớm cùng với sự ra đời của loài người Nó làngành chính sản xuất ra lương thực, thực phẩm cung cấp cho con người Cùngvới sự phát triển của xã hội, nông nghiệp cũng có những bước phát triển khôngngừng và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội
Ở các nước đang phát triển, nông thôn là khu vực kinh tế có nhiều ảnh hưởngđến sự phát triển của toàn xã hội bởi tỷ trọng về thu nhập và tỷ trọng về laođộng, dân cư trong khu vực kinh tế nông thôn rất cao
Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chung mà Đảng và Nhà nước đã đề ratrong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là trong bối cảnh nguồn vốn cònhạn chế, thì việc phát triển một thị trường tài chính nông thôn là rất quan trọng,trong đó hoạt động tín dụng phải giữ vai trò nòng cốt để tạo nguồn vốn cho pháttriển nông nghiệp, nông thôn
Nhằm tìm hiểu, đánh giá về hiệu quả hoạt động tín dụng trên địa bàn, tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá hoạt động tín dụng phục vụ phát triển
nông nghiệp và nông thôn trên địa bàn xã Phồn Xương, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang”.
Đề tài đi sâu vào nghiên cứu và đánh giá thực trạng hoạt động của các tổchức tín dụng trên cả địa bàn xã Hệ thống tín dụng chính thống của xã có đadạng nhưng chưa đáp ứng được đủ nhu cầu về vốn của nhân dân, chính vì thế,
hệ thống tín dụng phi chính thống trên địa bàn xã Phồn Xương phát triển rấtmạnh mẽ Tín dụng hụi họ rất phát triển, hầu hết là họ tiền Chơi họ giúp cho các
hộ giải quyết một cách nhanh chóng nhu cầu về vốn, lãi suất chơi họ trong xãkhông chênh lệch nhiều so với lãi suất ngân hàng, do đó, hụi họ trong xã ngàycàng phổ biến Tín dụng tư nhân cũng phát triển, tuy nhiên đa số đối tượng đivay là đối tượng chơi bời, chỉ một số là phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinhdoanh Lãi suất cho vay của họ rất cao, gấp 6 – 10 lần lãi suất ngân hàng Chính
Trang 4vì vậy, nhu cầu vay phải là đột xuất, không vay được ở đâu thì người dân mớivay của tổ chức này.
Hệ thống tín dụng trên địa bàn xã phát triển mạnh, người dân trong xã vayvốn của tín dụng chính thống nhiều khi chưa đúng mục đích tuy nhiên cũng làmtăng thu nhập, giá trị sản xuất của hộ tăng lên đáng kể Bên cạnh đó, hệ thống tíndụng ở xã cũng tồn tại nhiều hạn chế như: chưa đáp ứng đủ nhu cầu vốn của hộ,lãi suất đối với một số đối tượng nông dân còn khá cao, thời hạn vay của ngânhàng tương đối ngắn, thủ tục vay vốn còn rườm rà và phức tạp đối với ngườinghèo, Chính vì vậy, để tạo điều kiện cho nhân dân trong xã phát triển sảnxuất thì các tổ chức tín dụng cần cải thiện tình hình hoạt động của mình Tíndụng chính thống cần đa dạng hóa nguồn vốn huy động hơn nữa, đơn giản hóaphương thức thủ tục cho vay, cho vay vốn bằng nhiều hình thức như tiền mặt vàhiện vật, củng cố phát triển mạnh mẽ vai trò đoàn thể trong công tác tín dụng xã.Các tổ chức tín dụng phi chính thống cần được phát triển để đáp ứng một cáchđầy đủ nhu cầu về vốn cho nhân dân, mạnh mẽ nhất là tín dụng anh em bạn bèvới lãi suất thấp hoặc không có lãi Có đồng vốn trong tay, nông dân cần thườngxuyên trau dồi kiến thức, kinh nghiệm trong sản xuất để việc sử dụng vốn cóhiệu quả
Trang 5MỤC LỤC
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Trang 7PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là ngành ra đời sớm cùng với sự ra đời của loài người Nó làngành chính sản xuất ra lương thực, thực phẩm cung cấp cho con người Cùngvới sự phát triển của xã hội, nông nghiệp cũng có những bước phát triển khôngngừng và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội
Ở các nước đang phát triển, nông thôn là khu vực kinh tế có nhiều ảnh hưởngđến sự phát triển của toàn xã hội bởi tỷ trọng về thu nhập và tỷ trọng về laođộng, dân cư trong khu vực kinh tế nông thôn rất cao
Nền kinh tế nước ta với nông nghiệp là chủ yếu với gần 80% dân số ởnông thôn thì vai trò của nông nghiệp và nông thôn là vô cùng quan trọng.Trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam, nông nghiệp được coi là cơ sởcho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế Đặc biệt khi Việt Nam thực hiện chínhsách mở cửa, gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), thương mại nôngnghiệp đã đóng góp lớn vào nguồn thu ngoại tệ, tăng thu nhập cho khu vực nôngnghiệp, cải thiện đời sống của người dân nông thôn Nhận thức rõ vai trò quantrọng của nông nghiệp nông thôn, Nghị quyết Đại hội Đảng khóa X chỉ đạo: “Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn vànâng cao đời sống nhân dân: Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nôngnghiệp, nông dân và nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng Phải luônluôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thônhướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa lớn, đa dạng, phát triểnnhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao; tạođiều kiện từng bước hình thành nền nông nghiệp sạch” Để thực hiện thắng lợinhiệm vụ chung mà Đảng và Nhà nước đã đề ra trong tiến trình hội nhập kinh tếquốc tế, nhất là trong bối cảnh nguồn vốn còn hạn chế, thì việc phát triển một thịtrường tài chính nông thôn là rất quan trọng, trong đó hoạt động tín dụng phải
Trang 8giữ vai trò nòng cốt để tạo nguồn vốn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn.Hiện nay nước ta có khoảng hơn 1000 tổ chức tín dụng và tổ chức phi ngân hàngđang cung cấp vốn cho nông nghiệp và nông thôn Các tổ chức tín dụng này đãđáp ứng được cơ bản nhu cầu về vốn ở vùng nông thôn.
Tuy nhiên hiện nay và trong tương lai nhu cầu vay vốn của khu vực này làrất lớn vì khu vực này có khoảng 10 triệu hộ sản xuất, trên 10 triệu ha đất nônglâm ngư nghiệp mặt nước nuôi trồng thủy sản chưa được khai thác Như vậy các
tổ chức tín dụng cấp vốn cho nông nghiệp nông thôn đóng vai trò hết sức quantrọng trong việc đổi mới bộ mặt nông thôn nước ta
Các tổ chức tín dụng cấp vốn cho nông nghiệp nông thôn trên địa bànhuyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang đó là NHNN&PTNT, NHCSXH và các tổ chứcQTDND, các tổ chức đoàn thể sau nhiều năm hoạt động đã đáp ứng phần nào vềvốn cho các đơn vị sản xuất trên địa bàn huyện Các tổ chức này đã góp phầnkhông nhỏ để tạo ra những kết quả về kinh tế, xã hội của các đơn vị trên địa bàn,cũng nhờ đó mà chính bản thân các tổ chức này từng bước được cải thiện vàphát triển Nhằm tìm hiểu, đánh giá về hiệu quả hoạt động tín dụng trên địa bàn,
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá hoạt động tín dụng phục vụ phát
triển nông nghiệp và nông thôn trên địa bàn xã Phồn Xương, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng trên địabàn nghiên cứu xã Phồn Xương, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang đề xuất giảipháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động và hiệu quả của tín dụng
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động tín dụngtrong phát triển kinh tế xã hội nói chung và nông nghiệp nông thôn nói riêng
Trang 9- Đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động tín dụng đối với sự phát triểnnông nghiệp, nông thôn trên địa bàn xã Phồn Xương, huyện Yên Thế, tỉnh BắcGiang.
