CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VỀ HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH Mục tiêu: Sau khi nghiên cứu chương này, người học có thể: Xác định mục đích của báo cáo tài chính Nắm vững yêu cầu của chất lượng
Trang 1CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VỀ HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Mục tiêu:
Sau khi nghiên cứu chương này, người học có thể:
Xác định mục đích của báo cáo tài chính
Nắm vững yêu cầu của chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính
Nhận diện các thành phần của hệ thống báo cáo tài chính
Nhận diện các cách tác động tới thông tin trên báo cáo tài chính của các nhà quản trị doanh nghiệp
Hiểu rõ thách thức của báo cáo tài chính trong môi trường kinh doanh toàn cầu
1.1 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1.1 Mục đích của báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính là sản phẩm cuối cùng của hệ thống kế toán tài chính, cung cấp các thông tin về tình trạng tài chính, kết quả hoạt động và dòng tiền lưu chuyển sau mỗi kì hoạt động của doanh nghiệp Báo cáo tài chính cung cấp thông tin hữu ích cho rất nhiều đối tượng, bao gồm cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, như các nhà quản lí cấp cao trong doanh nghiệp, các cổ đông hiện tại, các nhà đầu tư tiềm năng, các nhà cung cấp tín dụng, Mỗi đối tượng này sử dụng thông tin báo cáo tài chính để đánh giá về quá khứ, dự báo về tương lai của doanh nghiệp, từ đó ra các quyết định kinh doanh liên quan tới lợi ích tài chính của họ
Các cổ đông hiện tại và các nhà đầu tư tiềm năng sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính chủ yếu để đánh giá khả năng sinh lời và triển vọng của doanh nghiệp trong tương lai
Từ việc phân tích thông tin trên báo cáo tài chính, các cổ đông hiện tại có thể ra các quyết định tiếp tục đầu tư vào doanh nghiệp hay rút vốn đầu tư khỏi doanh nghiệp (giữ hoặc bán
cổ phiếu đầu tư) Các nhà đầu tư tiềm năng có thể căn cứ vào thông tin trên báo cáo tài chính để quyết định lựa chọn danh mục đầu tư hợp lí
Các nhà cung cấp tín dụng (ngân hàng, người bán) sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính chủ yếu để đánh giá về khả năng thanh toán của doanh nghiệp Từ việc phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp thông qua báo cáo tài chính, các ngân hàng sẽ quyết định cho vay với các điều khoản hợp lí trên hợp đồng tín dụng theo đúng khả năng thanh toán đó Các nhà cung cấp vật tư, hàng hóa và dịch vụ cũng sẽ đánh giá khả năng thanh toán thông qua báo cáo tài chính để quyết định các điều khoản trả chậm hợp lí cho doanh nghiệp
Mặc dù thường sử dụng thông tin do hệ thống kế toán quản trị trong nội bộ doanh nghiệp cung cấp để ra các quyết định kinh doanh, thực hiện việc điều hành các hoạt động
Trang 2của doanh nghiệp, các báo cáo tài chính vẫn là nguồn thông tin hữu ích đối với các nhà quản
lý Các nhà quản lí cấp cao trong doanh nghiệp sử dụng thông tin báo cáo tài chính để đánh
giá về thực trạng tài chính, phát hiện các nguy cơ tiềm ẩn, từ đó hoạch định chiến lược kinh
doanh và thực thi các giải pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính cho doanh nghiệp
Ngoài các đối tượng cơ bản trên, báo cáo tài chính còn được nhiều các đối tượng khác quan tâm như người lao động, khách hàng, cơ quan thống kê, cơ quan thuế, báo chí,…
