Luận văn : Doanh nghiệp Nhà nước VN và thực trạng cổ phân hoá
Trang 1Lời mở đầu
Lịch sử phát triển của nhân loại đã trải qua những bớc thăng trầm khác nhau song có thể nói cổ phần hoá (CPH) doanh nghiệp Nhà nớc là một nấc thang tất yếu lịch sử trên con đờng trở thành nớc phát triển của bất cứ quốc gia nào Chính vì vậy cổ phần hoá là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đặc biệt quan trọng đối với nớc ta, một nớc có nền kinh tế chậm phát triển so với thế giới Trong công cuộc đổi mới ở nớc ta, vấn đề đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đặc biệt đợc coi trọng nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang chuyển
đổi cơ chế quản lý kinh tế từ tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị ờng có sự quản lý vĩ mô của Nhà nớc Có hiểu rõ nguồn gốc và bản chất của
tr-cổ phần hoá cũng nh vai trò của tr-cổ phần hoá trong nền kinh tế thị trờng chúng
ta mới khắc phục đợc tình trạng tụt hậu về kinh tế của đất nớc, nâng cao không ngừng đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân vì mục tiêu dân giầu, nớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững bớc đi lên CNXH
Vấn đề cổ phần hoá không phải đến bây giờ mới đợc đề cập mà đã đợc
Đảng đề ra từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Và luôn coi trọng đó là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Song chỉ mới vài năm gần đây vấn đề CPH mới đợc đa lên tầm cao mới, chiều sâu mới nhằm từng bớc tạo ra thế và lực mới cho đất nớc Chính vì hiểu đợc tầm quan trọng
và tính cấp thiết của vấn đề CPH mà em đã chọn đề tài này với hy vọng phản
ánh đợc phần nào thực tế sôi động và bức xúc của công cuộc CPH hiện nay
Em xin chân thành cảm ơn sự hớng dẫn tận tình của thầy giáo Mai Hữu Thực giáo viên hớng dẫn bộ môn Kinh tế chính trị trờng Đại học Kinh tế Quốc dân để em hoàn thành tốt đề án này Vì đây là lần đầu tiên em viết một bài đề
án có tính chất quan trọng và do thời gian có hạn nên không tránh khỏi những thiếu xót và hạn chế nhất định, rất mong đợc sự đóng góp ý kiến của thầy giáo cùng các bạn để đề án đợc hoàn chỉnh hơn
Xin chân thành cảm ơn!
A- Phần mở đầu
Trang 2Từ thực tiễn tiến hành công cuộc phát triển nền kinh tế đất nớc theo
định hớng xã hội chủ nghĩa và những kinh nghiệm thu đợc qua quá trình chỉ
đạo điều hành sản xuất kinh doanh, chúng ta ta đã xác định đợc rằng cải cách doanh nghiệp Nhà nớc (DNNN) một cách triệt để là yêu cầu có tính quyết
định để tăng cờng động lực phát triển sản xuất và thúc đẩy doanh nghiệp Nhà nớc hoạt động có hiệu quả hơn
Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nớc ta đã kiên trì tập trung tiến hành công tác sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp Nhà nớc và đã đạt đợc một
số kết quả nhất định nh giảm mạnh số lợng doanh nghiệp Nhà nớc, nâng quy mô vốn bình quân, giả bớt đợc sự tài trợ của ngân sách, tạo điều kiện cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp của các doanh nghiệp, bớc
đầu đã phát huy đợc quyền chủ động kinh doanh của đơn vị kinh tế cơ sở, giảm mạnh sự can thiệt hành chính vào hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên do đặc điểm và thực trạng doanh nghiệp Nhà nớc của nớc ta, việc sắp xếp đổi mới doanh nghiệp Nhà nớc vẫn phải tiến hành một cách thận trọng, lâu dài vì phải giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề phức tạp trong cả lĩnh vực kinh
tế và lĩnh vực đời sống xã hội mới đạt đợc kết quả mong muốn
Hiện nay, bên cạnh các khó khăn chủ quan xuất phát từ nội bộ nền kinh
tế, thì biến động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực đã ảnh hởng theo chiều hớng xấu đến nền kinh tế nớc ta Điều này cho thấy tính cấp bách phải khẩn trơng nâng cao hiệu quả là sức cạnh tranh của nền kinh tế để đảm bảo cho sự phát triển đất nớc một cách ổn định, vững chắc không những cho những năm trớc mắt mà cho cả tơng lai lâu dài Nghị quyết hội nghị Trung ơng
4 (Khoá VIII) đã giành một phần quan trọng cho mục tiêu đổi mới mạnh mẽ các doanh nghiệp Nhà nớc, phấn đấu đa chúng thực sự trở thành lực lợng chủ
đạo dẫn dắt các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác cùng phát triển, làm nòng cốt thực hiện thành công tiến trình CNH - HĐH đất nớc và hội nhập kinh tế thế giới có hiệu quả Tiếp theo, Chính phủ đã có chỉ thị số 20/TTg ngày 21/4/1998 trong đó đã đề ra chơng trình, kế hoạch cụ thể triển khai thực hiện và quyết tâm thông qua đợt xắp xếp này để hình thành một cơ cấu doanh nghiệp Nhà nớc hợp lý, mạnh, đợc quản lý tốt CPH là một trong những nội dung quan trọng của quá trình đổi mới sắp xếp doanh nghiệp Nhà nớc Chủ tr-
ơng CPH doanh nghiệp Nhà nớc lần đầu tiên đợc nêu tại nghị quyết hội nghị lần thứ hai BCH Trung ơng khoá VII (tháng 11/1991) và tiếp tục đợc cụ thể hoá tại nghị quyết hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá VII (tháng 1/1994), nghị quyết 10/NQ - Trung ơngcủa Bộ chính trị ngày 17/3/1995 thông báo số 63/TB - TƯ ngày 4/4/1997, và đợc khẳng định rõ hơn tại nghị quyết đại hội VIII, nghị quyết hội nghị Trung ơng lần thứ IV (khoá VIII)
Mục tiêu nhất quán của cổ phân hoá một bộ phần doanh nghiệp Nhà
n-ớc là để huy động vốn, tạo điều kiện để ngời lao động đợc làm chủ thực sự trong doanh nghiệp, tạo động lực bên trong, thay đổi phơng thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp, đồng thời làm tăng tài sản và thay đổi cơ cấu doanh nghiệp Qua cổ phần hoá, hình thức sử hữu tại doanh nghiệp đã chuyển từ sở hữu Nhà nớc duy nhất sang sở hữu hỗn hợp, và chính từ đây dẫn đến những thay đổi quan trọng về hình thức tổ chức, quản lý
Trang 3cũng nh phơng hớng hoạt động của Công ty Doanh nghiệp Nhà nớc sau khi CPH sẽ trở thành Công ty cổ phần, hoạt động theo luật Công ty Việc đa dạng hoá các hình thức sở hữu cho phép thực hiện triệt để những nguyên tắc quản lý kinh tế nâng cao quyền tự chủ tài chính và khả năng tự quản trong sản xuất kinh doanh, nâng cao tinh thần trách nhiệm cũng nh óc sáng tạo của ngời lao
động và ngời lãnh đạo doanh nghiệp CPH chính là biện pháp có hiệu quả để
sử dụng đồng vốn đợc tốt nhất Doanh nghiệp CPH sẽ thu hút đợc ngày càng nhiều vốn nếu sản xuất kinh doanh có hiệu quả Nhất là khi đã hình thành thị trờng chứng khoán
B- Nội dung I- Một số vấn đề lý luận về CPH doanh nghiệp Nhà nớc
CPH là loại Công ty đợc thành lập do nhiều ngời bỏ vốn ra (cổ đông) tiền vốn đợc chia thành các cổ phần bằng nhau, ngời hùn vốn với t cách là cổ
đông sẽ mua đợc một số cổ phần đó
Theo luật Công ty ở nớc ta, Công ty cổ phần là Công ty trong đó:
- Số thành viên gọi là cổ đông mà Công ty phải có trong suốt thời gian hoạt động ít nhất là bẩy
Vốn điều lệ của Công ty đợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu Mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phiếu
- Cổ phiếu đợc phát hành có thể ghi tên hoặc không ghi tên Cổ phiếu của sáng lập viên, của thành viên hội đồng quản trị phải là những cổ phiếu có ghi tên
- Cổ phiếu không ghi tên đợc tự do chuyển nhợng Cổ phiếu có ghi tên chỉ đợc chuyển nhợng nếu đợc sự đồng ý của hội đồng quản trị Công ty cổ phần đợc tự do đặt tên Trên bảng hiệu, hoá đơn quảng cáo, báo cáo, tài liệu, giấy tờ giao dịc khác của Công ty đều pahỉ ghi tên Công ty kèm theo các chữ
"Công ty cổ phần" và vốn điều lệ
1- Sự cần thiết phải CPH doanh nghiệp Nhà nớc
Thực trạng hoạt động thiếu hiệu quả của các doanh nghiệp Nhà nớc
Đây là nguyên nhân quan trọng kiến cho hầu hết các chính phủ đi đến quyết
định cổ phàn hoá các doanh nghiệp Nhà nớc Do đâu mà có tình trạng này ? Một điều dễ nhận thấy nhất là ngay cả những điều kiện thuận lợi thì hiệu quả của các xí nghiệp quốc doanh cũng chỉ đạt đợc mức thấp hơn nhiều so với mức trung bình của khu vực kinh tế t nhân ở những nớc phát triển và Đông Âu, các xí nghiệp quốc doanh đợc gọi là có hiệu quả cũng cần đợc cân nhắc vì thị trờng ở đây có sự sai lệch lớn do giá cả bị điều tiết, không phải phản ánh đúng tính khan hiếm hay các chi phí cơ hội thực tế và những doanh nghiệp này th-ờng có vị trí độc quyền, đợc Nhà nớc bảo hộ và không có sự cạnh tranh với
Trang 4hàng nhập khẩu, mặc dù về quản lý đã đợc điều hành không có hiệu quả của các doanh nghiệp Nhà nớc.