- Đề ra một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụngphục vụ nông nghiệp nông thôn xã Phồn Xương trong những năm tới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hoạt động tín dụng trên địa bàn xãPhồn Xương, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung:
+ Những cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động tín dụng
+ Tình hình hoạt động và kết quả đạt được của các tổ chức tín dụng
+ Kết quả thu được từ phía tiếp nhận tín dụng
Phạm vi không gian: xã Phồn Xương, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.Phạm vi thời gian: từ 20/01/2012 đến 20/05/2012 Thu thập số liệu, phântích, đánh giá các vấn đề nghiên cứu trong 3 năm 2009, 2010, 2011
Trang 10PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Tín dụng ra đời rất sớm, nó xuất hiện từ khi xã hội có sự phân công laođộng và trao đổi hàng hoá đã hình thành những sự kiện nợ nần nhau, phát sinhnhững quan hệ vay mượn để thanh toán Tín dụng là một phạm trù kinh tế củanền kinh tế hàng hoá, nó phản ánh quan hệ kinh tế giữa ngưởi sở hữu với người
sử dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế theo nguyên tắc hoàntrả vốn và lợi tức khi đến hạn
Nhìn chung, tín dụng được hiểu theo nhiều quan điểm khác nhau, mỗiquan điểm đều thể hiện được những điểm cơ bản về tín dụng
Cùng với sự phát triển thì hình thức tín dụng ngày càng hoạt động rộng khắp vàphổ biến hơn Như vậy theo nghĩa hẹp, tín dụng là một quan hệ kinh tế hìnhthành trong quá trình chuyển hoá giá trị giữa hình thái hiện vật và hình thái tiền
tệ từ tổ chức này hay người này sang tổ chức khác hay người khác theo nguyêntắc hoàn trả vốn và lãi trong một thời gian nhất định Nói cách khác tín dụng là
sự chuyển quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định dưới hình thức hiện vậthay tiền tệ trong một thời gian nhất định từ người sở hữu sang người sử dụng vàkhi đến hạn người sử dụng phải trả cho người sở hữu một lượng giá trị lớn hơn.Khoản giá trị được dôi ra này được gọi là lợi tức tín dụng
Theo nghĩa rộng, quan hệ tín dụng gồm hai mặt: huy động vốn và tiến hành chovay Tín dụng được biểu hiện là tổng số tiền được gửi vào các tổ chức tín dụng
là quyền kiểm soát số tiền đó đã bị chuyển đổi cho đối tượng khác có quyền
Trang 11kiểm soát số tiền gửi Một tổ chức tín dụng có hai bộ phận rõ rệt: Một bên làngười vay, một bên là người cho vay Nó cũng gồm cả giá của sự chuyển số tiền
đó, chính lãi suất giữa người cho vay và người vay Người cho vay trong kinhdoanh tín dụng là một cá nhân hay tổ chức, người vay trong tín dụng cũng có thể
là cá nhân hoặc doanh nghiệp có nhu cầu về tiền tệ để phát triển sản xuất haytiêu thụ sản phẩm nông nghiệp hoặc đầu tư cho tương lai
Nhìn chung quan niệm này đã phản ánh một cách cụ thể về quan hệ tín dụng,thông qua các đối tượng tín dụng, các tổ chức tín dụng giúp cho nhận thức trongquan hệ tín dụng, do vậy quan hệ này được sử dụng phổ biến trong các lĩnh vựckinh tế khi có nhu cầu vay mượn tín dụng
2.1.1.2 Bản chất của tín dụng
Qua định nghĩa về tín dụng, tiền tệ hoặc hàng hoá trong quan hệ tín dụngkhông phải là bị bán ra mà là cho mượn Người đi vay và người cho vaycó mốiliên hệ với nhau thông qua sự vận động giá trị của vốn tín dụng Bản chất củaquá trình vận động này được thể hiện như sau:
+ Thứ nhất là phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay Tức là vốnđược chuyển từ người cho vay sang người đi vay
+ Thứ hai là người đi vay sử dụng vốn tín dụng để thoả mãn mục đíchnhất định của mình Người đi vay chỉ có quyền sử dụng vốn tín dụng mà không
có quyền sở hữu vốn tín dụng
+ Thứ ba là người đi vay hoàn trả vốn tín dụng và lãi về vay vốn tín dụngcho người cho vay sau một thời gian do hai bên thoả thuận Đây là giai đoạn kếtthúc một vòng tuần hoàn của vốn tín dụng Đến thời hạn do hai bên thoả thuận,người vay trả lãi cho người cho vay một giá trị lớn hơn vốn vay ban đầu, phầntăng thêm này được gọi là lãi
Như vậy, sự hoàn trả của tín dụng là đặc trưng thuộc về bản chất vận độngcủa tín dụng Đây cũng là dấu hiệu để phân biệt phạm trù tín dụng với phạm trùkinh tế khác
Trang 122.1.1.3 Khái niệm về phát triển NN&NT
Phát triển NN&NT là sự thay đổi về đời sống kinh tế xã hội ở nông thôntheo hướng tích cực, được biểu hiện trong sự tăng trưởng kinh tế, nâng cao thunhập, giảm bớt tình trạng đói nghèo cùng với sự cải thiện về văn hoá, y tế, giáodục của con người ở nông thôn Sự phát triển NN&NT chính là sự tăng trưởng
về mặt kinh tế và sự phát triển tích cực xã hội khu vực nông thôn
2.1.2 Vai trò của tín dụng đối với phát triển nông nghiệp và nông thôn
2.1.2.1 Vai trò của tín dụng đối với tình hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Chính phủ rấtquan tâm, chú trọng đến phát triển kinh tế nông thôn đặc biệt chương trình CNH
- HĐH nông nghiệp nông thôn đã trở thành chiến lược trong chính sách kinh tế
vĩ mô của Nhà nước
Thực hiện chương trình CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn cần phải cóvốn đầu tư rất lớn, thời gian thu hồi vốn chậm Bởi vì đầu tư vào cơ sở ở nôngthôn là việc làm tốn kém, đóng góp của người dân và nguồn để lại từ thuế nôngnghiệp cho địa phương để tái sản xuất không đáp ứng được Để giải quyết vấn
đề này đòi hỏi sự tăng đầu tư của Chính phủ và hỗ trợ tín dụng cho nông nghiệpnông thôn Tín dụng đóng vai trò như là yếu tố đầu vào cho quá trình CNH -HĐH nông nghiệp nông thôn
Vốn tín dụng góp phần quan trọng trong việc thay đổi, chuyển dịch cơ cấukinh tế nông nghiệp Vốn tín dụng đầu tư hợp lý vào lĩnh vực nông nghiệp theohướng phát huy thế mạnh của từng vùng, những nông sản là mũi nhọn, có hiệuquả kinh tế cao dẫn đến cơ cấu ngành nông nghiệp thay đổi Cơ cấu ngành nôngnghiệp thay đổi hợp lý là cơ sở cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thônhợp lý
Trang 132.1.2.2 Vai trò của tín dụng đối với kinh tế hộ
Dựa vào tín dụng người nông dân có thể đầu tư thêm các yếu tố đầu vàonhư: thuê thêm đất canh tác, mua giống mới, phân bón, thuốc trừ sâu,… Tíndụng tạo điều kiện cho nông dân tập trung sản xuất những nông sản có giá trịkinh tế cao, đáp ứng nhu cầu thị trường và hình thành những vùng chuyên canhmang tính hàng hoá
Thu nhập của hộ nông dân phụ thuộc vào hai yếu tố là giá trị sản xuất vàchi phí trung gian Nhưng cả hai yếu tố này lại phụ thuộc vào yếu tố giá cả vàlượng đầu vào, lượng đầu ra Sự bắt buộc phải trả lãi suất tín dụng đã làm chongười nông dân buộc phải tính toán danh mục đầu tư để có thể hoàn trả vốn vàlãi suất đúng thời hạn Tín dụng giúp gia tăng yếu tố đầu vào để tăng khối lượngsản phẩm ở đầu ra giúp thay đổi thu nhập cho hộ gia đình
Tín dụng là giải pháp quan trọng giúp cho người nghèo thoát nghèo Nógiúp cho người nghèo cũng có thể mua được các yếu tố sản xuất để nâng cao thunhập cải thiện cuộc sống Đầu tư tín dụng ưu đãi cho người nghèo ngoài việcmang lại hiệu quả kinh tế còn mang lại hiệu quả xã hội
2.1.2.3 Vai trò của TD đối với sự phát triển của văn hoá, giáo dục, y tế
Để phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng nguồn lao động nôngthôn phục vụ cho việc CNH - HĐH nông thôn thì phụ thuộc rất nhiều vào việcđầu tư cho giáo dục, y tế, văn hoá Kết quả đầu tư này còn chịu ảnh hưởng bởicác nguồn vốn đầu tư cho việc xây dựng trường học, trạm y tế, nhà văn hoá,…Những cơ sở của y tế, giáo dục, văn hoá tạo điều kiện cho người nông dân đượchọc hành nâng cao trình độ dân trí dần có khả năng tiếp cận với khoa học kỹthuật tiên tiến
2.1.2.4 Vai trò của TD đối với quản lý rủi ro
Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên và nhữngbiến động bất thường của nó cùng với biến động giá cả nông sản, chi phí sản
Trang 14xuất và sự không ổn định về nguồn lực đã tạo nên sự rủi ro trong sản xuất nôngnghiệp.
