MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài Căn cứ Nghị quyết Số 45 /NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 17/02/2005 “Về xây dựng và phát triển Thành phố Cần Thơ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” có nêu rõ[.]
Trang 1Căn cứ Nghị quyết đại hội Đảng bộ lần thứ XI của Thành ủy Thành phố Cần Thơ từ 2006-2010
Căn cứ Thông tư Số 15/TT-LB ngày 21/8/1996 của liên bộ Văn hóa Thông tin – Giáo dục và Đào tạo về việc đào tạo đội ngũ giáo viên Nhạc – Họa cho các cấp học mầm non, tiểu học và trung học cơ sở tại các trường Văn hóa Nghệ thuật địa phương
Cần Thơ là thành phố trung tâm của khu vực đồng bằng sông Cửu Long, là đầu mối giao thông thủy bộ quan trọng, nơi trung chuyển và điều tiết hàng hóa trong khu vực Diện tích tự nhiên: 1.401km2 Dân số 1.159.008 ngườivới 03 dân tộc cùng chung sống: Việt – Hoa – Kh’mer Mật độ dân số 827người/ km2 gồm 05 quận và 04 huyện
Ngày nay, nhu cầu hưởng thụ văn hóa, sáng tạo nghệ thuật và du lịch của các đối tượng trong công chúng Thành phố hết sức phong phú và đa dạng Các hoạt động giao lưu, xuất nhập khẩu văn hóa phẩm, hoạt động du lịch và các dịch vụ văn hóa – du lịch phát triển rất nhanh và phức tạp Các quận, huyện đều có Nhà văn hóa, Trung tâm sinh hoạt thanh thiếu niên, công viên văn hóa, khu du lịch sinh thái cùng hàng trăm thiết chế văn hóa khác hoạt động ngày càng rộng lớn … Tất cả đều đòi hỏi cần có một đội ngũ cán bộ có trình độ tay nghề chuyên môn cao, có năng lực tổ chức quản lý giỏi … Ngoài ra, việc đào tạo đội ngũ giáo viên Âm nhạc – Mỹ thuật, cán bộ chuyên trách Thư viện trong các trường trung học cơ
sở, trung học phổ thông cũng đang là một nhu cầu rất bức xúc
Đồng bằng sông Cửu Long có 07 trường trung cấp văn hóa nghệ thuật, 04 Trường nghiệp vụ Văn hóa Nghệ thuật, 01 tỉnh không có trường trung cấp lẫn nghiệp vụ Văn hóa Nghệ thuật, 01 tỉnh đào tạo Văn hóa Nghệ thuật bậc trung cấp lồng ghép vào 01 Khoa của Trường đại học Trong đó, Trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Cần Thơ là một trong số ít
Trang 2trường có uy tín trong vùng về việc đào tạo lĩnh vực Văn hóa Nghệ thuật Có thể nói, đào tạo
là xương sống của trường, là vấn đề “sống còn” của Trường
Từ khi thành lập và đi vào hoạt động đến nay, trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Cần Thơ đã có nhiều đóng góp trong việc đào tạo đội ngũ làm công tác Văn hóa Nghệ thuật thông tin cho Cần Thơ và các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long
Hiện nay Trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Cần Thơ đang hoàn tất thủ tục chuyển thành Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Cần Thơ vào năm 2010 Vì vậy, nghiên cứu thực trạng quản lý đào tạo ở Trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Cần Thơ và đề xuất những biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động này là vấn đề cấp thiết
2 Mục đích nghiên cứu
Xác định thực trạng công tác quản lý đào tạo của Trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Cần Thơ và tìm ra một số giải pháp đổi mới công tác quản lý đào tạo của Trường trong thời gian tới
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý đào tạo Trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Cần Thơ
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
Thực trạng công tác quản lý đào tạo tại Trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Cần Thơ
4 Giả thuyết nghiên cứu
Công tác quản lý đào tạo ở Trường TC.VHNT Cần Thơ đã mang lại một số hiệu quả bước đầu, tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại ở khâu quản lý việc xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo, quản lý hoạt động giảng dạy và cơ sở vật chất Vì lẽ đó, nếu đánh giá đúng thực trạng quản lý đào tạo tại Trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Cần Thơ thì sẽ nâng cao chất lượng đào tạo hơn nữa của trường trong thời gian tới
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý thuyết để xác định cơ sở lý luận liên quan đến đề tài
- Tìm hiểu thực trạng về công tác quản lý đào tạo ở Trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Cần Thơ
- Đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý đào tạo tại Trường TC.VHNT Cần Thơ
6 Phạm vi nghiên cứu
Trang 3Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng công tác quản lý đào tạo hệ Chính quy của Trường TC.VHNT Cần Thơ
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa lý thuyết
7.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp điều tra bằng phiếu
- Phương pháp phỏng vấn
7.3 Phương pháp xử lý số liệu bằng toán thống kê
Trang 4đề cập đến một số giải pháp về tổ chức, quản lý chất lượng giáo dục đại học chính quy và không chính quy
Giáo sư Trần Chí Đáo nguyên thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có bài “ Các hướng đổi mới quản lý đại học Việt Nam trước bối cảnh kinh tế xã hội hiện nay” đã đề cập đến một vài dự báo về thế kỷ 21 Những thay đổi lớn về hình thái kinh tế và sự phát triển kinh tế thế giới trước sự thay đổi lớn về khoa học công nghệ đòi hỏi phải thay đổi công tác quản lý giáo dục Các hướng đổi mới cơ bản đó là sự vận dụng đường lối lãnh đạo của Đảng về giáo dục đào tạo, về sự đổi mới tư duy trong giáo dục và quản lý giáo dục, nêu cao vai trò và tính tự chủ của các cơ sở đào tạo trong quản lý
Tiến sĩ Nguyễn Phúc Châu – Trường cán bộ quản lý giáo dục Trung ương với bài “ Nhận diện những trụ cột của hoạt động quản lý và vận dụng chúng vào đổi mới quản lý nhà trường” đã xác định những trụ cột của hoạt động quản lý là: thể chế xã hội về lĩnh vực hoạt động của tổ chức, bộ máy tổ chức và nhân lực của tổ chức, tài lực và vật lực của tổ chức, môi trường hoạt động của tổ chức, thông tin về lĩnh vực hoạt động của tổ chức, …
Tác giả Nguyễn Thị Hải – Viện chiến lược và chương trình giáo dục có bài “Về việc bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên cho giáo viên trung học chuyên nghiệp” Theo tác giả, giáo dục trung học chuyên nghiệp là bộ phận quan trong trong hệ thống giáo dục quốc dân, trình độ của họ ngoài chuyên môn, sức khỏe, học vấn, đạo đức mà còn là khả năng thích ứng cao với thị trường lao động, có tinh thần hợp tác với đồng nghiệp Việc tổ chức giảng dạy phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Vì thế cần xây dựng chương trình bồi dưỡng cho giáo viên là: bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học, bồi dưỡng sư phạm, …
Trang 5Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý giáo dục Huỳnh Lê Tuân “Nâng cao hiệu quả công tác quản lý giáo dục đào tạo của Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Thành phố
Hồ Chí Minh” Tác giả cũng đã đưa ra một số giải pháp về công tác quản lý và cũng chỉ dừng lại ở một số gợi ý chung về:
- Hoàn thiện tổ chức bộ máy ở Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh
- Đổi mới cơ chế và phương thức quản lý trong hoạt động
- Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên
Thạc sỹ Hoàng Lân – nguyên hiệu trưởng Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Hà Nội có bài viết “Một số giải pháp về tổ chức – quản lý đào tạo ở Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Hà Nội trong những năm đổi mới” Tác giả cũng chỉ đưa ra một số gợi ý chung về: quản lý mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo, người dạy, người học, cơ sở vật chất, tài chính, chế độ chính sách, tâm lý người học và người làm nghệ thuật, chú ý nghiên cứu tính chất lao động đặc thù của mỗi loại hình nghệ thuật và giá trị sản phẩm nghệ thuật
Gần đây, tháng 10 năm 2009 Bộ Văn hóa Thể thao và du lịch đã có Hội thảo về chế độ công tác giáo viên trung cấp Văn hóa Thể thao và Du lịch Nhưng kết quả vẫn chưa thống nhất được chế độ công tác giáo viên giảng dạy văn hóa, thể thao và dụ lịch Tháng 6 năm
2010 Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch tổ chức Hội diễn Văn hóa Văn nghệ giữa các trường văn hóa nghệ thuật toàn quốc tại Đà Nẵng Tất cả hoạt động trên đều nhằm định hướng về chế độ giáo viên và các vấn đề liên quan đến hoạt động của các trường văn hóa nghệ thuật
Do nhiều nguyên nhân, hội thảo, hội diễn văn hóa văn nghệ cũng chỉ đi vào từng mảng riêng
lẻ của hoạt động quản lý đào tạo lĩnh vực văn hóa nghệ thuật
Thực tế rất nhiều tác giả đề cập tới công tác quản lý giáo dục đào tạo, quản lý nhà trường Nhưng với lĩnh vực quản lý đào tạo tại trường Trung cấp chuyên nghiệp đặc thù về văn hóa nghệ thuật thì rất ít Do đó tôi mạnh dạn chọn đề tài này hy vọng tìm thấy cái chung cho công tác quản lý đào tạo cho trường Trung cấp chuyên nghiệp đặc thù