+ Hệ thống kế hoạch hoá tài chính cứng nhắc không có tính chất thích ứng với cơ chế thị trờng vì đợc quản lý theo hệ thống hành chính từ trên xuống với nhiều cấp trung gian Nguồn tài chính đợc sử dụng hoàn toàn theo kể hoạch đợc duyệt đầu năm, không có sự chuyển đổi linh hoạt nhằm sử dụng hợp lý nguồn vốn và cũng không đợc chuyển sang cho năm sau Điều này làm cho các kế hoạch tài chính của doanh nghiệp không có động cơ tiết kiệm, vì vậy không hợp lý hoá dợc sản xuất và giá thành luôn phải cộng nhiều chi phí
so với các doanh nghiệp t nhân
+ Tính tự chủ trong quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nớc, do đó gây ra nhữnh yếu tố làm cản trở đến hoạt động
có hiệu quả của doanh nghiệp
+ Tình trạng độc quyền của các doanh nghiệp Nhà nớc trên thị trờng pháp luật của Nhà nớc củng cố đã đánh mất những động lực nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này, đa đến tình trạng xã hội buộc phải chấp nhận tiêu dùng các hàng hoá và dịch vụ do chúng sản xuất ra với chất lợng ít
đợc cải tiến nhng giá cả ngày càng tăng không hợp lý và nếu không tăng giá thì Nhà nớc phải chịu những gánh nặng trợ cấp ngày càng lớn
+ Các doanh nghiệp Nhà nớc đợc thành lập nguồn vốn của Nhà nớc không đợc phép phá sản và đợc trợ cấp từ ngân sách họăc đợc sử dụng các nguồn vốn nội bộ với lãi suất thấp hoặc đợc u tiên tiếp cận đợc với các nguồn tài chính nớc ngoài Vì vậy, các doanh nghiệp Nhà nớc không có các yếu tố kích thích phải nâng cao hiệu quả để tồn tại trong cạnh tranh đối với các doanh nghiệp t nhân
+ Động cơ của các doanh nghiệp Nhà nớc chỉ nhằm cố gắng tránh né sự thẩm xét của các cơ quan cấp trên trớc những sản phẩm và dịch vụ đối với ng-
ời tiêu dùng, cũng nh tránh né sự xung đột trong nội bộ, tránh né sự cải tổ, đổi mới tổ chức quản lý để nâng cao hiệu quả, đảm bảo cho xí nghiệp có điều kiện hoạt động dễ chịu và ổn định Do đó mua sắm trang bị ngày càng d thừa, biên chế ngày càng phình to dẫn đến chi phí quá mức so với nguồn thu
Thâm hụt ngân sách và nợ nớc ngoài Đây cũng là một nguyên nhân quan trọng thúc đẩy các nớc phải tiến hành CPH vì các khoản trợ cấp ngày càng lớn cho khu vực kinh tế quốc doanh dể đảm bảo Nhà nớc kiểm soát giá cả sản phẩm hoặc trang trải các chi phí về giá vốn đợc duy trì thấp để ổn định sản xuất ở một số ngành Ngoài các khoản trợ cấp trực tiếp còn có khoản gián tiếp bị che dấu nh u tiên vốn và ngoại tệ để nhập khẩu cho các doanh nghiệp Nhà nớc với giá cả kông phản ánh đợc khan hiếm của chúng
Kết quả tài chính nghèo nàn của các doanh nghiệp Nhà nớc làm tăng sự phụ thuộc của chúng vào ngân sách Nhà nớc Thực tế, các nguồn tài chính có thể đợc chính phủ huy động và vay nợ để trang trải thâm hụt ngân sách ngày càng suy giảm đã làm bộc lộ nghiêm trọng sự yếu kém của các doanh nghiệp Nhà nớc và điều này đã làm cho việc đánh giá lại vai trò của khu vực kinh tế này ngày càng trở lên cấp bách
Trang 5Sự thay đổi quan điểm về vai trò điều tiết nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng Đây là nguyên nhân nhận thức dựa trên thực tiễn đã thay đổi về tình hình phát triển kinh tế theo hớng trì trệ và hiệu quả thấp hầu hết ở các nớc Vấn đề đa dạng hoá sở hữu đợc đặt ra và thực hiện do sự thay đổi nhận thức từ chỗ nhấn mạnh vai trò của khu vực kinh tế Nhà nớc đến chỗ tộn trọng nhiều hơn vào khu vực kinh tế t nhân và vai trò điều tiết của cơ chế thị trờng Đây cũng là một bớc phát triển mới về nhận thức đối với nền kinh tế thị trờng hỗn hợp trong đó vai trò Nhà nớc đợc coi nh là một biển số của sự phát triển kinh
tế - nó chỉ có sự thúc đẩy khi sự can thiệp và điều tiết ở mức độ hợp lý dựa trên
sự tôn trọng các quy luật thị trờng
- Thực chất của cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nớc
Xét về mặt hình thức, CPH là việc Nhà nớc bán 1 phần hay toàn bộ giá trị cổ phần của mình cho các đối tợng tổ chức hoặc t nhân trong và ngoài nớc hoặc cho cán bộ quản lý và công nân của xí nghiệp bằng đấu giá công khai hay thông qua thị trờng chứng khoán để hình thành các công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần Xét về mặt thực chất, cổ phần hoá chính là ph-
ơng thức thực hiện xã hội hoá sở hữu, chuyển hình thái kinh doanh một chủ với sở hữu Nhà nớc trong doanh nghiệp thành công ty cổ phần với nhiều chủ
sở hữu để tạo ra một mô hình doanh nghiệp phù hợp với nền kinh tế thị trờng
và đáp ứng đợc yêu cầu của kinh doanh hiện đại
- Mục tiêu của CPH doanh nghiệp Nhà nớc
Chuyển doanh nghiệp Nhà nớc thành công ty cổ phần nhằm đạt các mục tiêu sau
+ Huy động vốn cho toàn xã hội, bao gồm cá nhân, các tổ chức kinh tế,
tổ chức xã hội trong nớc và ngoài nớc để đầu t đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm, phát triển doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ cấu doanh nghiệp Nhà nớc
+ Tạo điều kiện để ngời lao động trong doanh nghiệp có cổ phần và những ngời đã góp vốn đợc làm chủ thực sự, thay đổi phơng thức quản lý tạo
động lực thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, tăng tài sản Nhà nớc, nâng cao thu nhập của ngời lao động, góp phần tăng lợng kinh tế đất nớc
Trong nền kinh tế thị trờng thực thụ (tức là cái "Rốn" bao cấp của Nhà nớc đã đợc cắt bỏ hoàn toàn) thì xu hớng cổ phần hoá một bộ phận các doanh nghiệp Nhà nớc đã diễn ra nh là một quy luật
- Đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh quá trình cổ phần hoá diễn ra nh sau:
+ Các doanh nghiệp nhỏ, nếu không muốn bị phá sản thì phải góp vốn (Góp cổ phần) để tạo ra một doanh nghiệp lớn (công ty cổ phần) có sức cạnh tranh lớn hơn Bởi vì doanh nghiệp lớn thờng có lợi thế hơn doanh nghiệp nhỏ trong việc nâng cao năng xuất lao động, hạ giá thành, đổi mới quy trình công nghệ để cuối cùng hoặc là có giá bán rẻ hơn hoặc là tuy giá không hạ nhng chất lợng mẫu mã tốt hơn, tiêu thụ nhanh và nhiều hơn đối với một sản phảm cùng loại
+ Các doanh nghiệp lớn, nếu không muốn bị phá sản, cũng phải hoặc là
đầu t vốn của mình vào nhiều doanh nghiệp khác bàng cách mua cổ phiếu của
Trang 6các công ty cổ phần hoặc là phân tán sự rủi ro cho nhiều ngời khác bằng cách bán cổ phần cho nhiều doanh nghiệp Thức chất cách làm này là phân chia sự rủi ro cho nhiều doanh nghiệp để hởng lợi bình quân ổn định về toàn bộ vốn
đã đầu t
Nh vậy việc thành lập một công ty cổ phần trong trờng hợp này là rất thuận lợi vì mọi cổ đông đeèu có chung 1 mục tiêu lên họ đến với nhau, thông qua điều lệ, bầu giám đốc là hoàn toàn tự chủ và tự nuyện Hầu nh không có
sự cỡng bức mất dân chủ nào ngoại trừ số vốn góp của mỗi ngời là khác nhau, lên tiếng nói của họ và lợi tức họ hởng là không giống nhau
Đối với các doanh nghiệp Nhà nớc thì lý do cổ phần có khác và do vậy cách thức tiến hành cổ phần hoá cũng khác
Thực tiễn nhiều thập kỷ dã chứng minh là kinh tế quốc doanh kém hiệu quả hơn so với kinh tế tập thể và kinh tế t nhân Cũng có những trờng hợp khác biệt, trong những điều kiện đặc biệt, với một thời gian ngắn, kinh tế quốc doanh vẫn có thể làm ăn có lãi, phát triển Nhng nhìn tổng quát, lâu dài thì kinh tế quốc doanh kém hiệu quả
Vì doanh nghiệp Nhà nớc thờng làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ nên Nhà nớc buộc phải có chính sách tài trợ bao cấp - Tài trợ, là một sách lợc, luôn cần thiết nhằm đảm bảo cho các doanh nghiệp Nhà nớc hoạt động tốt các chủ tr-
ơng phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ Còn bao cấp là việc không đáng làm, vì Nhà nớc phải bù lỗ cho những doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả
và thực ra không cần phải duy trì hình thức quốc doanh Nh vậy là cũng một khoản tiền mà chính phủ cấp cho 1 doanh nghiệp Nhà nớc cụ thể nào đó có thể coi là tài trợ hay là bao cấp phụ thuộc vào việc xác định doanh nghiệp đó có cần là quốc doanh hay không Xácc định đúng một doanh nghiệp là quốc doanh hay ngoài quốc doanh là rất khó và tiêu chuẩn để xác định cũng luôn luôn thay đổi tuỳ thuộc vào sự thay đổi chiến lợc và sách chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn của Chính phủ
Lịch sử phát triển kinh tế đã cho thấy: Sau đại chiến thế giới thứ II, các nớc đua nhau thành lập doanh nghiệp Nhà nớc, đặc biệt là ở các nớc xã hội chủ nghĩa và các nớc muốn bắt chớc mô hình của Liên- Xô (cũ) Nhng đến
1970 thì đa số các nớc trên thế giới đã nhận ra rằng: Kinh tế quốc doanh là kém hiệu quả và chứa đựng nhiều yếu kém Từ đó cho đến nay ở những mức
độ khác nhau với các biện pháp không hoàn toàn giống nhau, các nớc dang tìm cách cải tổ khu vực kinh tế quốc doanh mà CPH đợc coi là 1 giả pháp quan trọng và phổ biến
2- Tầm quan trọng của việc CPH doanh nghiệp Nhà nớc.