Có nhiều biện pháp đã được sử dụng để quản lý rủi ro như: bố trí sản xuất
đa canh, đa dạng hoá cây trồng và các loại hình kinh doanh,… và hình thức sửdụng tín dụng
Nhờ có tín dụng, người nông dân có điều kiện đầu tư sản xuất như: muagiống có chất lượng và năng suất cao, trang thiết bị phục vụ cho sản xuất nôngnghiệp cũng như các trang thiết bị để hạn chế sự tác động có hại của thời tiết
2.1.3 Các hình thức tín dụng trong NN&NT
Hệ thống tín dụng nông thôn từ khi ra đời đã phát triển khá nhanh và đượcchia làm nhiều hình thức theo các tiêu thức nhất định như: thời gian, đối tượngcho vay, mục đích sử dụng vốn, hình thức biểu hiện vốn vay và chủ thể của cáchoạt động tín dụng
2.1.3.1 Theo thời hạn cho vay
+ Tín dụng ngắn hạn (3 – 9 tháng): là những khoản tín dụng có thời hạn trongvòng một năm như tín dụng theo tháng, theo vụ, thường được sử dụng để chovay bổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động và phục vụ nhu cầu sinh hoạt của
cá nhân
+ Tín dụng trung hạn (1 – 3 năm): thường là nhưng khoản vay để nuôi đại giasúc, trồng cây lưu gốc, đổi mới công nghệ sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học kỹthuật vào sản xuất…
+ Tín dụng dài hạn (trên 3 năm): loại tín dụng này được sử dụng để cung cấpvốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn Tín dụngdài hạn trong nông nghiệp là để trồng và chăm sóc cây dài ngày, cây lâm nghiệp,chăn nuôi gia súc cơ bản, mua sắm tàu thuyền, máy móc thiết bị sản xuất, chếbiến nông – lâm – thuỷ hải sản, mở rộng cơ sở sản xuất,…
Trang 152.1.3.2 Theo đặc điểm của vốn
+ Tín dụng vốn lưu động: là những khoản vay để mua các yếu tố đầu vào chosản xuất, trang trải chi phí sản xuất, đổi mới công nghệ sản xuất, nuôi đại giasúc,…Tín dụng lưu động thường được sử dụng để cho vay bù đắp mức vốn lưuđộng thiếu hụt tạm thời Loại tín dụng này thường được chia ra các loại: cho vay
dự trữ hàng hoá, cho vay chi phí sản xuất và cho vay để thanh toán các khoản nợdưới hình thức chiết khấu kỳ phiếu
+ Tín dụng vốn cố định: là những khoản vay để mua máy móc, thiết bị, trồngcây lâu năm, nuôi gia súc cơ bản,… Đây là những khoản vay nhằm tạo ra tài sản
cố định trong các cơ sở kinh doanh nông nghiệp Thời hạn cho vay là trung hạn
và dài hạn
Đây là cách phân loại dễ hiểu nhất vì mỗi khoản vay đều cho một loại mục đích
sử dụng, có tác dụng phân tích lợi nhuận của những loại tín dụng hoặc từng món
nợ cũng như cung cấp các thông tin khác trong đánh giá tài chính
2.1.3.3 Theo mục đích sử dụng vốn
+ Tín dụng sản xuất, lưu thông hàng hoá: là những khoản vay để phục vụcho sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp hay trong lưu thông hàng hoánhư buôn bán dịch vụ thương mại
+ Tín dụng tiêu dung: là những khoản vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùngnhư: mua sắm nhà cửa, xe cộ, các hàng hoá bền chắc và cả những nhu cầu hàngngày Tín dụng tiêu dùng có thể được cấp phát dưới hình thức bằng tiền hoặcbán chịu hàng hoá
2.1.3.4 Theo hình thức biểu hiện vốn vay
+ Tín dụng bằng tiền: là những khoản vay bằng tiền
+ Tín dụng bằng hiện vật: là những khoản vay bằng hiện vật như: vật tưphục vụ cho sản xuất nông nghiệp, cho bảo vệ thực vật,…
Phân loại theo hình thức này đa dạng hơn, thuận tiện hơn theo từng mụcđích sử dụng vốn vay, phù hợp hơn với hộ nông dân
Trang 162.1.3.5 Theo chủ thể trong quan hệ tín dụng
+ Tín dụng thương mại: là quan hệ tín dụng giữa các nhà doanh nghiệpđược biểu hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hoá
Trong nền kinh tế thị trường, hiện tượng thừa thiếu vốn của các nhà doanhnghiệp thường xuyên xảy ra, vì vậy hoạt động của tín dụng thương mại một mặtđáp ứng nhu cầu vốn của các nhà doanh nghiệp tạm thời thiếu vốn, đồng thờigiúp cho các doanh nghiệp tiêu thụ được hàng hoá của mình Mặt khác hình thứcnày cũng giúp cho các nhà doanh nghiệp chủ động khai thác được nguồn vốnnhằm đáp ứng kịp thời cho hoạt động sản xuất kinh doanh
+ Tín dụng ngân hàng: là loại tín dụng giữa nhà nước với các tổ chức tíndụng khác với các nhà doanh nghiệp và các nhân
Trong nền kinh tế hiện nay, ngân hàng đóng vai trò là một tổ chức trunggian, trong quan hệ tín dụng nó vừa là người cho vay đồng thời là người đi vay.Với tư cách là người đi vay, ngân hàng nhận tiền gửi của các nhà doanh nghiệp,
cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốn trong xãhội Với tư cách là người cho vay, nó cung cấp tín dụng cho các nhà doanhnghiệp và cá nhân
+ Tín dụng Nhà nước: là quan hệ tín dụng giữa Nhà nước với các tầng lớpdân cư hoặc với các tổ chức kinh tế - xã hội trong đó Nhà nước là người đi vay
Chủ thể trong quan hệ tín dụng Nhà nước bao gồm: Người đi vay là Nhànước Trung ương và Nhà nước địa phương, người cho vay là dân chúng, các tổchức kinh tế, ngân hàng và nước ngoài Mục đích đi vay của tín dụng nhà nước
là bù đắp khoản bội chi ngân sách Tín dụng Nhà nước bao gồm: tín dụng ngắnhạn và tín dụng dài hạn
+ Tín dụng tư nhân, cá nhân: là loại quan hệ tín dụng giữa cá nhân và tưnhân cho vay nặng lãi hoặc giữa cá nhân với nhau
Trang 17+ Tín dụng thuê mua: là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp với các
tổ chức tín dụng thuê mua, được áp dụng với các khoản đầu tư vào tài sản cốđịnh
2.1.3.6 Theo phương diện tổ chức
+ Tín dụng chính thống: là hình thức huy động vốn và cho vay vốn
thông qua các tổ chức tài chính tín dụng chính thống có đăng ký vào hoạt độngcông khai theo pháp luật, hoặc chịu sự quản lý và giám sát của chính quyền nhànước các cấp Tín dụng chính thống giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tín dụngbao gồm hệ thống ngân hàng, kho bạc nhà nước, hệ thống quỹ tín dụng nhândân, các công ty tài chính, các tố chức đoàn thể xã hội, các tố chức quốc tế, các
tố chức phi chính phủ,…
*Ngân hàng NN&PTNT: được thành lập từ năm 1988 sau khi tách ra từ bộ
phận tín dụng nông nghiệp của NHNN, thực sự hoạt động vào tháng 12/1990,sau khi luật ngân hàng có hiệu lực từ ngày 1/10/1990 NHNN&PTNT tiếp quảnmạng lưới chi nhánh của NHNN ở nông thôn Tính đến nay NHNN&PTNT cómạng lưới hoạt động hơn 2300 chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn quốc
Ngân hàng áp dụng hình thức cho vay theo nhóm cùng chịu trách nhiệmchung, mỗi nhóm có từ 10 đến 20 người Các thành viên trong nhóm thoả thuậncùng chịu trách nhiệm trả nợ Cán bộ ngân hàng giữ liên hệ mật thiết với trưởngnhóm Tuy nhiên, không có đơn xin vay chung cả nhóm, mà mỗi đơn xin vay sẽđược giải quyết cá nhân Tương tự, những người có gửi tiền tiết kiệm cũng có sổtiết kiệm riêng Ngoài ra, ngân hàng còn phối hợp với những tổ chức quần chúng
để cung cấp các dịch vụ tài chính cho hội viên của những tổ chức quần chúng
đó Những tố chức quần chúng như: Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, HộiCựu chiến binh đứng ra lập những nhóm được bảo lãnh để vay tiền và có bảođảm chung là sẽ hoàn trả nợ vay
Các hộ nông dân muốn vay cũng phải có tài sản thế chất (và thường phải
có bảo lãnh của chính quyền xã), và chỉ được vay dưới 70% giá trị tài sản thế
Trang 18chấp Tuy ngân hàng có chức năng cung cấp tín dụng với mọi kỳ hạn, các khoảnvay thường là ngắn hạn và trung hạn, và 75% các khoản vay là dưới 12 tháng.Lãi vay thường là 1%/tháng (hoặc 1,5%/tháng đối với vay dài hạn).
*Ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH): là một tổ chức phi lợi nhuận
được thành lập vào tháng 8/1995 và bắt đầu hoạt động vào ngày 1/1/1996 Mụctiêu chính của ngân hàng là phục vụ chương trình xoá đói giảm nghèo Ngânhàng không thiết lập hệ thống của riêng mình trên toàn quốc, mà sử dụng mạnglưới chi nhánh và cán bộ của Ngân hàng NN&PTNT, không huy động tiết kiệm
mà chủ yêu dựa vào chính phủ và các ngân hàng quốc doanh để có nguồn vốncho vay
Ngân hàng tham gia giảm nghèo đói bằng cách cấp tín dụng cho những aikhông đủ điều kiện vay từ Ngân hàng NN&PTNT do không có tài sản thế chấp
Do vậy, chỉ những hộ gia đình nào là thành viên của nhóm chịu trách nhiệmchung (cũng do các tổ chức quần chúng hỗ trợ hình thành) mới được vay Các
hộ muốn vay cũng phải nằm trong diện nghèo theo tiêu chuẩn Việt Nam Kỳ hạnvay tối đa là 36 tháng, và mức vay tối đa là 2,5 triệu đồng lãi vay là lãi suất ưuđãi do NHNN ấn định ở mức 0,7%/tháng Trong đó, tổ chức xã hội ở địaphương giữ 0,1% cho chi phí giám sát; Ngân hàng NN&PTNT giữ 0,25% chochi phí hành chính; và Ngân hàng chính sách xã hội giữ 0,35% để trang trải chiphí vốn Tính đến cuối năm 1999, ngân hàng đã cấp tín dụng cho hơn 2,3 triệu
hộ nghèo với tổng dư nợ 3.879 tỉ đồng
*Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND): bắt đầu từ một chương trình thí điểm
chịu sự giám sát của NHNN vào tháng 7/1993 Khi đó, một trong những mụctiêu quan trọng của NHNN là khôi phục lòng tin của người dân đối với hệ thốngtín dụng nông thôn sau sự sụp đổ của hàng loạt hợp tác xã tín dụng
QTDND hoạt động theo luật hợp tác xã QTDND cho xã viên vay, nhậntiền gửi của cả xã viên lẫn những người không phải xã viên Tuy các khoản vaynhỏ không càn thế chấp, các khoản vay lớn vẫn cần thế chấp bằng giấy chứng
Trang 19nhận quyền sử dụng đất hay tài sản khác Kỳ hạn cho vay thường dưới 12 tháng.Lãi suất vay (khoảng 1,5%/tháng) và lãi suất tiền gửi (0,9%/tháng) do NHNN ấnđịnh, và thường cao hơn lãi suất của Ngân hàng NN&PTNT và NHPVNN.
