1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận văn thực trạng quản lý công tác giáo dục kỹ năng thực hành xã hội ở các trường trung học phổ thông tại thành phố hồ chí minh

165 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn thực trạng quản lý công tác giáo dục kỹ năng thực hành xã hội ở các trường trung học phổ thông tại thành phố hồ chí minh
Tác giả Nguyễn Duy Tâm
Người hướng dẫn Thầy, Cô hướng dẫn khoa học Huỳnh Văn Sơn
Trường học Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản lý giáo dục
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 165
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, nhiều tổ chức quốc tế như Tổ chức y tế thế giới WHO, Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hiệp quốc UNESCO, Quỹ cứu trợ nhi đồng Liên Hiệp Q

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời biết ơn chân thành đến Phòng Khoa học Công nghệ và Sau đại học – Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong suốt quá trình học tập

Tôi xin gửi lời cảm ơn Ban tổ chức Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi về thời gian và kinh phí cho tôi trong trong quá trình học tập cũng như thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu các trường Trung học phổ thông thuộc mẫu nghiên cứu của đề tài cùng các giáo viên, học sinh tại các trường trên đã tạo điều kiện, nhiệt tình hỗ trợ và tích cực tham gia cùng chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài, góp phần quan trọng đề đề tài nghiên cứu triển khai có kết quả

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến quý Thầy, Cô đã giảng dạy, hướng dẫn, góp ý khoa học cho lớp cao học Quản lý giáo dục K20 cùng với Tiến sỹ Huỳnh Văn Sơn – người hướng dẫn khoa học đã luôn tận tình hướng dẫn, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các anh, chị cùng khóa học, các đồng nghiệp, người thân đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như khi thực hiện luận văn này

Nguyễn Duy Tâm

Trang 2

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AIDS : 1Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải CBQL : Cán bộ quản lý

KNS : Kỹ năng sống QLGD : Quản lý giáo dục THCS : Trung học cơ sở THPT : Trung học phổ thông TLTN : Trợ lý thanh niên TPHCM : Thành phố Hồ Chí Minh UNESCO : 1Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hiệp quốc UNICEF : Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đất nước ta đang trong giai đoạn thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc

tế Chiến lược Phát triển Giáo dục Việt Nam giai đoạn 2009-2020 nhấn mạnh: “nền giáo dục này phải đào tạo được những con người Việt Nam có năng lực tư duy độc lập và sáng tạo, có khả năng thích ứng, hợp tác và năng lực giải quyết vấn đề, có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, có thể lực tốt, có bản lĩnh, trung thực, ý thức làm chủ và tinh thần trách nhiệm công dân, gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” Nghị quyết về đẩy mạnh công tác giáo dục của Đoàn TNCS

Hồ Chí Minh TP.HCM giai đoạn 2009 – 2012 có chỉ đạo: thường xuyên cải tiến nội dung, hình thức

tổ chức các hoạt động rèn luyện KNTHXH, giao tiếp, diễn đạt, xây dựng kế hoạch, làm việc nhóm,

xử lý tình huống, sinh hoạt tập thể, cộng đồng cho cán bộ, đoàn viên, thanh thiếu nhi đồng thời tăng cường nắm bắt kịp thời nhu cầu, sở thích, nguyện vọng của từng đối tượng thanh niên để tổ chức các loại hình văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, các lớp năng khiếu, bồi dưỡng KNTHXH phù hợp với mục tiêu đặt ra của công tác giáo dục trong tình hình mới

Do nhu cầu đổi mới giáo dục để đáp ứng sự phát triển và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cũng như đáp ứng nhu cầu được phát triển của người học, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiến hành đổi mới giáo dục phổ thông từ tiểu học đến trung học phổ thông, với chiến lược chuyển hướng mục tiêu từ chủ yếu là trang bị tri thức cho người học sang bị trang bị những năng lực cần

thiết cho họ Bốn trụ cột trong giáo dục của thế kỷ 21 “Học để biết, Học để làm, Học để khẳng định, Học để cùng chung sống” [4, tr.3] mà thực chất là cách tiếp cận kỹ năng sống trong giáo dục đã được quán triệt trong việc đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục phổ thông ở Việt Nam Trong đó, các KNTHXH là một trong những kỹ năng rất được chú trọng Tuy nhiên, Bộ Giáo dục – Đào tạo chưa ban hành bộ chuẩn về giáo dục kỹ năng sống thực hành xã hội cho học sinh để định hướng chung vì thế các trường THPT chưa có sự thống nhất và đồng bộ trong việc thực hiện nội dung này Việc giáo dục KNTHXH ở các trường mới chỉ dừng lại ở việc lồng ghép vào từng bộ môn như Ngữ văn, Sử, Địa, Sinh, Giáo dục công dân, Hoạt động ngoài giờ lên lớp các và một vài hình thức khác nên kết quả đạt được chưa cao Việc chưa có một chương trình chính qui về giáo dục KNTHXH dẫn đến việc quản lý công tác này của Ban giám hiệu gặp nhiều khó khăn ở các giai đoạn quản lý như: tổ chức, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra, đánh giá Chính vì vậy, thực tế nhiều trường THPT lúng túng, chưa thực hiện tốt, thậm chí xem nhẹ nội dung này

Trang 4

Hiện nay, tại TPHCM có nhiều hiện tượng xã hội đáng quan tâm như: một bộ phận học sinh

vô cảm trước sự khó khăn của đồng bào bị thiên tai; không biết cảm thông và chia sẻ với bạn bè; đánh nhau trọng thương do một câu nói xúc phạm nhau; tự tử vì rớt đại học; quan hệ tình dục trước hôn nhân; sử dụng ma túy Nguyên nhân của các hiện tượng trên phần lớn là do học sinh thiếu các KNTHXH: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thương thuyết, từ chối, sự cảm thông – chia sẻ, sự hợp tác Điều này cho thấy việc quản lý công tác giáo dục KNTHXH ở các trường THPT tại thành phố Hồ Chí Minh là một thách thức khá lớn Giáo dục KNTHXH là vấn đề cấp bách nhưng vẫn có rất nhiều bậc phụ huynh chưa ý thức được tầm quan trọng của việc học kỹ năng nên thờ ơ và chưa có sự đầu

tư cho con em mình Vì vậy, Đoàn và Hội xác định năm học 2010 – 2011 là năm chú trọng rèn luyện kỹ năng xã hội cho Đoàn viên – thanh niên nên nó trở thành nhiệm vụ trọng tâm của các cơ sở Đoàn trường THPT và cũng là nhiệm vụ quan trọng của từng cán bộ quản lý trường học Với mong muốn tìm được các biện pháp thích hợp để góp phần nâng cao hiệu quả công tác này, tôi chọn đề tài

“ Thực trạng quản lý công tác giáo dục KNTHXH ở các trường Trung học phổ thông tại thành phố

Hồ Chí Minh” để nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu thực trạng quản lý công tác giáo dục KNTHXH ở các trường THPT tại thành phố

Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp quản lý công tác giáo dục KNTHXH ở các trường THPT tại thành phố Hồ Chí Minh

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách th ể nghiên cứu

Quá trình quản lý hoạt động giáo dục ở các trường THPT tại thành phố Hồ Chí Minh

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng quản lý công tác giáo dục KNTHXH ở các trường THPT tại thành phố Hồ Chí Minh

4 Giả thuyết khoa học

Việc quản lý công tác giáo dục KNTHXH ở các trường THPT tại thành phố Hồ Chí Minh đã chú trọng ở một số mặt như: tổ chức các hoạt động ngoại khóa góp phần giáo dục KNTHXH; tổ chức truyền thông về sự cần thiết phải giáo dục KNTHXH Tuy nhiên còn một số mặt hạn chế: không có một kế hoạch cụ thể, lâu dài về giáo dục KNTHXH; các biện pháp quản lý công tác giáo dục KNTHXH của Ban Giám Hiệu còn hạn chế

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 5

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận của vấn đề quản lý công tác giáo dục KNTHXH ở các trường

THPT

- Khảo sát thực trạng quản lý công tác giáo dục KNTHXH ở các trường THPT tại thành phố

Hồ Chí Minh hiện nay trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp quản lý công tác giáo dục KNTHXH

ở các trường THPT tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp phân tích, hệ thống hóa, khái quát hóa, tổng hợp tài liệu về quản lý công tác giáo dục KNTHXH tại trường THPT

- Phân loại, hệ thống hóa các lý luận cần nghiên cứu trong phạm vi đề tài; lý luận về quản lý

và quản lý công tác giáo dục KNTHXH

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Khách thể điều tra: hiệu trưởng, hiệu phó, giáo viên chủ nhiệm, Đoàn thanh niên trường THPT

- Nội dung điều tra:

 Thái độ của học sinh đối với công tác giáo dục KNTHXH

 Nhận thức về sự cần thiết của việc quản lý công tác giáo dục KNTHXH

 Các công tác quản lý cụ thể: lập kế hoạch, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá, giám sát

 Các biện pháp cụ thể để quản lý hiệu quả việc giáo dục KNTHXH

 Các biện pháp quản lý sự phối hợp tổ chức công tác giáo dục KNTHXH

- Mẫu điều tra: 15 trường THPT tại thành phố Hồ Chí Minh:

Trang 6

 THPT Lương Văn Cang, Q8

 THPT Nguyễn An Ninh, Q10

 THPT Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Q11

 THPT Võ Trường Toản, Q12

 THPT Hàn Thuyên, Quận Phú Nhuận

 THPT Lý Thường Kiệt, Huyện Hóc Môn

6.2.2 P hương pháp phỏng vấn

- Lấy ý kiến về việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên phụ trách công tác giáo dục KNTHXH

- Lấy ý kiến về việc lựa chọn các nội dung KNTHXH cần thiết để giáo dục cho học sinh Trung học phổ thông

- Lấy ý kiến về biện pháp kiểm tra và cách thức đánh giá hiệu quả công tác giáo dục KNTHXH

6.2.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phần mềm SPSS for Windows phiên bản 11.5 để xử lý thống kê như: tính tần số, tỉ

lệ phần trăm, trị số trung bình,… làm cơ sở để bình luận số liệu thu được từ phương pháp điều tra

Trang 7

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC KỸ NĂNG THỰC HÀNH XÃ HỘI TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC

PHỔ THÔNG 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới

Vấn đề giáo dục KNS bắt đầu được đặt nền móng, được quan tâm tìm hiểu từ thập niên 80 của thế kỷ XX Bắt đầu từ năm 1979, nhà khoa học hành vi Gilbert Botvin, thành lập nên một chương trình giáo dục KNS cho giới trẻ từ 17-19 tuổi Chương trình đào tạo này nhằm giúp xây dựng ở người học có khả năng từ chối những lời mời, rủ rê sử dụng chất gây nghiện bằng cách nâng cao sự tự khẳng định bản thân, kỹ năng ra quyết định và tư duy phê phán Thực ra, việc học tập và thực hành các kỹ năng ấy chỉ là một trong những khía cạnh của chương trình, nhưng có thể coi như

là bước đầu để chương trình giáo dục KNS được triển khai rộng rãi trong thời gian kế tiếp Bắt đầu

từ những năm 80 của thế kỷ XX, một chuỗi các nghiên cứu lượng giá đã được thực hiện để xem xét, kiểm tra sự hiệu quả của các cách tiếp cận phòng ngừa lạm dụng dựa trên mô hình Kỹ năng sống Đến đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, nhiều tổ chức quốc tế như Tổ chức y tế thế giới (WHO), Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO), Quỹ cứu trợ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) đã có sự đầu tư, đưa ra những chương trình giáo dục KNS cụ thể với các đối tượng khác nhau nhằm trang bị cho họ những KNS cơ bản, giúp đối phó với một số vấn đề cụ thể trong cuộc sống như bảo về sức khỏe, bảo vệ môi trường, phòng chống HIV/AIDS, ma túy…

- Tài liệu “Six steps to an emotionally intelligent teenager: Teaching social skills to your teen”

của tác giả James Windell nêu ra 1đưa ra bài tập và những ý tưởng thực tế để các bậc cha mẹ có thể nâng cao và điều chỉnh một thiếu niên một cách vững chắc cho một cuộc sống thành công.0 0Không

giống như rất nhiều sách về nuôi dạy con và thiếu niên tập trung vào kỷ luật, cuốn sách này nhấn

mạnh tầm quan trọng của mục tiêu thiết lập, truyền thông và phát triển các kỹ năng xã hội cho tuổi

vị thành niên.0 0Nó cho thấy làm thế nào để phát triển trí tuệ cảm xúc tuổi vị thành niên bằng cách

chứng minh cho họ làm thế nào họ có thể quản lý cảm xúc của riêng mình và cách nhận xét mang tính chất xây dựng dựa trên những cảm xúc của người khác 1[65]