Qua thực tiễn tiến hành công tác CPH ở nớc ta và qua kinh nghiệm của một số nớc xung quanh, chúng ta thấy việc CPH đáp ứng đợc yêu cầu bức thiết của công cuộc cải cách doanh nghiệp Nhà nớc trong việc giải quyết một số vấn đề gay cấn nh:
- Khắc phục việc buông lỏng quản lý tài sản của doanh nghiệp, xoá bỏ tình trạng "vô chủ" của doanh nghiệp Mặc dù chủ trơng giao quyền tự quản cho các doanh nghiệp Nhà nớc la giải pháp đạt kết quả nhất định, nhng mới chỉ đẩy lùi đợc chế độ bao cấp của Nhà nớc đối với doanh nghiệp Nhà nớc,
Trang 7còn về nhận thức thì tài sản của doanh nghiệp Nhà nớc vẫn là "tài sản chung", cho nên tình trạng vô trách nhiệm, lãng phí của công vẫn cha đợc khắc phục Khi doanh nghiệp Nhà nớc trở thành Công ty cổ phần thì mặc nhiên điều này
sẽ không còn tồn tại
- Huy động đợc nguồn vốn trong xã hội Cung cấp cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu t phát triển của doanh nghiệp, một mặt, vừa góp phần tháo gỡ đợc khó khăn cho ngân sách Nhà nớc không phải chu cấp cho doanh nghiệp Mặt khác, vốn và tài sản doanh nghiệp Nhà nớc, nhờ CPH, thu hồi lại sẽ đợc đầu t, mở rộng sản xuất, tăng thêm tài sản cố định, góp phần thúc đẩy tăng trởng kinh tế
Tác động lực mới trong quản lý doanh nghiệp ở Công ty cổ phần quyền lợi của những ngời chủ mới của doanh nghiệp gắn chặt với sự thành bại của hoạt động sản xuất kinh doanh, vì thế họ rất đoàn kết gắn bó và thống nhất trong việc tìm kiếm và đa ra phơng hớng hoạt động phù hợp nhất của doanh nghiệp, nhằm củng cố tăng cờng sức cạnh tranh của sản phẩm do họ sản xuất
ra, quan tâm, đến công việc của Công ty và lao động tích cực với tinh thần trách nhiệm cao
Thực tế ở các doanh nghiệp đã chuyển sang Công ty cổ phần đều cho thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh tăng lên rõ rệt Nhờ hiệu quả đợc nâng cao nên tăng thêm việc làm, tăng thu nhập cho cổ đông (trong đó có cổ đồng Nhà nớc và ngời lao động) vừa đợc hởng cổ thức ở mức cao, vừa tăng giá trị vốn góp tại Công ty Ngoài việc tăng trởng đợc vốn góp, đợc chia cổ tức, các khoản nộp ngân sách Nhà nớc cũng tăng nhanh Kết quả này đã làm khích lệ một số ngành, địa phơng, tổng Công ty Nhà nớc tích cực hơn trong việc triển khai khi CPH
3- Vai trò của cổ phần hoá trong nền kinh tế hiện đại.
Thực hiện chính sách nân cao hiệu quả kinh tế và sức cạnh tranh của của các doanh nghiệp Nhà nớc, Đảng và Chính phủ đã coi CPH là một trong những biện pháp tích cực nhằm tăng cờng vai trò chủ đạo của Kinh tế Nhà n-
ớc, thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển Làm tốt CPH sẽ góp phần:
- Giải quyết tốt vấn đề sở hữu công cộng, cụ thể hoá quyền sở hữu của ngời lao động, tạo diều kiện cho quần chúng lao động tham gia làm chủ doanh nghiệp một cách thiết thực
Tăng vốn, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Nhà nớc, giúp các doanh nghiệp có sức và cơ hội mở rộng thị trờng, tiếp thu kinh nghiệm quản lý tiên tiến, ứng dụng công nghệ hiện đại
- Góp phần đắc lực và đạt hiệu quả cao để thực hiện thành công chủ
tr-ơng chuyển đổi cơ cấu kinh tế của Đảng và Nhà nớc
- Huy động tối đa sức dân vào công cuộc xây dựng đất nớc Bằng biện pháp kinh tế, tiết kiệm trong dân c, CPH đã huy động một cách tự nguyện và tối đa cho chơng trình kinh tế
- Tạo cơ sở thúc đẩy quá trình ra đời, hoàn thiện và phát triển thị trờng tài chính, chứng khoán ở Việt Nam
Thực tế quá trình CPH thời gian qua đã làm tăng hiệu quả kinh doanh
và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Đây là vấn đề mấu chốt quyết định
Trang 8đến khả năng nâng cao mức thu nhập của ngời lao động; đồng thời theo đó, một vấn đề đợc coi là hoá búa nhất trong c cấu lại doanh nghiệp Nhà nớc - vấn
đề thất nghiệp - cũng đợc giải quyết thoả đáng Các DNNN không những không sa thải công nhân khi CPH, ngợc lại, trên thực tế, còn tuyển thêm nhiều lao động mới vì hiệu quả kinh tế tăng lên, thị trờng mở rộng
Về phía Nhà nớc, cái lợi vừa mang tính chiến lợc lại vừa cụ thể: ngân sách Nhà nớc bớt đợc các khoản bao cấp, số thu ngân sách Nhà nớc tặng cho doanh nghiệp làm ăn hiệu quả hơn Mặt khác, thông qua cơ chế hoạt động của loại hình doanh nghiệp CPH, Nhà nớc tạo ra đợc một cách quản lý mới, có tính tập thể và hiệu quả cao Thông qua hội đồng quản trị, từ nay, ngời lao
động cũng đợc tham gia vào quá trình quản lý và phân phối kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Nhng thực tế ở các nớc thị trờng phát triển (nh Anh, Pháp ) và ở các
n-ớc Đông Âu (nh Hungari, Ba Lan, Rumani, SNG ) đã cho thấy việc CPH các DNNN là phức tạp khó khăn
4- Những khó khăn, khi tiến hành cổ phần hoá
Tính phức tạp của cổ phần hoá DNNN bắt nguồn từ nhiều lý do:
- Một là, quan niệm thế nào là DNNN và vai trò của nó trong nền kinh
tế quốc dân của mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi đảng phái, thậm chí đến mỗi ngời dân thờng không giống nhau, có lúc khác nhau rất lớn Từ đó dẫn đến nhận thức về hàng loạt các vấn đề khác cũng không thống nhất nh: những doanh nghiệp nào để lại hình thức quốc doanh, doanh nghiệp nào cần CPH; cần phải làm nhanh hay từ từ; coi lãnh đạo công việc này là đúng, là tốt; CPH bao nhiêu phần trăm là vừa.v.v
- Hai là, xử lý những vấn đề có tính chất nghiệp vụ trong quá trình CPH
là không đơn giản:
+ Xác định giá trị doanh nghiệp nh thế nào là chính xác?
+ Đất có tính vào giá trị doanh nghiệp không và tính nh thế nào?
+ Giải quyết vấn đề lao động nh thế nào khi DNNN chuyển sang Công
Nói chung sự lo lắng chần chừ của các DNNN khi chuyển sang Công ty
cổ phần là tất nhiên và chính đáng Ngời lao động không lo lắng sao đợc khi cha biết ngày mai mình sẽ sống ra sao? có đợc tiếp tục làm việc hay không, thu nhập có giảm không, tự do, dân chủ có đợc mở rông hơn không?
Mọi câu hỏi đó chỉ có thể trả lời bằng chính sách và nội dung cụ thể về CPH ở mỗi nớc, đặc biệt là vấn đề xử lý lợi ích của Nhà nớc và ngời lao động
Song dù khó khăn phức tạp đến đâu, nhng nếu Chính phủ và toàn dân nhận thức đợc rằng trong nền kinh tế thị trờng để phát triển và giầu có lên phải CPH một nền kinh tế thị trờng để phát triển và giầu có lên phải CPH lớn các DNNN thì công cuộc CPH nhất định sẽ tiến triển tốt Bằng chứng là ở mức độ
Trang 9thành đạt và sự nhanh chậm khác nhau, nhng từ năm 1980 đến nay các nớc
đều đạt đợc những thành tự về CPH và đang tích cực xúc tiến quá trình này nhanh hơn nữa
II- Kinh nghiệm CPH các DNNN ở một số nớc trên thế giới.