1.2 Các khái niệm liên quan đến đến đề tài
1 2.1 Quản lý
Trang 6Nhà triết học cổ đại Xôcrat (460-399 T.C.N) đã chỉ ra rằng trong hoạt động quản lý nếu biết sử dụng con người thì sẽ thành công, trái lại nếu không làm được điều đó sẽ sớm sai lầm và thất bại
Theo F Taylor (1856 – 1915) là người đầu tiên biến các tư tưởng quản lý thành các nguyên tắc và kỹ thuật lao động cụ thể cho rằng “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất, rẻ nhất” [12, tr.89]
Theo nhà lý luận quản lý người Pháp Henry Fayol (1841-1925) “Quản lý hành chính
là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra” [12, tr.108]
Giáo sư Hoàng Chúng nói rằng “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người nhằm tổ chức và phối hợp hoạt động của họ, động viên khuyến khích họ trong quá trình lao động” [10]
Theo tiến sĩ Nguyễn Văn Lê “Quản lý là một hệ thống xã hội, là khoa học, là nghệ thuật tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu là vào những con người nhằm đạt hiểu quả tối ưu theo mục tiêu đã đề ra” [24]
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công hợp tác lao động Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đạt hiệu quả nhiều hơn trong công việc, đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý, … và phải có người đứng đầu như Các-Mác đã nói “ Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng”
Theo tác giả, quản lý là cách thức tổ chức để đạt mục đích đề quản lý bằng chi phí thấp nhất trong khoảng thời gian ngắn nhất
Đặc điểm cơ bản của quản lý:
- Quản lý là hoạt động có mục đích, được xác định cấu trúc của tổ chức để điều chỉnh các mối quan hệ
- Quản lý có những mối quan hệ của sự lựa chọn thành phần cụ thể tạo nên quá trình điều khiển như một tổng thể Nó có những quy định về mối liên hệ trên, dưới, ngang, dọc, trong, ngoài
- Trong quá trình quản lý việc đưa ra quyết định và thực hiện quyết định được tiến hành tuần tự theo các bước nhất định
Trang 7Các chức năng cơ bản của quản lý:
Chức năng quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các thành viên trong tổ chức và của việc sử dụng tất cả các khả năng, cách thức tổ chức để đạt được mục tiêu và tổ chức đã đề ra
Có bốn chức năng cơ bản của quản lý:
- Lập kế hoạch: Là việc đưa ra quyết định, gồm việc chọn lựa phương hướng, đường lối, hành động mà tổ chức nào đó và các bộ phận của nó phải tuân theo nhằm hoàn thành các mục tiêu của tổ chức
Lập kế hoạch là công việc liên quan đến việc thiết lập các mục tiêu cần thiết cho sự phấn đấu của tổ chức, là nền tảng của quản lý
- Tổ chức: Là việc xây dựng và duy trì cơ cấu nhất định về vai trò, nhiệm vụ và vị trí công tác trong tổ chức Tổ chức bao gồm việc xác định một cơ cấu định trước Tổ chức là hoạt động cần thiết để đạt được mục tiêu, là công cụ của quản lý
- Lãnh đạo, chỉ đạo: Là quá trình tác động đến con người, điều khiển họ, làm cho họ tự giác nỗ lực phấn đấu đạt được mục tiêu đề ra của tổ chức
- Kiểm tra: là việc đánh giá kết quả, là đo lường và điều chỉnh các họat động của việc thực hiện các mục tiêu nhằm tìm ra những ưu, nhược điểm để phát huy hoặc điều chỉnh việc lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo
Trong các chức năng thì chức năng tổ chức là quan trọng nhất
1.2.2 Quản lý giáo dục
Theo Trần Kiểm thì ở cấp độ vi mô “Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng
xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo
dục của nhà trường” [21, tr 36]
Giáo sư, viện sĩ Phạm Minh Hạc: Quản lý giáo dục hay còn được hiểu là quản lý trường học, quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới
Trang 8mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh
Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý giáo dục nói chung và quản lý trường học nói riêng là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà mục tiêu hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [29]
Tác giả chọn khái niệm - quản lý giáo dục là một loại quản lý xã hội chuyên quản lý tổ chức hoạt động của ngành giáo dục (mà sản phẩm là nhân cách học sinh) trên phạm vi cả nước hoặc từng địa phương, từng trường học nhằm mục đích nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc phát triển nền giáo dục
Quản lý giáo dục có thể được xem xét ở hai cấp độ khác nhau là quản lý vĩ mô (quản
lý hệ thống giáo dục) và cấp độ vi mô (quản lý trường học)
Quản lý trường học là quản lý giáo dục trong một trường học cụ thể, “ quản lý trường học là quản lý vi mô, nó là một hệ thống con của quản lý vi mô- quản lý giáo dục, quản lý trường học có thể hiểu là một chuỗi tác động hợp lý (có mục đích, tự giác, hệ thống, có kế hoạch) mang tính tổ chức – sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quá trình này vận hành
tối ưu tới việc hoàn thành những mục tiêu dự kiến” (Trần Kiểm (1997) [21, tr16]
* Mục tiêu của quản lý giáo dục: Mục tiêu là yếu tố cơ bản của hệ thống quản lý Có nhiều loại mục tiêu quản lý:
- Mục tiêu lâu dài, mục tiêu trước mắt
- Mục tiêu chung, mục tiêu bộ phận
- Mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể
* Các nguyên tắc của quản lý giáo dục:
Trang 9- Tính Đảng: Trước hết là làm cho tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà Đảng ta đã cụ thể hóa thành đường lối, chủ trương chính sách giáo dục trở thành hệ tư tưởng và quan điểm chỉ đạo duy nhất của toàn bộ công tác giáo dục đào tạo
- Tính khoa học, thực tiễn: Trong quản lý người quản lý phải nắm được cơ sở khoa học Khoa học và quản lý giáo dục phải dựa vào thành tựu của nhiều ngành khoa học khác nhau: xã hội học, kinh tế học, tâm lý học, luật học, …Vì vậy tính khoa học trong quản lý giáo dục trước hết đòi hỏi quan điểm tổng hợp, hệ thống và quan điểm vận động (phát triển)
- Tính tập trung dân chủ: Thực hiện nguyên tắc này là đảm bảo sự thống nhất tổ chức
và trình độ cao của hệ thống đồng thời đảm bảo phát huy cao độ các khả năng tiềm tàng, trí tuệ tập thể Nó thể hiện ở sự kết hợp chế độ thủ trưởng với chế độ dân chủ, tập thể trong quản lý Thực chất nguyên tắc rộng rãi này đảm bảo cho kỷ luật chặt chẽ
- Tính pháp chế: Đây là nguyên tắc cần thiết vì nó giúp điều hành và quản lý bằng pháp luật cả về mặt tổ chức và hoạt động Quản lý nhà nước về giáo dục đòi hỏi không những việc thực hiện nghiêm luật pháp của nhà nước mà còn vận dụng kết hợp những quy phạm pháp quy với những yếu tố đặc thù của ngành giáo dục để xây dựng và thực hiện một
hệ thống quy phạm, quy chế giáo dục
- Tính hiệu quả: Chất lượng và hiệu quả giáo dục phụ thuộc vào hiệu quả tổ chức và quản lý Muốn đạt hiệu quả cao, người quản lý phải nắm được những thành tựu mới của khoa học kỹ thuật, vận dụng các phương pháp khoa học vào quá trình quản lý
* Các phương pháp quản lý giáo dục
- Phương pháp tổ chức hành chánh
- Phương pháp kinh tế
- Phương pháp tâm lý xã hội
* Việc kết hợp các phương pháp quản lý
Giáo dục là một hiện tượng sư phạm – xã hội Ở đây chứa đựng nhiều quy luật thuộc các lĩnh vực khác nhau Vì thế, việc áp dụng nhiều phương pháp quản lý là điều đương nhiên Vấn đề là không nên tuyệt đối quá một phương pháp nào, người quản lý cần tùy từng tình huống cụ thể nắm vững và vận dụng những ưu thế và những hạn chế tối đa nhược điểm
Trang 10của từng phương pháp, kết hợp vận dụng chúng một cách khéo léo nhằm đạt hiệu quả cao nhất
Các phương pháp kinh tế, tâm lý – xã hội thuộc loại các tác động gián tiếp nhưng muốn
có hiệu lực cần được thể chế hóa bằng các quyết định có tính chất pháp lý Như vậy, giữa các phương pháp không có sự tách rời, càng không có sự đối lập Chúng điều tiết các mối quan
hệ hành chính, tổ chức, tâm lý, kinh tế xã hội
- Các chức năng quản lý giáo dục:
Hoạt động quản lý thường được chuyên môn hóa và được gọi là chức năng quản lý Quản lý giáo dục có một số chức năng cơ bản sau:
+ Kế hoạch hóa
+ Xác định mục tiêu và nhiệm vụ quản lý
+ Thông tin
+ Dự báo
+ Soạn thảo và ra quyết định
+ Công tác ngân sách kinh phí
Một dãy những chức năng quản lý kế tiếp nhau theo thời gian một cách logic tạo thành chu trình quản lý Chu trình này bao gồm các chức năng sau:
+ Soạn thảo và ra quyết định
+ Tổ chức thực hiện quyết định
Trang 11+ Kiểm tra đánh giá việc thực hiện quyết định
+ Tổng kết
Vì vậy, quản lý trường học là một phương pháp khoa học và phức tạp, vừa tinh vi, vừa tế nhị đòi hỏi mỗi người hiệu trưởng và tập thể ban lãnh đạo nhà trường phải hợp đồng chặt chẽ, quán xuyến chung mọi mặt từ chương trình giáo dục về văn hóa, đạo đức đến các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kỹ thuật tổng hợp…”Từ nhận thức những chủ trương đường lối của Đảng, Nhà nước về giáo dục, ban lãnh đạo nhà trường mà chủ yếu là hiệu trưởng sẽ biến thành những biện pháp chỉ đạo khoa học, thực tiễn và đầy sáng tạo để tác động vào từng đối tượng của nhà trường là thầy, cô giáo, cán bộ quản lý, các em học sinh khiến mọi người đều