- Sách “Life Skill Education and Curriculum” của tác giả Gracious Thomas nhấn mạnh vai trò

của giáo viên và thời gian nhằm giáo dục kỹ năng sống dựa vào hệ thống giá trị cho công tác phòng,

chống nhiễm HIV/AIDS Ngoài việc phát triển một kế hoạch khả thi của hành động, tác giả cũng đã

Trang 8

phát triển một chương trình có thể được điều chỉnh bởi hệ thống giáo dục trong nước Kế hoạch này

có thể được sử dụng một cách rộng rải cho nhiều đối tượng giáo viên, các nhà hoạch định chính sách và các cố vấn tâm lý gia đình và những người tham gia trong cuộc chiến chống HIV / AIDS [64]

- Sách “The Indispensable Book of Practical Life Skills” của tác giả Nic Compton cung cấp cách để giải quyết những vấn đề làm bối rối và làm choáng ngợp trước những thách thức của cuộc

sống cho mọi lứa tuổi Hướng dẫn này hỗ trợ giảng viên, các bậc phụ huynh xử lý gồm tất

cả các tình huống khó xử trong cuộc sống Sách được đề cập từng bước hướng dẫn, dễ thực hiện cho

mọi lứa tuổi [68]

- Sách “Teaching Your Children Life Skills” của tác giả Deborah Carroll đề cập đến 10 điều quan trọng cần lưu ý khi dạy con em; làm thế nào để công việc, các chuyến đi mua sắm, các kỳ nghỉ

và các tình huống khác trở thành cơ hội học tập những kỹ năng thực hành quan trọng; chỉ ra cách để giúp các em rèn luyện cách cư xử tốt và các giá trị tốt đẹp mà không cần giảng dạy dai dẳng và hướng dẫn để phát triển lòng tự trọng và kỹ năng sống lâu dài thông qua công việc hàng ngày [62]

- Sách “The Practical Life Skills Workbook” của Ester A Leutenberg, John J Liptak cho rằng KNS thực sự quan trọng hơn chỉ số thông minh KNS là những kỹ năng vô giá của người sử dụng hàng ngà, cho phép họ tạo ra cuộc sống mà họ mong muốn và để truy cập tài nguyên nội tâm của họ

cần thiết để thành công Chỉ số thông minh của một người có KNS gồm cả thể chất, tinh thần, sự nghiệp, tình cảm, xã hội, trí thông minh Cuốn sách này sẽ giúp học viên tìm hiểu thêm về bản thân

và những năng lực mà họ có trong cuộc sống nhiều kỹ năng lĩnh vực bao gồm: kỹ năng giải quyết

vấn đề, kỹ năng quản lý tiền, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng tự nhận thức…[63]

- Kế đến là sách “Early years play and learning: Developing social skills and cooperation”

của tác giả Pat Broadhead cung cấp cho học sinh một bộ công cụ hoàn hảo cho việc nhận xét và tham gia vào các trò chơi của trẻ Sách giúp cho các giáo viên, đặc biệt là giáo viên trẻ hiểu được

mối quan hệ giữa việc phát triển trí thông minh với sự phát triển về ngôn ngữ và với việc đạt được

trạng thái tốt về cảm xúc Sách cũng cung cấp công cụ để giám sát sự tiến bộ về mặt xã hội của trẻ thông qua các kỹ năng như kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tuyết trình…[69]

Bên cạnh các tài liệu, công trình nghiên cứu về KNS và KNTHXH còn có các công trình nghiên cứu và tài liệu về quản lý công tác giáo dục trong nhà trường được nhiều tác giả ngoài nước quan tâm:

Cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, khoa học giáo dục thực sự có sự biến đổi về lượng và

chất Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin các nhà nghiên cứu giáo dục đã đi sâu nghiên

cứu về vai trò và trách nhiệm của đội ngũ CBQL trong việc quản lý hoạt động dạy học trong nhà

Trang 9

trường V.P Xtrezicondin, Jaxapob đã nghiên cứu và đề ra một số vấn đề quản lý của Hiệu trưởng ở trường phổ thông như vấn đề phân công nhiệm vụ giữa Hiệu trưởng và Phó hiệu trưởng Các tác giả

đã thống nhất và khẳng định Hiệu trưởng phải là người lãnh đạo toàn diện và chịu trách nhiệm trong công tác quản lý nhà trường

V.A.Xukhomlinxki, P.V Zimin, M.I.Konđakôp, N.I.Saxerđôtôp đã đi sâu nghiên cứu các công tác lãnh đạo hoạt động giảng dạy, giáo dục trong nhà trường và xem đây là khâu then chốt trong công tác quản lý của Hiệu trưởng Đối với công tác xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, các nhà nghiên cứu cho rằng trong những nhiệm vụ của Hiệu trưởng thì nhiệm vụ xây dựng và bồi dưỡng giáo viên là nhiệm vụ hết sức quan trọng Hiệu trưởng phải biết lựa chọn đội ngũ giáo viên

bằng nhiều nguồn khác nhau và bồi dưỡng họ trở thành những giáo viên tốt theo tiêu chuẩn nhất định bằng những biện pháp khác nhau

- Sách “Professional development for educational management” của tác giả Lesley Kydd, Megen Crawford, Colin Riches nêu lên yêu cầu và những vấn đề cần lưu ý thực hiện để nâng cao năng lực quản lý giáo dục [66]

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam

Tại Việt Nam, vấn đề KNS nói chung và KNTHXH nói riêng có nhiều tác giả có những bài viết và công trình nghiên cứu như:

- Trong sách “K ỹ năng sống cho tuổi vị thành niên” của tác giả Nguyễn Thị Oanh đã đề cập

đến những vấn đề tổng quát của KNS như: khái niệm, phân loại KNS, giáo dục kỹ năng sống như

thế nào; những kỹ năng tâm lý xã hội cơ bản của tuổi vị thành niên; giáo dục KNS ở trường học tại

Việt Nam [41]

- 1Tài liệu “Nhập môn kỹ năng sống” của tác giả Huỳnh Văn Sơn đã đề cập đến những vấn đề

cơ bản của KNS như khái niệm, phân loại; nêu lên góc nhìn thực trạng của sinh viên về KNS;

những KNS cơ bản và những bài tập thực hành những KNS đó [48]

- 1Tài liệu “10 cách thức rèn kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên” của tác giả Nguyễn Thị

Oanh đã cụ thể hóa lý luận về giáo dục KNS để biên soạn thành các bài dạy các KNS cụ thể cho đối tượng trẻ vị thành niên, nêu lên cách thức để rèn luyện 10 kỹ năng sống theo quan niệm của WHO (Tổ chức sức khỏe thế giới) Trong đó, mỗi kỹ năng tác giả nêu ra 5 bước cụ thể: mục đích, phương

tiện, thời gian, tiến hành, tổng kết [39].1

- Đề tài “Tìm hiểu nhận thức và thái độ của học sinh, sinh viên về định hướng tương lai” do

Nguyễn Kim Dung làm chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu Giáo dục chủ trì với sự tài trợ của công ty Wrigley Nội dung xoay quanh vấn đề nhận thức thái độ của học sinh, sinh viên đối với tương lai, các yếu tố tác động tới tương lai của họ; thực trạng giáo dục hiện nay ở các trường trung học, cao

Trang 10

đẳng, đại học về KNS, về định hướng nghề nghiệp cũng như trang bị những kỹ năng mềm để học sinh, sinh viên có thể ứng dụng trong cuộc sống, công việc Đề tài cũng đưa ra những kiến nghị, giải pháp để phần nào giải quyết vấn đề nhận thức, thái độ của học sinh, sinh viên về định hướng tương lai

- Tài liệu “Những kỹ năng thực hành xã hội cần thiết cho học sinh THPT” của nhóm tác giả:

Bùi Văn Vượng, Trần Đình Phúc, Nguyễn Quang Mân, Nguyễn Hữu Long, Lý Trường Chiến, Đoàn

Bắc Việt Trân, Nguyễn Kim Dung, Trần Đình Tuấn nêu lên những kỹ năng thực hành cơ bản, nâng cao và những kiến thức tâm lý cho học sinh THPT theo cách tiếp cận phù hợp với lứa tuổi học sinh

phổ thông Ở đây, từng kỹ năng được các tác giả nêu lên mục đích, ý nghĩa, khái niệm, nội dung,

những ví dụ cụ thể để học sinh dễ hiểu và rèn luyện

- Kế đến là quyển sách “Những kỹ năng thực hành xã hội cần thiết cho sinh viên” của trung

tâm đào tạo và ứng dụng khoa học tâm lý Hồn Việt, Bùi Văn Vượng, Đào Duy Thiện Bảo nêu lên

thực trạng về kỹ năng sống trong sinh viên, nguyên nhân và giải pháp; kỹ năng thực hành cơ bản và chuyên biệt cần thiết cho sinh viên và những chia sẻ của các doanh nhân và các chuyên gia tâm lý

về KNTHXH

- Bộ sách “Giáo dục kỹ năng sống trong môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Sinh học, Giáo dục

công dân ở trường trung học phổ thông” của Bộ Giáo dục và Đào tạo do các tác giả Lưu Thu Thủy,

Nguyễn Thị Hồng Vân (Ngữ Văn); Lưu Thu Thủy, Nguyễn Thị Thanh Mai (Giáo dục công dân); Lưu Thu Thủy, Nguyễn Thị Minh Phương (Địa lý); Lưu Thu Thủy, Trần Quý Thắng (Sinh học), Nguyễn Trọng Đức nêu lên một số vấn đề chung về KNS và giáo dục KNS cho học sinh trong nhà trường THPT cụ thể là các quan niêm, phân loại, tầm quan trọng của KNS, định hướng giáo dục KNS cho học sinh THPT và giáo dục KNS trong môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Sinh học, Giáo dục công dân ở trường THPT Trong đó, các hình thức tổ chức và cách tiếp cận và phương pháp giáo

dục KNS, nguyên tắc, kỹ thuật dạy học hiện đại cũng được đề cập và hướng dẫn sử dụng vào các bài dạy để thực hiện việc rèn luyện các kỹ năng sống cụ thể cần thiết cho học sinh

- Trong bài viết “Khái niệm kỹ năng sống nhìn từ góc độ Tâm lý học”, đăng trên Tạp chí Tâm

lý học số 6 (6-2008) của PGS Nguyễn Quang Uẩn, ĐH Sư phạm Hà Nội đã xem xét khái niệm KNS dưới góc độ tâm lý học, đưa ra khái niệm KNS, đồng thời phân loại KNS [58]

- Ngoài ra còn có thể kể thêm về đề tài luận văn thạc sĩ “Kỹ năng tự đánh giá của thiếu niên đang sống tại các trung tâm bảo trợ xã hội trên địa bàn TPHCM” của Bùi Hồng Quân có đi sâu hệ

thống, phân tích một số khái niệm về kỹ năng, KNS, về thực trạng kỹ năng tự đánh giá của thiếu niên tại các trung tâm bảo trợ xã hội cùng một số biện pháp nâng cao kỹ năng này có khảo nghiệm, mang tính thiết thực cao

Trang 11

Bên cạnh các tài liệu, công trình nghiên cứu về KNS và KNTHXH còn có các công trình nghiên cứu và tài liệu về quản lý công tác giáo dục trong nhà trường được nhiều tác giả trong nước

thực hiện:

- Công trình, “Nâng cao hi ệu quả quản lý, giáo dục học sinh, sinh viên” của Lưu Văn Kim đề

cập đến việc nâng cao hiệu quả quản lý, giáo dục học sinh, sinh viên, bồi dưỡng năng lực, phẩm

chất cho đội ngũ học sinh, sinh viên – những người chủ tương lai của đất nước [29]

- Sách “Cách x ử thế trong quản lý trường học” của tác giả Phan Thế Sủng nêu ra nhiều tình

huống đa dạng có thể gặp trong quá trình quản lý trường học cùng nhiều cách xử lý từng tình huống Trong từng cách xử lý, tác giả nêu rõ mặt tốt, mặt chưa tốt Từ đó, hướng dẫn CBQL cách xử lý tốt

nhất [42]