Hệ thống QTDND có ba cấp: quỹ tín dụng địa phương, quỹ tín dụngvùng, và quỹ tín dụng trung ương Tính đến cuối năm 1999, có 981 QTDND ởcác cấp xã, vùng và trung ương, với khoảng 630.000 xã viên
*Ngân hàng cổ phần nông thôn: hình thành từ việc sắp xếp lại hoặc sáp
nhập các hợp tác xã tín dụng Các ngân hàng này tập trung cho vay đối vớinhững nông hộ và người buôn bán trong dịa phương phục vụ Mức cho vaythường thấp, từ 1 đến 3 triệu, và cho các mục đích ngắn hạn như mua hạt giống,phân bón và thuốc trừ sâu Lãi vay thường cao hơn 0,5% - 1% so với lãi suất củaNgân hàng NN&PTNT Tất cả các ngân hàng này đều yêu cầu phải có thế chấpmới được vay Những ngân hàng này phải chịu mức trần lãi suất tiền gửi doNHNN ấn định, do vậy còn hạn chế về khả năng huy động tiết kiệm
+ Tín dụng phi chính thống:
Vốn tín dụng được vay từ các tổ chức hoạt động không bị chi phối bởiNgân hàng nhà nước là các tổ chức đoàn thể như: Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên,Hội cựu chiến binh, Hội nông dân, Các tổ chức này không phải là chủ thếcung cấp vốn tín dụng mà chỉ là lực lượng trợ giúp chính phủ, các tổ chức phichính phủ giải ngân cho các chương trình dự án chỉ định nhằm đẩy mạnh pháttriển kinh tế, xã hội ở khu vực nông thôn
+ Tín dụng không chính thống:
Hình thức này tồn tại ở hầu hết các thôn, xã trong nông thôn Việt Nam và
đã đáp ứng được một phần quan trọng trong nhu cầu vốn của dân cư nông thôn.Tín dụng không chính thống bao gồm các hình thức:
- Tín dụng tư nhân: Vốn tín dụng được cung cấp bởi một số người giàu có
trong nông thôn cho những người có nhu cầu vốn đột xuất hay ngắn hạn để thực
Trang 20hiện hoạt động sản xuất kinh doanh hay các hộ nghèo vay cho nhu cầu sinh hoạthàng ngày lúc giáp hạt bằng nguồn vốn tự có là chủ yếu.
Trước đây ở nhiều nơi tín dụng tư nhân tồn tại dưới hình thức cho vay nặng lãi
đã làm cho kinh tế hộ vay vốn không những không phát triển mà còn ngày càngrơi vào nghèo túng hơn Hiện nay với sự phát triển của hệ thống tín dụng nôngthôn làm cho người nông dân có sơ hội tiếp cận với vốn vay tín dụng nên tìnhtrạng cho vay nặng lãi đã giảm đáng kể Tuy nhiên tín dụng tư nhân với việc chovay nặng lãi vẫn tồn tại nhất là ở vùng sâu, vùng xa nơi mà thị trường tín dụngchưa phát triển
- Tín dụng thương mại: Là hình thức tín dụng mua bán chịu vật tư, hàng
hóa giữa người buôn bán, cung ứng dịch vụ trong nông thôn với các hộ gia đình.Trong quan hệ tín dụng này vốn vay là hiện vật, vốn trả bằng tiền, thủ tục vayđơn giản, thời gian chịu nợ thường theo chu kỳ sản xuất kinh doanh, lãi suấtđược tính vào giá cả vật tư, hàng hóa khi cho vay hoặc không tính lãi tùy thuộcvào mối quan hệ giữa hai bên
- Tín dụng hộ hàng, làng xóm, bạn bè: Là hình thức tín dụng mang tính
cất tương trợ, trợ giúp lẫn nhau không lấy lãi suất, khi gặp khó khăn, có việc độtxuất giữa những người có quan hệ họ hàng, anh em, làng xóm, bạn bè Trongnông thôn hình thức tín dụng này khá phổ biến và đa dạng vì đây không chỉ làhình thức tín dụng đơn thuần mà còn thể hiện mối quan hệ huyết thống, tìnhnghĩa làng xóm
- Hình thức hụi, họ, phường: Là hình thức góp vốn theo mức quy định của
một nhóm người với nhau để tạo ra một lượng vốn lớn cho một người trongnhóm sử dụng trong một khỏang thời gian nhất định Phương thức này mangtính tương trợ là chính, nó là cơ sở tốt cho việc thành lập nhóm tương trợ trongsản xuất kinh doanh
Tóm lại: hiện nay trên thị trường tín dụng nông thôn có nhiều hình thứcvốn vay tín dụng Sự đa dạng và phong phú này đã tạo dự cạnh tranh sôi động
Trang 21trên thị trường, lượng vốn tín dụng được tăng cường và hộ nông dân có nhiều cơhội được vay vốn Hình thức tín dụng nào tạo điều kiện thuận lợi cho người dânvay vốn sẽ có ưu thế cạnh tranh trên thị trường hơn.
2.1.4 Hiệu quả hoạt động tín dụng
2.1.4.1 Khái niệm hiệu quả
Hiệu quả là đại lượng để đánh giá xem xét kết quả hữu ích được tạo ra thếnào từ nguồn chi phí bao nhiêu, trong điều kiện cụ thể nào, có thể nhận đượchay không
2.1.4.2 Các phương pháp đánh giá hiệu quả
* Hiệu quả kinh tế: Là một hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu đề cập
đến lợi ích kinh tế sẽ thu được trong hoạt động kinh tế Nâng cao chất lượnghoạt động kinh tế là tăng cường tận dụng các nguồn lực sẵn có trong hoạt độngkinh tế Đây là đòi hỏi khách quan của nền sản xuất xã hội do nhu cầu vật chấtcủa đời sống con người ngày càng tăng
*Hiệu quả xã hội: Là kết quả của các hoạt động kinh tế xét trên khía cạnh
công ích, phục vụ lợi ích chung cho toàn xã hội Cùng với hiệu quả kinh tế, hoạtđộng sản xuất còn tạo ra nhiều kết quả liên quan đến đời sống kinh tế, xã hộinhư: cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo việclàm, tăng thu nhập, giảm tỷ lệ thất nghiệp,
*Hiệu quả môi trường: Đó là tác động đến môi trừờng tự nhiên của hoạt
động sản xuất kinh doanh Hiện nay, hiệu quả môi trường đang được các nhàquản lý sử dụng làm công cụ đánh giá Một hoạt động sản xuất được coi là hiệuquả thì hoạt động đó không được làm ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái.Nếu chỉ quan tâm đến hiệu quả kinh tế, mà không quan tâm đến hiệu quả môitrường, đôi khi dẫn đến mất mát của xã hội lớn hơn nhiều so với lợi ích kinh tếđem lại Hiệu quả môi trường được đánh giá bằng các chỉ tiêu dự tính như: sự đadạng sinh học, sự cân bằng sinh thái, độ sói mòn đất,
Trang 222.1.4.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
Bàn về vấn đề hiệu quả kinh tế, các nhà kinh tế ở nhiều nước, nhiều lĩnhvực có quan điểm khác nhau, có thể tóm tắt thành các quan điểm như sau:
Quan điểm thứ nhất: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa kết quảđạt được với chi phí bỏ ra hoặc sử dụng các nguồn lực để đạt kết quả đó
H = Q/CH: Hiệu quả kinh tếQ: Kết quả sản xuấtC: Chi phí bỏ raQuan điểm này phản ánh được trình độ sử dụng các nguồn lực, giúp chúng ta sosánh được hiệu quả giữa các quy mô khác nhau Tuy nhiên, quan điểm nàykhông phản ánh được quy mô của hiệu quả, cái mà người sản xuất quan tâm
Quan điểm thứ hai: Hiệu quả kinh tế được đo bằng hiệu số giữa kết quả đạtđược và lượng chi phí bỏ ra để thu được kết quả đó
H = Q – CQuan điểm này phản ánh được quy mô của hiệu quả kinh tế nhưng lại khôngphản ánh được chi phí bỏ ra để có kết quả đó Vì thế không xác địng được mức
độ ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào
Quan điểm thứ ba: Xem xét hiệu quả kinh tế trong sự biến động của chi phí
và kết quả của sản xuất kinh doanh
H = K / C
K: phần thay đổi kết quả
C: phần thay đổi chi phíKinh tế vi mô chú ý đến quan hệ tỷ lệ giữa mức độ tăng trưởng kết quả sản xuấtvới mức độ tăng lên của chi phí biến đổi Từ đó chỉ ra điểm tối ưu để đạt lợinhuận cao nhất
Trang 23Kinh tế vĩ mô chú ý quan tâm đến mức độ tăng lên của kết quả sản xuất xã hội
và cho phí xã hội tăng lên
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tín dụng nông thôn ở một số nước trên thế giới