tự giác thực hiện mọi biện pháp để có kết quả cụ thể bằng sự tiến bộ về mọi mặt giảng dạy
và học tập của nhà trường” [24]
1.2.3 Đào tạo
Đào tạo là một quá trình dạy và học mang tính chuyên biệt nhằm trang bị, rèn luyện cho người học kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo theo yêu cầu nghề nghiệp chuyên môn, chuyên sâu Quá trình đào tạo nhằm trang bị cho con người có khả năng lao động để góp phần vào việc duy trì và phát triển cuộc sống trong cộng đồng xã hội
1.2.4 Quản lý đào tạo
Quản lý đào tạo là một quá trình có mục đích, có kế hoạch vì vậy nó cần được tổ chức và quản lý để đảm bảo cho quá trình đào tạo vận hành đúng mục tiêu đào tạo đã định Quản lý hoạt động đào tạo nghĩa là thông qua các chức năng quản lý mà tác động vào các thành tố của quá trình đào tạo
Quản lý đào tạo có hai chức năng cơ bản sau:
- Duy trì, ổn định quá trình đào tạo nhằm đảm bảo chất lượng, sản phẩm đào tạo đạt được các chuẩn mực đã xác định trước
- Đổi mới, phát triển quá trình đào tạo, đón đầu xu hướng phát triển kinh tế - xã hội Quản lý đào tạo bao gồm các lĩnh vực quản lý: mục tiêu, nội dung chương trình, kế hoạch đào tạo, quy trình tổ chức giảng dạy như: chiêu sinh, tổ chức lớp, thực hiện chương trình giảng dạy, phương pháp giảng dạy, nề nếp dạy - học, tổ chức khóa học và thi kết thúc khóa, đánh giá kết quả học tập, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo, kiểm soát các chuẩn mực
Trang 12đảm bảo chất lượng Chất lượng đào tạo quyết định sự tồn vong của cơ sở đào tạo, vì vậy quản lý đào tạo chính là quản lý chất lượng
Tổ chức đào tạo một cách hợp lý có ảnh hưởng lớn đến năng suất của hoạt động đào tạo Điểm then chốt của việc tổ chức đào tạo là làm sao hoàn thành được mọi nhiệm vụ và đạt được mục tiêu đào tạo đã đề ra Việc tổ chức đào tạo xuất phát từ nhiệm vụ, mục tiêu đào tạo và căn cứ vào đặc điểm tình hình đội ngũ cán bộ, giáo viên và các điều kiện hoạt động của nhà trường Thực chất tổ chức đào tạo một cách khoa học là tìm ra một phương án tối
ưu của hệ thống các hoạt động đào tạo trên cơ sở giải quyết tổng hợp đồng bộ các nhiệm vụ, mục tiêu đào tạo, các vấn đề về xã hội học, tâm lý học, giáo dục học và điều khiển học
1.3 Công tác quản lý giáo dục - đào tạo ở lĩnh vực văn hóa nghệ thuật
Theo nghĩa rộng, giáo dục - đào tạo văn hóa nghệ thuật là quá trình trang bị và nâng cao kiến thức hiểu biết về văn hóa, nghệ thuật, kỹ năng trong hoạt động nghề nghiệp của lĩnh vực văn hóa nghệ thuật … cho tất cả mọi người, được thực hiện ở bất cứ không gian và thời gian nào thích hợp với từng loại đối tượng, bằng các phương tiện dạy học khác nhau, kể cả phương tiện truyền thông đại chúng (như phát thanh, truyền hình, báo chí, tranh ảnh, …) với các kiểu học tập rất đa dạng, linh hoạt, trong đó chủ thể người học đóng vai trò trung tâm; thực hiện theo phương thức đa dạng hóa, năng động, thích ứng với mọi biến đổi; là trách nhiệm của toàn xã hội chứ không phải của riêng ngành văn hóa Giáo dục văn hóa nghệ thuật góp phần hình thành nhân cách con người, hướng con người phát triển đến cái CHÂN – THIỆN - MỸ Giáo dục đào tạo văn hóa nghệ thuật là bộ phận của quá trình tổng thể diễn ra liên tục trong mọi môi trường hoạt động của con người, trong đó môi trường học đường, đào tạo có vai trò rất quan trọng
Theo nghĩa hẹp, giáo dục đào tạo văn hóa nghệ thuật là quá trình hoạt động dạy và học trong trường văn hóa nghệ thuật Tuy cũng là hoạt động dạy và học, nhưng người học của các trường văn hóa nghệ thuật có những đặc thù riêng: họ phải hội đủ những điều kiện cần thiết cho việc tuyển chọn năng khiếu văn hóa nghệ thuật trước khi tiến hành quá trình đào tạo
Quá trình giao lưu và hội nhập với thế giới đã làm cho nền văn hóa Việt Nam ngày càng phát triển phong phú, đa dạng, đồng thời cũng phức tạp hơn Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến việc phát triển văn nghệ thuật nhằm xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
Trang 13đậm đà bản sắc dân tộc Để đạt mục tiêu ấy, các trường văn hóa nghệ thuật phải có trách nhiệm phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ những người vừa có tài, vừa có đức hoạt động trên lĩnh vực này Công tác phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng nhân tài trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật chính là nhiệm vụ chính trị của các trung tâm văn hóa, các trường văn hóa nghệ thuật Từ đó, nhiệm vụ của các trường văn hóa nghệ thuật là:
- Phát hiện, đào tạo và bồi dưỡng những tài năng về văn hóa nghệ thuật, đáp ứng nhanh chóng, kịp thời và có hiệu quả nhu cầu học tập, thưởng thức văn hóa nghệ thuật ngày càng cao của nhân dân
- Đưa các hoạt động đào tạo và bồi dưỡng tài năng về văn hóa nghệ thuật theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhà nước đã đề ra, góp phần làm cho văn hóa nghệ thuật thật sự trở thành nền tảng tinh thần của nhân dân, là động lực, là đòn bẩy kinh tế - xã hội phát triển
Riêng đối với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, nhất là đối với Thành phố Cần Thơ
- một thành phố trẻ nhưng cũng phức tạp về văn hóa, xã hội thì vấn đề này càng có ý nghĩa
to lớn
Công tác quản lý đào tạo ở lĩnh vực văn hóa nghệ thuật đóng vai trò tổ chức, chỉ huy, phối hợp các lực lượng làm công tác giáo dục đào tạo (trong và ngoài ngành văn hóa nghệ thuật) nhằm phát triển nền văn hóa nghệ thuật để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của nhân dân, hướng mọi người đến những giá trị CHÂN – THIỆN – MỸ
1.4 Nội dung quản lý đào tạo
1.4.1 Quản lý mục tiêu đào tạo
Mục tiêu đào tạo là những yêu cầu mà người học phải đạt được về tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo nghề nghiệp sau một quá trình học tập, đào tạo ở nhà trường Vì vậy, việc xác định mục tiêu đào tạo có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả đào tạo Nó giúp cho người dạy xác định việc hướng dẫn cho người học nghiên cứu vấn đề gì, mức độ nào, từ đó lựa chọn phương pháp giảng dạy thích hợp, đánh giá khách quan, đúng đắn kết quả học tập của người học Nó giúp cho người học biết mình phải học gì để có thể làm được những gì sau khi học xong
Việc xác định rõ, chính xác mục tiêu đào tạo là yếu tố quan trọng hàng đầu của công tác quản lý đào tạo trong nhà trường Cơ sở để xác định mục tiêu đào tạo là:
Trang 14- Mục tiêu giáo dục tổng quát được quy định bởi Luật giáo dục Trong luật giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ tư thông qua
có nêu “ Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hinh thành nhân cách và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công
dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc” [11, tr 8]
Nhiệm vụ chính trị xã hội của nhà trường: Trường Văn hóa Nghệ thuật là một thiết chế chính trị xã hội và phải phục vụ cho việc phát triển xã hội Sự phát triển của nhà trường chịu sự quy định của nhà nước, lịch sử, sự phát triển và tiến bộ xã hội Mục tiêu đào tạo có nhiều cấp độ khác nhau:
Mục tiêu đào tạo tổng quát: Là mục tiêu chung nhất do Luật giáo dục quy định
Mục tiêu đào tạo cụ thể của nhà trường dựa trên mục tiêu đào tạo đã được nêu trong Luật giáo dục, mục tiêu đào tạo của trường văn hóa nghệ thuật phải là: Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo về văn hóa nghệ thuật, giàu óc sáng tạo, có ý thức, có khả năng góp phần xây dựng, bảo tồn và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành nhân cách và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Mục tiêu đào tạo của từng khoa: trong trường văn hóa nghệ thuật, mỗi khoa có đặc thù ngành nghề đào tạo riêng, do đó cần phải xây dựng mục tiêu đào tạo cụ thể của khoa để làm
cơ sở cho việc xác định mục tiêu đào tạo cho từng ngành học, môn học
Vấn đề cốt lõi là tất cả các mục tiêu đào tạo cụ thể đều phải phù hợp và phục vụ cho mục tiêu đào tạo tổng quát
1.4.2 Quản lý chương trình đào tạo
Chương trình đào tạo là một trong những tiêu chí đảm bảo chất lượng đào tạo của nhà trường Việc xây dựng và quản lý chương trình đào tạo là nhiệm vụ trọng tâm của cơ sở đào tạo
Chương trình khung đào tạo trung cấp chuyên nghiệp nhóm ngành văn hóa nghệ thuật đã được Bộ Văn hóa Thông tin cũ (nay là Bộ Văn hóa Thể thao & Du lịch) phê duyệt
Trang 15ban hành Chương trình đào tạo không chính qui sẽ được thiết kế trên cơ sở nghiên cứu chương trình chính qui để lập kế họach và nội dung đào tạo phù hợp