- Tài liệu “Những bài giảng về quản lý trường học: Tập 3 – Nghiệp vụ quản lý trường học”

của Hà Sĩ Hồ, Lê Tuấn đề cập một số khái niệm về quản lý và quản lý trường học, chỉ rõ những nội dung mà CBQL cần phải thực hiện trong công tác quản lý đồng thời nêu ra các bước cần phải làm

để quản lý từng nội dung đó [26]

- Hội thảo toàn quốc “Quản lý giáo dục còn hạn chế - thực trạng và giải pháp” tháng 04/2005

do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức tại Hà Nội đã nêu các nguyên nhân khách quan, chủ quan của

những hạn chế, yếu kém trong quản lý giáo dục Trong đó có nguyên nhân năng lực của đội ngũ cán

bộ quản lý giáo dục còn hạn chế và đội ngũ giáo viên vừa thiếu vừa thừa, vừa không đồng bộ

- Đề tài “Các biện pháp tăng cường quản lý hoạt động học tập Ngoài giờ lên lớp của học sinh trường Trung học Cảnh sát Nhân dân I” đề cập đến hoạt động ngoài giờ lên lớp là hoạt động cần thiết và hữu ích với học sinh sinh viên Việc tổ chức quản lý học sinh – sinh viên bằng các hoạt động ngoài giờ lên lớp là việc làm có tính khả thi và mang lại hiệu quả cao [11]

- Ngoài ra, còn một số các luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu về quản lý hoạt động nhà trường như

“Thực trạng và biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh ở thị xã Bến Tre” của Lê Quang Dũng; “Quản lý việc dạy và học của Hiệu trưởng các trường THPT thành phố

Cà Mau, tỉnh Cà Mau: Thực trạng và giải pháp” của Đoàn Thị Bẩy; “Thực trạng và biện pháp để góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục của Hiệu trưởng các trường THPT tỉnh Đăk Lăk”, “Các biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên của Hiệu trưởng trường THPT Bán Công trên địa bàn TPHCM” của Vũ Thị Thu Huyền; “Thực trạng hoạt động đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của người giáo viên trong trường THPT bán công và giải pháp vươn đến sự hoàn thiện”

của Nguyễn Việt Cường

Tuy có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về việc lồng ghép giáo dục kỹ năng thực hành

xã hội vào dạy học song những công trình nghiên cứu về thực trạng quản lý công tác giáo dục kỹ

Trang 12

năng thực hành xã hội ở các trường THPT, đặc biệt là ở thành phố Hồ Chí Minh còn ít được đề cập tới Mặt khác, trong khi TPHCM đã triển khai công tác giáo dục KNTHXH từ đầu năm học 2010 thì công tác quản lý việc giáo dục KNTHXH vẫn chưa được quan tâm thực hiện đúng mức Vì vậy, nghiên cứu thực trạng quản lý công tác giáo dục kỹ năng thực hành xã hội ở các trường THPT tại thành phố Hồ Chí Minh là việc làm cấp thiết để góp phần nâng cao hiệu quả công tác này

1.2 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

Theo công văn số 4718/BGDĐT-GDTrH của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc “Hướng dẫn

thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm học 2010 – 2011” ban hành ngày 11/08/2010, một trong

những nhiệm vụ trọng tâm của năm học là “Tiếp tục đổi mới phương thức giáo dục đạo đức, giáo dục ngoài giờ lên lớp, giáo dục hướng nghiệp theo tinh thần lồng ghép và tích hợp; chú trọng giáo dục giá trị, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh” mà nhiệm vụ cụ thể trong việc thực hiện các hoạt động giáo dục là “tăng cường vai trò của đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp trong việc giáo dục đạo đức, giáo dục hướng nghiệp, giáo dục giá trị và kỹ năng sống, tư vấn học đường…” cho học sinh Bên cạnh đó, trong việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, căn cứ vào những yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học, các cấp quản lý và các cơ sở giáo dục trung học chỉ đạo và thực hiện có hiệu quả các giải pháp, trong đó có các giải pháp “Tăng cường tổ chức các hoạt động ngoại khóa, hoạt động giáo dục ngoài

giờ lên lớp theo nội dung của phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” nhằm

đảm bảo tính linh hoạt về hình thức dạy học, hình thức kiểm tra, đánh giá, rèn luyện kỹ năng sống

và kỹ năng hoạt động xã hội cho học sinh”

Công văn 5126/BGDĐT-CTHSSV của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn thực hiện công tác học sinh, sinh viên năm học 2010 – 2011 chỉ ra một trong các nhiệm vụ trọng tâm là “Tiếp

Trang 13

tục thực hiện Phong trào thi đua “Tăng cường công tác giáo dục kỹ năng sống, văn hoá truyền thống, các hoạt động văn hóa, thể thao ngoại khóa và công tác y tế trường học” Tăng cường giáo dục kỹ năng sống cho học sinh theo Kế hoạch số 453/KH-BGDĐT ngày 30/7/2010 về việc tập huấn

và triển khai giáo dục kỹ năng sống trong một số môn học và hoạt động giáo dục ở Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông trên toàn quốc

Chỉ thị số: 3399 /CT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ thị toàn ngành đẩy mạnh phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" đối với các trường phổ thông Trong đó, tăng cường giáo dục đạo đức, lý tưởng, rèn luyện kỹ năng sống, ứng xử cho học sinh để chuẩn bị cho việc học tập, lao động ở giai đoạn tiếp theo đồng thời triển khai tài liệu hướng dẫn giáo dục kỹ năng sống trong một số môn học và hoạt động giáo dục

Theo công văn số 1638/GDĐT-TrH của Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh về

“Phương hướng, nhiệm vụ giáo dục trung học Sở Giáo dục TPHCM”, ban hành ngày 21 tháng

7 năm 2010, tiêu chí “Tất cả học sinh trung học đều được tổ chức hoạt động tập thể, văn nghệ, thể dục thể thao; được giáo dục kỹ năng sống; được hướng dẫn phương pháp tự học đạt hiệu quả” cần được tiếp tục phấn đấu trong năm học 2010-2011 Về mặt tổ chức các hoạt động ngoại khóa: “Tổ chức tốt các hoạt động ngoại khóa nhằm mục tiêu giúp học sinh vận dụng kiến thức trên lớp vào

thực tế đời sống xã hội, đồng thời giáo dục truyền thống, luật pháp, giáo dục kỹ năng sống, giáo

dục an toàn giao thông, môi trường, giáo dục giới tính, phòng chống ma túy, phòng chống AIDS và các tệ nạn xã hội; Tăng cường hoạt động văn nghệ theo yêu cầu giáo dục truyền thống và giáo dục thẩm mỹ đúng đắn, giúp học sinh có bản lĩnh và chủ động đề kháng với những ảnh hưởng xấu của môi trường xã hội; gắn kết các hoạt động ngoại khóa với phong trào thi đua xây dựng trường học thân thiện-học sinh tích cực

Xem KNTHXH là một nội dung quan trọng của KNS, TPHCM đã có nhiều chủ trương và biện pháp để tạo điều kiện cho Đoàn viên thanh niên rèn luyện nhóm kỹ năng này Nghị quyết giáo dục của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh TP.HCM giai đoạn 2009 – 2012 có chỉ đạo: “thường xuyên cải tiến nội dung, hình thức tổ chức các hoạt động rèn luyện KNTHXH, giao tiếp, diễn đạt, xây dựng kế hoạch, làm việc nhóm, xử lý tình huống, sinh hoạt tập thể, cộng đồng cho cán bộ, đoàn viên, thanh thiếu nhi đồng thời tăng cường nắm bắt kịp thời nhu cầu, sở thích, nguyện vọng của từng đối tượng thanh niên để tổ chức các loại hình văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, các lớp năng khiếu, bồi dưỡng KNTHXH phù hợp với mục tiêu đặt ra của công tác giáo dục trong tình hình mới” Về công tác tham mưu, phối hợp phát huy các nguồn lực của Đoàn và xã hội để thực hiện công tác giáo dục, nghị quyết có chỉ đạo: “Phối hợp với Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Sở Giáo dục - Đào tạo tổ chức các hoạt động đáp ứng nhu cầu giáo dục, vui chơi giải trí lành mạnh, rèn luyện kỹ năng của

Trang 14

thanh thiếu nhi”, chỉ đạo Báo Tuổi Trẻ, Báo Khăn Quàng đỏ “Thực hiện các chương trình tuyên truyền, giáo dục, trang bị kỹ năng thực hành xã hội cho thanh thiếu nhi”; chỉ đạo Nhà văn hóa Thanh niên, Nhà văn hóa Sinh viên, Nhà Thiếu nhi Thành phố “tăng cường nắm bắt kịp thời nhu cầu, sở thích, nguyện vọng của từng đối tượng thanh niên để tổ chức các loại hình văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, các lớp năng khiếu, bồi dưỡng kỹ năng thực hành xã hội phù hợp với mục tiêu đặt ra của công tác giáo dục trong tình hình mới”; chỉ đạo Trường Đoàn Lý Tự Trọng: “Trong năm 2010, tham mưu xây dựng xong các chương trình rèn luyện kỹ năng thực hành xã hội gắn với công tác giáo dục của Đoàn, Hội, Đội cho đoàn viên, hội viên, đội viên, thanh thiếu nhi”

Luật Giáo dục năm 2005 ghi rõ: “Giáo dục THPT được thực hiện trong ba năm học, từ lớp

10 đến lớp 12” Mục tiêu của giáo dục THPT “nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học ĐH, CĐ, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” [35]

 N hiệm vụ và quyền hạn của giáo dục THPT

Theo điều lệ trường trung học do Bộ trưởng Bộ GD-ĐT ban hành theo quyết định 07/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 02/4/2007, trường THPT có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác của Chương trình giáo dục phổ thông

Quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên; tham gia tuyển dụng và điều động giáo viên, cán bộ, nhân viên

Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh, vận động học sinh đến trường, quản lý học sinh theo quy định của Bộ GD-ĐT

Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi cộng đồng

Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục

Quản lý, sử dụng và bảo quản CSVC, trang thiết bị theo quy định của Nhà nước

Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia hoạt động xã hội

Trang 15

Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục của cơ quan có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục

Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật [3]

Nhiệm vụ, quyền hạn và vai trò của hiệu trưởng trường THPT

Điều 19 trong Điều lệ trường trung học ký ngày 02/4/2007 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng như sau:

Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường;

Thực hiện các Nghị quyết, Quyết nghị của Hội đồng trường;

Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học;

Quản lý giáo viên, nhân viên; quản lý chuyên môn; phân công công tác, kiểm tra, đánh giá

xếp loại giáo viên, nhân viên; thực hiện công tác khen thưởng, kỷ luật đối với giáo viên, nhân viên theo quy định của Nhà nước; quản lý hồ sơ tuyển dụng giáo viên, nhân viên;

Quản lý học sinh và các hoạt động của học sinh do nhà trường tổ chức; xét duyệt kết quả đánh giá, xếp loại học sinh, ký xác nhận học bạ và quyết định khen thưởng, kỷ luật học sinh theo quy định của Bộ GD-ĐT;

Quản lý tài chính, tài sản của nhà trường;

Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với giáo viên, nhân viên, học sinh; tổ

chức thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường; thực hiện công tác xã hội hóa giáo

dục của nhà trường;

Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật;

Chịu trách nhiệm trước cấp trên về toàn bộ các nhiệm vụ được quy định

Với những nhiệm vụ và quyền hạn to lớn như trên, người Hiệu trưởng phải thường xuyên rèn luyện, phấn đấu để thể hiện tốt các vai trò sau đây:

- Hiệu trưởng là nhà quản lý, là người đại diện Nhà nước về mặt hành chính, thực thi các

hoạt động quản lý trường học dựa trên cơ sở của pháp luật

- Hiệu trưởng là người tổ chức thực tiễn, luôn tìm tòi đổi mới hoạt động quản lý, đổi mới các

hoạt động sư phạm của nhà trường

- Hiệu trưởng là nhà sư phạm, nhà giáo dục mẫu mực có tâm hồn cao thượng, thường xuyên chăm lo việc nâng cao năng lực sư phạm và bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cho đội ngũ giáo viên, là người nhạy cảm, có sự đối xử khéo léo và có khả năng cảm hóa con người