Trong nhiều thập niên vừa qua, chiến lược phát triển của các nước đangphát triển dành nhiều ưu tiên cho các chương trình xóa đói giảm nghèo, đặc biệt
là ở khu vực nông thôn Một trong những nội dung chính là cung cấp dịch vụ tàichính có chi phí phù hợp với khả năng của người dân nông thôn để phát triểnsản xuất, tăng thu nhập, và nhờ đó vượt ra khỏi vòng nghèo đói
Vốn là yếu tố đầu vào quan trọng giúp người nghèo vượt ra khỏi đóinghèo bằng cách nuôi sống các hoạt động tạo thu nhập Nhưng vốn không chỉ làyếu tố đầu vào thông thường như hạt giống hay phân bón Vốn giúp ngườinghèo nắm quyền kiểm soát các tài sản khác, giúp cho tiếng nói của họ có trọnglượng hơn trong các giao dịch kinh tế cũng như quan hệ xã hội
Đặc trưng của những hệ thống tài chính ở các nước đang phát triển là tìnhtrạng lưỡng thể tài chính tức là khu vực tài chính chính thức và khu vực tàichính không chính thức cùng tồn tại và hoạt động song song với nhau Khu vựctài chính không chính thức ước tính chiếm từ 30% đến 80% nguồn cung tíndụng nông thôn ở các nước đang phát triển Ngoài ra, ước tính chưa đến 5%nông dân ở châu Phi, 15% ở châu Mỹ La Tinh, và 25% ở châu Á tiếp cận đượcvới tín dụng chính thức
*Ngân hàng Grameen ở Bangladesh
Ngân hàng Grameen (GB) là định chế tài chính nổi tiếng nhất thế giới vềtín dụng nông thôn GB có mạng lưới chi nhánh rộng khắp đến tận cấp cơ sở,mỗi chi nhánh phục vụ từ 15 đến 22 làng Đối tượng phục vụ là các gia đình cóchưa đến 0,2 ha đất Để vay được tín dụng, người trong những gia đình đủ tiêuchuẩn sẽ lập nhóm gồm năm người có hoàn cảnh kinh tế và xã hội gần giốngnhau Thông thường, mỗi gia đình chỉ được phép có một người tham gia một
Trang 24nhóm Mỗi nhóm bầu một trưởng nhóm và một thư ký để chủ trì cuộc họp hàngtuần Sau khi nhóm được thành lập, một nhân viên ngân hàng sẽ đến thăm giađình và kiểm tra tư cách của mỗi thành viên để lấy thông tin về tài sản, thu nhập,
…
Khoảng năm hoặc sáu nhóm sẽ lập nên một trung tâm trong cùng địaphương Từ các trưởng nhóm sẽ bầu ra Trưởng trung tâm, là người chịu tráchnhiệm giúp các thành viên tìm hiểu về kỷ cương của ngân hàng, về chủ trì cuộchọp hàng tuần Tất cả các thành viên sẽ được nhân viên ngân hàng giải thích quyđịnh của GB, quyền và nghĩa vụ của thành viên Sau khi kết thúc khóa học vànếu đạt yêu cầu, mỗi người được cấp giấy chứng nhận là thành viên chính thức.Trước khi đủ tiêu chuẩn vay tiền, mọi thành viên phải chứng tỏ tính thành thực
và tính đoàn kết bằng cách tham dự tất cả các buổi họp nhóm trong ba tuần kếtiếp Trong thời gian này, nhân viên ngân hàng tiếp tục bàn về quy định của GB,
và giải đáp thắc mắc Các thành viên mù chữ cũng được dạy cách ký tên Cácthành viên không cần phải đến trụ sở ngân hàng để giao dịch Nhân viên ngânhàng đến với họ tại những buổi họp hàng tuần để cấp tiền vay, thu tiền trả nợ, vàvào sổ sách ngay tại trung tâm Có cả các thành viên nữ để làm việc với kháchhàng nữ
Tại mỗi cuộc họp hàng tuần, mỗi thành viên đóng góp một taka (Đơn vịtiền tệ của Bangladesh) vào quỹ nhóm Ban đầu chỉ có hai thành viên được vaytiền Them hai người nữa được vay nếu hai người vay đầu tiên trả nợ đúng hạntrong hai tháng đầu tiên Người cuối cùng (thường là trưởng nhóm) phải đợithêm hai tháng nữa cho đến khi những người vay tiền trước mình chứng tỏ làđáng tin cậy
Mỗi khoản vay phải được trả dần hàng tuần trong vòng một năm Nếu mộtngười vỡ nợ, những người khác trong nhóm sẽ không được vay Do đó, áp lựccủa các thành viên trong nhóm là một yếu tố quan trọng bảo đảm mỗi thành viên
sẽ trả nợ đầy đủ Ngoài việc đóng góp một taka mỗi tuần, mỗi thành viên khi
Trang 25vay được tiền phải đóng góp 5% tiền vay vào quỹ nhóm Các thành viên có thểvay mượn từ quỹ này với bất cứ mục đích gì, kể cả trả nợ ngân hàng hay tiêudùng Nhờ đó, họ có thể hỗ trợ nhau trả nợ ngay cả lúc gặp hoàn cảnh khó khăn,
và tránh dùng khoản vay ban đầu để tiêu dùng Tiền vay từ quỹ nhóm cũng phảiđược trả hàng tuần Mỗi nhóm còn lập quỹ khẩn cấp với mức đóng góp bằng 4%tiền vay ngân hàng Quỹ này chỉ dùng để giúp thành viên trả nợ trong trườnghợp cấp bách như có tử vong, bị mất cắp hay thiên tai Do vậy, quỹ này giốngnhư một khoản tiền bảo hiểm
Bằng các dịch vụ tiết kiệm, tín dụng linh hoạt, ngân hàng Grameen đã rấtthành công trong việc tiếp cận được tầng lớp nghèo nhất (đặc biệt là phụ nữnông thôn không có tài sản), đạt tỷ lệ thu hồi nợ gần 100% và nâng cao vị thếkinh tế xã hội của khách hàng Grameen đặc biệt nhấn mạnh những khía cạnh xãhội và con người trong quá trình phát triển của người nghèo chứ không chỉ dừnglại ở chương trình tiết kiệm, tín dụng thông thường Nhiều nghiên cứu đánh giárằng Grameen cải thiện tình đoàn kết giữa các thành viên, nâng cao ý thức của
họ, khuyến khích họ lập những trường học quy mô nhỏ và tổ chức các sự kiệnthể thao cho con cái họ, loại bỏ tập tục của hồi môn, phòng chống những bệnhthường gặp như tiêu chảy và chứng quáng gà ở trẻ em, và chống những bất côngtrong xã hội Phần lớn những cam kết này được nêu trong “16 quyết định” màthành viên nào cũng thuộc làu, thể hiện quyết tâm xây dựng một cuộc sống đànghoàng và một xã hội tươi đẹp hơn
*Hệ thống ngân hàng làng xã của Bank Rakyat Indonesia
Năm 1984, ngân hàng quốc doanh chuyên về phát triển nông nghiệp BankRakyat Indonesia (BRI) thành lập hệ thống Unit Desa (UD), tức là ngân hànglàng xã Tuy trực thuộc BRI, UD là đơn vị hạch toán độc lập có lãi và toànquyền quyết định chủ trương hoạt động kinh doanh
Hệ thống UD dựa vào mạng lưới chân rết các đại lý tại các làng xã, hiểubiết rõ về địa phương và nắm thông tin về các đối tượng đi vay Các đại lý này
Trang 26theo dõi hoạt động của người đi vay và thi hành các hợp đồng vay Ngoài rangười đi vay phải được một nhân vật có uy tín tại địa phương giới thiệu Phầnlớn các khoản cho vay không cần thế chấp dựa trên giả định là uy tín tại địaphương đủ quan trọng để đảm bảo tránh vỡ nợ Hơn nữa, có nhiều có nhiềuchương trình khuyến khích người đi vay trả nợ đúng hạn, ví dụ ai trả nợ sớm thì
sẽ được hoàn trả một phần lãi Ngoài các chương trình cho vay hiệu quả, UDcũng có nhiều dịch vụ tài chính khác Nổi bật nhất là dịch vụ tiết kiệm linh hoạt,với giờ giấc hoạt động thuận tiện cho khách hàng, môi trường than thiện, cho rúttiền không hạn chế, và nhiều biện pháp khuyến mãi như tiền thưởng và rút thăm
Kết quả là hệ thống UD đã tự lực được về tài chính, và bắt đầu có lãi lớnchỉ vài năm sau khi ra đời Ngay cả trong giai đoạn khủng hoảng tài chính 1997-
1998, UD vẫn đứng vững, tăng số tiền gửi tiết kiệm trong khi tỷ lệ vỡ nợ hầunhư không tăng Đến năm 1999, UD có 2,5 triệu khách vay tiền, và khoảng 20triệu tài khoản tiết kiệm Hiện nay, UD có mặt trên toàn quốc với khoảng 3.700ngân hàng làng xã
*Liên kết các định chế tài chính và nhóm tương trợ ở Ấn Độ