Mỗi đối tượng này sử dụng báo cáo tài chính dưới một góc độ khác nhau, như cơ quan thuế
sử dụng báo cáo tài chính để xem xét việc tuân thủ luật thuế của doanh nghiệp, khách hàng
sử dụng báo cáo tài chính để đánh giá về triển vọng dài hạn của doanh nghiệp, từ đó đánh
giá việc thực hiện các cam kết trong hợp đồng bán hàng (các nghĩa vụ bảo hành, sửa chữa
sản phẩm)
1.1.2 Yêu cầu chất lượng của thông tin trên báo cáo tài chính
Để báo cáo tài chính hữu ích cho các đối tượng sử dụng, chất lượng của thông tin trên báo
cáo tài chính cần đáp ứng một số yêu cầu cơ bản (hình 1.1)
HÌNH 1.1 YÊU CẦU CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Tin cậy Thông tin trên báo cáo tài chính cần phải bảo đảm tính tin cậy Để đáp ứng được
yêu cầu này, thông tin trên báo cáo tài chính phải là những thông tin khách quan và có thể
thẩm định được Thông tin trên báo cáo tài chính mang tính khách quan, không phụ thuộc
vào ý kiến chủ quan của bất kì cá nhân nào do nó là kết quả của quá trình kế toán các nghiệp
vụ kinh tế phát sinh, căn cứ từ các chứng từ kế toán và tuân thủ theo các chuẩn mực, chế độ
kế toán hiện hành Hơn nữa, thông tin trên báo cáo tài chính có thể được thẩm định lại để
tìm kiếm các bằng chứng chứng minh cho tính đúng đắn của các số liệu trên báo cáo tài
THÔNG TIN TRÊN BCTC
PHÙ HỢP
TIN CẬY
KỊP THỜI
SO SÁNH ĐƯỢC
COI TRỌNG BẢN CHẤT HƠN HÌNH THỨC TRỌNG YẾU
Trang 3chính Bên cạnh đó, ý kiến của kiểm toán viên về tính trung thực, khách quan, tuân thủ chuẩn mực và chế độ kế toán sẽ nâng cao độ tin cậy của thông tin trên báo cáo tài chính
Kịp thời Báo cáo tài chính cần được cung cấp kịp thời để bảo đảm cho tính hữu ích của
thông tin đối với các đối tượng sử dụng để ra quyết định Nếu thông tin báo cáo tài chính được cung cấp chậm trễ cho các đối tượng sử dụng thì những thông tin đó dù có tính tin cậy rất cao cũng là vô nghĩa do các quyết định kinh doanh thường mang tính thời điểm Hơn nữa, nếu dựa vào các thông tin lạc hậu về tình hình tài chính của doanh nghiệp để ra quyết định có thể dẫn đến các quyết định sai lầm Theo qui định hiện hành, báo cáo tài chính năm cần được công bố cho các đối tượng sử dụng chậm nhất là sau 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính Ngoài ra, các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán cần công
bố báo cáo tài chính quí chậm nhất là sau 30 ngày kể từ ngày kết thúc quí
Thực tế và Suy ngẫm 1.1
Tháng 6/2010 Thị trường chứng khoán Việt Nam sôi động với sự kiện Công ty cổ phần Dược Viễn Đông công khai kế hoạch thâu tóm Công ty cổ phần Dược Hà Tây Giá cổ phiếu của Dược Viễn Đông đã tăng mạnh trong vòng 5 tháng từ 50.000đ/cổ phiếu lên 115.000đ/ cổ phiếu Các nhà đầu tư đã cho rằng Dược Viễn Đông có nguồn lực tài chính dồi dào để có thể thực hiện được kế hoạch này Tháng 8/2011 Thị trường chứng khoán Việt Nam ngơ ngác với
sự kiện Công ty cổ phần Dược Viễn Đông tuyên bố phá sản do không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn cho các chủ nợ (ngân hàng ANZ, ngân hàng An Bình, ngân hàng HSBC
và ngân hàng Indovina) Lúc này, các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán mới tìm đến báo cáo tài chính của Dược Viễn Đông để đánh giá tình hình tài chính của công ty và phát hiện công ty đã không nộp báo cáo tài chính năm 2010 và quí 1, quí 2 năm 2011!