- Hiệu trưởng là nhà hoạt động chính trị – xã hội và là nhà văn hóa, là người duy trì, phát triển và sáng tạo các giá trị của nhà trường

Trang 16

- Hiệu trưởng còn là nhà ngoại giao Để thực hiện các nhiệm vụ đổi mới giáo dục, người Hiệu trưởng cần tận dụng kinh phí từ nhiều nguồn khác nhau Trong điều kiện nguồn kinh phí nhà trường chủ yếu do Nhà nước cung cấp thì có hạn, Hiệu trưởng cần biết tận dụng các cơ hội để khai thác nguồn kinh phí to lớn ngoài xã hội [3]

Như vậy, để làm tốt các chức năng của mình, người Hiệu trưởng cần phải thể hiện tốt các vai trò chủ yếu: vừa là nhà quản lý, nhà giáo dục, nhà sư phạm, vừa là nhà hoạt động chính trị – văn hóa – xã hội, nhà ngoại giao và quan trọng hơn là nhà tổ chức trong thực tiễn

 Ch ức năng quản lý của Hiệu trưởng

Trong nhà trường để mọi người cùng thực hiện mục tiêu giáo dục, tất yếu nảy sinh nhu cầu

về những hoạt động cần thiết như tổ chức, phân công, phối hợp, điều hòa, hướng dẫn, động viên,

kiểm tra Những hoạt động đó là hoạt động quản lý của người Hiệu trưởng Nghiên cứu những

hoạt động này người ta đã cố gắng tách riêng từng hoạt động ra, dựa trên tính tương đối độc lập của

mỗi hoạt động Mỗi hoạt động tương đối độc lập được tách ra trong hoạt động quản lý được gọi là

chức năng quản lý

“Chức năng quản lý là những dạng khác nhau của hoạt động quản lý, là những hình thái biểu

hiện bản chất của quản lý, là kết quả của quá trình chuyên môn hóa trong quản lý” [54, tr.5]

Như vậy có thể nói chức năng quản lý là toàn thể những việc thường xuyên mà Hiệu trưởng

phải thực hiện vì nhiệm vụ của mình để giữ vai trò là người đứng đầu nhà trường

Hiện nay có nhiều quan điểm về các chức năng cơ bản của quản lý

Theo các tài liệu của UNESCO, công tác quản lý nói chung có bốn chức năng cơ bản, đó là

kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra

Iu K Babanxki (Nga) cho rằng: “chức năng quản lý nhìn chung gồm ba yếu tố, đó là: kích thích động viên, tạo động lực; tổ chức hoạt động và kiểm tra đánh giá Yếu tố kích thích động viên,

tạo động lực được đặt lên hàng đầu và được xem là vấn đề rất quan trọng” [1]

Theo tác giả Thái Duy Tuyên: “ngoài bốn chức năng cơ bản mang tính công cụ là kế hoạch hóa; tổ chức hoạt động; chỉ đạo hoạt động và kiểm tra, đánh giá còn phải kể đến chức năng kích thích động viên, tạo động lực Đây được xem là chức năng cơ sở có mặt trong mọi hoạt động của

người quản lý để thực hiện tốt bốn chức năng kia” [55]

Theo tinh thần này quản lý của Hiệu trưởng có các chức năng công cụ sau đây:

- Kế hoạch hóa: là việc đưa toàn bộ hoạt động của nhà trường vào kế hoạch, trong đó chỉ rõ các bước đi, các biện pháp thực hiện và đảm bảo các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đã đề ra

Nó có vai trò quan trọng là xác định phương hướng hoạt động và phát triển của nhà trường, xác định

Trang 17

các kết quả cần đạt được trong tương lai Đây là một quá trình gồm các bước: nhận thức, xác định

mục tiêu, xây dựng kế hoạch thực hiện mục tiêu

- Tổ chức: là quá trình phân phối và sắp xếp nguồn lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu đã đề ra Chức năng tổ chức có vai trò hiện thực hóa mục tiêu kế

hoạch và tạo nên sức mạnh của tập thể, nếu việc phân phối và sắp xếp các nguồn lực được tổ chức

một cách khoa học và hợp lý

- Chỉ đạo: là quá trình tác động cụ thể của Hiệu trưởng tới mọi thành viên của nhà trường,

nhằm biến những nhiệm vụ chung của nhà trường thành hoạt động thực tiễn của từng người Hiệu trưởng thực hiện chức năng chỉ đạo là thực hiện quyền chỉ huy và hướng dẫn triển khai hoạt động giáo dục; thường xuyên điều chỉnh, sắp xếp, phối hợp và giám sát mọi người và các bộ phận thực

hiện tốt kế hoạch theo sự bố trí đã xác định trong bước tổ chức

- Kiểm tra: là quá trình xem xét thực tiễn, để phát hiện đánh giá thực trạng hoạt động giáo

dục của trường, khuyến khích những nhân tố tích cực, phê phán những lệch lạc và đưa ra quyết định điều chỉnh kịp thời nhằm giúp các bộ phận và các cá nhân đạt được các mục tiêu đã đề ra Trong quá trình thực hiện chức năng kiểm tra, Hiệu trưởng cần phải xác định được chuẩn kiểm tra, đo lường việc thực thi nhiệm vụ, so sánh, đối chiếu với mục tiêu đã đề ra và đưa ra quyết định điều

chỉnh cần thiết Cần thường xuyên đánh giá, sơ kết những thay đổi có được, mà không phải đợi đến

cuối kỳ hay cả năm học

- Kích thích động viên, tạo động lực: là một chức năng cơ bản không kém phần quan trọng trong hoạt động quản lý Nếu không biết kích thích, động viên, tạo động lực cho các thành viên cùng hoạt động thì dù có lập kế hoạch tốt, tổ chức thực hiện tài giỏi, chỉ đạo sâu sát, kiểm tra uốn

nắn thường xuyên thì người Hiệu trưởng vẫn có thể không thành công trong hoạt động quản lý Động lực là nhân tố thúc đẩy, phát triển hoạt động của con người Do đó, để tạo động lực cho hoạt động giáo dục trong nhà trường của các giáo viên, Hiệu trưởng cần tác động đến nhu cầu được tôn

trọng, được tự khẳng định mình, đồng thời có sự động viên về tinh thần và bồi dưỡng bằng vật chất thích đáng, tương xứng với khả năng và sự cống hiến của mỗi người

Trường THPT là một tổ chức tập hợp những con người mà hoạt động của họ đều nhằm thực

hiện mục tiêu giáo dục Do đó, quản lý trường THPT về bản chất là quản lý con người Họ không

những là khách thể mà còn là chủ thể quản lý Với tư cách là khách thể quản lý, giáo viên và học sinh là đối tượng tác động của chủ thể quản lý, song với tư cách là chủ thể mọi hoạt động họ còn là người tham gia chủ động tích cực vào hoạt động quản lý và biến toàn bộ hệ thống thành hệ tự quản

lý Hiệu trưởng quản lý con người chính là quản lý các điều kiện mà trong đó con người lao động, không những giúp họ thực hiện vai trò của mình có hiệu quả mà còn kiểm tra, uốn nắn, đánh giá

Trang 18

việc thực hiện đó Nói một cách khác, quản lý trường THPT là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa trường THPT vận hành theo nguyên lý giáo

dục để tiến tới mục tiêu giáo dục đặt ra cho trường THPT Nó là một hệ thống những tác động sư

phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh, các lực lượng xã

hội trong ngoài trường THPT nhằm huy động và phối hợp sức lực trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động của nhà trường hướng vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu dự kiến

1.2.1.3 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Quản lý giáo dục

Giáo dục là hoạt động đặc biệt của xã hội Nó tồn tại, vận động và phát triển với tư cách là

một hệ thống Nó thực hiện chức năng truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm của lịch sử xã hội qua các

thế hệ, làm cho xã hội phát triển Để quá trình này đạt được hiệu quả, sự ra đời của quản lý giáo dục (QLGD) là một tất yếu khách quan

Cũng như khái niệm quản lý, QLGD cũng có nhiều cách định nghĩa khác nhau:

Theo từ điển Giáo dục học (2001), Nhà xuất bản từ điển bách khoa Hà Nội thì QLGD (theo nghĩa rộng) là thực hiện việc quản lý trong lĩnh vực giáo dục QLGD (theo nghĩa hẹp) thì chủ yếu là QLGD thế hệ trẻ, giáo dục nhà trường, giáo dục trong hệ thống giáo dục công dân [17]

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có

kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lí giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học-giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về

chất” [44, tr.35]

QLGD là một chuỗi tác động hợp lí (có mục đích, tự giác, hệ thống, có kế hoạch) mang tính

tổ chức-sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh đến những lực lượng giáo

dục trong và ngoài trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phù hợp, tham gia vào mọi hoạt động

của nhà trường nhằm làm cho quá trình này vận hành tối ưu tới việc hoàn thành những mục tiêu dự

kiến” [31, tr.16]

Tác giả Nguyễn Gia Quý cho rằng: “QLGD là tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, nhằm đưa hoạt động giáo dục tới mục tiêu đã định, trên cơ sở nhận thức và vận

dụng đúng những quy luật khách quan của hệ thống QLGD vận dụng bốn chức năng quản lý: lập kế

hoạch, tổ chức triển khai kế hoạch, chỉ đạo thực hiện kế hoạch, kiểm tra – đánh giá để thực hiện các nhiệm vụ cộng tác của mình” [45]

Tóm lại, bản chất của quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý một cách có định hướng nhằm đưa hoạt động giáo dục của từng cơ sở giáo dục

Trang 19

vận hành và đạt được mục tiêu đã định trên cơ sở nhận thức, vận dụng đúng những quy luật khách quan của hệ thống quản lý giáo dục

QLGD trong xã hội ta hiện nay là hướng tới việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Còn ở góc độ nhân cách thì QLGD là quản lý sự hình thành và phát triển của nhân cách

Có thể hiểu, đối tượng của QLGD là mối quan hệ giữa người với người trong hệ thống giáo

dục bao gồm: người quản lý với người dạy và người học; người quản lý cấp trên với người quản lý

cấp dưới Đồng thời, còn có các mối quan hệ gián tiếp: người với công việc và với sự vật Trong đó,

chủ thể quản lý là bộ máy quản lý từ trung ương đến cơ sở; khách thể quản lý là hệ thống giáo dục

quốc dân và các trường thuộc các cấp học, bậc học

Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt nên quản lý giáo dục có những đặc trưng riêng:

QLGD là hoạt động mang tính nhân văn sâu sắc, ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt của đời sống

xã hội, thu hút sự tham gia của đông đảo các thành viên xã hội

QLGD là hoạt động trí óc vì con người cùng với các mối quan hệ phức tạp là đối tượng của

hoạt động QLGD, để phát huy sự sáng tạo của con người thì QLGD phải là hoạt động mang tính sáng tạo

QLGD vừa thể hiện tính học thuật và nghệ thuật vì QLGD là dạng quản lý phức tạp do quan

hệ đa chiều với môi trường xã hội ở nhiều tầng bậc, phạm vi, mức độ khác nhau

 Quản lý trường học

“QL, lãnh đạo nhà trường là quản lý, lãnh đạo hoạt động dạy của giáo viên, hoạt động học

của học sinh, hoạt động phục vụ việc dạy và việc học của cán bộ, nhân viên trong trường” [34, tr36]

Theo quan điểm phổ biến hiện nay, quản lý trường học là hệ thống gồm bốn chức năng cơ

bản và chủ yếu sau:

 K ế hoạch hóa: là việc làm cho tổ chức phát triển theo kế hoạch Là quá trình xác định

hình thành các mục tiêu phát triển của nhà trường, đồng thời xác định, đảm bảo các nguồn lực và quyết định những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó Sản phẩm quan trọng của chức năng

kế hoạch hóa là kế hoạch Có ba loại kế hoạch: kế hoạch chiến lược (giải quyết mục tiêu chiến lược); kế hoạch chiến thuật (giải quyết mục tiêu chiến thuật) và kế hoạch tác nghiệp (giải quyết mục tiêu tác nghiệp)

 Tổ chức: được tiến hành sau khi xây dựng kế hoạch nhằm thực hiện kế hoạch đã đề ra

Tổ chức là quá trình phân phối và sắp xếp nguồn nhân lực theo những cách thức nhất định để đảm

bảo thực hiện tốt các mục tiêu đã đề ra Đó là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các