Trong thập niên 1980, Ngân hàng quốc gia về nông nghiệp và phát triểnnông thon của Ấn Độ (NABARD) thông qua 150.000 tổ chức cho vay đã cấp tíndụng có trợ cấp trị giá 2 tỷ USD cho 49 triệu hộ gia đình nông thôn Chươngtrình này có tỷ lệ trả nợ rất thấp, không đến được với nhiều người nghèo trongkhi lại làm lợi cho những người có thể vay tiền qua các kênh khác Phương pháptín dụng trợ cấp đã làm giảm mức huy động tiết kiệm và tính tự lực của các địnhchế tài chính vi mô
Kể từ năm 1987, NABARD áp dụng các nguyên tắc:
+ Hoạt động thông qua các định chế hiện có: ngân hàng, nhóm tương trợ
và tổ chức phi chính phủ
+ Giao quyền tự chủ cho tổ chức
Trang 27+ Tổ chức tham gia tự phát triển vững mạnh bằng cách dùng chênh lệchlãi suất để trang trải chi phí
+ Tự lực nguồn vốn bằng cách huy động tiết kiệm địa phương
Từ năm 1992 đến năm 1997, số lượng các nhóm tương trợ tham giachương trình tăng từ 255 lên đến 8.598 Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ (RBI) chophép các ngân hàng cho vay đối với các nhóm tương trợ không đăng ký, và chophép các nhóm tương trợ nhận tiền gửi tiết kiệm từ các thành viên của nhóm.RBI cũng đã bỏ quản lý điều tiết lãi suất Dù vẫn còn ở quy mô hạn chế, chươngtrình này đã thể hiện nhiều điểm thành công đáng phát huy là: làm tăng đáng kểlượng tiết kiệm ở nông thôn; giảm 40% chi phí giao dịch ngân hàng; giảm đáng
kể chi phí giao dịch cho người đi vay; và đạt tỷ lệ trả nợ gần 100%
2.2.2 Hoạt động tín dụng ở Việt Nam
2.2.2.1 Tín dụng đối vơi NN&NT ở Việt Nam
Sau hơn hai mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế nước ta
đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Những thành tựu này đã góp phần đưa đấtnước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội Đây cũng là cơ sở để đẩymạnh CNH - HĐH đất nước đưa Việt Nam phát triển đi lên ngang tầm với cácnước trên thế giới Trong quá trình phát triển đất nước, Đảng và Chính phủ đã córất nhiều chính sách để thúc đẩy phát triển nông nghiệp nông thôn Trong nhữngnăm vừa qua, nông nghiệp, nông thôn đã đạt được nhiều thành tựu quan trọngnhư đưa nước ta từ thiếu đói lương thực đến nay đã đáp ứng được nhu cầu trongnước và còn xuất khẩu đứng thứ nhất nhì trên thế giới Có thể nói nông nghiệp,nông thôn phát triển là nền tảng quan trọng để ổn định kinh tế xã hội Nếu nôngthôn không ổn định thì tình hình chính trị khỏ ổn định và nếu một nước muốnthoát khỏi đói nghèo thì nông dân phải thoát nghèo
Tuy nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực song hiện tạinước ta vẫn là một nước nghèo và kém phát triển so với khu vực và thế giới Laođông nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao, đời sống nhân dân nhiều vùng vẫn còn
Trang 28thấp, cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật còn yếu kém nhất là khu vực nông thôn.Quá trình CNH - HĐH đất nước được thúc đẩy trên cơ sở 80% dân số thoátnghèo Trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn vẫn còn những hạnchế, những tiềm năng chưa được khơi dậy, phát huy hiệu quả Lý do dẫn đếntình trạng này là do khu vực nông thôn vẫn chưa được đầu tư thỏa đáng, hơn nữavốn và tích lũy khu vực này còn thấp Chính vì vậy sự tăng đầu tư của chính phủ
và vốn tín dụng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy CNH - HĐHnông nghiệp nông thôn Trong giai đoạn hiện nay, để thúc đẩy sản xuất gópphần chuyển dịch cơ cấu sản xuất khu vực nông thôn đòi hỏi Đảng và Nhà nước
ta phải có chính sách hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn.Trong đó giải pháp đầu tư tín dụng cấp vốn cho nông dân, hỗ trợ vốn cho nôngdân phát triển sản xuất là giải pháp hết sức quan trọng
Trước đây, trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, các thành phần kinh
tế như kinh tế nhà nước, kinh tế quốc doanh đóng vai trò chủ yếu và đều hoạtđông theo chỉ tiêu kế hoạch từ trên xuống Các thành phần kinh tế tư nhân vàcác thành phần kinh tế khác không được thừa nhận nên hoạt động không chínhthức Trong thời gian này đối tượng hoạt động của ngân hàng là kinh tế tập thể
và kinh tế quốc doanh là chủ yếu, ngân hàng đảm đương việc cung cấp vốn tíndụng theo chỉ tiêu từ trên xuống Và thời kỳ này khách hàng trực tiếp và chủ yếucủa ngân hàng là các thành phần kinh tế quốc doanh và các hợp tác xã Do vậytín dụng nông nghiệp thời kỳ này chưa phát huy hết tác dụng của nó, hiệu quả sửdụng vốn tín dụng còn thấp Kinh tế nước ta thời kỳ này bị trì trệ, kém pháttriển, sản xuất lương thực, thực phẩm không đủ cung cấp cho nhu cầu xã hội,đời sống nhân dân không được cải thiện, mức sống thấp, thất nghiệp nhiều.Trước tình hình đó đòi hỏi phải có sự đổi mới trong kinh tế cũng như trong tíndụng nông nghiệp
Tháng 12/1986, Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới, chuyển từ cơ chếquản lý tập trung bao cấp sang cơ chế nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,
Trang 29hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa Theo đó, các thành phần kinh tế, trong
đó có kinh tế cá thể, họ sản xuất, tiểu chủ, tư bản tư nhân,… đều được khuyếnkhích phát triển, được tiếp cận vốn ngân hàng và bình đẳng trước pháp luật Từnăm 1988, bước vào thời kỳ “khoán 10”, trên cả nước hộ nông dân được xácđịnh là đơn vị kinh tế tự chủ; được sử dụng ruộng đất lâu dài với năm quyền:chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế vầ thế chấp Họ có quyền tự địnhđoạt, tự quyết định trong sản xuất kinh doanh, lúc này tín dụng nông thôn trởthành động lực to lớn thúc đẩy phát triển sản xuất Người nông dân có thể trựctiếp vay vốn từ các ngân hàng nhà nước đặc biệt là ngân hàng NN&PTNT Ởthời kỳ này hộ nông dân là khách hàng trực tiếp và chủ yếu của ngân hàng nôngnghiệp
Nông nghiệp nông thôn ngày càng phát triển nhu cầu về vốn ngày càngtăng trong khi đó tỷ trọng đầu tư vốn ngân sách nhà nước cho nông nghiệp giảmdần từ 16,9% xuống còn 9,9% Vốn đầu tư ngân sách giảm, trong khi đó vốn tự
có của các hộ lại hạn chế do thu nhập và tích lũy thấp theo kết quả điều tra năm
2009, bình quân một hộ nông dân tích lũy trong một năm được 3,9 triệu đồng.Trong những năm gần đây mặc dù kinh tế hộ nông dân đã có phần nâng lên,song vốn tự có của hộ vẫn không đủ để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinhdoanh Theo điều tra cho thấy có tới hơn 70% số hộ nông dân thiếu vốn sản xuất
và 90% số hộ có nhu cầu vay vốn, trong đó mới chỉ có 50% số hộ được vay vốn.Như vậy để đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn thì hộnông dân rất cần được vay vốn tín dụng
Với nguồn vốn vay từ ngân hàng, người nông dân có thêm vốn để đầu tưphát triển sản xuất, tạo thêm công ăn việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đờisống và hạn chế được tình trạng cho vay nặng lãi Trong quá trình hoạt động tuygặp khó khăn về huy động vốn nhưng hệ thống ngân hàng đã cố gắng vốn tối đacho nông nghiệp, nông thôn, vốn tín dụng đầu tư tăng trưởng ngày càng cao Tỷ
lệ hộ gia đình nông thôn hiện nay vay được tiền của các định chế tài chính tăng
Trang 30mạnh và đạt tới 90% Hoạt động tín dụng đã thực sự gắn với làng, bản, thôn,xóm, gần gũi với bà con nông dân.