So sánh được Thông tin báo cáo tài chính cần bảo đảm tính so sánh được Yêu cầu này đòi
hỏi các khoản mục trên báo cáo tài chính phải được trình bày nhất quán giữa các kì và nhất quán giữa các doanh nghiệp cả về nội dung và hình thức Để bảo đảm tính so sánh được của thông tin báo cáo tài chính giữa các doanh nghiệp, số liệu sử dụng để lập báo cáo tài chính của các doanh nghiệp phải được hình thành từ việc tuân thủ và áp dụng cùng một hệ thống các nguyên tắc, chuẩn mực và chế độ kế toán Trong trường hợp có sự thay đổi giữa các kì
về nội dung hoặc hình thức trình bày, những thay đổi này cần được giải trình chi tiết trong Thuyết minh báo cáo tài chính hoặc trình bày lại báo cáo tài chính của kì trước nhằm cung cấp thông tin so sánh được giữa các kì với nhau
Thực tế và Suy ngẫm 1.2
Khi phân tích báo cáo tài chính, nhà phân tích thường tiến hành so sánh các chỉ số tài chính giữa các kì, rút ra xu hướng biến động của chúng để đánh giá về những tiến triển trong tình hình tài chính của doanh nghiệp Tuy nhiên, chế độ kế toán – tài chính có thể có những thay đổi làm cho các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính giữa các thời kỳ không được trình bày một cách nhất quán, và do đó nếu sử dụng trực tiếp các số liệu này để tính toán các chỉ tiêu tài chính sẽ dẫn tới việc so sánh khập khiễng giữa các kì, dẫn tới các kết luận không đúng về tình
Trang 4hình tài chính của đơn vị Ví dụ thông tư 244/2009/TT-BTC ngày 31/12/2009 qui định quĩ khen thưởng phúc lợi trước đây hạch toán trên tài khoản 413 (một thành phần của vốn chủ
sở hữu) chuyển sang hạch toán trên tài khoản 353 (một thành phần của nợ phải trả) Điều này dẫn tới thông tin trình bày về nợ phải trả và vốn chủ sở hữu trên bảng cân đối kế toán của các doanh nghiệp không nhất quán giữa năm 2010 và các năm trước đó Nếu sử dụng trực tiếp các số liệu này đển tính toán các chỉ số tài chính về cơ cấu nguồn vốn, hiệu quả sử dụng nguồn vốn thì sẽ đánh giá không đúng về xu hướng biến động trong tình hình tài chính của doanh nghiệp do số liệu về nguồn vốn không tương đương giữa các năm Điều này đòi hỏi nhà phân tích trước khi tính toán các chỉ số tài chính cần tiến hành điều chỉnh số liệu trên bảng cân đối kế toán để có được số liệu nhất quán giữa các năm, bảo đảm tính so sánh được của số liệu
Coi trọng bản chất hơn hình thức Thông tin báo cáo tài chính cần phản ảnh theo bản chất
kinh tế, chứ không phản ánh theo hình thức pháp lí của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh Nhìn chung hầu hết các nghiệp vụ kinh tế phát sinh thường có bản chất kinh tế phù hợp với hình thức pháp lí của chúng Tuy nhiên có một số trường hợp đặc biệt, khi bản chất kinh tế trái với hình thức pháp lí, thì báo cáo tài chính cần trình bày các thông tin đó theo bản chất kinh
tế của nghiệp vụ (thí dụ các giao dịch thuê tài sản cố định tài chính, giao dịch bán và mua lại)
Trọng yếu Báo cáo tài chính cần cung cấp những thông tin có ảnh hưởng quan trọng đến
quyết định của người sử dụng thông tin Các thông tin trọng yếu này cần được trình bày riêng rẽ trên báo cáo tài chính, còn các thông tin không trọng yếu có thể được tập hợp lại và trình bày chung trong trong một khoản mục Ví dụ, bảng cân đối kế toán cần cung cấp thông tin về giá trị của các lại tài sản của doanh nghiệp, trong đó cần báo cáo riêng rẽ từng loại tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn như “tiền”, “đầu tư ngắn hạn”, “phải thu khách hàng”, “hàng tồn kho”,… Đối với các tài sản ngắn hạn không quan trọng, chiếm tỉ trọng không đáng kể sẽ được báo cáo dưới tiêu đề “tài sản ngắn hạn khác”, ví dụ như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế phải nộp lên các cơ quan quản lí quĩ