1- Kinh nghiệm CPH ở Liên Xô (cũ)
Thờng "chơng trình đẩy mạnh hơn nữa công cuộc cải cách kinh tế của Chính phủ liên bang Nga", những nhiệm vụ cơ bản của việc t nhân hoá cần phải thực hiện trong vòng 3 - 4 năm Hiện nay các vấn đề về tổ chức, lập pháp, thể chế liên quan đến t nhân hoá đã đợc hoàn thành Thời gian tiếp theo, t nhân hoá sẽ đợc thực hiện theo "luật về t nhân hoá các xí nghiệp quốc doanh và công cộng", đồng thời Liên bang Nga cũng tiến hành hoàn thiện các văn bản dới luật, cũng nh hoàn thiện thêm bản thân luật t nhân hoá này
Có phần giống nh Ba Lan, liên bang Nga tiến hành t nhân hoá theo 2 ớng đó là t nhân hoá "nhỏ": T nhân háo ngành thơng nghiệp và dịch vụ, các xí nghiệp công nghiệp lớn và những xí nghiệp quốc doanh lớn thuộc các ngành khác
h-Hiện nay Liên bang Nga đang bắt đầu tiến hành 2 hớng này với tên gọi
là giai đoạn t nhân hoá hàng loạt Nhiệm vụ của giai đoạn này là tạo ra một khu vực t nhân theo tiến trình sau: đến cuối 1993 sẽ chuyển sang khu vực t nhân trên 30% toàn bộ giá trị tài sản sản xuất của đất nớc, đến cuối năm 1994 thêm 20% nữa, và đến cuối năm 1995 phải đạt đợc 60% Trong số đó 80 - 85%
là chuyển cho không (sử dụng phiếu t nhân hoá và các u đãi cho tập thể lao
h-có hiệu quả t nhân hoá "nhỏ" ngời ta dự kiến cho phép thuê thâu mặt bằng và
đất canh tác của các xí nghiệp đợc t nhân hoá, mở rộng khả năng cấp tín dụng bằng cách đánh thuế bất động sản, tăng kích thích để mua các xí nggiệp cho thuê thầu, không cho phép các cơ quan quản lý tài sản t nhân hoá có quyền thu nhập nào khác ngoài một phần trích từ thu nhập do bán tài sản, chuyển phần lớn tiền thu đợc do t nhân hoá cho ngân sách địa phơng
Quá trình CPH phần lớn các xí nghiệp lớn của Liên bang Nga đợc tiến hành vào tháng 7 đến tháng 10 năm 1992 Các xí nghiệp này sẽ đợc cải tạo thành xí nghiệp cổ phần mở Cổ phiếu của các xí nghiệp này đợc bán rộng rãi
để thu lại phiếu t nhân hoá đã phát cho nhân dân
ở cấp xí nghiệp, để thực hiện CPH, ban giám đốc cùng với tập thể công nhân sẽ soạn thảo ra một kế hoạch t nhân hoá, phơng án phân chia quyền lợi cho ngời lao động, cách thức và tiến trình bán cổ phiếu, có thể bán đấu giá cổ phiếu khống chế hoặc các nhóm cổ phiếu khác
Trang 10ở cấp Nhà nớc, chơng trình t nhân hoá có nêu một số phơng án phân chia quyền lợi cho ngời lao động nh sau:
- Ngời lao động đợc chia 25% cổ phiếu u đãi không mất tiền mà có quyền mua 10% cỏ phiếu, có quyền biểu quyết với giá giảm 30% so với danh nghĩa lãnh đạo xí nghiệp có thể mua theo tiêu chuẩn đến 5% tổng số cổ phiếu
có quyền biểu quyết
- Công nhân có thể mua 51% cổ phiếu có quyền biểu quyết theo những
điều kiện do Nhà nớc quy định
- Công nhân có quyền mua 20% cổ phiếu có quyền biểu quyết giảm giá 30%, và một nhóm công nhân có quyền mua 20% cổ phiếu có quyền biẻu quyết theo những điều kiện đặc biệt, không giảm giá, nếu họ chịu trách nhiệm không để cho xí nghiệp phá sản và thực hiện đúng kế hoạch t nhân hoá Phơng
án này chỉ áp dụng những xí nghiệp có quy mô trung bình không phải CPH bắt buộc
Việc phát huy không hay bán theo những điều kiện u đãi một phần cổ phiếu của xí nghiệp cho các thành viên tập thể lao động theo những phơng án
mà họ lựa chọn sẽ đợc thực hiện ngay trong tiến trình biến xí nghiệp thanh Công ty cổ phần ở các xí nghiệp sẽ thành một hội đồng giám sát bao gồm đại diện của ban giám đốc, tập thể lao động, cơ quan t nhân hoá và chính quyền
địa phơng Hội đồng giám sát tiến trình t nhân hoá theo kế hoạch đã định ở xí nghiệp, kể cả việc thực hiện những u đãi đối với công nhân viên
Vừa qua liên bang Nga không kể tuổi tác, địa vị xã hội, mức trhu nhập.v.v điều đợc phát phiếu t nhân hoá nh nhau Với phiếu này họ có quyền
đổi lấy cổ phiếu của xí nghiệp t nhân hoá với giá trị nhất định (do Liên Xô tối cao quyết định) Dự định đến năm 1993 - 1994 sẽ phát bổ sung một đợt mới phiếu t nhân hoá
Phiếu t nhân hoá có thể đợc sử dụng theo những cách sau:
1- Đổi trực tiếp giấy cổ phiếu của xí nghiệp công nhân của các xí nghiệp có thể đổi lấy cổ phiếu với những điều kiện u đãi, cũng nh đợc tham gia giá các cuọc bán đấu giá đặc biệt để mua cổ phiếu nh mọi công dân khác ngoài xí nghiệp
2- Đổi lấy cổ phần của các quỹ đầu t t nhân hoặc quốc doanh Các quỹ
đầu t sẽ thu phiếu t nhân hoá và và dùng chúng để mua cổ phần của các xí nghiệp Nh vậy mỗi quỹ đầu t sẽ có nhiều cổ phần trong nhiều xí nghiệp khác nhau Họ sẽ dùng lãi cổ phần thu đợc từ các xí ngiệp để trả lãi cho những ngời mua cổ phiếu của mình
3- Cách thứ ba là bán phiếu t nhân hoá để lấy tiền
Để tránh mất giá hoặc thiếu lòng tin vào phiếu t nhân hoá, Nhà nớc quy
định rằng tổng số cổ phiếu phát hành trên thị trờng sẽ nhiều hơn phiếu t nhân hoá phát cho nhân dân (nghĩa là tạo chênh lệch cung vợt cầu để phiếu t nhân hoá không bị mất giá: các xí nghiệp cần t nhân hoá phải bán trên 35% cổ phiếu của mình để lấy phiếu t nhân hoá Đồng thời Nhà nớc lập ra các cơ quan tài chính đặc biệt để t vấn cho t nhân xử dụng phiếu có hiệu quả Nhà nớc cũng bảo đảm mọi mặt về thông tin để nhân dân có thể lựa chọn theo ý mình
Trang 11Triển vọng t nhân hoá đến năm 1995
Với tiến trình mở của nền kinh tế của liên bang Nga và với quyết tâm thúc đẩy t nhân hoá, xây dựng kinh tế thị trờng, Chính phủ cho rằng chơng trình t nhân hoá có thể đạt đợc kết quả khả quan Tuy nhiên, thực tế sẽ khó đạt
đợc kết quả nh vậy, vì nh các nớc Đông Âu Nhân dân liên bang Nga không thể lấy đâu ra tiền để mua khối lợng tài sản khổng lồ thuộc sở hữu Nhà nớc ớc tính khoảng 2500 tỷ rúp vốn cố định và 1100 tỷ rúp vốn lu động Việc bán rộng rãi cổ phiếu bao bồ 3 giai đoạn:
- Bán u đãi những ngời đầu t lớn mua cổ phần khống chế của xí nghiệp Nếu chọn phơng án đâu đãi thứ hai, thì chính tập thể công nhân viên xí nghiệp
đó sẽ là những ngời nắm cổ phần khống chế Nếu chọn phơng án ba, thì chủ một nhóm công nhân của xí nghiệp mới có khả năng khống chế xí nghiệp trong tay Ngoài ra, khi có đợc một lợng phiếu t nhân hoá nhất định, các quỹ
đầu t cũng có thể trở thành ngời đầu t chính của xí nghiệp
- Bán số cổ phiếu phần còn lại thông qua đấu thầu
Trong năm 1993 sẽ kết thúc về cơ bản quá trình t nhân hoá nhỏ Để đẩy nhanh t nhân hoá, Chính phủ sẽ thực hiện phân phối loạt phiếu t nhân hoá mới, tiến hành t nhân hoá nhà ở, điều chỉnh mức lãi cổ phân, tăng trợ cấp ngân sách
và tín dụng u tiên cho những nơi thực hiện tốt nhiệm vụ t nhân hoá
Nhà nớc khuyến khích hình thức đấu giá cạnh tranh để tuyển chọn mua
xí nghiệp, đồng thời sẽ chú ý giải quyết những hậu quả về mặt xã hội nh công
ăn việc làm Nhà nớc hứa sẽ mở rộng danh sách các xí nghiệp t nhân hoá đối với khách hàng nớc ngoài, và dựa vào luật đàu t sẽ có những u đãi nhằm thu hút đầu t nớc ngoài nhiều hơn
Đến cuối năm 1995 giá trị tài sản sản xuất của đất nớc thuộc khu vực quốc doanh sẽ còn khoảng 40% Đây là một bớc đi khá lớn, những tiến mạnh vào kinh tế thị trờng thì kết quả t nhân hoá đó cha đạt tới giới hạn cuối cùng
2- Kinh nghiệm CPH ở Trung Quốc
Trung Quốc bắt đầu thí điểm CPH các doanh nghiệp Nhà nớc của họ vào đầu những năm 1980, họ đã gặt hái đợc những kinh nghiệm đáng chú ý
Từ ngày 22 đến ngày 25/8/1987 tại Hàn Châu (Sơn Tây) Chính phủ tổ chức hội nghị thảo luận về 3 năm thực hiện về CPH
Chỉ tính riêng trong 5 tỉnh thành phố (Thẩm Dơng, Thợng Hải, Bắc Kinh, Quảng Châu, Thiển Tây) đã có trên 1500 xí nghiệp quốc doanh cổ phần hoá với tổng số vốn lên tới hàng chục tỷ nhân dân tệ Ngày 15/7/1984 thành lập Công ty cổ phần đầu tiên của cả nớc với số vốn cổ phần của bên ngoài Công ty lên tới 5318000 nhân dân tệ chiếm 73,6% tổng giá trị doanh nghiệp