Bằng nguồn vốn vay tín dụng đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng của giá trịsản lượng nông nghiệp Bên cạnh đó cũng góp phần vào đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng, đường sá cầu cống, mở mang phát triển sản xuất Từ đó, hộ nghèo ởnông thôn có điều kiện phát triển sản xuất nâng cao thu nhập cải thiện cuộcsống, thoát khỏi đói nghèo Bộ mặt nông thôn ngày càng đổi mới Chính vì vậynguồn vốn tín dụng đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với kinh tế hộ nông dânnông nghiệp, nông thôn góp phần thực hiện CNH - HĐH đất nước
2.2.2.2 Kết quả hoạt động tín dụng trong nông thôn
Mục tiêu của hoạt động tín dụng trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn làđáp ứng đầy đủ, kịp thời, có hiệu quả nguồn vốn cho nhu cầu phát triển toàndiện lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng caomức sống cho người nông dân Để đạt được mục tiêu này, trong thời gian quahoạt động tín dụng nông nghiệp, nông thôn đã có những bước phát triển nhấtđịnh, thể hiện ở việc: mạng lưới cho vay nông nghiệp, nông thôn ngày càng giatăng; doanh số cho vay và dư nợ tín dụng ngày càng tăng; đối tượng tiếp cận tíndụng ngày càng mở rộng
Nhờ có mạng lưới kinh doanh trải rộng cùng với việc áp dụng hình thứccho vay theo nhóm, phối hợp với những tổ chức quần chúng để cung cấp cácdịch vụ tài chính… , đối tượng khách hàng được phục vụ cũng như các kênh dẫnvốn tới hộ sản xuất, doanh nghiệp cũng được mở rộng, phát triển khắp cac vùngkinh tế của đát nước Trong thời gian từ 1994-2010, tỷ lệ nông hộ gia đình nôngthôn vay được tiền của các định chế tài chính tăng lên và đạt tới 90% Vốn chovay đã tạo thêm nghề mới, khôi phục các làng nghề truyền thống, góp phầnchuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn theo hướng phát triển sản xuất hànghóa, công nghiệp, dịch vụ
Trang 31Vốn tín dụng đã giúp hàng vạn hộ nông dân đẩy mạnh sản xuất, chuyểnđổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo mùa vụ và tiếp tục mở rộng ngành nghề gópphần làm tăng thu nhập và cải thiện đời sống Nhờ mở rộng đầu tư tín dụng cùngvới vốn tự có và sức lao động đã giúp họ có điều kiện khai thác tiềm năng kinh
tế tự nhiên của mỗi vùng, từng bước hình thành các vùng chuyên canh lúa, hoamàu và cây công nghiệp có tỷ suất hàng hóa cao Đi đôi với việc đàu tư chotrồng trọt, chăn nuôi, các ngân hàng đã mở rộng cho vay phát triển ngành nghềtạo bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng côngnghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp Đối tượng cho vay không cònđơn lẻ như những năm trước, mà đã được mở rộng như: cho vay xây dựng kếtcấu hạ tầng ở nông thôn, cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ vay để mở rộng quy
mô sản xuất Đặc biệt là phát triển cho các làng nghề vay theo hướng sản xuấthàng hóa như chế biến nông lâm sản, chăn nuôi đại gia súc gia cầm, làm cácnghề mộc, nghề rèn, thêu ren, đồ thủ công mỹ nghệ Sản xuất tiểu thủ côngnghiệp và ngành nghề dịch vụ nông thôn tiếp tục phát triển bình quân tăng15%/năm Nhờ đó, thu nhập của hộ nông dân cũng ngày càng được cải thiện
Nhằm thúc đẩy kinh tế hàng hóa phát triển, ngân hàng còn đầu tư vốnkhuyến khích các trang trại mở rộng quy mô sản xuất, thu hút lao động có việclàm Trong những năm gần đây, thực tế cho thấy kinh tế trang trại đóng vai tròquan trọng trong sản xuất nông, lâm nghiêp, thủy sản Ngày càng xuất hiệnnhiều hộ nông dân sản xuất hàng hóa có quy mô lớn, tập trung Ngân hàng đãgiúp cho các đối tượng vay để trang trải chi phí giống, cải tạo vườn, ao, chuồng,thậm chí cả chi phí trả công lao động thời vụ
Trên cơ sở chỉ đạo của Chính phủ, hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nướcvới hệ thông mạng lưới rộng khắp, các tổ chức tín dụng đã đẩy mạnh cho vaylĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Thị trường tín dụng nông nghiệp, nông thônđược mở rộng, tăng được tỷ trọng số hộ vay và mức dư nợ bình quân/hộ Các
hộ nông dân vay vốn được giải quyết nhanh chóng, những thủ tục phiền hà đã
Trang 32giảm bớt, không còn tình trạng phải chờ đợi như trước đây Đặc biệt là mức cho
hộ vay đã nâng lên đến 50 triệu đồng mà không phải thế chấp tài sản tạo cơ hộicho hộ nông dân chủ động thực hiện phương án kinh doanh của mình
Hoạt động tín dụng nông nghiệp nông thôn tuy đạt được những kết quảnhất định, song so với mức tăng tín dụng chung của toàn bộ nền kinh tế cònthấp Điều đó cho thấy, tín dụng nông nghiệp nông thôn chưa đáp ứng đủ chonhu cầu và mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông thôn, hiệu quả của tín dụngngân hàng đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn còn chưacao, chưa gắn kết được giữa nông nghiệp với công nghiệp chế biến và thị trườngtiêu thụ, tiềm năng kinh tế đồi rừng và miền ven biển ở nhiều vùng chưa đượckhai thác tốt
Nhìn chung trong thời gian qua, hoạt động tín dụng tuy có những hạn chếnhất định, nhưng vốn tín dụng ngân hàng về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầuvốn trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp Hoạt động tín dụng của các ngânhàng đã kết hợp cho vay thông thường với cho vay theo chương trình, dự án ưuđãi lãi suất của Chính phủ, cho vay theo chính sách của Nhà nước, góp phầnchuyển dịch cơ cấu kinh tế tại địa phương, tạo công ăn việc làm, xóa đói giảmnghèo
2.2.2.4 Những hạn chế trong hoạt động tín dụng nông thôn hiện nay
Hoạt động tín dụng nông nghiệp, nông thôn tuy đã đạt được kết quả nhấtđịnh, song so với mức tăng tín dụng chung của toàn nền kinh tế thì vẫn còn thấp.Điều đó cho thấy, tín dụng nong nghiệp nông thôn chưa đáp ứng đủ cho nhu cầu
và mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông thôn, hiệu quả của tín dụng ngân hàngđối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn còn chưa cao, chưagắn kết được giữa nông nghiệp và công nghiệp chế biến, chưa khai thác tốt tiềmnăng kinh tế rừng và ven biển Sở dĩ như vậy là do:
Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp còn chứa đựng nhiều rủi ro, dodiễn biến thời tiết phức tạp, khó lường, dịch bệnh, sâu bệnh luôn rình rập, thị
Trang 33trường tiêu thụ sản phẩm nông sản, thực phẩm chưa ổn định, một số mặt hàngxuất khẩu thì phụ thuộc quá nhiều vào giá cả thế giới, Thêm vào đó, công tácnghiên cứu, dự báo kinh tế liên quan đến lĩnh vực này cón yếu nên đã gây ra hậuquả nghiêm trọng cho sản xuất Tất cả những điều đó đã gây những khó khănnhất định cho việc mở rộng đầu tư tín dụng của các định chế tài chính.
Thu nhập của các hộ nông dân còn thấp, cùng với việc xử lý quyền sửdụng đất của người nông dân còn có những bất cập, nên việc cho vay các khoảnvốn lớn để mở rộng sản xuất của hộ gia đình nông thôn là rất hạn chế
Chính sách đất đai hiện nay cũng khó để tăng cường khả năng tích tụruộng đất để mở rộng quy mô chuyên canh vật nuôi cây trồng theo mô hình cáctrang tại, gia trại lớn như các nước đang phát triển khác Điều này cũng hạn chếnhất định nhu cầu vay vốn lớn để phát triển, tạo ra sự chuyển dịch mạnh mẽ cơcấu nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH - HĐH
Công nghệ ngân hàng cũng như mạng lưới viễn thông mới chỉ phát triển ởcác vùng đô thị, còn vùng sâu, vùng xa thì chưa phát triển, nên cũng rất hạn chếđến việc tiếp cận tín dụng của người dân, cũng như các định chế tài chính khó cóthể mở rộng mạng lưới của mình
Bên cạnh đó, phần lớn người dân ở vùng nông thôn, đặc biệt là ở khu vựcmiền núi, vùng sâu, vùng xa, dân trí không đông đều; chưa tiếp cận được tiến bộkhoa học kỹ thuật nên nếu như không có một sự đảm bảo, tư vấn về việc làmkinh tế, phát triển sản xuất từ phía nhà cung cấp vốn thì chắc chắn họ sẽ hạn chếtiếp cận với vốn vay
Quy trình cung cấp tín dụng còn phức tạp, chưa phù hợp với trình độ củangười dân Đặc biệt là các thủ tục liên quan đến tài sản thế chấp là đất đai Thủtục phiền hà và quy định rắc rối là một cản trở lớn đối với người dân có trình độvăn hóa thấp, và làm nảy sinh những tệ nạn như cò vay vốn, phát triển hình thứctín dụng nặng lãi, và không đáp ứng kịp thời vốn cho hoạt động sản xuất kinhdoanh
Trang 34Tư duy bao cấp trong hoạt động tín dụng đối với khu vực nông nghiệp,nông thôn vẫn còn tồn tại làm tăng chi phí hoạt động của các định chế tài chính,đồng thời tăng tính ỷ lại và bóp méo thị trường tài chính nông thôn.