Thực tế và Suy ngẫm 1.3
Bảng cân đối kế toán ngày 31/12/2009 của Công ty Vinaconex (công ty mẹ) cho thấy khoản mục “phải trả, phải nộp ngắn hạn khác” là 2.656 tỉ đồng chiếm tỉ trọng khá lớn - 39% tổng nợ ngắn hạn của công ty Thuyết minh báo cáo tài chính cho thấy khoản mục này bao gồm 1.290
tỉ đồng là doanh thu nhận trước từ các khách hàng mua nhà thuộc các dự án của Vinaconex;
758 tỉ đồng là khoản nhận trước tiền mua cổ phần từ các cổ đông chiến lược; 400 tỉ đồng là khoản nhận trước từ một đối tác để thành lập công ty liên doanh Có thể thấy những khoản mục này khá lớn và quan trọng đối với Vinaconex, nên việc báo cáo chúng dưới tên gọi “nợ ngắn hạn khác” đã làm giảm tính quan trọng của các khoản mục này
Chế độ kế toán Việt Nam ban hành theo quyết định số 15/2006 – QĐ/BTC yêu cầu khoản doanh thu chưa thực hiện (doanh thu nhận trước) phải được phản ánh vào chỉ tiêu “người mua trả tiền trước” trên bảng cân đối kế toán (căn cứ từ số dư Có tài khoản 131 và tài khoản
Trang 53387) Tuy nhiên thông tư 224/2009/TT-BTC qui định từ năm 2010 “người mua trả tiền trước” và “doanh thu chưa thực hiện” phải được phản ánh thành hai khoản mục riêng biệt trên bảng cân đối kế toán Như vậy, việc trình bày thông tin về khoản “doanh thu nhận trước” gộp vào chỉ tiêu “các khoản phải trả, phải nộp khác” trên bảng cân đối kế toán của Vinaconex chưa đúng theo cả qui định cũ và qui định mới của chế độ kế toán Việt Nam Chính vì vậy, trên góc độ người sử dụng báo cáo tài chính, cần thiết phải đọc thuyết minh báo cáo tài chính để hiểu rõ hơn và đánh giá mức độ trọng yếu của các con số cô đọng trên bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Phù hợp Báo cáo tài chính cần cung cấp thông tin phù hợp với nhu cầu của các đối tượng sử
dụng, tức là cung cấp đúng thông tin mà các đối tượng sử dụng cần Mỗi đối tượng sử dụng thông tin báo cáo tài chính (ngân hàng, nhà đầu tư, người bán, …) đều có thể tìm thấy các thông tin hữu ích, liên quan tới các quyết định kinh doanh của họ Tính phù hợp và tính tin cậy của thông tin trên báo cáo tài chính đôi khi mâu thuẫn với nhau, trong những trường hợp này, các thông tin bổ sung cần được cung cấp trên thuyết minh báo cáo tài chính để giúp các đối tượng sử dụng có thể đánh giá đúng đắn về tình hình tài chính của doanh nghiệp
1.2 CÁC THÀNH PHẦN CỦA HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp hiện nay bao gồm bốn báo cáo: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính Mỗi báo cáo này cung cấp thông tin về các khía cạnh khác nhau trong tình hình tài chính của doanh nghiệp nhằm giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin có thể đánh giá toàn diện về tình hình tài chính doanh nghiệp, từ đó đưa ra các quyết định hợp lí
1.2.1 Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán cung cấp thông tin về tình trạng tài chính (giá trị tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu) của doanh nghiệp tại một thời điểm Chúng ta luôn luôn có phương trình cân đối cơ bản của kế toán:
TÀI SẢN = NỢ PHẢI TRẢ + VỐN CHỦ SỞ HỮU (1.1) Tài sản là các nguồn lực sử dụng trong hoạt động kinh doanh để mang lại lợi ích kinh