Trang 20

bộ phận trong một tổ chức nhằm thực hiện thành công kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của

tổ chức Nếu tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn lực

Nội dung chủ yếu của tổ chức là xây dựng cơ cấu tổ chức: xác định các bộ phận cần có, thiết lập các

mối quan hệ hàng ngang và dọc của các bộ phận, xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của

từng thành viên, từng bộ phận(xây dựng qui chế hoạt động); quản lí nhân sự bao gồm tuyển dụng, đào tạo, bố trí, sắp xếp, đề bạt, sa thải, tổ chức các hoạt động

 Chỉ đạo: là quá trình liên kết, liên hệ các thành viên trong tổ chức; tập hợp được các lực

lượng tổ chức và phối hợp tối ưu với nhau Bên cạnh đó, người chỉ huy theo dõi, giám sát hoạt động

của bộ máy để chỉ huy, ra lệnh cho các bộ phận đồng thời điều khiển, hướng dẫn, điều chỉnh công

việc hợp lý, nhịp nhàng và động viên khuyến khích người lao động để các hoạt động của nhà trường

diễn ra đúng hướng, đúng kế hoạch; các thành viên hoàn thành những nhiệm vụ nhất định nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức

 Kiểm tra: là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm đảm bảo cho các hoạt động đạt tới

các mục tiêu của tổ chức Theo lý thuyết hệ thống, kiểm tra là quá trình thiết lập mối liên hệ ngược trong quản lý Hoạt động kiểm tra trong quản lý là một nỗ lực có hệ thống nhằm thực hiện bốn chức năng: kiểm soát phát hiện, động viên phê phán, đánh giá và thu thập thông tin Nhờ có kiểm tra mà người quản lý đánh giá được thành tựu công việc và uốn nắn điều chỉnh hoạt động một cách đúng hướng

Kiểm tra phải theo chuẩn Chuẩn phải xuất phát từ mục tiêu, là đòi hỏi bắt buộc đối với mọi thành viên của tổ chức

Kiểm tra trong quản lý trường học: là hoạt động nghiệp vụ quản lý của người Hiệu trưởng

nhằm theo dõi, xem xét, phát hiện, kiểm nghiệm quá trình diễn biến và kết quả của các hoạt động

GD trong phạm vi nội bộ trường học Đánh giá kết quả của hoạt động GD có phù hợp với mục tiêu,

kế hoạch, qui chế đề ra hay không Phát hiện những ưu điểm để động viên khuyến khích; hoặc

những thiếu sót, lêch lạc để có những biện pháp uốn nắn, giúp đỡ và điều chỉnh nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả GD trong nhà trường

Trong chu trình quản lý, cả bốn chức năng trên phải được thực hiện liên tiếp, đan xen vào nhau; phối hợp bổ sung cho nhau tạo sự kết nối từ chu kỳ này sang chu kỳ sau theo hướng phát triển Trong đó yếu tố thông tin luôn giữ vai trò xuyên suốt, không thể thiếu trong việc thực hiện các

chức năng quản lý và là cơ sở cho việc ra quyết định quản lý Có thể biểu diễn mối liên hệ này qua

sơ đồ 1.1

Trang 21

Sơ đồ 1.1 Sơ đồ mô tả về chu trình quản lý

1.2.2 Giáo dục KNTHXH và quản lý công tác giáo dục KNTHXH trường THPT

1

Theo tác giả Xkomni thì KNS là khả năng con người thực hiện những hành vi thích ứng với thách thức và những đòi hỏi của cuộc sống KNS thể hiện năng lực sống của con người trong cuộc sống cá nhân, trong mối quan hệ xã hội [50, tr7]

1

Theo UNICEF, KNS là những hành vi cụ thể thể hiện khả năng chuyển đổi kiến thức và thái

độ thành hành động thích ứng trong cuộc sống KNS phải dựa trên nhận thức, thái độ và chuyển biến thành hành vi như một yêu cầu liên hoàn và có hướng đích [50, tr7]

1

Có quan niệm coi KNS là những kỹ năng thiết thực mà con người cần để có cuộc sống an toàn và khoẻ mạnh Tổ chức y tế thế giới (viết tắt là WHO) coi KNS là những kỹ năng mang tính tâm lý xã hội và kỹ năng về giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hằng ngày để tương tác một cách hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày KNS được hình thành chủ yếu dựa trên những kỹ năng về mặt tinh thần trong

Chỉ đạo

Kế

THÔNG TIN

Trang 22

đó những kỹ năng này thể hiện vai trò điều tiết cuộc sống làm cho những kỹ năng hoạt động hay những kỹ năng thể chất cũng được thực thi một cách có hiệu quả

1

Từ góc độ Tâm lý học, tác giả Nguyễn Quang Uẩn (2008) quan niệm “KNS là một tổ hợp phức tạp của một hệ thống kỹ năng nói lên năng lực sống của con người, giúp con người thực hiện công việc và tham gia vào cuộc sống hằng ngày có kết quả, trong những điều kiện xác định của cuộc sống” [57]

Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn, “KNS là những kỹ năng tinh thần hay những kỹ năng tâm lý,

kỹ năng tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống Những kỹ năng này giúp cho cá nhân thể hiện được chính mình cũng như tạo ra những nội lực cần thiết để thích nghi và phát triển Kỹ năng sống còn được xem như một biểu hiện quan trọng của năng lực tâm lý xã hội giúp cho cá nhân vững vàng trước cuộc sống có nhiều thách thức nhưng cũng không thiếu các cơ hội ” [50, tr.8]

b Phân lo ại kỹ năng sống

1

Theo quan niệm WHO, các KNS được phân loại thành ba nhóm:

+ Nhóm kỹ năng nhận thức: bao gồm các kỹ năng cụ thể như: tư duy phê phán, tư duy phân tích, khả năng sáng tạo, kỹ năng giải quyết vấn đề, nhận thức hậu quả, kỹ năng ra quyết định, tự

1

Danh sách KNS có thể rất dài, nhưng qua quá trình ứng dụng, WHO xác định một danh sách

cơ bản các kỹ năng có thể được chấp nhận ở những nền văn hóa khác nhau Đó là các kỹ năng:

 Kỹ năng ra quyết định

 Kỹ năng giải quyết vấn đề

 Kỹ năng tư duy sáng tạo

 Kỹ năng tư duy phê phán / suy nghĩ có phán đoán

 Kỹ năng truyền thông có hiệu quả

 Kỹ năng giao tiếp giữa người và người

 Kỹ năng tự nhận thức bản thân

Trang 23

 Khả năng thấu cảm

 Kỹ năng ứng phó với cảm xúc

 Kỹ năng ứng phó với stress 1[41, tr21]

Theo UNESCO, KNS được phân chia dựa trên những kỹ năng nền tảng và những kỹ năng chuyên biệt trong đời sống cá nhân mỗi con người ở những mối quan hệ khác nhau cũng như ở trong các lĩnh vực khác nhau Trên cơ sở đó có những nhóm KNS sau:

+ Nhóm kỹ năng chung: gồm những kỹ năng cơ bản mà mỗi cá nhân đều có thể có để thích ứng với cuộc sống chung bao gồm: kỹ năng nhận thức, kỹ năng liên quan đến cảm xúc, kỹ năng xã

hội như: các kỹ năng ra quyết định, kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao

tiếp,…

+ Nhóm kỹ năng chuyên biệt: bao gồm những kỹ năng được thể hiện trong những tình huống,

ngữ cảnh, vấn đề cụ thể của đời sống xã hội, như:

o Kỹ năng vệ sinh, vệ sinh thực phẩm, sức khoẻ, dinh dưỡng

o Kỹ năng về giới, giới tính, sức khoẻ sinh sản

o Kỹ năng về vấn đề xã hội như: rượu, thuốc lá, ma tuý, HIV/AIDS

o Kỹ năng liên quan thiên tai, bạo lực và rủi ro

o Kỹ năng bảo vệ thiên nhiên và môi trường

o Hòa bình và giải quyết xung đột

o Kỹ năng liên quan đến cuộc sống gia đình và cộng đồng

Mỗi cá nhân cần phải có cả ba thành tố này trong sự thống nhất, tính chỉnh thế của chúng

Với mục đích là giúp cho người học có những kỹ năng ứng phó với các vấn đề của cuộc

sống và tự hoàn thiện mình, UNICEF đưa ra cách phân loại KNS theo các mối quan hệ như sau:

+ Nhóm kỹ năng tự nhận thức và sống của chính mình, gồm có một số kỹ năng như: tự nhận

thức và đánh giá bản thân, xây dựng mục tiêu sống, kỹ năng bảo vệ bản thân,

+ Những kỹ năng tự nhận thức và sống với người khác, gồm có một số kỹ năng như: kỹ năng thiết lập quan hệ, kỹ năng hợp tác, kỹ năng làm việc nhóm,

+ Nhóm kỹ năng ra quyết định và làm việc hiệu quả, gồm có một số kỹ năng như: kỹ năng phân tích vấn đề, nhận thức thực tế, ra quyết định, ứng xử, giải quyết vấn đề,

Việc phân loại các nhóm kỹ năng sống chỉ mang tính tương đối Tùy thuộc vào các khía cạnh xem xét, hoặc các góc độ nhìn nhận mà một kỹ năng sống có thể được xếp vào các nhóm KNS mang các tên gọi khác nhau

Khái niệm KNTHXH

Còn nhiều quan niệm khác nhau về KNTHXH

Trang 24

- Theo từ điển tiếng Việt thì KNTHXH được ghép từ ba từ “kỹ năng”, “thực hành” và “xã

hội”:

Thực hành: làm để áp dụng lí thuyết vào thực tế

Xã hội: hình thức sinh hoạt chung có tổ chức của loài người ở một trình độ phát triển nhất định, được hình thành trong quá trình lịch sử

Về khái niệm kỹ năng, trong Tâm lý học có hai quan niệm:

Quan niệm thứ nhất, coi kỹ năng là mặt kỹ thuật của thao tác, hành động hay hoạt động nào

đó Đại diện quan điểm này là : V.A Cruchetxki, A.G Côvaliov, V.S Kudin…

- V.S Kudin cho rằng kỹ năng là phương thức hoạt động không cần củng cố bắt buộc luyện tập

từ trước

- V.A Cruchetxki cho rằng KN là phương thức thực hiện một hành động – những cái mà con người đã lĩnh hội từ trước

Như vậy theo hai tác giả, chỉ cần nắm vững phương thức hành động là con người đã có kỹ

năng không cần đến kết quả [16]

- Từ điển Tâm lý học của Mỹ do tác giả J.P Chaplin chủ biên (1968) cũng định nghĩa kỹ năng

là “thực hiện một trật tự cho phép chủ thể tiến hành hành động một cách trôi chảy và đúng đắn” [27]

- Từ điển Tâm lý học (1983) của Liên Xô (cũ) định nghĩa “Kỹ năng là giai đoạn giữa của việc

nắm vững một phương thức hành động mới-cái dựa trên một quy tắc (tri thức) nào đó và trên quá trình giải quyết một loạt các nhiệm vụ tương ứng với tri thức đó, nhưng còn chưa đạt đến mức độ kỹ

xảo” [13]

Quan niệm thứ hai: coi kỹ năng là một biểu hiện năng lực con người

- Từ điển tiếng Việt (1992) định nghĩa “Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu

nhận được trong lĩnh vực nào đó vào thực tế” [28, tr.157]

- Từ điển Tâm lý học do tác giả Vũ Dũng chủ biên (2008) định nghĩa “Kỹ năng là năng lực

vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện

Trang 25

- Tác giả Huỳnh Văn Sơn quan niệm “Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách bằng cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để hành động phù

hợp với những điều kiện cho phép Kỹ năng không chỉ đơn thuần về mặt kỹ thuật của hành động,

mà còn là biểu hiện của năng lực con người ” [50, tr.6]

Từ những quan niệm trên, chúng tôi xác định:

K ỹ năng là khả năng vận dụng thành thạo tri thức, kinh nghiệm và sử dụng đúng những kỹ thu ật thao tác để thực hiện có kết quả một hành động, hoạt động nào đó

Để có kỹ năng, phải có cả hai yếu tố:

- Thứ nhất, là những tri thức, hiểu biết của con người về hành động, hoạt động Để con người

có thể hành động, trước hết họ phải hiểu về mục đích, phương thức và điều kiện diễn ra hành động