2.1 Hình thức cổ phần của Trung Quốc.
- Cơ cấu cổ phần:
Cơ cấu cổ phần của doanh nghiệp gồm: Cổ phần Nhà nớc, cổ phần cán
bộ công nhân viên trong doanh nghiệp và cá nhân ngoài doanh nghiệp
- Chế độ cổ phần hữu hạn
Vốn cổ phần của các xí nghiệp này do những xí nghiệp Nhà nớc, tập thể
và t nhân đóng góp Những xí nghiệp tham gia liên hiệp xí nghiệp cổ phần có
Trang 12thể dùng tài sản dới những hình thái khác nhau nh: Tiền vốn, tài sản cố định
Để đóng góp cổ phần
- Chế độ cổ phần hỗn hợp
Cổ phần của các xí nghiệp là sự hỗn hợp cổ phần trong nội bộ và cổ phần ngoài xã hội Chúng bao gồm: Cổ phần Nhà nớc, cổ phần xí nghiệp, cổ phần các tổ chức kinh doanh và cổ phần cá nhân
định, vốn lu động do Nhà nớc cấp Cổ phần xí nghiệp nói chung là chỉ tài sản
đợc hình thành từ lợi nhuận để lại cho xí nghiệp Cổ phần xã hội là cổ phần mà các tầng lớp xã hội ở ngoài xí nghiệp đã mua Cổ phần cá nhân mà công nhân trong xí nghiệp và nhân dân mua bằng những thu nhập cá nhân từ nguồn vốn nhàn rỗi cuả họ
3.2 Về phân phối lợi nhuận
Nhìn chung có 3 cách lợi nhuận:
- Lợi nhuận hình thành trớc hết phải trả các khoản vay của ngân hàng, sau đó căn cứ vào các luật thuế để nộp các loại thuế cho Nhà nớc Phần lợi nhuận còn lại phân phối cho các quỹ căn cứ vào số lợng các quỹ và tỷ lệ cụ thể cho mỗi quỹ do hội đồng quản trị quyết định căn cứ vào những quy định có liên quan của Nhà nớc
- Hạ thấp mức thuế doanh thu, phần lợi nhuận còn lại sau khi nộp thuế, trả nợ sẽ đem phân bổ cho quỹ
- Lợi nhuận thực hiện còn lại của xí nghiệp đợc phân bổ cho các quỹ sau khi nộp thuế, tiền phạt nếu chiếm dụng vốn của Nhà nớc hoặc của các xí nghiệp khác, trả nợ và trả lãi ngân hàng
2.4 Phân phối lợi tức cổ phần
Cơ bản đều căn cứ vào tỷ lệ của cổ phần để chia lợi tức đợc hởng khi hoạt động kinh doanh có lãi và chịu thiệt hại tổn thất khi thua lỗ Lợi tức đợc phân chia dới dạng một khoản thu nhập cố định hoặc dới dạng biến động phụ thuộc vào khối lợng lợi nhuận thu đợc trong quá trình sản xuất kinh doanh
3- Những bài học kinh nghiệm có thể rút ra từ việc cổ phần hoá, t nhân hoá ở các nớc trên thế giới
3.1 Cổ phần hoá phải đợc nghiên cứu toàn diện
Nó không phải là mục đích tự thân, mà là một bộ phận trong một chơng trình cải cách rộng lớn hơn nhằm thúc đẩy bố trí tốt hơn các nguồn lực, khuyến khích cạnh tranh, tạo môi trờng thuận lợi cho phát triển kinh tế, phát triển thị trờng vốn
3.2 Việc nghiên cứu thiếu thận trọng các phơng án lựa chọn trớc khi hành động có thể dẫn đến những sai lầm tốn kém
Trang 13Nhiều chơng trình các xí nghiệp mới chỉ chủ trọng đến hiệu quả thu hồi trớc mắt, nhng lại cha quan tâm đến tìm cách bảo đảm lợi nhuận tài chính lâu dài.
3.3 Trong trờng hợp thị trờng vốn cha phát triển thậm chí còn yếu kém thì việc cổ phần hoá cần phải thận trọng và phải đợc cụ thể hoá trong chủ trơng bán một phần tài sản
Điều kiện tài chính là kiên quyết, nếu không trong nên kinh tế sẽ xuất hiện những tình trạng bất thờng Nhiều nớc đã thu hẹp thị trờng tài sản của mình băng cách giới hạn hoặc loại trừ sự tham gia của ngời nớc ngoài
3.4 Xây dựng một chiến lợc cổ phần hoá và phân loại xí nghiệp quốc doanh là bớc cần thiết để làm sáng tỏ mục tiêu và quan điểm của Nhà nớc
3.5 Việc cổ phần hoá yêu cầu phải có các cán bộ phải có trình độ, quản
lý một chơng trình CPH là công việc phức tạp trong khi nhiều quan chức Chính phủ cha có đầy đủ năng lực cần thiết Mặt khác Nhà nớc thờng ở thế yếu trong thơng lợng: nhiều xí nghiệp không hấp dẫn, lại thiếu thông tin, thiếu kinh nghiệm trong việc bán tài sản Trong những trờng hợp nh vậy, kết cục chung thờng thấy là tài sản bị đánh giá thấp hơn giá trị thực của nó, và cuối cùng, điều cần phải có là công khai và lòng tin tởng của quần chúng đối với chơng trình cổ phần hoá
III- Doanh nghiệp Nhà nớc Việt Nam và thực trạng cổ phân hoá
1- Thực trạng của khu vực kinh tế nớc ta
ở nớc ta cũng giống nh các nớc XHCN trớc đây thực hiện mô hình kế hoạch hoá tập trung, lấy việc mở rộng và phát triển khu vực kinh tế Nhà nớc bao trùm toàn bộ nền kinh tế quốc dân là mục tiêu cho công cuộc cải tạo và xây dựng CNXH Vì vậy khu vực kinh tế Nhà nớc đã đợc phát triển một cách nhanh chóng, rộng khắp trong tất cả lĩnh vực cơ bản với tỷ trọng tuyệt đối trong nền kinh tế bất kể hiệu quả đích thực mà nó mang lại, trong đó phải kể
đến sự ra đời chàn lan của các doanh nghiệp Nhà nớc do cấp địa phơng quản
lý Theo số liệu thống kê đến ngày 1/1/1990 cả nớc có 12084 doanh nghiệp Nhà nớc trong đó có 1695 doanh nghiệp trong trung ơng quản lý 10389 doanh nghiệp do cấp địa phơng quản lý Khu vực kinh tế Nhà nớc cs số vốn trị giá khoảng 10 tỷ USD, chiếm 85% tổng số vốn đầu t từ ngân sách Nhà nớc, khoảng 70% tổng giá trị tài sản toàn xã hội tạo ra khoảng từ 30% - 38% giá trị tổng sản phẩm xã hội (GDP) và thu nhập quốc dân khoảng 23% - 30% Trong một vài năm gần đây phần của kinh tế Nhà nớc tăng lên nhanh là do bán quyền thăm do và khai thác dầu, xuất khẩu gạo, than đá
Bảng tỷ trọng khu vực kinh tế Nhà nớc trong nền kinh tế quốc dân (%)
1985 1986 1987 1988 1989 1990 199
1 1992 1993
Trang 14ớc nắm giữ Hàng năm, kinh tế Nhà nớc vẫn đang là nguồn thu ngân sách chủ yếu của ngân sách Nhà nớc (khoảng 60% - 70% tổng thu ngân sách) Tuy nhiên, so với khối lợng vốn đầu t và khoản trợ cấp ngầm qua tín dụng u đãi của ngân hàng, cũng nh nếu bóc tách trong đóng góp hiện nay của các doanh nghiệp Nhà nớc phần thuế tài nguyên do bán dầu thô, phần khấu hao cơ bản (đây là khoản thu hồi vốn của Nhà nớc và một phần rất lớn thuế tiêu thụ đặc biệt và các loại thuế gián thu khác đánh vào ngời tiêu dùng mà Nhà nớc thu qua doanh nghiệp thì mức độ đóng góp trên còn cha tơng xứng.