Các khóa đào tạo của nhà trường (kể cả đào tạo ngắn hạn) đều phải có chương trình đào tạo, là cơ sở để tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát, đánh giá và quản lý chất lượng đào tạo của nhà trường
Các hoạt động quản lý chương trình đào tạo gồm:
- Tập huấn về chương trình đào tạo
+ Bộ Giáo dục và Đào tạo có kế hoạch tổ chức tập huấn cho cán bộ quản lý đào tạo của các trường về các văn bản pháp qui và chương trình đào tạo mới ban hành Cán bộ Phòng đào tạo có trách nhiệm báo cáo Hiệu trưởng để triển khai các nội dung đã được tập huấn do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức
+ Hiệu trưởng quyết định việc tổ chức tập huấn cho cán bộ quản lý, giáo viên để cụ thể hóa các văn bản pháp qui về tổ chức thực hiện và quản lý chương trình đào tạo cho nhà trường
+ Căn cứ vào chương trình đào tạo, Phòng đào tạo xây dựng kế hoạch đào tạo khóa học, năm học, … để Hiệu trưởng duyệt và báo cáo Hội đồng giáo dục của nhà trường trước khi tiến hành năm học mới
+ Vào đầu năm học Hiệu trưởng giao Phòng đào tạo tổ chức cho học sinh học tập nghiên cứu mục tiêu, nội dung, kế họach đào tạo của khóa học, năm học, học kỳ… Học sinh
sẽ được phổ biến đầy đủ về quy chế đánh giá học tập và rèn luyện, Quy chế quản lý học sinh, Quy chế khen thưởng, kỷ luật, … để chủ động xây dựng kế hoạch phấn đấu cho cá nhân
- Xây dựng kế hoạch đào tạo: cho khóa học, năm học, học kỳ; xây dựng kế hoạch đánh giá và phương pháp đánh giá học sinh; xây dựng kế hoạch bài giảng; kế hoạch triển khai các phương pháp giảng dạy; kế hoạch mua sắm trang thiết bị phục vụ dạy và học; xây dựng kế hoạch biên soạn tài liệu giảng dạy; xây dựng cơ sở thực tập, thực tế; xây dựng kế hoạch công tác giáo viên
- Quản lý nội dung đào tạo: dựa vào chương trình khung do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành và chương trình chi tiết do Bộ VHTT & DL hoặc nhà trường xây dựng, Hiệu
Trang 16trưởng thông qua Phòng đào tạo giao kế hoạch giảng dạy cho các Khoa, Bộ môn, giáo viên
[5]
- Phát triển chương trình đào tạo:
+ Quyết định phần mềm của chương trình đào tạo: Chương trình khung đào tạo qui định 75% -80% là phần cứng, các trường bắt buộc phải thực hiện đầy đủ, 20% -25% được phép mềm để nhà trường lựa chọn nội dung đào tạo mang tính đặc thù của trường [19]
+ Đảm bảo tiến độ thực hiện chương trình: theo dõi và kịp thời điều chỉnh tiến độ thực hiện chương trình là nhiệm vụ của phòng đào tạo Tốt nhất việc điều chỉnh được thực hiện ngay từ cấp bộ môn và thực hiện trong tuần hoặc trong tháng Các giáo viên, Tổ Bộ môn, Phòng đào tạo căn cứ vào tiến độ thực hiện kế hoạch môn học, học kỳ, năm học để theo dõi và điều chỉnh kịp thời
- Đánh giá rút kinh nghiệm cho khóa học sau: Ngoài việc dựa vào kết quả đánh giá quá trình đào tạo như: thi, kiểm tra hết môn, thực tế tốt nghiệp, thi tốt nghiệp để xác định tính phù hợp của chương trình đào tạo; nhà trường còn tiến hành các hoạt động nhằm đánh giá chương trình đào tạo như: năng lực làm việc của học sinh sau khi ra trường; thăm dò ý kiến của chính học sinh; dựa vào các ý kiến nhận xét của người sử dụng và ý kiến của cơ quan chủ quản
- Triển khai đúng chương trình đào tạo và kế hoạch khóa học đã đề ra
- Tuyệt đối thực hiện đúng qui chế đào tạo hiện hành
- Trong bất kỳ tình huống nào, nếu thay đổi chương trình, kế hoạch đào tạo hay áp dụng linh hoạt khác qui chế phải có ý kiến phê duyệt của Ban Giám hiệu
Công tác tổ chức giảng dạy và học tập là hai mặt liên quan mật thiết, được thực hiện theo một thời khóa biểu công bố trước ít nhất một tháng để giảng viên và học viên chuẩn bị
Trang 17Trong một học kỳ, điều tối kỵ là thay đổi thời khóa biểu liên tục – đó là biểu hiện của kế hoạch chưa hợp lý
* Tổ chức dạy:
Đối với giảng dạy, phòng đào tạo cần cung cấp cho giảng viên chương trình chi tiết môn học và yêu cầu từng giảng viên phải thực hiện đúng yêu cầu và mục tiêu môn học ghi trong chương trình chi tiết và phải làm lịch giảng dạy và nộp một bộ chế bản điện tử bài giảng và tài liệu tham khảo photo để cung cấp cho học viên tự nhân bản
Trên cơ sở lịch trình giảng dạy, cán bộ đào tạo, thanh tra … hoàn toàn có thể kiểm soát được tiến trình giảng dạy và đánh giá giữa kỳ của từng giảng viên trong học kỳ
Bài soạn giảng bao gồm các kiến thức cốt lõi của môn học và các câu hỏi bài tập cho người học chuẩn bị trước khi ôn luyện và bài giảng là giải pháp đảm bảo giảng dạy hiệu quả nhất chứ không phải giáo trình
Tài liệu tham khảo không chỉ bao gồm Tiếng Việt, mà nên có các đoạn trích tiếng nước ngoài để người học từng bước làm quen với các thuật ngữ, các ký hiệu, … và tạo thêm hứng thú tra tìm tài liệu qua Internet chuẩn bị cho việc làm tiểu luận môn học hay khóa luận
* Tổ chức học:
Vào đầu của khóa học, nhất thiết phải phổ biến đầy đủ nội qui chế và phương pháp học cho học sinh Cung cấp cho người học chương trình chi tiết môn học để họ chủ động trong học tập, trong việc tìm hiểu tài liệu tham khảo
Định kỳ, sau 1/3, sau 2/3 và sau khi kết thúc môn học, nên tổ chức lấy ý kiến người học về nội dung, phương pháp giảng dạy và hiệu quả học môn học để kịp thời điều chỉnh hay rút kinh nghiệm
* Tổ chức kiểm tra đánh giá:
Căn cứ vào chương trình chi tiết môn học đã ban hành, lịch trình giảng dạy của giáo viên và kế hoạch của học kỳ Người quản lý đào tạo tổ chức và theo dõi các hoạt động kiểm tra giữa và cuối kỳ
Kiểm tra giữa kỳ, hiện qui chế đào tạo chưa qui định thành một thành phần của môn học, nên
có thể giao cho giáo viên chủ động tổ chức, nhưng phải có báo cáo để xét điều kiện dự thi cuối môn học
Trang 181.4.4 Quản lý đội ngũ giáo viên
Đối với trường học – cơ sở đào tạo giáo viên có vai trò rất quan trọng, là lực lượng quyết định chất lượng đào tạo Một trường học phải có một lực lượng giáo viên đủ về số lượng, đạt chuẩn về chất lượng, có cơ cấu đồng bộ mới có điều kiện nâng cao hiệu quả đào tạo
Quản lý giáo viên là khâu quan trọng trong quản lý công tác quản lý đào tạo, nhằm huy động tối đa lực lượng giáo viên vào việc thực hiện mục tiêu, nội dung, kế hoạch đào tạo, thực hiện các qui chế, chế độ giảng dạy nâng cao chất lượng đào tạo trong nhà trường
Do đặc thù của ngành văn hóa nghệ thuật, các cơ sở thực hành (sàn múa, phòng mỹ thuật, phòng luyện thanh,…) của học sinh có mối quan hệ chặt chẽ với công tác phát triển đội ngũ giáo viên nghệ thuật Đội ngũ giáo viên dạy nghệ thuật rất hiếm (tính đến năm 2009
cả khu vực đồng bằng sông Cửu Long chỉ có 02 Thạc sĩ Âm nhạc, …).Vì thế, rất cần chế độ đãi ngộ của các cơ quan có chức năng Bên cạnh đó, việc đào tạo đội ngũ giáo viên tạo nguồn cho lĩnh vực này đòi hỏi lãnh đạo phải rất tâm huyết với ngành Thêm vào đó, việc quản lý đội ngũ “nghệ sĩ”, “họa sĩ” rất “khó” bởi họ là những người rất thoáng, rất “phóng khoáng” – họ rất ít theo “nguyên tắc” nào do đặc thù nghề nghiệp của họ
Vì vậy, quản lý đội ngũ giáo viên là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của công tác quản lý đào tạo, bởi hoạt động dạy của giáo viên là một trong hai hoạt động chủ yếu của quá trình đào tạo Công tác quản lý hoạt động dạy của giáo viên bao gồm:
- Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch giảng dạy, chương trình môn học, đổi mới phương pháp, phương tiện giảng dạy
- Đánh giá năng lực giảng dạy của giáo viên trên hai mặt kiến thức và kỹ năng giảng dạy
- Có kế hoạch bồi dưỡng giáo viên
- Có kế hoạch xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên về số lượng lẫn chất lượng 1.4.5 Quản lý tuyển sinh
Công tác tuyển sinh trong trường Trung cấp chuyên nghiệp là khâu cơ bản đầu tiên của quá trình đào tạo Cụ thể, từ việc đăng ký chỉ tiêu tuyển sinh; thành lập Hội đồng tuyển sinh; hoạt động thanh tra; nhận hồ sơ đăng ký dự thi; lệ phí đăng ký dự thi và chuyển; nhận
Trang 19giấy báo thi; môn thi- thời gian thi; chuẩn bị địa điểm thi; tập huấn về qui chế tuyển sinh cho các thành viên Hội đồng và các Ban; tổ chức làm đề thi (nội dung đề thi, quy trình ra đề thi, quy trình bảo mật đề thi) đến công tác tổ chức kỳ thi; công tác chấm thi; chấm phúc khảo; xác định điểm tuyển chọn, báo điểm cho thí sinh và triệu tập thí sinh đến trường; và cuối cùng là chế độ báo cáo và lưu trữ mục đích cuối cùng nhằm:
- Lựa chọn được học viên có đầy đủ năng khiếu, yêu cầu nghề nghiệp và thật sự hứng thú với nghề nghiệp đã chọn
- Phải công khai rộng rãi đối tượng tuyển sinh, tiêu chuẩn tuyển sinh, nội dung chương trình, kế hoạch học tập để người học chọn ngành học phù hợp với khả năng bản thân
và yêu cầu công việc
- Phải công khai, công bằng trong tuyển sinh