đó để có những phương án thực hiện một cách hiệu quả, phù hợp Đây là mô hình tâm lý trước khi hành động

- Thứ hai, là kỹ thuật về thao tác Mỗi hành động, hoạt động trong những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau đòi hỏi những thao tác khác nhau Do vậy, để thực hiện những hành động một cách hiệu

quả thì con người phải nắm chắc mặt kỹ thuật thao tác trong từng bối cảnh cụ thể

Tóm l ại, có thể xem KNTHXH là khả năng vận dụng thành thạo tri thức, kinh nghiệm đã

có và s ử dụng đúng thao tác kỹ thuật để thực hiện có kết quả một hành động giúp học sinh tự tin bước vào cuộc sống xã hội

- Theo quan niệm trong đời sống thì KNTHXH là khả năng con người thực hiện có kết quả

một việc trong cuộc sống hàng ngày như: kỹ năng lái xe, kỹ năng nấu ăn, kỹ năng bơi lội,…

- Trong phân loại KNS của WHO thì một số quan điểm cho rằng, KNTHXH là những kỹ năng

nhận thức và kỹ năng tương tác giúp con người thích ứng với cuộc sống xã hội

- Trong một số tài liệu cho rằng, KNTHXH là những khả năng mà con người dùng để tương tác với người khác trong xã hội Những kỹ năng này dựa trên những tiêu chuẩn của xã hội và chúng cho ta biết những thái độ và hành vi nào được chấp nhận và mong đợi trong những tình huống xã

hội cụ thể [67, tr.42]

- Chúng tôi quan niệm KNTHXH là khả năng đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống xã hội

b ằng cách vận dụng những kiến thức đã có

Từ những quan niệm trên có thể thấy KNTHXH là một bộ phận của KNS Và theo chúng tôi,

với quan niệm xem KNTHXH là khả năng đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống bằng cách vận

dụng những kiến thức đã có thì các kỹ năng sau đây tạm thời được xem là KNTHXH:

+ Kỹ năng ứng phó với căng thẳng

+ Kỹ năng giao tiếp

Trang 26

+ Kỹ năng hợp tác

+ Kỹ năng quản lý thời gian

+ Kỹ năng giải quyết vấn đề

+ Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn

+ Kỹ năng tư duy sáng tạo

+ Kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin

KNTHXH vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội KNTHXH mang tính cá nhân vì đó

là năng lực của cá nhân KNTHXH còn mang tính xã hội vì trong mỗi một giai đoạn phát triển của

lịch sử xã hội, ở mỗi vùng miền lại đòi hỏi mỗi cá nhân có những KNTHXH thích hợp Chẳng hạn: KNTHXH của mỗi cá nhân trong thời bao cấp khác với KNTHXH của các cá nhân trong cơ chế thị trường, trong giai đoạn hội nhập; KNTHXH của người sống ở miền núi khác với KNTHXH của người sống ở vùng biển, KNTHXH của người sống ở nông thôn khác với KNTHXH của người sống

ở thành phố

KNTHXH mang tính thực tiễn cao, chúng thường không độc lập mà có mối quan hệ chặt

chẽ, hỗ trợ nhau; KNTHXH có tính ổn định, mềm dẽo và linh hoạt

Khái niệm giáo dục KNTHXH

Giáo dục (theo nghĩa rộng) là hoạt động giáo dục tổng thể hình thành và phát triển nhân cách được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch nhằm phát triển tối đa những tiềm năng (sức mạnh

thể chất và tinh thần) của con người

Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là một bộ phận của hoạt động giáo dục (nghĩa rộng), là hoạt động giáo dục nhằm hình thành thế giới quan khoa học, tư tưởng chính trị, đạo đức, thẩm mỹ, lao động, phát triển thể lực, những hành vi và thói quen ứng xử đúng đắn của cá nhân trong các mối quan hệ

xã hội

V ậy có thể xem giáo dục KNTHXH là hoạt động giáo dục nhằm hình thành và rèn luy ện các KNTHXH, hình thành cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, xây dựng những hành vi lành m ạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có

c ả kiến thức, giá trị, thái độ và các kỹ năng thích hợp

Đồng thời giáo dục KNTHXH cần được thực hiện thống nhất trong nhiệm vụ giáo dục nhân cách toàn diện (theo các lĩnh vực văn hóa xã hội, theo các loại hình hoạt động của con người, theo

cả 4 trụ cột trong giáo dục thế kỉ XXI) thông qua quá trình dạy học và giáo dục (theo nghĩa hẹp) vừa hướng tới mục tiêu hình thành khả năng vận dụng thành thạo tri thức, kinh nghiệm đã có để thực

hiện có kết quả một hành động giúp học sinh tự tin bước vào cuộc sống xã hội, có thể vượt qua

Trang 27

những thách thức của cuộc sống, vừa phát triển toàn diện kiến thức, thái độ, hành động, và phát triển toàn diện các chỉ số thông minh

Tầm quan trọng của giáo dục KNTHXH

a Giáo d ục KNTHXH thúc đẩy sự phát triển của cá nhân và xã hội

Thực tế cho thấy có khoảng cách giữa nhận thức và hành vi của con người, có nhận thức đúng chưa chắc đã có hành vi đúng Đó chính là vì họ thiếu KNTHXH KNTHXH giúp con người

biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh

Không những thúc đẩy sự phát triển của cá nhân, KNTHXH còn thúc đẩy sự phát triển của

xã hội, giúp ngăn ngừa các vấn đề xã hội (HIV/AIDS, thất nghiệp, môi trường, ) và bảo vệ quyền con người Việc giáo dục KNTHXH thúc đẩy những hành vi xã hội tích cực, góp phần nâng cao

chất lượng cuộc sống xã hội và giảm các vấn đề xã hội Giáo dục KNTHXH còn giải quyết một cách tích cực nhu cầu và quyền con người, quyền công dân

b Giáo d ục KNTHXH là đáp ứng yêu cầu cấp thiết của thế hệ trẻ

Do đặc điểm của xã hội hiện nay nên sự hình thành và phát triển KNTHXH trở thành một yêu cầu quan trọng của nhân cách con người hiện đại Được trang bị KNTHXH, các học sinh sẽ có nhiều thuận lợi trong việc tìm kiếm việc làm cho bản thân sau này Mặt khác, qua các chương trình giáo dục KNTHXH, học sinh có được các thông tin cơ bản về sức khỏe và giúp họ phát triển những

kỹ năng cần thiết để ra quyết định và hành động tích cực liên quan đến bảo vệ sức khỏe Tiếp cận KNTHXH tạo ra một mô hình mà mỗi người có thể phát triển các kỹ năng giao tiếp, sống với người khác, giải quyết xung đột, hợp tác và cam kết xã hội

Ngoài ra, giáo dục KNTHXH càng trở nên cấp thiết với thế hệ trẻ vì: các em chính là chủ nhân tương lai của đất nước, là những người quyết định sự phát triển của đất nước trong những năm

tới Nếu không có KNTHXH học sinh không thể thực hiện tốt trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và đất nước Mặt khác, lứa tuổi học sinh đang hình thành nhân cách, giàu ước mơ, thích tìm tòi, khám phá nhưng còn thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động Nếu không được giáo dục KNTHXH, thiếu KNTHXH, các em dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêc cực, bạo lực, vào lối sống ích kỉ, lai căng, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay

Chính vì vậy, việc giáo dục KNTHXH cho thế hệ trẻ là rất cần thiết, giúp các em rèn luyện

những hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và Tổ quốc; giúp các em có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn bè và mọi người, sống tích cực, chủ động, an toàn, hài hòa và lành mạnh

c Giáo d ục KNTHXH nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông

Trang 28

Mục tiêu của giáo dục phổ thông chuyển chủ yếu từ trang bị kiến thức cho học sinh sang trang bị những năng lực cần thiết cho các em, đặc biệt là năng lực hành động và năng lực thực tiễn Phương pháp giáo dục phổ thông thay đổi theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác, sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê

học tập và ý chí vươn lên

Do đó, giáo dục KNTHXH cho học sinh với bản chất của hình thành và phát triển khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích

cực trước cá tình huống của cuộc sống rõ ràng là phù hợp với mục tiêu của giáo dục phổ thông,

nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông

Mặt khác, thực hiện giáo dục KNTHXH thông qua những phương pháp hướng đến người

học và phương pháp dạy học tương tác, cùng tham gia, đề cao vai trò chủ động, tự giác của người

học và vai trò chủ đạo của người dạy sẽ có những tác động tích cực đối với những mối quan hệ người dạy và người học, người học với người học Điều này cũng phù hợp với định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông

d Giáo d ục KNTHXH là xu thế chung của nhiều nước trên thế giới

Ở nhiều nước trên thế giới, từ nhiều năm qua môn học giáo dục kỹ năng thực hành xã hội được đưa vào chương trình học từ bậc tiểu học đến bậc phổ thông dưới các hình thức đa dạng Cho đến nay, có hơn 155 nước quan tâm đến việc đưa KNTHXH vào nhà trường, trong đó có 143 nước

đã đưa vào chương trình chính khóa ở Tiểu học và Trung học

Việc giáo dục KNTHXH cho học sinh ở các nước thường được thực hiện theo ba hình thức sau:

- KNTHXH là một môn học riêng biệt

- KTHXH được tích hợp vào một vài môn học chính

- KTHXH được tích hợp vào nhiều hoặc tất cả các môn học trong chương trình

Một số nước đã sử dụng tiếp cận “Whole School Approach” trong đó hình thức xây dựng

“Trường học thân thiện” nhằm thúc đẩy việc giáo dục KNTHXH cho học sinh trong nhà trường

Do đó, có thể khẳng định việc giáo dục KNTHXH cho học sinh trong các trường phổ thông

là rất cần thiết và có tầm quan trọng đặc biệt và phù hợp với xu thế chung của thời đại

1.2.2.2 Mục tiêu giáo dục KNTHXH cho học sinh trong nhà trường THPT

Trong nhiều nghiên cứu gần đây, việc giáo dục KNS được cụ thể hóa thành những yêu cầu giáo dục KNTHXH Cụ thể, nhiều quan niệm cho rằng việc giáo dục tích hợp KNTHXH với các hoạt động học học tập của học sinh có thể mang lại kết quả cao hơn, góp phần vào sự phát triển của

Trang 29

cá nhân và xã hội, việc phòng chống các vấn đề xã hội và sức khỏe, và sự phát triển của quyền con người

Mục tiêu giáo dục của Việt Nam đã chuyển từ mục tiêu cung cấp kiến thức là chủ yếu sang hình thành và phát triển những năng lực cần thiết ở người học để đáp ứng sự phát triển và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Mục tiêu của Việt Nam thể hiện mục tiêu giáo dục của thế

kỉ XXI: học để biết, học để làm, học để khẳng định và học để cùng chung sống [4, tr.3]

Giáo dục KNTHXH cho học sinh trong nhà trường phổ thông nhằm thực hiện các mục tiêu sau:

- Trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ và kỹ năng phù hợp Trên cơ sở đó hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; đồng thời loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày

- Tạo cơ hội thuận lợi cho học sinh thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát triển hài hòa vể thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức

1.2.2.3 Nội dung giáo dục KNTHXH cho học sinh nhà trường THPT

Kỹ năng ứng phó với căng thẳng

b N ội dung cơ bản

Học sinh cần được giáo dục những cách hạn chế những tình huống căng thẳng (sống và làm

việc điều độ, có kế hoạch, thường xuyên tập luyện thể dục thể thao, sống vui vẻ, chan hòa, tránh gây mâu thuẫn không cần thiết với mọi người xung quanh, không đặt cho mình mục tiêu vượt quá cao

so với điều kiện và khả năng bản thân,…) và ứng phó với căng thẳng bằng cách kết hợp các kỹ năng khác như: kỹ năng nhận thức, kỹ năng xử lý cảm xúc, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng tìm kiếm sự giúp đỡ và kỹ năng giải quyết vấn đề