Các doanh nghiệp Nhà nớc đợc hình thành và phát triển trên cơ sở nguồn vốn cấp phát của ngân sách Nhà nớc và do đó, tất cả các hoạt động đều chịu sự kiểm soát và chi phối trực tiếp của Nhà nớc Song cũng giống nh nhiều nớc trên thế giới, khu vực kinh tế Nhà nớc hoạt động hết sức kém hiệu quả đặc biệt là các doanh nghiệp do cấp địa phơng trực tiếp quản lý Có thể minh hoạ nhận xét này qua một vài chỉ tiêu cụ thể sau đây:
+ Tỷ trọng tiêu hao vật chất trong tổng sản phẩm xã hội của khu vực kinh tế Nhà nớc cao gấp 1,5 lần và chi phí để sáng tạo ra một đồng thu nhập quốc dân thờng cao gấp 2 lần so với kinh tế t nhân
+ Mức tiêu hao vật chất của các doanh nghiệp Nhà nớc trong sản xuất cho một giá trị đơn vị tổng sản phẩm xã hội ở nớc ta thờng cao gấtp 1,3 lần so với mức trung bình trên thế giới Ví dụ, chi phí vật chất của sản phẩm hoá chất bằng 1,88 lần, sản phẩm cơ khí bằng 1,3 - 1,8 lần, phân đạm bằng 2,35 lần Mức tiêu hao năng lợng của các doanh nghiệp Nhà nớc ở nớc ta cũng cao hơn
so với mức trung bình của thế giới Ví dụ trong sản xuất giầy gấp 1,26 lần, hoá chất cơ bản bằng 1,44 lần, than bằng 1,75 lần, phân đạm 1,83 lần
+ Chất lợng sản phẩm của các doanh nghiệp Nhà nớc rất thấp và không
ổn định Trung bình trong khu vực kinh tế Nhà nớc chỉ có khoảng 15% đạt tiêu chuẩn xuất khẩu 65% số sản phẩm đạt mức độ dới trung bình để tiêu dung nội
địa: 20% sóo sản phẩm kém chất lợng Do đó hiện tợng hàng hoá ứ đọng với khối lợng lớn và chiếm hơn 10% số vốn lu động của toàn xã hội
+ Hệ số sinh lời của khu vực kinh tế Nhà nớc rất thấp Ví dụ hệ số sinh thời của vốn lu động tính chung chỉ đạt 7%/ năm, trong đó ngành giao thông vận tải đạt 2%/năm: ngành công nghiệp khoảng 3%/năm, ngành thơng nghiệp
Trang 15đạt 22%/ năm hệ số sinh lời của vốn lu động đạt 11%/năm trong đó các ngành tơng ứng ở trên đạt 9,4%, 10,6% và 9,5%.
+ Hiệu quả khai thác vốn đầu t của khu vực kinh tế Nhà nớc hết sức thấp Cụ thể là trong mấy năm gần đây, hàng năm Nhà nớc dành hơn 70% vốn
đầu t ngân sách của toàn xã hội cho các doanh nghiệp Nhà nớc, tuy nhiên chúng chỉ tạo ra đợc từ 34 - 35% tổng sản phẩm xã hội Hơn nữa khu vực kinh
tế Nhà nớc lại sử dụng hầu hết lao động có trình độ đại học, công nhân kỹ thuật, phần lớn số vốn tín dụng của các ngân hàng thơng mại quốc doanh
+ Số các doanh nghiệp thua lỗ chiếm một tỷ trọng lớn Theo số liệu của tổng cục thống kê năm 1990, trong số 12084 cơ sở quốc doanh thì có tới 4584
đơn vị sản xuất kinh doanh thua lỗ, chiếm hơn 30% tổng số các doanh nghiệp Nhà nớc Trong đó quốc doanh trung ơng có 501 cơ sở thua lỗ, bằng 29,6% số cơ sở do trung ơng quản lý, quốc doanh địa phơng có 4083 cơ sở thua lỗ, chiếm 39,9% số đơn vị địa phơng quản lý Các đơn vị thua lỗ trên đây có giá trị tài sản cố định bằng 38% tổng giá trị tài sản của toàn bộ khu vực kinh tế Nhà nớc và với 787300 lao động trong tổng số 2590000 lao động bằng 32,9%
só lao động của toàn bộ khu vực kinh tế Nhà nớc Các số liệu đó cho thấy việc làm ăn thua lỗ của các doanh nghiệp Nhà nớc đã gây ra tổn thất lớn cho ngân sách Nhà nớc và là một trong những nguyên nhân đa đến việc bội chi ngân sách Nhà nớc triền miên trong những năm qua Thêm vào đó Nhà nớc lại có hàng lạot chính sác bù giá, bù lơng, bù chênh lệch ngoại thơng và hàng loạt các khoản bao cấp khác cho các doanh nghiệp Nhà nớc đã làm cho gánh nặng tài chính và các khoản vay nợ của Nhà nớc ngày càng nặng nề và trầm trọng Chỉ tính trong giai đoạn 1985 - 1990 tỷ lệ thâm hụt ngân sách thờng xuyên ở trên mức 30%
Từ năm 1989 đến nay nền kinh tế đã thực sự bớc sang hoạt động theo cơ chế thị trờng Các chính sách về kinh tế, tài chính đối với doanh nghiệp Nhà n-
ớc đã đợc thay đổi theo hớng tự do hoá giá cả Chi phí ngân sách Nhà nớc do
bù lỗ, bù giá, bổ sung vốn lu động cho khu vực này đã giảm đáng kể Tuy nhiên t tởng bao cấp trong đầu t vẫn còn rất nặng nề Tất cả các doanh nghiệp
đợc thành lập đều đợc cấp toàn bộ vốn từ ngân sách Nhà nớc Hàng năm trên 85% vốn tín dụng với lãi suất u đãi đợc dành cho các doanh nghiệp Nhà nớc vay Tài sản tiền vốn của Nhà nớc giao cho doanh nghiệp chủ yếu là không đ-
ợc bảo tồn và phát triển Theo báo cáo của tổng cục thống kê, hầu hết các doanh nghiệp Nhà nớc mới chỉ bảo toàn đợc vốn lu động, còn vốn cố định thì mới chỉ bảo toàn ở mức 50% so với chỉ số lạm phát Hai ngành chiếm giữ vốn lớn nhất là công nghiệp và thơng nghiệp (72,52%) lại là hai ngành có tỷ lệ thất thoát vốn lớn nhất (16,41% và 14,95%) Vấn đề nợ lần vòng vo mất khả năng thanh toán còn diễn ra khá nghiêm trọng do tình trạng quản lý của Nhà nớc về tài chính đối với doanh nghiệp chậm đợc đổi mới đồng thời từ đó nạn tham nhũng, lãng phí diễn ra ở mức báo động
2- Một số nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng hoạt động kém hiệu quả của khu vực kinh tế Nhà nớc
Thứ nhất: khu vực kinh tế Nhà nớc đợc sinh ra và trởng thành trong cơ chế tập trung, quan liệu, bao cấp kéo dài hàng chục năm Với chính sách cấp
Trang 16phát - giao nộp, các doanh nghiệp Nhà nớc hoạt động trong điều kiện vốn đợc Nhà nớc cấp, vật t đợc nhận theo chỉ tiêu hoạt động, sản xuất ra đợc giao nộp theo địa chỉ khu vực Các điều kiện vật chất đợc Nhà nớc phân phối theo chỉ tiêu định mức Doanh nghiệp chỉ đơn thuần là một đơn vị "gia công" hàng hoá cho Nhà nớc Trong điều kiện bao cấp tràn nan nh vậy, rõ ràng doanh nghiệp không còn là một đơn vị kinh tế có quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh Vì vậy khi chuyển sang kinh tế thị trờng, cả một khu vực kinh tế Nhà nớc đồ sộ, cồng kềnh, bộc lộ tất cả những yếu kém về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cơ cấu chắp vá, không đồng bộ và xơ cứng trong việc thích ứng với cơ chế mới.
Thứ hai, các doanh nghiệp Nhà nớc đã từ lâu không đợc đặt trong môi trờng cạnh tranh, không gắn với thị trờng, do đó chậm đổi mới công nghệ và nâng cao chất lợng sản phẩm Trong một nền kinh tế thiếu hụt triền miên vì bị công hữu hoá và thi hành chính sách đóng cửa thì những sản phẩm do các doanh nghiệp này làm ra đều buọc xã hội phải chấp nhận, mặt dù chất lợng thấp, mẫu mã, kiểu dáng cũ kỹ lạc hậu Thêm vào đó chế độ bao cấp bù lỗ tràn nan đã làm cho hạch toán kinh tế trong các doanh nghiệp Nhà nớc chỉ là hình thức giả tạo, sản xuất không tính chi phí, nhng hiện tợng lãi giả - lỗ thật lại hết sức phổ biến Điều tất yếu xẩy ra là vốn liếng của doanh nghiệp không đợc quan tâm bảo toàn, thiết bị cũ kỹ công nghệ lạc hậu hàng chục năm so với mức trung bình của thế giới
Thứ ba, tổ chức bộ máy trong các doanh nghiệp Nhà nớc không phù hợp do quan điểm về sở hữu trong các doanh nghiệp không rõ dàng Không có
sự phân biệt đầy đủ quyền sở hữu Nhà nớc và quyền quản lý kinh doanh của giám đốc và tập thể ngời lao động trong doanh nghiệp Tình trạng làm chủ tập thể chung chung kéo dài mà thực chất là vô chủ phổ biến ở hầu hết các doanh nghiệp Nhà nớc
Thứ t, việc phân phối về thực chất không dựa trên nguyên tắt phân phố theo lao động mà chủ yếu nhằm phục vụ chính sách xã hội, mang nặng tính bình quân chủ nghĩa, không kích thích ngòi quản lý và công nhân trong các doanh nghiệp Nhà nớc nâng cao hiệu quả công tác và năng suất lao động Thêm vào đó, đội ngũ cán bộ với kiến thức và trình độ quản lý không phù hợp với kinh tế thị trờng, thiếu sự năng động và mạo hiểm trong kinh doanh
Tựu trung lại, có thể thấy tình trạng kém hiệu quả của khu vực kinh tế Nhà nớc về cơ bản là do cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp tồn tại trong mấy chục năm qua Trớc đây do điêu kiện lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ, nền kinh tế đợc quản lý nh vật sẽ bảo đảm huy động ở mức cao nhất mọi tiềm lực cho kháng chiến thắng lợi mà không cần tính đến hiệu quả Tuy nhiên khi đất nớc đã chuyển sang thời kỳ hoà bình xây dựng kinh tế thì việc kéo dài quá lâu cơ chế quản lý này đã kìm hãm sự phát triển của lực l-ợng sản xuất và đẩy nền kinh tế rơi vào sự khủng hoảng
Sự đổi mới t duy về phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiêu thành phần có
sự điều tiết định hớng của Nhà nớc đã cho phép thực hiện việc phê phán và từng bớc xoá bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp, xây dựng
Trang 17cơ chế quản lý mới thích ứng với nền kinh tế thị trờng, trong đó có những chính sách, biện pháp nhằm đổi mớc khu vực kinh tế Nhà nớc.