- Đảm bảo khách quan, chính xác trong tuyển sinh
1.4.6 Hoạch định trong quản lý đào tạo
Hoạch định là chức năng đầu tiên của quá trình quản lý có vai trò quan trọng nhằm xác định phương hướng hoạt động và phát triển của tổ chức, xác định sản phẩm trong tương lai (khi sinh viên ra trường)
Hoạch định là một quá trình bao gồm các bước: dự báo, xác định mục tiêu, xây dựng
kế hoạch thực hiện mục tiêu Dự báo là công việc đầu tiên của của chức năng hoạch định, có nhiệm vụ tìm ra hướng phát triển của nhà trường trên cơ sở nắm vững đường lối phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo nói chung, giáo dục – đào tạo văn hóa nghệ thuật nói riêng của Đảng và Nhà nước
Theo tinh thần thông tư Liên tịch số 28/TTLT-VHTT-TDTT-TCCP ngày 13/01/1998 giữa Bộ VHTT, Ủy ban TDTT và Ban tổ chức cán bộ Chính phủ về cơ cấu tổ chức cán bộ hoạt động của ngành VHTT từ cấp tỉnh, thành phố đến cơ sở bao gồm đội ngũ cán bộ cụ thể như sau:
Hiện nay Thành phố Cần Thơ có 33 xã, phường và 4 thị trấn Theo quy định của Chính phủ - mỗi đơn vị có từ 1 – 2 cán bộ Dưới xã, phường, thị trấn là ấp khu vực, khu phố đều có Ban vận động xây dựng nếp sống văn hóa
Trang 20Mạng lưới hoạt động văn hóa thông tin ở cơ sở của thành phố Cần Thơ vô cùng phong phú và đa dạng Hệ thống Nhà văn hóa, Thuyền văn hóa, Xe văn hóa, Thông tin lưu động
“Sân khấu hóa” Đưa văn hóa thông tin về vùng sâu, vùng xa Phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, với khu văn hóa gia đình, khu văn hóa trong khuôn viên nhà thờ, nhà chùa Kh’mer, nhà thông tin ấp, xã, tổ văn hóa thông tin ấp – xã văn hóa Kết hợp với hệ thống bưu điện văn hóa, phòng đọc sách văn hóa xã và sinh hoạt các câu lạc bộ: hát với nhau, câu lạc bộ đờn ca tài tử, phong trào xã hội hóa các hoạt động văn hóa Đội ngũ cán
bộ cấp cơ sở và những người tham gia các phong trào văn hóa văn nghệ quần chúng, thông tin cổ động ở cơ sở rất cần được nâng cấp trình độ để đáp ứng cho việc duy trì phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động cho các phong trào
Với cơ cấu tổ chức và yêu cầu quản lý hoạt động VHTT trong cơ chế thị trường như hiện nay thì không những chỉ tăng về số lượng, mà còn phải nâng cao chất lượng của cán bộ hoạt động trong lĩnh vực này
Nếu tính trung bình cấp thành phố cần 500 cán bộ; mỗi quận, huyện, thị xã cần 30 cán bộ; mỗi xã, phường, thị trấn cần ít nhất từ 1 đến 2 cán bộ chuyên trách, chưa kể cấp ấp, khóm, khu vực thì Cần Thơ phải có:
- 500 cán bộ văn hóa cấp thành phố;
- 250 cán bộ văn hóa cấp quận, huyện;
- 150 cán bộ văn hóa cấp phường, xã, thị trấn
Theo Quyết định 271/2005/QĐ/TTg ngày 31/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ về
“Quy hoạch phát triển hệ thống thiết chế VHTT cơ sở đến năm 2010” cán bộ văn hóa cấp tỉnh: 90% có trình độ Đại học, cấp huyện: 70%, cấp xã, phường: 30% Số còn lại phải đạt trình độ trung cấp về chuyên môn nghiệp vụ - thì đội ngũ cán bộ VHTT của Thành phố Cần Thơ cần được đào tạo và đào tạo lại là rất lớn (khoảng 80%) mới đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới Tính toàn khu vực 12 tỉnh thành có gần 11.000 cán
bộ văn hóa thông tin cần phải được đào tạo lại
Theo tác giả Hoàng Lê Minh “ Hoạch định là một quá trình ấn định những mục tiêu
và định biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó” Vậy, thực chất của hoạch định là xác định mục tiêu và cách thức để đạt mục tiêu Trong đào tạo Trung cấp chuyên nghiệp vấn đề xác định mục tiêu quản lý bao gồm:
Trang 21+ Phân tích và mô tả thực trạng để xác định ngành nghề cần đào tạo
+ Dựa vào đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất của trường mà xác định quy mô tuyển sinh
+ Không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo
+ Phát triển đội ngũ cán bộ và giáo viên
+ Xây dựng cơ sở vật chất phục vụ đào tạo
Sau khi đã xác định mục tiêu, các nhà quản lý phải tìm được biện pháp khả thi nhất
để thực hiện những mục tiêu đề ra
1.4.7 Tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo
Tổ chức là chức năng chung của quản lý, liên quan đến các hoạt động thành lập các
bộ phận để đảm nhận những hoạt động cần thiết của đào tạo Mỗi người có nhiệm vụ, quyền hạn trách nhiệm của riêng bộ phận mình quản lý
Tổ chức nói chung là quá trình sắp xếp, phân công công việc cho các bộ phận nhỏ nhằm hoàn thành mục tiêu mà tổ chức đã đề ra
Trong đào tạo trung cấp chuyên nghiệp, chức năng tổ chức thể hiện ở việc sắp xếp,
bố trí kế hoạch giảng dạy, phân công giảng viên tổ chức các hoạt động kiểm tra, thi, công nhận tốt nghiệp; tổ chức đảm bảo cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy
Công tác tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo cần có chuyên viên theo dõi riêng từng
hệ chính quy và phi chính quy Các chuyên viên này là người lập kế hoạch và theo dõi triển khai kế hoạch đào tạo của các hệ tương ứng Căn cứ vào kế hoạch, các chuyên viên phải lập
kế hoạch công tác hàng tháng để theo dõi, thường xuyên đôn đốc và báo cáo lãnh đạo về tình hình triển khai các chương trình, khóa đào tạo ở các đơn vị trực thuộc (Khoa, Bộ môn, …)
và liên hệ đối ngoại đối với các chương trình liên kết đào tạo
Định kỳ phải kiểm tra tiến độ thực hiện kế hoạch đào tạo, nếu phát hiện sai sót, chậm tiến độ cần đề xuất các giải pháp và báo cáo Ban giám hiệu duyệt phương án điều chỉnh, bổ sung hay sửa chữa Tuyệt đối không tự tiện giải quyết khi chưa có phê duyệt
1.4.8 Chức năng điều khiển
Trang 22Chỉ đạo là điều khiển, điều hành các bộ phận trong tổ chức thực hiện tốt các nhiệm
vụ đã được phân công Sau khi hoạch định, lập kế hoạch, cán bộ qaủn lý phải điều hành hoạt động của hệ thống để đạt mục tiêu đã đề ra Đây là quá trình sử dụng quyền lực quản lý để tác động đến các đối tượng quản lý nhằm đạt mục đích mà hệ thống đã đề ra
Nhà quản lý là người điều khiển hệ thống, phải có khả năng ra quyết định và điều khiển việc thực hiện quyết định Vì thế, nhà quản lý phải có đủ các phẩm chất và năng lực, đặc biệt là năng lực chuyên môn và năng lực quản lý
Ra quyết định là công cụ chính để điều khiển hệ thống, là quá trình xác định vấn đề
và lựa chọn phương án hành động tối ưu nhất trong các phương án
Trong quản lý đào tạo trung cấp chuyên nghiệp phải ra các quyết định về mở mã ngành đào tạo, tuyển sinh, quyết định về tổ chức quá trình giảng dạy, phân công giáo viên, thi tổ chức hết học phần, xét công nhận lên lớp, công nhận tốt nghiệp
Để quyết định mang tính khả thi và hiệu quả, nhà quản lý trước khi ra quyết định cần tính toán, cân nhắc các điều kiện về nhân lực, vật lực, thời gian, … để đảm bảo thực hiện quyết định
Theo tác giả, đối với đào tạo trung cấp chuyên nghiệp chuyên ngành đặc thù nghệ thuật, vấn đề quyết định chọn mã ngành, chọn môn học thích hợp trong phần mềm chương trình rất quan trọng Nhà quản lý phải mạnh dạn quyết định dựa trên cơ sở thực tiễn, đón đầu
xu hướng, đặc thù ngành đề nghị bổ sung, điều chỉnh chương trình một cách thích hợp Ví
dụ, ngành đào tạo Trung cấp Thanh nhạc – đào tạo trở thành “ca sĩ” theo chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo không có phân môn Kỹ thuật biểu diễn, theo tác giả mạnh dạn
đề nghị bổ sung phân môn này vào chương trình khung ngành Thanh nhạc
1.4.9 Chức năng kiểm tra
Kiểm tra là khâu then chốt không thể thiếu trong quản lý đào tạo, là khâu kết thúc của một chu trình quản lý nó có chức năng đánh giá và thẩm định chất lượng đào tạo Việc kiểm tra nhằm mục đích:
- Thu thập thông tin kịp thời các mối liên hệ ngược về các hoạt động học tập của người học, phát hiện kịp thời những thiếu sót của người dạy và người học để điều chỉnh và hoàn thiện quá trình đào tạo
Trang 23Kiểm tra – đánh giá có ảnh hưởng hai mặt, nó có thể cản trở cho sự phát triển giáo dục nếu kiểm tra đánh giá chệch với mục tiêu đào tạo và sử dụng những loại hình không phù hợp với mục đích kiểm tra Vì vậy, để thực hiện tốt quy trình đào tạo, nhà trường cần chú ý việc kiểm tra – đánh giá tri thức, kỹ năng kỹ xão trong quá trình đào tạo để qua đó có thể đánh giá chất lượng gảing dạy của nhà trường
Nói chung, theo tác giả đánh giá có thể dẫn đến hai loại quyết định
Loại quyết định thứ nhất liên quan đến lợi ích tổng thể của kế hoạch thì các quyết định có thể là:
- Kế hoạch có thành công hay không
- Kế hoạch có giá trị để thực hiện hay không
- Kế hoạch này có nên áp dụng lại ở các thời điểm và hoàn cảnh khác hay không Đánh giá được thiết kế để dẫn đến loại quyết định này được gọi là đánh giá tổng kết
Nó thường diễn ra vào cuối kế hoạch
Loại quyết định thứ hai liên quan đến thay đổi việc thực hiện kế hoạch như thế nào Các quyết định có thể về:
- Các mục tiêu kế hoạch đề ra có cần thay đổi hay không, các phương pháp làm việc hoặc các hoạt động thực hiện kế hoạch có cần thay đổi hay không
- Có cần thêm thời gian hoặc nguồn lực để đạt được các mục tiêu đề ra hay không Đánh giá được thiết kế để dẫn tới các quyết định này được gọi là đánh giá tác nghiệp Đôi khi đánh giá tác nghiệp được thực hiện vào cuối kỳ kế hoạch, từ đó có thể hướng dẫn thực hiện các kế hoạch tương tự được triển khai ở những nơi khác Thông thường đánh giá tác nghiệp được tiến hành trong quá trình thực hiện kế hoạch, từ đó có thể thực hiện việc điều chỉnh việc thực hiện kế hoạch đó
Cả hai loại đánh giá trên nên được thiết kế từ khi bắt đầu thực hiện kế hoạch hoặc công việc Điều này sẽ giúp cho việc thu thập các thông tin phù hợp trong quá trình thực hiện
kế hoạch
Đánh giá là một phần rất quan trọng của chu trình quản lý Nó là công cụ cơ bản để đưa ra quyết định liên quan đến chất lượng công việc được làm và làm thế nào để nâng cao chất lượng đó
Trang 24Riêng trong hoạt động quản lý giáo dục – đào tạo văn hóa nghệ thuật chúng ta thường phải kiểm tra đánh giá bản chất của không phải chỉ là một người mà là rất nhiều người: học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý … Các nhà khoa học sau khi nghiên cứu đã đưa ra mô hình kiểm tra – đánh giá là một hệ thống công việc mà đối tượng được kiểm tra – đánh giá cần phải thực hiện theo thứ tự, có cấp độ nâng dần từ thấp đến cao, từ dễ dàng đến khó khăn, phức tạp nhằm xác định khả năng có sẵn, khả năng tiềm ẩn, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của đối tượng được đánh giá thông qua khả năng của họ trong thực hiện các yêu cầu như thế nào Nhờ mô hình này người ta có thể xác định được các chỉ số thông minh, hoặc chỉ số về thái độ…
Nguyên tắc quản lý cơ sở vật chất trường học:
- Cơ sở vật chất kỹ thuật dùng cho đào tạo phải được trang bị đầy đủ và đồng bộ
- Bố trí hợp lý các yếu tố của cơ sở vật chất để quá trình đào tạo tiến hành thuận lợi, bao gồm: phòng học, phòng thực hành, thư viện, …
- Sừ dụng có tính toán để nâng cao hiệu suất các phương tiện kỹ thuật cho đào tạo
- Bảo đảm vệ sinh, an toàn và thẩm mỹ cho môi trường đào tạo
- Tổ chức tốt việc bảo trì máy móc thiết bị
Quản lý cơ sở vật chất ở trường trung cấp chuyên nghiệp thường được hiểu gồm hai nội dung chính là: Có các loại sổ nhật ký và ghi chép đầy đủ về việc sử dụng thiết bị, máy móc và thực hiện nghiêm túc việc kiểm kê 6 tháng hoặc 1 năm Xem xét việc sử dụng và khai thác có hiệu quả hay không các trang thiết bị đã có và các quy định về thanh, xử lý hàng hóa hỏng hóc không sử dụng
Trang 25Quản lý việc mua sắm phải theo các hướng dẫn của các văn bản quy chế hiện hành Tuy nhiên, việc quản lý trang thiết bị cần thiết phải đầu tư để xây dựng môi trường sư phạm khang trang
Qua thực tiễn của nhiều trường trong những năm qua, việc tổ chức quy hoạch tổng thể để xây dựng “trường cho ra trường” là việc làm quan trọng
Đặc biệt, trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật đặc thù bên cạnh việc đầu tư phòng học, thư viện, phòng máy tính, … Việc đầu tư trang thiết bị cũng rất đặc biệt Chẳng hạn như, do đặc thù một thầy một trò cho ngành đào tạo Piano – phải trang bị đàn, phòng cách âm cho ngành đào tạo Thanh nhạc hoặc ngành Diễn viên Múa, phải có trang phục múa, giày múa, sàn tập, phòng tập trang bị kiếng … hay ngành Mỹ thuật phải trang bị phòng vẽ đủ ánh sáng,
…“xưởng thực tập” cho học sinh ngành điêu khắc, …
Trang 26KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Quản lý đào tạo là công tác cực nhọc, đòi hỏi chính xác, tận tụy Ban giám hiệu ở bất
cứ cơ sở đào tạo nào muốn công việc tiến triển, không mắc sai phạm, từng bước phát triển về qui mô và chất lượng, đặc biệt quan tâm đến công tác quản lý đào tạo Thực ra, đó chỉ là sự công bằng và dân chủ mà thôi Nếu không, sai phạm sẽ diễn ra; không có người tận tụy, không có người cẩn thận, tháo vát tham gia công tác quản lý đào tạo bên cạnh phân trách nhiệm rõ ràng là cung cấp đầy đủ, chất lượng và hiệu quả đến mức tối đa điều kiện bảo quản kết quả đào tạo (tủ, khóa, phòng hỏa, thiết bị sao CD để định kỳ sao chép lưu trữ đề phòng mất dữ liệu,…) Chỉ như vậy, việc phân trách nhiệm và quy trách nhiệm mới có giá trị và hiệu quả
Trang 27CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG TRUNG CẤP
VĂN HÓA NGHỆ THUẬT CẦN THƠ 2.1 Sơ lược về Trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Cần Thơ
2.1.1 Lịch sử hình thành
Trường Trung cấp Văn hóa nghệ thuật Thành phố Cần Thơ được thành lập theo Quyết định số: 1473/QĐ-UBT.95 ngày 10 tháng 7 năm 1995 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Cần Thơ, Trường có nhiệm vụ:
- Đào tạo tập trung và tại chức bậc trung cấp gồm các ngành thuộc lĩnh vực: Văn hóa nghệ thuật và văn hóa thông tin
- Bồi dưỡng và đào tạo lại chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ nghiệp vụ ngành của Thành phố
- Liên kết với các trường đại học đào tạo bậc đại học tại chức cho cán bộ ngành văn hóa thông tin và đội ngũ giáo viên dạy Âm nhạc, Mỹ thuật cho các trường Tiểu học, Trung học phổ thông của Thành phố Cần Thơ
Từ ngày thành lập đến nay, Trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Cần Thơ luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị và kế hoạch được giao, đáp ứng được nhu cầu đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài trong lĩnh vực Văn hóa Nghệ thuật phù hợp với từng giai đoạn phát triển của địa phương, góp phần quan trọng vào thành tích chung của ngành Văn hóa , Thể thao và Du lịch Cần Thơ trong nhiều năm qua
Qua 14 năm xây dựng và phát triển, trường đã đào tạo 4650 học sinh, sinh viên Trong đó:
- Bậc Đại học không chính qui, Trường phối hợp với các trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Đại học Mỹ thuật và Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Sân khấu – Điện ảnh
Hà Nội, Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, Cao đẳng Trang trí Mỹ thuật Đồng Nai,
….đào tạo 652 học viên các ngành: Quản lý văn hóa, Văn hóa Du lịch, Thư viện Thông tin, Bảo tồn - Bảo tàng, Mỹ thuật, Lý luận Âm nhạc, Sáng tác âm nhạc, Sư phạm âm nhạc, Sư phạm Mỹ thuật, Đạo diễn Sân khấu, Đạo diễn Điện ảnh truyền hình, Quay phim Điện ảnh truyền hình, Thiết kế Đồ họa, …
Trang 28- Bậc trung cấp chính quy và không chính quy có 1.824 học sinh chuyên ngành nghệ thuật: Piano, Organ, Guitar, Nhạc cụ Dân tộc, Thanh nhạc, Sáng tác âm nhạc, Hội họa, Điêu khắc, Múa, Nhạc công cải lương, Diễn viên Sân khấu Kịch, Cải lương, Sư phạm âm nhạc, Sư phạm Mỹ thuật và các ngành thuộc lĩnh vực Văn hóa Thông tin: Quản lý Văn hóa Nghệ thuật, Văn hóa Du lịch, Thư viện, Bảo tàng, Nhiếp ảnh, …
- Đào tạo và bồi dưỡng 1676 học viên Quản lý Văn hóa và Sơ cấp Nghệ thuật (trong đó
có Nhạc cụ Ngũ âm của đồng bào Kh’mer) Ngoài ra, Trường còn mở nhiều lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ Văn hóa Thông tin cơ sở
90% số học sinh do Trường đào tạo đã đáp ứng tốt nhu cầu xây dựng đời sống văn hóa
ở cơ sở và các hoạt động văn hóa nghệ thuật ở địa phương
Riêng ngành Sư phạm Âm nhạc, Sư phạm Mỹ thuật – 100% giáo sinh ra trường đều được xã hội trân trọng đón nhận
Trong số học viên được đào tạo tại trường đến nay đã có tám cán bộ đương chức Giám đốc, Phó giám đốc Sở và Phó Bí thư, Chủ tịch, Ủy viên Thường vụ cấp Quận – Huyện Ba mươi hai người đương chức Giám đốc, Phó Giám đốc Trung tâm văn hóa, Trưởng Phó phòng các đơn vị trực thuộc Sở và cấp Quận – Huyện Nhiều cán bộ khác được quy hoạch ở các vị trí lãnh đạo chủ chốt của Thành phố Cần Thơ và đương chức ở nhiều tỉnh bạn trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long
Với những thành tich đạt được nêu trên, từ ngày thành lập đến nay, hằng năm trường đều được tặng Bằng khen của Ủy ban Nhân Thành phố Cần Thơ Năm 1997 trường được tặng bằng khen của Thủ tướng Chính phủ Năm 2004, 2006 nhận bằng khen của Bộ Văn hóa Thông tin
Đến nay, đã có mười sáu giáo viên được tặng thưởng huy chương “Vì sự nghiệp văn hóa quần chúng”; huy chương “ Vì sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa dân tộc” và một danh hiệu “Nghệ sĩ ưu tú” được phong tặng năm 2001
2.1.2 Tổ chức bộ máy và nhân sự
- Ban Giám hiệu hiện có một Hiệu trưởng và hai Phó Hiệu trưởng
- Hai phòng chức năng: phòng Đào tạo và phòng Hành chánh tổ chức
- Ba khoa: Âm nhạc và Múa; Mỹ thuật; Sân khấu
Trang 29- Hai Bộ môn: Văn hóa phổ thông; Nghiệp vụ Văn hóa Thông tin
Cơ cấu theo chuyên ngành số giáo viên của trường:
- Giáo viên hợp đồng dài hạn: 32 người