Kỹ năng tư duy sáng tạo

Trang 30

có cho một câu hỏi, một bài toán hoặc một chủ đề Điều quan trọng không phải tìm ra ngay một kết

quả hay một phương án mà phải tìm tối đa các cách giải quyết để tạo ra những cơ sở cho việc lựa

chọn dựa trên những nền tảng của sản phẩm sáng tạo… Có thể hiểu đơn giản hơn: kỹ năng tư duy sáng tạo là khả năng nhìn nhận và giải quyết vấn đề theo một cách mới, với ý tưởng mới, theo phương thức mới, cách sắp xếp và tổ chức mới; là khả năng khám phá và kết nối các mối quan hệ

giữa các khái niệm, ý tưởng, quan điểm, sự việc độc lập trong suy nghĩ

b N ội dung cơ bản

Cần dạy cho học sinh biết cách tránh các rào cản tư duy sáng tạo (tâm lý sợ hãi, ngại đổi mới; kinh nghiệm và sức ỳ tâm lý; tư duy tiêu cực, bạn nghĩ bạn không thể; sự nhận thức sai về sáng tạo); hiểu các bước thực hiện những phương pháp tư duy sáng tạo (lựa chọn đội tượng tiêu điểm, tư duy dịch chuyển ) để vận dụng vào từng vấn đề cụ thể và các yêu cầu cần đạt được của một sáng tạo

Kỹ năng giao tiếp

a Khái ni ệm

Kỹ năng giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình thức nói, viết hoặc

sử dụng ngôn ngữ một cách phù hợp với hoàn cảnh và văn hóa, đồng thời biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm Bày tỏ ý kiến bao gồm bày tỏ cả sự suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu, mong muốn và cảm xúc, đồng thời nhờ sự giúp đỡ và sự tư vấn khi cần thiết

b N ội dung cơ bản

Dạy học sinh biết cách đánh giá tình huống giao tiếp và điều chỉnh cách giao tiếp một cách phù hợp, hiệu quả; cởi mở, bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc nhưng không làm hại hay gây tổn thương cho người khác

Khả năng xây dựng có mối quan hệ tích cực với người khác, bao gồm giữ quan hệ tích cực với các thành viên trong gia đình; đồng thời biết cách xây dựng mối quan hệ với bạn bè mới Kỹ năng này cũng giúp kết thúc các mối quan hệ khi cần thiết một cách xây dựng và không làm tổn thương người khác

Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn

Trang 31

b N ội dung cơ bản

Cách kiềm chế cảm xúc, tránh bị kích động, nóng vội, giữ bình tĩnh trước mọi sự việc; các bước để giải quyết mâu thuẫn một cách hòa bình Ở nhà trường phổ thông thiết nghĩ cần phải chú trọng giáo dục kỹ năng này để góp phần làm giảm tình trạng bạo lực học đường đáng báo động trong thời gian gần đây

Kỹ năng hợp tác

a Khái ni ệm

Họp tác là cùng chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ trợ nhau trong công việc hay trong một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung Kỹ năng hợp tác là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết và làm việc hiệu quả với các thành viên khác trong nhóm

b N ội dung cơ bản

Tôn trọng mục đích, mục tiêu chung của nhóm, tôn trọng những quyết định chung, những điều đã cam kết

Cách giao tiếp hiệu quả, tôn trọng, đoàn kết và cảm thông, chia sẻ với các thành viên khác trong nhóm

Cách bày tỏ ý kiến, tham gia xây dựng kế hoạch hoạt động của nhóm đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng, xem xét các ý kiến, quan điểm của mọi người trong nhóm

Biết cách hỗ trợ, giúp đỡ các thành viên khác trong quá trình hoạt động và có trách nhiệm về những thành công hay thất bại của nhóm, về những sản phẩm do nhóm tạo ra

Kỹ năng giải quyết vấn đề

a Khái ni ệm

Kỹ năng giải quyết vấn đề là khả năng cá nhân biết lựa chọn những phương án tối ưu và hành động theo phương án đã chọn để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống Giải quyết vấn đề có liên quan đến kỹ năng ra quyết định cần nhiều kỹ năng khác như: giao tiếp, xác định giá trị, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, tìm kiếm sự hỗ trợ, kiên định,…

b N ội dung cơ bản

Tiến trình giải quyết một vấn đề (nhìn nhận và phân tích, xác định chủ sở hữu của vấn đề, hiểu vấn đề, chọn giải pháp, thực thi giải pháp, đánh giá) và những kỹ thuật giải quyết vấn đề

Kỹ năng quản lý thời gian

a Khái ni ệm

Quản lý thời gian là biết hoạch định thời gian của mình với những mục tiêu và những nhiệm

vụ thật cụ thể Nói cách khác, quản lý thời gian là khả năng con người biết sắp xếp công việc theo thứ tự ưu tiên, biết tập trung vào giải quyết công việc trọng tâm trong một thời gian nhất định

Trang 32

Kỹ năng này rất cần thiết trong việc giải quyết vấn đề, lập kế hoạch và đạt được mục tiêu đó; đồng thời giúp con người tránh được căng thằng do áp lực công việc Quản lý thời gian tốt góp phần rất quan trọng vào sự thành công của cá nhân và nhóm

b N ội dung cơ bản

Tư duy về quản lý thời gian (khái niệm, lợi ích, tác động đến hiệu quả công việc), thực trạng quản lý thời gian của chúng ta (những nguyên nhân cơ bản của việc quản lý thời gian không hiệu quả, những trở ngại của quản lý thời gian hiệu quả), kỹ năng quản lý thời gian (xác lập mục tiêu trong quản lý thời gian và xây dựng ma trận ra quyết định, xác lập các thứ tự ưu tiên cho các công việc và xây dựng danh mục công việc hàng ngày, kỹ năng lập kế hoạch theo thời gian, sử dụng thời gian hiệu quả, kỹ năng sử dụng các công cụ thông tin nhằm giảm thời gian)

Chú trọng hướng dẫn học sinh cách quản lý thời gian đối với những việc thiết thực, gần gũi với các em trong hoạt động học tập và phong trào: thuyết trình, sắp xếp thời gian cho việc học ở nhà, ôn thi, nộp sản phẩm dự thi đúng hạn, tập luyện văn nghệ,…

Kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin

a Khái ni ệm

Kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin là khả năng con người có thể tìm được và khai thác được thông tin mình cần một cách đầy đủ, khách quan, chính xác và nhanh nhất Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin cực kỳ quan trọng, giúp con người tiết kiệm thời gian và kinh phí

b N ội dung cơ bản

- Giới thiệu các nguồn thông tin, chiến lược tìm kiếm thông tin

- Chiến lược tìm kiếm và xử lý thông tin, ta cần:

+ Xác định rõ chủ đề tìm kiếm

+ Xác định các loại thông tin về chủ đề mà mình cần phải tìm

+ Xác định các nguồn thông tin có độ tin cậy cao

+ Lập kế hoạch thời gian và liên hệ trước với những người có liên quan đến việc cung cung thông tin, nếu có

+ Chuẩn bị phương tiện để thu thập thông tin

+ Tiến hành thu thập thông tin theo kế hoạch

+ Sắp xếp thông tin thu thập theo nội dung và một cách có hệ thống

+ Phân tích, so sánh, đối chiếu, lý giải các thông tin thu được

+ Viết báo cáo nếu được yêu cầu

1.2.2.4 Nguyên tắc giáo dục KNTHXH cho học sinh trong nhà trường THPT

Trang 33

Nguyên tắc tương tác

KNTHXH không thể được hình thành chỉ qua việc nghe giảng và tự đọc tài liệu mà phải thông qua các hoạt động tương với người khác Việc nghe giảng và tự đọc tài liệu chỉ giúp học sinh thay đổi nhận thức về một vấn đề nào đó Nhiều KNTHXH được hình thành trong quá trình học sinh tương tác với bạn cùng học và những người xung quanh (Kỹ năng thương lượng, kỹ năng giải quyết vấn đề…) thông qua hoạt động học tập hoặc các hoạt động xã hội trong nhà trường Trong khi tham gia các hoạt động xã hội có tính tương tác, học sinh có dịp thể hiện các ý tưởng của mình, xem xét các ý tưởng của người khác, được đánh giá và xem xét lại những kinh nghiệm sống của mình trước đây theo một cách nhìn nhận khác Vì vậy, việc tổ chức các hoạt động có tính chất tương tác cao trong nhà trường tạo cơ hội để giáo dục KNTHXH hiệu quả

Nguyên tắc trải nghiệm

KNTHXH được hình thành khi người học được trải nghiệm qua các tình huống thực tế Học sinh chỉ có kỹ năng khi các em tự làm những việc đó, chứ không chỉ nói về việc đó Kinh nghiệm có được khi học sinh hành động trong các tình huống đa dạng giúp các em dễ dàng sử dụng và điều chỉnh các kỹ năng phù hợp với điều kiện thực tế Giáo viên cần thiết kế và tổ chức thực hiện các hoạt động trong và ngoài giờ học sao cho học sinh có cơ hội thể hiện các ý tưởng cá nhân, tự trải nghiệm và biết phân tích kinh nghiệm sống của chính mình và người khác

Nguyên tắc thực hiện theo tiến trình

Giáo dục KNTHXH không thể thực hiện trong “ngày một, ngày hai” mà nó đòi hỏi phải có

cả một quá trình: nhận thức, hình thành thái độ, thay đổi hành vi:

Sơ đồ 1.2 Quan hệ giữa các yếu tố trong quá trình nhận thức

Đây là một quá trình mà mọi yếu tố có thể khởi đầu một chu trình mới Do đó, nhà giáo dục

có thể tác động vào bất cứ yếu tố nào trong chu trình trên: thay đổi thái độ dẫn đến mong muốn thay đổi nhận thức và hành vi hoặc hành vi thay đổi tạo nên thay đổi nhận thức và thái độ

Nguyên tắc thay đổi hành vi

Nhận thức

Hình thành thái độ Thay đổi

hành vi

Trang 34

Mục đích cao nhất của giáo dục KNTHXH là giúp người học thay đổi hành vi theo hướng tích cực Giáo dục KNTHXH thúc đẩy người học thay đổi hay định hướng lại các giá trị, thái độ và hành động của mình Thay đổi hành vi, thái độ và giá trị ở từng con người là một quá trình khó khăn, không đồng thời Có thời điểm người học quay trở lại những thái độ, hành vi, giá trị trước đó

Do đó, các nhà giáo dục cần kiên trì chờ đợi và tổ chức các hoạt động liên tục để học sinh duy trì hành vi mới và có thói quen mới; tạo động lực cho học sinh điều chỉnh hoặc thay đổi giá trị, thái độ

và những hành vi trước đây, thích nghi hoặc chấp nhận các giá trị, thái độ, hành vi mới Giáo viên không nhất thiết phải luôn tóm tắt bài giúp học sinh, mà cần tạo điều kiện cho học sinh tự tóm tắt những ghi nhận cho bản thân sau mỗi giờ học, phần học

Nguyên tắc liên tục về thời gian – môi trường giáo dục

Giáo dục KNTHXH cần thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc và thực hiện càng sớm càng tốt đối với trẻ em Môi trường giáo dục được tổ chức nhằm tạo cơ hội cho học sinh áp dụng kiến thức và kỹ năng vào các tình huống “thực” trong cuộc sống

Giáo dục KNTHXH được thực hiện trong gia đình, trong nhà trường và cộng đồng Người tổ chức giáo dục KNTHXH có thể là bố mẹ, là thầy cô, là bạn cùng học hay các thành viên trong cộng đồng Trong nhà trường phổ thông, giáo dục KNTHXH được thực hiện trên các giờ học, trong các hoạt động lao động, hoạt động đoàn thể – xã hội, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và các hoạt động giáo dục khác

1.2.3 Quản lý công tác giáo dục KNTHXH trong trường THPT

Dựa vào khái niệm QLGD của tác giả Nguyễn Gia Quý, ta có thể xem quản lý công tác giáo dục KNTHXH là tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, nhằm đưa hoạt động giáo dục KNTHXH tới mục tiêu đã định, trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng những quy luật khách quan của hệ thống Quản lý công tác giáo dục KNTHXH vận dụng bốn chức năng: lập kế hoạch giáo dục KNTHXH, tổ chức triển khai kế hoạch giáo dục KNTHXH, chỉ đạo thực hiện kế

Trang 35

hoạch giáo dục KNTHXH, kiểm tra – đánh giá công tác giáo dục KNTHXH để thực hiện các nhiệm

vụ công tác của mình

Tóm lại, quản lý công tác giáo dục KNTHXH là sự tác động có ý thức của chủ thể quản

lý đến khách thể quản lý một cách có định hướng nhằm đưa hoạt động giáo dục KNTHXH của từng cơ sở giáo dục vận hành và đạt được mục tiêu đã định trên cơ sở nhận thức, vận dụng đúng những quy luật khách quan của hệ thống quản lý giáo dục