3- Thực trạng của doanh nghiệp Việt Nam và tiến trình cổ phân hoá
Thực tiễn không những năm vừa qua đã khẳng định đờng lối đổi mới ở Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, nhiều nhà kinh tế trên thế giới đánh giá cao thành tự đổi mới của Việt Nam, coi đó là "hiện tợng Việt Nam" Tuy nhiên quá trình cải cách cũng đặt ra nhiều vấn đề bức xúc, trong đó có vấn đề nâng cao vai trò, hiệu quả của doanh nghiệp Nhà nớc và quá trình CPH và quá trình CPH loại hình doanh nghiệp này Trớc kia chúng ta có hơn 12000 doanh nghiệp Nhà nớc Sau quyết định 388 cảu Chính phủ, sắp xếp lại khu vực kinh
tế Nhà nớc, vừa giải thế các doanh nghiệp thua lỗ nhiều năm, vừa sát nhập,
đến nay chúng ta còn gần 6000 doanh nghiệp nữa Bên cạnh những mặt đợc, hoạt động doanh nghiệp Nhà nớc bộ lộ nhiều hạn chế
- Hầu hết các doanh nghiệp Nhà nớc có quy mô nhỏ, vốn ít, kỹ thuật lạc hậu ở nớc ta số doanh nghiệp Nhà nớc có vốn dới 1 tỷ đồng chiếm tới 50% Năm 1994 doanh nghiệp thu trung bình của các doanh nghiệp Nhà nớc do bộ, ngành trung ơng quản lý là 64 tỷ đồng/năm Các doanh nghiệp địa phơng quản
lý là 16 tỷ đồng/ năm Trừ một số doanh nghiệp Nhà nớc mới xây dựng trong những năm gần đây, hầu hết các doanh nghiệp lại có kỹ thuật lạc hậu so với thế giới tới 2 - 3 thế hệ nh ngành đờng sắt, đóng tầu, cơ khí vì vậy sản phẩm của các doanh nghiệp này cung cấp có chi phí sản xuất cao, chất lợng kém
- Tình trạng chiếm dụng vốn, công nợ dây da kéo dài giữa các doanh nghiệp Nhà nớc là hiện tợng phổ biến Tính đến 31/12/1994 tổng số công nợ phải thu chiếm 20% doanh thu khu vực kinh tế này, bằng 54% tổng số vốn của doanh nghiệp và tổng số công nợ phải trả chiếm 26,4% doanh thu Trừ một số doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ nh ngân hàng thơng mại, Công ty bảo hiểm, còn lại đại bộ phận của doanh nghiệp Nhà nớc đều có số nợ phải trả lớn hơn số
nợ phải thu, số nợ không có khả năng thanh toán rất lớn
- Hệ thống quản lý nặng lề, kém linh hoạt, cha đáp ứng đợc yêu cầu của cơ chế thị trờng Các quyết định đầu t, các phơng án sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm, các phơng án đổi mới kỹ thuật và công nghệ, phân phối tài chính có quá nhiều quy định, thủ tục phiền hà, chế độ tập thể quyết định, trên thực tế không ai chịu trách nhiệm, gây thất thoát lớn đối với tài sản của Nhà n-
ớc trong các doanh nghiệp
- Hiệu quả kinh tế trong các doanh nghiệp Nhà nớc rất thấp nhiều doanh nghiệp Nhà nớc không bảo tồn đợc vốn, mức sử dụng lao động thấp, tốc độ chu chuyển của vốn chậm, sức cạnh tranh yếu Đến cuối năm 1994, riêng nó doanh nghiệp Nhà nớc do địa phơng quản lý thua lỗ lên tới 469 doanh nghiệp, chiếm 12% tổng số doanh nghiệp Nhà nớc và 33,2% tổng số lỗ của khu vực kinh tế Nhà nớc Có doanh nghiệp trớc khi có quyết định giải thế còn mắc nợ hàng trăm tỷ đồng và hàng triệu đô la Mặc dù Chính phủ thờng xuyên rà soát công nợ của doanh nghiệp Nhà nớc và có chính sách phù hợp đối với số nợ tồn
đọng từ nhiều năm trớc, nhng nhiều doanh nghiệp Nhà nớc vẫn không có khả năng trang trải công nợ bằng lợi nhuận thu đợc của các doanh nghiệp này
Trang 18Hiện tợng các doanh nghiệp Nhà nớc "ăn vào vốn" vẫn còn khá phổ biến, nh vậy sự tồn tại của khu vực kinh tế Nhà nớc quá lớn trở thành gánh nặng đối với ngân sách Nhà nớc
Thực trạng sự hoạt động kém hiệu quả, kém năng động của khu vực kinh tế Nhà nớc là hiện tợng phổ biến ở các nớc Từ những năm 80 của thế kỷ
20 ở các nớc t bản đã diễn ra quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, t nhân hoá và cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc
đạo (đầu tầu) đã không hăng hái thì không thể chuyển động đợc các "toa tầu" phía sau
+ Đối với các doanh nghiệp: ngời lãnh đạo (tránh, phó giám đốc) hầu hết là do chế độ bổ nhiệm mà có, do vậy khi chuyển sang Công ty cổ phần để gìn giữ đợc chức vụ đó trớc đại hội cổ đông? vì thế họ không muốn CPH và không chịu CPH doanh nghiệp Nhà nớc, và khi CPH công nhân và lao động còn đợc làm việc nh cũ hay không? Họ đợc gì? hình nh cha đợc gì đáng kể?
Thế là từ trên xuống dới kêu thành mảng trong nhận thức và hành động
Để đảm bảo "an toàn" và giữ đợc "ghế" tránh đợc "nguy cơ đi chệch hớng XHCN" thợng sách là cùng xắn tay áo lao vào công tác này
- Khung pháp lý cha đầy đủ và thiếu đồng bộ: Chủ trơng lớn của Đảng, Nhà nớc mới chỉ dừng lại ở một quyết định, một chỉ thị của Thủ tớng Chính phủ, các ngành, các cấp thiếu hoặc rất chậm trong triền khai hớng dẫn thực hiện các cơ quan chỉ đạo, nhất là mới chỉ hành động về hành chính trong khi CPH cần đến cả một loạt các quy định của các ngành luật khác nh tài chính, lao động mà đến nay cha có nên dẫn đến thiếu sự nhất quán trong thi hành Các điều kiện của cơ chế thị trờng dành cho hoạt động này còn thiếu, tạo ra sự lúng túng trong quá trình chỉ đạo thí điểm CPH, đặc biệt là xử lý những vấn đề
có tính kỹ thuật, nghiệp vụ ở cơ sở
- Hình thức CPH ở doanh nghiệp Nhà nớc còn quá sơ sài gian đơn chuqa mang tính đa dạng, trong khi đó các loại hình doanh nghiệp ở các vùng, các ngành có tính đặc thù riêng Dó đó nhièu doanh nghiệp muốn chuyển sang Công ty cổ phần nhng cha có hình thức chỉ đạo thích ứng
- Sự phân biệt giữa doanh nghiệp Nhà nớc và doanh nghiệp ngoài quốc doanh (kể cả Công ty cổ phần) còn nặng nền cả trong nhận thức lẫn thực tế thực hiện
- Doanh nghiệp Nhà nớc đợc u ái (bao cấp) khá đậm nét về địa điểm, vốn, tín dụng đặc biệt là kết quả quốc doanh: Nếu lỗ, mất vốn Nhà nớc vẫn
Trang 19còn gánh chịu Cá nhân (tránh phó giám đốc) có mất cũng chỉ mất chức - thậm chí còn đợc chuyển lên chức vụ cao hơn Trong khi Nhà nớc mất đi bạc tỷ - thì
họ cũng chỉ mất (hoặc tăng) chức nhng đã "ăn đủ" cho cá nhân công nhân viên doanh nghiệp Nhà nớc, ngoài lơng họ còn đợc hởng và các quyền lợi khác mà
họ không phải bỏ vốn
- Chuyển Công ty cổ phần: Nhiều ý kiến chỉ chọn và đa ra những doanh nghiệp kinh doanh không có hiệu quả hoặc lỗ, những doanh nghiệp lãi, có nguồn thu lớn phải giữ lại cho Nhà nớc Có nghĩa đã đã đa ra thị trờng "các loại" "hàng" thiu thối - vì thế khó có ngời muốn mua Đã vậy khi chuyển sang Công ty cổ phần họ tởng nh Nhà nớc mất tài sản do đó họ nâng giá trị tài sản doanh nghiệp lên quá mức thị trờng có thể chấp nhận thế là tình trạng hàng bán ra đã kém lại có mức giá cao, thành thử ế ẩm Kết quả là các doanh nghiệp Nhà nớc đa ra CPH sau một thời gian tranh cãi, tốn phí tiền của, nhân lực nhng lại bỏ đó
Mặt khác nếu chuyển sang Công ty cổ phần doanh nghiệp còn chịu khá nhiều những hắt hủi" của doanh nghiệp ngoài quốc doanh mà trong chính sách của Nhà nớc không có, nhng trong thực tế thực hiện lại nảy sinh nh tín dụng, thuế, giá trị tài sản
- Thói quen hùn vốn vào Công ty cồ phần để kinh doanh trong dân ta cha có, đặc biệt là ở các tỉnh phía bắc, họ thà cất giữ (vàng, ngoại tệ): gửi tiết kiệm sinh lợi hoặc mua bất động sản sẽ an toàn hơn là mua cổ phần doanh nghiệp Đặc biệt đây là những đồng tiền ky cóp mồ hôi nớc mắt dành dụm đ-
ợc
- Các chính sách khuyến khích công nhân viên chức trong các doanh nghiệp Nhà nớc chuyển sang Công ty cổ phần cha nhiều, cha có sự hấp dẫn cần thiết để ho hăng hái trong hoạt động này Nhà nớc cũng cần thiết phải có một số chính sách đãi ngộ thích đáng cho các doanh nghiệp Nhà nớc chuyển sang Công ty cổ phẩn thì mới tạo ra đợc động lực bên trong từng doanh nghiệp
để thúc đẩy công tác này phát triển đúng hớng Bên cạnh sự khuyến khích lợi ích vật chất, cũng cần có thái độ dứt khoát với các loại hình doanh nghiệp mà Nhà nớc không cần đầu t 100% vốn để có kế hoạch vụ thể từng bớc phát triển doanh nghiệp Nhà nớc sang Công ty cổ phân, Công ty trách nhiệm hữu hạn, hoặc doanh nghiệp t nhân tạo ra sự phát triển nhịp nhàng giữa các thành phần kinh tế trong tổng thể nền kinh tế quốc dân
- Thủ tục hành chính quá rờm rà và tốn kém Một doanh nghiệp Nhà
n-ớc trị giá 2 tỷ bạc chuyển sang Công ty cổ phần mà hàng chục lợt cán bộ đến nghiên cứu, soát, xét, kiểm tra, kiểm toán, thẩm định kiểm toán, ký biên bản, thẩm định biên bản, ra quyết định.v.v Rồi sau đó mới trình lên, ngành, UBND, tỉnh, thành phố, trình Thủ tớng Chính phủ phê chuẩn Biết bao "cửa
ải" mà doanh nghiệp phải chịu đựng Với thủ tục nh vậy hỏi sao có thể đẩy mạnh đợc tiến độ phát triển chủ trơng CPH doanh nghiệp Nhà nớc theo chơng trình đổi mới doanh nghiệp của Chính phủ đề ra
Thực hiện nghị quyết trung ơng VIII về cải cách hành chính, thiết nghĩ
đây là một trong những điểm cần thiết phải "cải cách" phải loại bỏ những thủ tục rờm rà xây dựng một quy trình CPH doanh nghiệp Nhà nớc gọn nhẹ, quản
Trang 20lý chặt chẽ và tránh đợc những chi phí do doanh nghiệp phải bỏ ra làm ảnh ởng đến túi tiền của ngân sách.