- Ngoài ra, trường còn thỉnh giảng 126 giảng viên gồm: Tiến sĩ, Thạc sỹ, Nghệ sỹ nhân dân, Nghệ sỹ ưu tú và Đại học chuyên ngành tại Thành phố Cần Thơ và Thành phố Hồ Chí
Minh, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long
- Tổ chức Đảng và đoàn thể:
+ Chi bộ: hiện có 19 đảngviên
+ Tổ chức Công đoàn: 51 công đoàn viên, và gần 300 đoàn viên thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
2.1.3 Chức năng và nhiệm vụ
Trường TC.VHNT Cần Thơ nằm trong hệ thống các trường Trung cấp chuyên nghiệp
cả nước; hoạt động theo Điều lệ của trường Trung cấp chuyên nghiệp; trực thuộc Bộ VH,TT
& DL; chịu sự quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo của Sở GD & ĐT; chịu sự quản lý trực tiếp của Sở VH,TT & DL Thành phố Cần Thơ – có tư cách pháp nhân, có tài khoản, con dấu riêng
Chức năng:
Đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài trong lĩnh vực Văn hóa Nghệ thuật và đào tạo cán bộ quản lý – hoạt động nghiệp vụ ngành Văn hóa Thông tin
Trang 30Trường liên kết với các trương đại học và nhạc viện để nâng cao trình độ cho các văn nghệ sỹ, cán bộ văn hóa, nghệ thuật, thông tin của Thành phố Cần Thơ và các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long
Nghiên cứu và ứng dụng khoa học theo đặc trưng của các loại hình Văn hóa Nghệ thuật để góp phần phát triển sự nghiệp Văn hóa Nghệ thuật và Bảo tồn di sản văn hóa địa phương, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở; đồng thời đào tạo giáo viên Âm nhạc và Mỹ thuật cho ngành giáo dục và đào tạo
Tham gia các hoạt động dịch vụ trong lĩnh vực Văn hóa Nghệ thuật đáp ứng nhu cầu của xã hội, nhằm tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên vừa học vừa thực hành
Nhiệm vụ:
- Tổ chức tuyển sinh, thi tuyển, xét trúng tuyển theo quy chế của nhà nước bậc Trung cấp cho các ngành đào tạo trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật – văn hóa thông tin
- Tổ chức giảng dạy, học tập đúng theo chương trình khung đã được nhà nước quy định
ở các bậc học và các hoạt động giáo dục khác trong trường theo mục tiêu chương trình giáo dục quốc gia
- Tổ chức và quản lý học sinh, sinh viên đúng quy chế, tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên tham gia các hoạt động văn thể mỹ và tham gia các hoạt động xã hội theo phong trào ở địa phương nơi cư trú
- Quản lý giáo viên và công chức theo quy chế dân chủ đúng quy định của pháp luật
- Phối hợp gia đình – nhà trường – xã hội cùng tham gia hoạt động giáo dục và phát triển nhân cách cho người học, tham gia giải quyết những vấn đề văn hóa xã hội của địa phương, thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
2.2 Thực trạng đào tạo của trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Cần Thơ
Đề tài sử dụng kiểm nghiệm F và kiểm nghiệm chi phương
- Khi kiểm nghiệm F được dùng và 2 cột trị số F và P có trong bảng Nếu P < 0,05 thì kiểm nghiệm F có sự khác biệt ý nghĩa thống kê giữa các tham số của khách thể nghiên cứu
về cách đánh giá một ý kiến đó; nếu P > 0,05 thì kiểm nghiệm F không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê giữa các tham số của khách thể nghiên cứu về cách đánh giá một ý kiến đó
Trang 31- Khi kiểm nghiệm X2 được dùng và 2 cột trị số X2 và P có trong bảng Nếu P < 0,05 thì kiểm nghiệm chi bình phương có sự khác biệt ý nghĩa thống kê giữa các tham số của khách thể nghiên cứu về cách đánh giá một ý kiến đó; nếu P > 0,05 thì kiểm nghiệm chi bình phương không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê giữa các tham số của khách thể nghiên cứu
về cách đánh giá một ý kiến đó
Một số từ viết tắt trong các bảng:
- ĐLTC: độ lệch tiêu chuẩn
- TB: trung bình cộng
- N: số khách thể tham gia nghiên cứu
Để việc trình bày rõ ràng hơn, tác giả gộp các đánh giá của giáo viên và học sinh vào và nêu lên sự khác biệt của đánh giá
2.2.1 Mục tiêu
Mục tiêu chung của trường:
- Đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; phát huy đầy đủ tính xã hội hóa giáo dục để thực hiện công bằng xã hội; đảm bảo chất lượng và hiệu quả đào tạo nhằm
mở rộng khả năng hội nhập của trường vào nền giáo dục Việt Nam, của khu vực và quốc tế
- Đào tạo đội ngũ cán bộ văn hóa nghệ thuật có kiến thức, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức trong sáng, có ý thức phục vụ nhân dân, trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, có năng lực tư duy sáng tạo, năng lực chuyên môn và thực hành, năng lực cạnh tranh, thích ứng tốt với phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và trong thời kỳ hội nhập quốc tế Thực hiện tốt việc nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa nghệ thuật trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, góp phần giữ gìn và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong giai đoạn mới
Mục tiêu đào tạo:
- Trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Cần Thơ đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng cán
bộ VHNT ở bậc Trung cấp Liên kết với các trường Đại học, tổ chức và quản lý các lớp Đại học Liên kết với các tổ chức trong nước đào tạo bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ văn hóa nghệ thuật
Trang 32- Cán bộ ra trường phải có kiến thức và kỹ năng chuyên ngành vững vàng, giải quyết tốt những vấn đề chuyên ngành đào tạo Có tri thức đạo đức, có khả năng tự học, vươn lên đáp ứng tốt những yêu cầu do thời đại đặt ra Cần mẫn trong công việc, hòa nhã với quần chúng nhân dân, có tư cách phẩm chất đạo đức, thể hiện được lối sống, nếp sống văn minh của người cán bộ văn hóa nghệ thuật chân chính
Căn cứ vào đặc điểm này, tác giả đã khảo sát mục tiêu đào tạo:
Bảng 2.1 Đánh giá mục tiêu đào tạo
Mục tiêu đào tạo
- Kiểm tra đánh giá kết
quả học tập của học sinh
có phù hợp với mục tiêu
đào tạo
2,62 0,68 1 2,51 0,83 3 1,07 0,30
Qua kết quả của bảng 2.1 cho thấy:
GV và HS cùng đánh giá nội dung trên là khá tốt, và sắp xếp các thứ bậc như sau: mức độ phù hợp của mục tiêu đào tạo (GV xếp thứ bậc 2, HS xếp thứ bậc 1), kết quả thực hiện mục tiêu đào tạo (GV xếp thứ bậc 3, học sinh xếp thứ bậc 1), kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh có phù hợp với mục tiêu đào tạo (GV xếp thứ bậc 1, HS xếp thứ bậc 3)
Ý kiến đánh giá của giáo viên và học sinh về mục tiêu đào tạo không có sự khác biệt ý nghĩa về mặt thống kê ( F và P >0,05) Điều này cho thấy, trường đã xác định đúng hướng sự phù hợp của mục tiêu đào tạo so với nhu cầu thực tế, kết quả thực hiện mục tiêu đào tạo, việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh phù hợp với mục tiêu đào tạo của từng ngành học Đây là việc quan trọng trong quản lý đào tạo
Trang 332.2.2 Chương trình
Chương trình dạy học là văn bản mang tính pháp lệnh của nhà nước do Bộ GD&ĐT ban hành qui định nội dung, thời gian, số tiết cho từng môn học Quản lý chương trình dạy học theo qui định của Bộ GD & ĐT Hoạt động DH phải thực hiện theo đúng yêu cầu tiến độ chương trình Trong quá trình QL, việc thực hiện chương trình dạy học, cần huy động các thành viên trong bộ máy QL nhà trường như Khoa, BM, tổ trưởng chuyên môn, phân công theo dõi nắm tình hình thực hiện chương trình hàng tuần, tháng thông qua kiểm tra phiếu báo giảng, sổ đầu bài, dự giờ, thời khóa biểu Điều quan trọng là phải tiến hành phân tích các thông tin thu được, để có thể đánh giá được việc thực hiện chương trình sau mỗi lần tổng hợp theo dõi định kỳ hàng tuần, tháng Từ đó để đưa ra những biện pháp QL phù hợp, giúp
GV thực hiện đúng, đủ chương trình
Kết quả khảo sát về chương trình đào tạo:
Bảng 2.2 Đánh giá về chương trình đào tạo
Chương trình đào tạo
- Chương trình đào tạo có hợp
lý so với nhu cầu thực tế
2,23 0,75 3 2,47 0,79 2 5,29 0,02
- Việc thực hiện chương trình
đào tạo có nghiêm túc và hợp
lý
2,31 0,75 2 2,45 0,84 3 1,42 0,23
Theo bảng 2.2:
Về chương trình đào tạo việc đánh giá của giáo viên và học sinh có sự khác biệt ý nghĩa
về mặt thống kê về chương trình đào tạo có hợp lý so với nhu cầu thực tế thì học sinh đánh giá cao hơn giáo viên (căn cứ vào F: 5,29,42 & P: 0,02) Hai mặt còn lại của mục này: tính hợp lý giữa chương trình đào tạo và mục tiêu đào tạo và việc thực hiện chương trình đào tạo
có nghiêm túc và hợp lý được giáo viên và học sinh đánh giá không có sự khác biệt ý nghĩa
về mặt thống kê (căn cứ vào F và P >0,05) và sắp xếp các thứ bậc như sau: tính hợp lý giữa
Trang 34chương trình đào tạo và mục tiêu đào tạo GV và HS xếp cùng thứ bậc (thứ bậc 1), việc thực hiện chương trình đào tạo có nghiêm túc và hợp lý (GV xếp thứ bậc 2, HS xếp thứ bậc 3) Kết quả ở bảng 2.2 đã phản ánh đúng thực tế, giáo viên luôn cho rằng việc xác định đúng mục tiêu đào tạo, thực hiện tốt mục tiêu đào tạo, kiểm tra việc thực hiện mục tiêu đào tạo là cơ sở cho việc tiếp theo là thực hiện và đánh giá chương trình đào tạo từ đó nâng cao chất lượng đào tạo