Chưa có chiến lược phát triển nông thôn phù hợp, quy hoạch vùng sảnphẩm nông nghiệp chưa rõ ràng, thị trường tiêu thụ chưa mở rộng và ổn định,nhà nước chưa có chính sách hỗ trợ cho nông nghiệp kịp thời Việc hỗ trợ kỹthuật cho phát triển trồng trọt, chăn nuôi chưa đồng bộ, việc bao tiêu sản phẩmchưa có kế hoạch, quy hoạch cụ thể, chắc chắn làm hạn chế mở rộng sản xuất vàtiêu thụ sản phẩm dẫn đến hoạt động tín dụng gặp nhiều khó khăn
2.2.3 Tóm tắt một số nghiên cứu trước đây
Kim Thị Dung 1999 “ Thị trường vốn tín dụng nông thôn và sử dụng vốn
của hộ nông dân huyện Gia Lâm – Hà Nội” Tác giả đã đề cập tới một số vấn đề
lý luận về thị trường vốn tín dụng nông thôn, mục đích và hiệu quả vốn tín dụngcủa các hộ nông dân
Trần Văn Thân “ Thực trạng và những biện pháp nâng cao hiệu quả huy
động và cho vay vốn của NHNN&PTNT huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh” Luận văn
tốt nghiệp Đại học, Hà Nội, 2002
Vũ Tài Dũng 2003 “ Thực trạng cho hộ nông dân vay vốn tại
NHNN&PTNT huyện Gia Lâm – Hà Nội” Tác giả đã cho thấy được thực trạng
cho vay vốn của NHNN&PTNT huyện Gia Lâm và một số giải pháp, kiến nghịnhằm nâng cao chất lượng vay vốn của các hộ nông dân với NHNN&PTNT
Hoàng Đình Thuận “ Tìm hiểu các hoạt động tín dụng trong nong thôn ở
xã Lạc Dương, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An” Báo cáo tốt nghiệp Đại học, Hà
Nội, 2006 Tác giả đã nêu ra được thực trạng hoạt động của các tổ chức tíndụng Mục đích, hiệu quả sử dụng vốn của các hộ nông dân và đưa ra một sốgiải pháp cũng như kiến nghị cần thiết
Trang 35PHẦN 3: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Phồn Xương là một xã miền núi nằm ở phía Đông Nam của huyện YênThế và giáp với thị trấn Cầu Gồ - trung tâm văn hóa, chính trị, xã hội của huyện.Với tổng diện tích 633,28 ha, dân số 4.245 người (số liệu thống kê năm 2011),
có 6 dân tộc cùng chung sống Ranh giới tiếp giáp địa lý như sau:
- Phía Đông giáp xã Đồng Tâm và xã Đồng Lạc;
- Phía Tây giáp xã Tân Hiệp;
- Phía Nam giáp xã Tân Trung, huyện Tân Yên;
- Phía Bắc giáp thị trấn Cầu Gồ và xã Tam Hiệp
Xã có 8 thôn với nhiều xóm nằm rải rác ở nhiều khu vực, có trục đườngliên huyện chạy qua và gần trung tâm của huyện nên khá thuận tiện cho việc đilại, lưu thông hàng hóa và giao lưu kinh tế, văn hóa với với các xã, huyện, tỉnhlân cận
3.1.1.2 Đặc điểm địa hình
Phồn Xương là xã thuộc vùng núi thấp, nhiều sông suối, độ chia cắt địahình đa dạng Địa hình dốc dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Có vùng trung du
và đồng bằng xen kẽ tạo ra nhiều cảnh đẹp và đa dạng sinh học là xã có diện tích
tự nhiên đồi rừng đa phần có độ dốc thấp nên phù hợp với việc phát triển khu,cụm công nghiệp
3.1.1.3 Đặc điểm khí hậu, thời tiết
Phồn Xương nằm trong vùng khí hậu chung của huyện Yên Thế, đây làvùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm Nhiệt độ bình quân cả năm là
Trang 3623,4°C; nhiệt độ trung bình cao nhất năm 26,9°C, nhiệt độ trung bình thấp nhấtnăm 20,5 °C; tháng có nhiệt độ cao nhất là các tháng 6, 7, 8; tháng có nhiệt độthấp nhất là các tháng 12, 1, 2 (có khi xuống tới 4°C) Tổng tích ôn trong nămđạt 8500-9000°C Bức xạ nhiệt trung bình, có 1729,7 giờ nắng/năm, cho phépnhiều loại cây trồng phát triển và trồng được nhiều vụ trong năm Lượng mưabình quân hàng năm là 1.518,4 mm (thuộc vùng mưa trung bình của trung duBắc Bộ) Độ ẩm không khí bình quân cả năm là 81%, cao nhất là 86% (tháng 4)
và thấp nhất là 76% (tháng 12)
Nhìn chung xã Phồn Xương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, cómùa hạ nóng ẩm mưa nhiều, mùa đông ít mưa Có lượng mưa trung bình, vớinền nhiệt độ trung bình khá cao, giàu ánh sáng Đây là những điều kiện thuận lợi
để phát triển cả nông, lâm nghiệp và công nghiệp
3.1.1.4 Đặc điểm môi trường
Hoạt động sản xuất vật chất của xã đến nay chủ yếu là nông lâm nghiệpnên môi trường tự nhiên của xã chưa bị ô nhiễm nghiêm trọng Tuy nhiên doviệc sử dụng các loại hóa chất trong sản xuất nông nghiệp để tăng năng suất,chất lượng sản phẩm , mới hình thành khu công nghiệp dệt may cùng với cácchất thải trong sản xuất sinh hoạt của người dân chưa được thu gom, xử lý kịpthời nên cũng có ảnh hưởng nhỏ đến môi trường đất, nước và không khí trên địabàn xã (theo số liệu thống kê, đến năm 2011 xã mới đang xây dựng khu xử lýchất thải và bãi rác thải tập trung) Thực trạng này cần phải được xử lý một cáchnhanh chóng và kịp thời hơn trong năm 2012 này
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
3.1.2.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của xã
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặcbiệt, không thể thay thế được trong sản xuất nông nghiệp, là thành phần quantrọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bổ dân cư, xây dựng cơ sởkinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng
Trang 37Tại Phồn Xương, trong nhiều năm gần đây đất đai có sự biến động khônglớn với tổng diện tích đất tự nhiên là 633,28 ha Đất nông nghiệp có xu hướnggiảm đi từ 485,64 ha năm 2009 xuống 458,74 ha năm 2011 do chuyển mục đích
sử dụng đất sang đất chuyên dùng và đất thổ cư theo kế hoạch phát triển kinh tế,
xã hội của xã Tuy nhiên, diện tích đất nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhấttrong tổng diện tích đất tự nhiên (72,44%)
Trong những năm gần đây, xã Phồn Xương đã có một số chương trìnhchuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông - lâm nghiệp sang đất công nghiệp
đã làm cho đất công nghiệp tăng lên 0,48% Đất xây dựng bao gồm: đất côngtrình công cộng, đất thổ cư, đất cây xanh, đất tôn giáo tín ngưỡng, đất hạ tầng kỹthuật, chiếm diện tích ngày càng lớn do quá trình CNH – HĐH cũng như cácchương trình chuyển mục đích sử dụng đất hiện nay Trong đó có đất chuyêndùng cũng có xu hướng tăng lên Năm 2009, diện tích đất chuyên dùng là 93,17
ha, chiếm 14,71% tổng diện tích đất tự nhiên Năm 2011, tăng lên là 110,84 ha,chiếm 17,5% diện tích đất tự nhiên Tốc độ tăng bình quân qua 3 năm là1,4%/năm
Đặc biệt, xã Phồn Xương đã sử dụng gần như là hết diện tích đất tự nhiêncủa mình vì vậy diện tích đất chưa sử dụng là không đáng kể (0,34% năm 2011).Điều đó đã thể hiện rằng xã đã sử dụng đất đai hợp lý đồng thời đã khai thác vàtận dụng triệt để tiềm năng của địa phương
Trang 39Bảng 3.1: Tình hình đất đai xã Phồn Xương qua các năm 2009-2011
Trang 403.1.2.2 Tình hình dân số và lao động của xã
Con người luôn là yếu tố hàng đầu trong sự tồn tại và phát triển kinh tế xãhội Các yếu tố khác chỉ là công cụ giúp con người thực hiện được những mụctiêu mà mình đề ra Tình hình dân số và lao động của xã từ năm 2009-2011 đượcthể hiện qua bảng 3.2 Cụ thể:
Tổng dân số xã tính đến năm 2011 là 4.245 người, trong đó có 2.032 nam
và 2.213 nữ Dân số tăng với mức độ trung bình là 3,2%/năm, trong đó số nhânkhẩu nông nghiệp là 3.925 người, chiếm 92,46% tổng số khẩu (Bảng 3.2) Sốkhẩu phi nông nghiệp là 320 người, chiếm 7,54% tổng số khẩu Toàn xã có1.316 hộ, trong đó có 897 hộ nông nghiệp chiếm 68,16%, 132 hộ kiêm chiếm10,03%, và 230 hộ phi nông nghiệp chiếm 17,48% Mặc dù tỷ lệ số khẩu nôngnghiệp vẫn là chủ yếu nhưng ta thấy số khẩu phi nông nghiệp tăng dần qua cácnăm đạt mức tăng bình quân là 4,53% Điều này chứng tỏ lao động nông nghiệp
đã có xu hướng chuyển sang các ngành nghề khác như ngành gò hàn, xâydựng,
Lao động nông nghiệp cũng chiếm tỷ lệ khá lớn trong năm 2011 là 1.704lao động chiếm 71,84% và có xu hướng giảm Điều đó chứng tỏ các ngành nghềkhác đang thu hút lao động Ngược lại, lao động phi nông nghiệp phát triểnnhanh với tốc độ bình quân 6.84%/năm Tình hình lao động của xã có sự biếnđộng như vậy là do đất nông nghiệp ngày một giảm nên nhiều lao động đã dichuyển sang các ngành nghề khác Hơn nữa, một số ngành nghề trong xã manglại thu nhập cho người lao động cao hơn và cả những công việc ở những vùnglân cận đã thu hút được lao động của xã
Ở Phồn Xương mấy năm gần đây do hộ nông dân ý thức được việc sinh
đẻ có kế hoạch nên số hộ có con thứ 3, thứ 4 rất ít Điều này sẽ tạo điều kiệnthuận lợi cho hộ nông dân được chăm sóc sức khỏe, văn hóa, giáo dục giúp pháttriển tốt kinh tế hộ Nhưng nó cũng có hạn chế là làm cho số lượng lao động ít đi
và tạo hiện tượng hay gặp ở nông thôn là “dân số già” Vì vậy xã nên có chính