h Một nguyên nhân khá quan trọng là tổ chức chỉ đạo cha tập trung, thiếu thống nhất giữa các bộ, ngành, trung ơng, địa phơng: cơ quan đại diện chỉ định chủ trì (Bộ tài chính) cha đủ thẩm quyền giải quyết các vấn đề phát sinh kịp thời, đôi khi gặp khó khăn (đặc biệt là có ý kiến khác nhau vè quyền
sở hữu tài sản) thì chùn bớc và phó mặc thời gian và sự việc
5- Một số kết quả đã đạt đợc
Trong 6 tháng cuối năm 1998 sau khi có nghị định số 44/CP đã có 90 doanh nghiệp đợc CPH, đa số doanh nghiệp đợc lên con số 120 năm 1999, CPH đợc 250 doanh nghiệp gấp 7 lần so với 6 năm trớc đó (1992 - 1997) cộng lại Nh vậy cho đến nay đã CPH đợc 370 doanh nghiệp Trong số các địa ph-
ơng có nhiều doanh nghiệp đợc CPH phải kể đến Hà Nội Trong 2 năm 1998 -
1999 Hà Nội CPH 71 doanh nghiệp Nhà nớc (năm 1998 CPH 31 doanh nghiệp Nhà nớc, năm 1999 CPH 4 doanh nghiệp) Só doanh nghiệp đợc CPH chiếm 21,6% doanh nghiệp Nhà nớc do địa phơng quản lý
Thành phố Hồ Chí Minh đã đi đầu trong việc thực hiện thí điểm CPH nhng sau đó chững lại Đến tháng 6 năm 1999 mới có 8 doanh nghiệp đợc chuyển thành Công ty cổ phần, 12 doanh nghiệp đang thực hiện thẩm tra giá trị doanh nghiệp Đến nay thành phố đã lấy lại đợc khí thế ban đầu Chỉ 4 tháng sau đó đã hoàn thành thủ tục chuyển 35 trong số 44 doanh nghiệp trong
kế hoạch theo luật Công ty Trong số doanh nghiệp đã CPH có 11,9% số Công
ty có vốn điều lệ trên 10 tỷ đồng, 52,3% số Công ty có vốn điều lệ dới 5 tỷ
đồng Các Công ty cổ phần có vốn điều lệ lớn là Công ty cổ phần đờng Lam Sơn (150 tỷ đồng) Công ty cổ phần SACOM (Công ty bu chính viễn thông) có
4 điều lệ 120 tỷ đồng, trong đó 49% vốn điều lệ thuộc Nhà nớc, Công ty cổ phần vật liệu xây dựng Quảng Xơng (Thanh Hoá) có vốn điều lệ thấp nhất 75 triệu đồng
Báo cáo hoạt động của 50 doanh nghiệp đã CPH hơn 1 năm cho thấy hầu hết có chuyển biết tích cực, toàn diện kể cả những doanh nghiệp trớc khi CPH bị thua lỗ, doanh nghiệp thu bình quân tăng trên 25%, có một số tăng trên 50% Trong 9 tháng đầu năm 1999 có những Công ty cổ phần đạt gấp đôi doanh nghiệp cả năm trớc khi CPH Điển hình là Công ty cổ phần cơ Điện lạnh đạt 353 tỷ đồng so với 78 tỷ đồng Công ty cổ phần đại lý vận chuyển đạt
163 tỷ đồng so với 16 tỷ đồng
Số lợng lao động không những không bị giảm mà con tăng bình quân hàng năm là 10% có Công ty tăng trên 20% Ví dụ Công ty chế biến hàng xuất khẩu Long An từ 900 lao động tăng lên 1280 lao động, Công ty cổ phần cơ
Điện lạnh từ 334 ngời lên 739 ngời, Công ty cổ phần Đại lý liên hiệp vận chuyển từ 85 ngời lên 350 ngời
Thu nhập của ngời lao động tăng bình quân hàng năm 20% (cha kể thu nhập cổ tức) điển hình là Công ty cổ phần Đại lý liên hiệp vận chuyển Trớc khi cổ phần hoá thu nhập là 1,1 triệu đồng/ ngời/ tháng nay đạt 4,4 triệuđồng/ ngời/ tháng, Công ty cổ phần Chế biến thức ăn gia xúc từ 524000 sử đồng lên 1,3 triệu đồng
Trang 21Lợi nhuận trớc thuế hàng năm bình quân trên 26%, có Công ty đạt tổng lợi nhuận gấp 2 - 3 lần so với trớc khi CPH Công ty cổ phần Đại lý liên hiệp vận chuyển lãi tăng 4,1 tỷ đồng lên 37 tỷ đồng, Công ty cổ phần cơ Điện lạnh lãi tăng từ 8,8 tỷ đồng lên 34 tỷ đồng.
Nộp ngân sách tăng bình quân hàng năm 30%, một số Công ty gấp đôi
so với trớc khi CPH Năm 1998 Công ty cổ phần cơ điện lạnh nộp ngân sách
68 tỷ đồng so với trớc khi CPH là 3,7 tỷ dồng, Công ty cổ phần đại lý liên hiệp vận chuyển nộp ngân sách 40 tỷ đồng so với 5,1 tỷ đồng trớc khi CPH Công
ty cổ phần sơn Bạch Tuyết đạt 7,5 tỷ đồng so với trớc là 6,8 tỷ đồng
Vốn điều lệ (bao gồm tích luỹ từ lợi nhuận, phát hành thêm cổ phiếu trong nớc và một số Công ty đợc huy động cổ phần ngoài nớc, tăng bình quân trên 25% năm Có một số Công ty tăng hơn 2 lần
Lãi cổ tức đạt cao hơn lãi tiết kiệm, bình quân đạt 1,2%/ tháng Có số Công ty đạt tên 2% tháng nh Công ty cổ phần sửa chữa và đóng tầu Bình định
đạt 26% trong năm 1998, các Công ty cổ phần khai thác dịch vụ thuỷ sản Đà Nẵng, Sơn Bạch Tuyết, chế biến thức ăn gia súc, chế biến hàng xuất khẩu Long An đầu đạt lãi cổ tức 2%/ tháng
Tại Hà Nội, theo báo cáo của các doanh nghiệp đã chuyển sang hoạt
động luật Công ty và đã hoạt động từ 6 tháng trở lên cho thấy: tổng lợi nhuận thực hiện trong quý I năm 1999 thu đợc 7,8 tỷ đồng, tăng 32% so với cùng kỳ năm 1998, Công ty cổ phần Phúc Thịnh từ lỗ 350 triệu đồng chuyển sang lãi
IV- Quan điểm
1- Một số quan điểm cơ bản trong quá trình tiến trình cổ phần hoá Doanh nghiệp Nhà nớc
- Quan điểm thứ nhất: Việc lựa chọn những doanh nghiệp để chuyển thành công ty cổ phần phải đợc đặt trong chơng trình tổng thể đổi mới khu vực kinh
tế Nhà nớc và sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nớc
Hiện nay chơng trình này đang đợc soạn thảo với những quan điểm cơ bản dựa trên các Nghị quyết của Đảng ở HNTW 2 và Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đảng (khoá VII), các Nghị quyết của quốc hội (khoá IX), Nghị định 388/HĐBT, Nghị quyết 315/HĐBT của Chính phủ Xét theo những yêu cầu cấu trúc lại khu vực kinh tế Nhà nớc để duy trì đợc vai trò chủ đạo và
định hớng sự phát triển nền kinh tế thị trờng ở nớc ta nh đã nêu ra ở trên, có thể chia làm 3 nhóm doanh nghiệp Nhà nớc với những giải pháp đổi mới khác nhau