Kết quả khảo sát về nội dung chương trình đào tạo:
Bảng 2 3 Ý kiến về chương trình đào tạo ở trường
Qua kết quả của bảng 2.3 cho thấy:
Giáo viên và học sinh đánh giá tốt về chương trình đào tạo của trường và xếp thứ bậc giống nhau cả ba nội dung: nặng lý thuyết, nhẹ thực hành (cả giáo viên và học sinh cùng xếp thứ bậc 1); nặng thực hành, nhẹ lý thuyết (cả giáo viên và học sinh cùng xếp thứ bậc 3); tương tự với nội dung cân đối giữa lý thuyết và thực hành (giáo viên và học sinh xếp cùng thứ hạng 2) Hay nói cách khác, không có sự khác biệt về ý nghĩa thống kê về ba nội dung vừa nêu Điều này có nghĩa là cả giáo viên và học sinh đều đồng quan điểm chương trình đào tạo còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành
Sau đây là kết quả khảo sát về nội dung chương trình:
Trang 35Nội dung cần cải tiến
Giáo viên Học sinh X2
Nội dung về thực hành 16 23,2 3 61 19.6 3 10,27 0,258
Nội dung thực tập, thực tế 55 79,7 1 193 62.1 1 0,001 0,972
Qua kết quả của bảng 2 4 cho thấy:
Ý kiến giáo viên và học sinh về cải tiến nội dung chương trình được sắp xếp thống nhất với nhau về thứ bậc từ thấp đến cao như sau: nội dung thực tập, thực tế (đồng xếp thứ bậc 1); nội dung về lý thuyết (đồng xếp thứ bậc 2); nội dung về thực hành (đồng xếp thứ bậc 3) Không có sự khác biệt về mặt ý nghĩa thống kê (căn cứ vào F và có P>0,05)
Như vậy, có thể nói nội dung cần cải tiến về thực tập, thực tế là nội dung được giáo viên và học sinh mong đợi nhất, tiếp theo là nội dung về lý thuyết và nội dung thực hành 2.2.3 Phương pháp
Vì là trường nghề đặc thù – năng khiếu nên chất lượng đầu vào rất quan trọng đòi hỏi học sinh phải có năng khiếu đầu vào; phương pháp giảng dạy cũng rất đa dạng và đặc thù cho mỗi ngành học
Sau đây là kết quả khảo sát về phương pháp giảng dạy:
Trang 36Qua kết quả của bảng 2.5 cho thấy:
Có sự khác biệt về mặt thống kê (căn cứ vào P<0,05) ở 06 nội dung sau:
Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động học tập; Khả năng tự học của học sinh; Thực hiện các biện pháp tác động vào nhận thức của giáo viên, học sinh; Tổ chức dự giờ, thao giảng, trao đổi kinh nghiệm; Quản lý cơ sở vật chất; Quản lý hoạt động tự học của học sinh
Sáu nội dung còn lại không có sự khác biệt về mặt ý nghĩa thống kê
Qua bảng 2.5 đã phản ánh đúng thực tế khả năng ứng dụng công nghệ thông tin của học sinh là chưa đạt bởi lẽ học sinh chỉ thực hành tại lớp ở những giờ thực tập, số học sinh tự học rất ít Chứng thực, ngoài giờ học vẽ, học hát ở trường thì rất ít học sinh liên hệ mượn
Trang 37phòng thực hành để tự học thêm Do đó, việc quản lý hoạt động tự học của học sinh cũng không nằm ngoại lệ, vì có diễn ra hoạt động tự học thì mới có việc quản lý hoạt động tự học Một thực tế, giáo viên cơ hữu của trường rất thiếu, phần đông là giáo viên thỉnh giảng nên việc tổ chức dự giờ, thao giảng rút kinh nghiệm cũng chưa được quan tâm đúng mức Bên cạnh cơ sở vật chất đặc biệt phần thực hành cũng chưa đủ phục vụ việc giảng dạy và học Đây cũng là vấn đề nhà trường cần phải suy nghĩ thêm Sau đây là kết quả khảo sát về kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo:
Bảng 2.6 Nhận xét về kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo
Kiểm tra, đánh giá kết quả
- Chất lượng đầu vào 2,65 0,93 2 2,75 0,81 2 0,91 0,33
- Kiểm tra, đánh giá kết
Kết quả bảng 2.6 cho thấy:
Học viên và giáo viên đánh giá tốt chất lượng đầu vào, cùng xếp thứ bậc 2, P: 0,33; kiểm tra, đánh giá kết thúc học phần cả giáo viên và học sinh xếp cùng thứ bậc 1, trị số P: 0,80 Nói cách khác, không có sự khác biệt ý nghĩa về mặt thống kê 02 nội dung trên Để trúng tuyển vào trường TC.VHNT Cần Thơ, học sinh phải qua hai vòng: xét tuyển môn Văn theo học bạ lớp 9 hoặc lớp 12 và thi năng khiếu bắt buộc Trong thực tế học tại trường thì việc kiểm tra, đánh giá kết quả kết thúc học phần luôn được thực hiện nghiêm túc từ khâu ra đề, bảo quản đề thi, gác thi và chấm thi
Có sự khác biệt ý nghĩa về mặt thống kê (căn cứ vào P,0,05) của bốn nội dung còn lại.Như vậy, cả giáo viên và học sinh cùng đánh giá như nhau về bốn nội dung trên Điều này phù hợp với thực tế trường vì từ khi thành lập đến nay chưa đánh giá trong lẫn đánh
Trang 38giá ngoài, việc đánh giá tiểu luận cuối khóa cũng như đánh giá kết thúc học phần thực tập, thực tế cũng chưa được quan tâm đúng mức
2.2.4 Đội ngũ giáo viên
Giáo viên là đội ngũ quyết định chất lượng và uy tín của nhà trường Tuy nhiên do trường đặc thù, đội ngũ giáo viên rất khó tuyển dụng do thiếu cơ chế đãi ngộ nhất là nghệ nhân, nghệ sĩ Công tác phát triển giáo viên, quản lý giáo viên và tuyển dụng giáo viên qua kết quả từ phiếu thăm do cho thấy:
Bảng 2.7 Đánh giá về công tác quản lý giáo viên về các mặt
Đánh giá về công tác quản lý
- Phương pháp giảng dạy 2,76 1.08 4 3,05 0,79 2 6,29 0,01
- Trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ sư phạm của đội ngũ giáo
- Phân công công tác 2,21 0,90 3 2,65 1,00 3 11,33 0,00
Kết quả bảng 2.7 cho thấy:
Giáo viên và học sinh cùng đánh giá tốt 02 vấn đề: Thời gian lên lớp (F: 0,61,P:0,43), giáo viên xếp thứ bậc 1, học sinh xếp thứ bậc 3; thực hiện chương trình giáo viên xếp thứ bậc 2, học sinh xếp thứ bậc 4 (F: 1,06, P:0,30)
Có sự khác biệt ý nghĩa về mặt thống kê (căn cứ vào P<0,05) ở những nội dung còn lại Như vậy, học sinh đánh giá cao hơn giáo viên những mặt trên (căn cứ vào TB); lý do, giáo viên cơ hữu của trường vừa thiếu, vừa yếu nên việc bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, tuyển dụng, bổ nhiệm và phân công công tác cần được quan tâm đúng mức
Đã là trường học thì đội ngũ giáo viên đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc “xây dựng thương hiệu” cho trường, nhất là trong thời buổi hội nhập hiện nay Điều này, cần lưu ý hơn đối với trường nghệ thuật đặc thù của vùng đồng bằng sông Cửu Long
Trang 392 2.5 Đầu vào
Vì là trường năng khiếu nên đầu nên việc tuyển sinh gồm hai hình thức: xét tuyển môn Văn và thi tuyển môn Năng khiếu
Để nâng cao chất lượng đầu vào bắt buộc thí sinh dự thi phải có năng khiếu cơ bản,
đề thi phù hợp và phải có số lượng thí sinh hợp lý
Kết quả khảo sát biện pháp nâng cao chất lượng đầu vào:
Bảng 2.8 Biện pháp nâng cao chất lượng đầu vào
Qua kết quả của bảng 2.8 cho thấy:
Ý kiến giáo viên về nội dung số lượng thí sinh hợp lý (xếp thứ bậc 3), tổ chức thi khoa học – chặt chẽ (xếp thứ bậc 4) Ý kiến học sinh về tổ chức thi khoa học – chặt chẽ (xếp thứ bậc 3), số lượng thí sinh hợp lý (xếp thứ bậc 4) Hai nội dung còn lại, giáo viên và học sinh đánh giá giống nhau và đồng xếp thứ bậc như nhau (bậc 1 – nội dung thí sinh dự thi đầu vào
cơ bản có năng khiếu; bậc 2 để nâng cao chất lượng đầu vào thì đề thi phù hợp) Như vậy, để nâng cao chất lượng đầu vào cần có số lượng thí sinh dự thi có năng khiếu, đề thi phải phù hợp, tổ chức thi phải chặt chẽ và số lượng thí sinh hợp lý
Hơn nữa, khi nhìn vào mức ý nghĩa cho thấy việc đánh giá các biện pháp của giáo viên
và học sinh không có sự khác biệt ý nghĩa về mặt thống kê Nói cách khác, giáo viên và học sinh có cùng ý kiến đánh giá về các biện pháp nâng cao chất lượng đầu vào
2.2.6 Đầu ra
Trang 40Để nâng cao hiệu quả đào tạo của trường cần phải nâng cao chất lượng đầu vào Song song đó, phải thực hiện nghiêm túc nội dung chương trình, tuyển chọn giáo viên có chuyên môn nghiệp vụ tốt, nhà trường cải tiến hơn về phương pháp giảng dạy, trang bị tốt
cơ sở vật chất và quản lý tốt chương trình đào tạo để sản phẩm giáo dục có hiệu quả đầu
ra
Kết quả khảo sát biện pháp nâng cao hiệu quả đào tạo của trường:
Bảng 2.9 Ý kiến về biện pháp nâng cao hiệu quả đào tạo của trường
Thực hiện nghiêm túc nội dung
Qua kết quả của bảng 2.9 cho thấy:
Giáo viên và học sinh cùng đánh giá các nội dung trên là tốt Nhưng giáo viên xếp thứ bậc 1 cho nội dung tuyển chọn giáo viên chuyên môn nghiệp vụ tốt, xếp đồng thứ bậc
2 cho 02 nội dung: trang bị tốt cơ sở vật chất, tổ chức quản lý tốt chương trình đào tạo Trong khi đó, học sinh xếp thứ bậc 1 cho nội dung trang bị tốt cơ sở vật chất, xếp thứ bậc
3 cho nội dung tuyển chọn giáo viên chuyên môn nghiệp vụ tốt và tổ chức quản lý tốt chương trình đào tạo xếp thứ bậc 5
So sánh đánh giá giữa giáo viên và học sinh ta thấy có sự khác biệt ý nghĩa về mặt thống kê ở ba nội dung: thực hiện nghiêm túc nội dung chương trình (X2:7,74 & P:0,00), tuyển chọn giáo viên chuyên môn nghiệp vụ tốt (X2: 6,09 & P:0,01) và tổ chức quản lý tốt