1.2.3.2 C ác chức năng quản lý công tác giáo dục KNTHXH

Kế hoạch hóa công tác giáo dục KNTHXH trong năm học

Nội dung kế hoạch hóa công tác giáo dục KNTHXH phụ thuộc vào mục tiêu của công tác giáo dục KNTHXH trong năm học và các nhiệm vụ phải thực hiện để đạt mục tiêu đó Để xác định nội dung kế hoạch giáo dục KNTHXH năm học cần căn cứ vào kế hoạch tổng thể và nhiệm vụ cụ thể công tác giáo dục KNTHXH trong năm học đó Nói cách khác, kế hoạch giáo dục KNTHXH phải bao gồm nhiệm vụ thường xuyên và không thường xuyên Kế hoạch giáo dục KNTHXH cần được cụ thể hóa thành kế hoạch tháng, tuần theo các hoạt động chính và theo phạm vi trách nhiệm của từng bộ phận, cá nhân với các nguồn lực được xác định, phân bố chi tiết cho từng hoạt động

Có thể xây dựng kế hoạch giáo dục KNTHXH theo cấu trúc sau:

a Các căn cứ xây dựng kế hoạch giáo dục KNTHXH và bối cảnh năm học

- Tình hình nhà trường đầu năm học

- Nhiệm vụ và các chỉ tiêu của công tác giáo dục KNTHXH trong năm học: Phương hướng

phấn đấu chung (những chuyển biến, kết quả cần đạt, những danh hiệu thi đua cần phấn đấu), các yêu cầu và chỉ tiêu cụ thể

- Nội dung hoạt động và những biện pháp chính:

o Xây dựng đội ngũ giáo dục KNTHXH

o Xây dựng môi trường giáo dục KNTHXH

o Xây dựng các điều kiện về cơ sở vật chất – kỹ thuật

o Công tác kiểm tra – đánh giá

o Cải tiến tổ chức quản lý

Trang 36

tích, đánh giá thực trạng của nhà trường (điểm mạnh, điểm yếu, nguồn lực); phân tích các biến động, thay đổi của các chính sách cho giáo dục để biết các cơ hội cần tận dụng và các nguy cơ thách

thức cần khắc phục; dự báo chiều hướng phát triển của những chỉ tiêu đề ra trong kế hoạch tổng thể

- Hiệu trưởng dự thảo kế hoạch giáo dục KNTHXH của năm học: Xác định mục tiêu trọng điểm; các chỉ tiêu cần đạt; xây dựng các điều kiện cần thiết để thực hiện kế hoạch; dự thảo các phương án tổ chức thực hiện kế hoạch

- Thông qua dự thảo kế hoạch: trước chi bộ, thảo luận ở các bộ phận để góp ý, lấy ý kiến của các bên liên quan và quan tâm, lấy ý kiến đóng góp rộng rãi của cán bộ giáo viên, nhân viên trong trường

- Hoàn chỉnh kế hoạch và ban hành kế hoạch, báo cáo cấp trên

Sơ đồ 1.3 Quy trình xây dựng kế hoạch giáo dục KNTHXH [30, tr.60]

Chú ý: Kế hoạch phải được sự đồng thuận của mọi thành viên trong trường, chống chạy theo bệnh thành tích mà đề ra những chỉ tiêu vượt quá khả năng

Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục KNTHXH

a Tổ chức cơ cấu: xây dựng cấu trúc quản lý công tác giáo dục KNTHXH hoặc bộ máy quản

lý công tác giáo dục KNTHXH bao gồm phân chia thành các bộ phận khác nhau và xác định nhiệm

vụ cho từng bộ phận

Trong quá trình xây dựng cơ cấu tổ chức cần phải:

- Xác định rõ nhiệm vụ chiến lược của công tác giáo dục KNTHXH và chức năng then chốt

của nó

- Nghiên cứu mối quan hệ giữa các hoạt động mang tính thường lệ và các hoạt động mang tính chiến lược

Trang 37

- Xác định những hoạt động quan trọng, cần thiết để đạt được mục đích của công tác giáo dục KNTHXH

- Tập hợp các hoạt động có cùng tính chất hoặc cùng chức năng lập nên nhóm

- Chọn lãnh đạo cho mỗi nhóm

Cần phải căn cứ vào số lượng giáo viên, thời gian làm việc, chức năng nhiệm vụ, đối tượng học sinh mà giáo viên phụ trách để lập nên nhóm

b Tổ chức quá trình: thiết kế quá trình quản lý công tác giáo dục KNTHXH, làm cho cơ cấu

quản lý được xây dựng có thể vận hành được trong thực tế thông qua việc xây dựng các nội quy, quy chế trong hợp tác nội bộ; tạo mối liên hệ giữa các bộ phận trong quá trình thực hiện kế hoạch giáo dục KNTHXH của đơn vị

Cần xây dựng một quá trình phối hợp giữa các hành động của các bộ phận trog cơ cấu tổ chức đễ đạt được mục tiêu Việc này có mục đích phân chia quyền lực và quy trình thực hiện công tác giáo dục KNTHXH

c Tổ chức nhân sự: xác định số lượng giáo viên và các chức danh cho từng bộ phận giáo dục

KNTHXH

Chỉ đạo thực hiện công tác giáo dục KNTHXH

Hiệu trưởng cần thường xuyên bám sát, nắm chắc tình hình thực hiện công tác giáo dục KNTHXH, phân tích các vấn đề thực tiễn một cách nhanh chóng để đưa ra những quyết định đúng đắn Muốn như vậy, cần có biện pháp thu thập thông tin một cách chính xác, biết phân tích và xử lý các nguồn thông tin và đưa ra quyết định đúng Ở đây, hiệu trưởng có thể chỉ đạo ở các vấn đề sau:

- Chỉ đạo TLTN lập kế hoạch tổ chức các hoạt động ngoại khóa để giáo dục KNTHXH cho học sinh

- Chỉ đạo Ban giáo dục KNTHXH dựa vào đặc điểm của trường mình xây dựng bộ tài liệu KNTHXH hỗ trợ học sinh

- Chỉ đạo TLTN và các Tổ trưởng bộ môn phải phối hợp với nhau trong công tác tổ chức các hoạt động giáo dục KNTHXH

- Chỉ đạo Ban hoạt động Ngoài giờ lên lớp hoặc Ban giáo dục KNTHXH (nếu có) tổ chức các buổi sinh hoạt dưới cờ, sinh hoạt ngoại khóa nhằm nâng cao nhận thức của học sinh về tầm quan trọng của KNTHXH

- Chỉ đạo TLTN xây dựng thang điểm đánh giá mức độ tham gia các hoạt động đoàn thể

- Chỉ đạo Hiệu phó chuyên môn phối hợp Ban giáo dục KNTHXH xây dựng tiêu chí đánh giá công tác giáo dục KNTHXH của giáo viên

Trang 38

- Chỉ đạo Tổ trưởng bộ môn, đặc biệt là Tổ trưởng bộ môn Văn, Sử, Địa, Giáo dục công dân, Sinh dự giờ có báo trước và không báo trước một số giờ dạy của thành viên trong tổ

Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch giáo dục KNTHXH

Có thể đề cập đến các bước thực hiện của việc kiểm tra đánh giá thực hiện kế hoạch giáo dục KNTHXH như sau:

Trước tiên, từng thành viên (thực hiện kế hoach giáo dục KNTHXH) trong nhà trường tự đánh giá về kết quả thực hiện kế hoạch trong tháng hoặc trong tuần, bao gồm những việc đã hoàn thành, việc chưa hoàn thành – nguyên nhân, việc phát sinh,…Sau đó, Hiệu trưởng tập họp các báo cáo cá nhân, biên bản họp giao ban để xác định các việc bị trì hoãn, các vấn đề phát sinh và các việc

đã hoàn thành theo tiến độ và kết quả đạt được trên thực tế so với kết quả mong đợi, đánh giá kết quả của cá nhân, tổ, nhóm chuyên môn, đoàn thể,…Kế đến, Hiệu trưởng điều chỉnh kế hoạch giáo dục KNTHXH phù hợp, đồng thời điều chỉnh phương án tổ chức thực hiện đối với các kế hoạch chưa triển khai được do phương án không phù hợp

Sơ đồ 1.4 Quy trình kiểm tra – đánh giá công tác giáo dục KNTHXH

[30, tr.64]

Hiệu trưởng cần bố trí thời gian để dự họp với các tổ chuyên môn, đoàn thể nhằm nắm bắt những vấn đề về động cơ, thái độ thực hiện nhiệm vụ của cán bộ - giáo viên Cần duy trì việc này thường xuyên để huy động sự tham gia của tất cả cán bộ - giáo viên thực hiện kế hoạch tốt nhất

CÁ NHÂN CÁC BỘ PHẬN

Trang 39

Bên cạnh đó, Hiệu trưởng cũng cần bố trí thời gian gặp Ban cán sự các lớp để thu thông tin phản hồi

từ phía học sinh trong công tác giáo dục KNTHXH đồng thời Hiệu trưởng cũng cần thường xuyên

dự giờ báo trước và đột xuất một số giờ dạy của giáo viên

Trong đề tài này, việc khảo sát thực trạng công tác giáo dục KNTHXH thể hiện ở việc:

- Nhận thức về KNTHXH của học sinh, giáo viên và CBQL

- Thực hiện bốn chức năng quản lý: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra – đánh giá công tác giáo dục KNTHXH

- Thực hiện những hành động và biện pháp để quản lý công tác giáo dục KNTHXH

Trang 40

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC KỸ NĂNG THỰC HÀNH XÃ HỘI Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ

MINH 2.1 Khái quát về tình hình giáo dục THPT của TPHCM

Theo công văn số 1809/GDĐT-VP ngày 11/08/2010 về việc báo cáo tổng kết năm học

2009 – 2010 và phương hướng nhiệm vụ năm học 2010 – 2011, ta có thể thấy tình hình giáo dục THPT của thành phố Hồ Chí Minh như sau:

Khái quát chung:

Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích tự nhiên 2.093 kmP

2 P, tổ chức thành 24 quận, huyện (gồm

19 quận và 5 huyện với 322 phường – xã, thị trấn) Điều kiện kinh tế dân cư tương đối thuận lợi nhưng không đồng đều; vẫn còn một bộ phận khó khăn, thiếu thốn Hệ thống trường lớp đáp ứng nhu cầu học tập của người dân và từng bước được cải thiện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa Tuy nhiên, ở một số huyện ngoại thành cự ly đến trường của học sinh còn xa (có nơi trên 7 km); riêng huyện Cần Giờ mật độ dân cư còn thấp, giao thông đi lại còn khó khăn

Về qui mô, tổng số trường THPT trên địa bàn thành phố là 150 (ngoài công lập: 60) với 179.880 học sinh và 9.861 giáo viên

Về công tác chính trị tư tưởng:

Phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” đã được sự hưởng ứng tích cực của các đơn vị cơ sở trường học trên địa bàn thành phố 100% đơn vị trường Mầm non, Tiểu học, THCS, THPT, GDTX, GDCN đã xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện nghiêm túc trong Hội đồng sư phạm, học sinh của nhà trường Nhiều hoạt động phong phú, sáng tạo từ các đơn

vị trường học đã dấy lên phong trào thi đua đổi mới phương pháp học tập trong học sinh và tham gia tốt các hoạt động xã hội, kỹ năng sống

Về chất lượng và hiệu quả đào tạo:

Thực hiện nhiệm vụ xây dựng nhà trường trung học tiên tiến, Sở Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các trường Trung học Phổ thông thực hiện nghiêm túc qui chế chuyên môn, đổi mới nội dung chương trình và phương pháp dạy học Các hoạt động giáo dục (ngoài giờ lên lớp, giáo dục hướng nghiệp, giáo dục nghề phổ thông…) được các trường tổ chức thực hiện đầy đủ và chất lượng

Ban Giám hiệu các trường đã tổ chức thực hiện hiệu quả phương pháp dạy học cá thể, tự chủ

về thời lượng, dạy sát đối tượng học sinh Hầu hết các trường đều đã sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học, quản lý

Ngày đăng: 20/02/2023, 16:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w