tế trong tương lai cho doanh nghiệp Tài sản của doanh nghiệp bao gồm hai loại cơ bản là tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn Tài sản ngắn hạn là những tài sản có thời gian chuyển đổi về hình thái tiền tệ trong vòng một năm (hoặc một chu kì kinh doanh), còn tài sản dài hạn là những tài sản có thời gian chuyển đổi về hình thái tiền tệ trên một năm (hoặc một chu kì kinh doanh)
Nợ phải trả là phần nguồn vốn do các chủ nợ tài trợ cho các tài sản của doanh nghiệp, thể hiện trách nhiệm hiện tại của doanh nghiệp sẽ phải sử dụng các nguồn lực (tài sản) của mình để thanh toán Nợ phải trả của doanh nghiệp bao gồm hai loại cơ bản là nợ
Trang 6ngắn hạn và nợ dài hạn Nợ ngắn hạn là các khoản nợ có thời hạn trả trong vòng một năm (hoặc một chu kì kinh doanh), còn nợ dài hạn là các khoản nợ có thời hạn trả trên một năm (hoặc một chu kì kinh doanh)
Vốn chủ sở hữu là phần còn lại của tài sản sau khi bù đắp các khoản nợ phải trả Vốn chủ sở hữu thường bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ sở hữu và phần lợi nhuận tích lũy
để tái đầu tư, bổ sung từ kết quả hoạt động kinh doanh
Như vậy vế bên phải của phương trình (1.1) cho biết nguồn huy động vốn và vế bên trái cho biết tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp Khi xem xét bảng cân đối kế toán của một doanh nghiệp, chúng ta cần xem xét tính cân đối giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu Một doanh nghiệp có tổng giá trị tài sản cao chỉ thể hiện khía cạnh qui mô hoạt động của doanh nghiệp đó lớn, còn tiềm lực tài chính của doanh nghiệp được thể hiện ở phần nguồn vốn: nếu hầu hết các tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ nợ phải trả sẽ thể hiện tình hình tài chính không tốt của doanh nghiệp với mức độ rủi ro tài chính cao và ngược lại Minh họa Bảng cân đối kế toán tóm tắt của công ty cổ phần Sữa Hà Nội ở bảng 1.11 Tại ngày 31/12/2011 công ty cổ phần Sữa Hà Nội có tổng số vốn đầu tư trong hoạt động kinh doanh (tổng giá trị tài sản) là 213.998 triệu đồng, trong đó được tài trợ từ các chủ nợ là 81.759 triệu đồng, và phần còn lại (132.239 triệu đồng) được tài trợ từ các chủ sở hữu
BẢNG 1.1
Công ty cổ phần Sữa Hà Nội
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN
Ngày 31/12/2011
Đơn vị tính: triệu đồng
TÀI SẢN
I.Tiền & các khoản tương đương tiền 3.935 18.218
1
Hãy truy cập địa chỉ http://www.hanoimilk.com/vi/thong-bao-co-dong/221-baocaotaichinh2011.html hoặc
http://hnx.vn/Thongtin_Congbo.asp?TabID=3&menuid=114120&menuup=402000&IssuerID=158&StockType
=2 để download bộ báo cáo tài chính đầy đủ của Công ty Cổ phần Sữa Hà Nội.
Trang 7III.Tài sản dài hạn khác 5.571 8.425
NGUỒN VỐN
HÌNH 1.2 TÀI SẢN & NGUỒN VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA HÀ NỘI
(Ngày 31/12/2011)
1.2.2 Báo cáo kết quả kinh doanh
Báo cáo kết quả kinh doanh cung cấp thông tin về doanh thu, chi phí và kết quả (lãi/lỗ) trong một kì hoạt động của doanh nghiệp
Doanh thu từ hoạt động kinh doanh và các khoản thu nhập khác đạt được trong một
kì hoạt động góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu (mà không phải do các chủ sở hữu góp vốn) Các khoản doanh thu và thu nhập này rất đa dạng, phụ thuộc vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh và qui mô hoạt động của doanh nghiệp Ví dụ, Công ty Cổ phần Sữa Hà Nội có nguồn doanh thu chủ yếu là từ hoạt động sản xuất kinh doanh các sản phẩm sữa nước (sữa tươi tiệt trùng và sữa chua uống)
Chi phí của hoạt động kinh doanh và các khoản chi phí khác phát sinh trong kì hoạt động của doanh nghiệp có tác động làm giảm vốn chủ sở hữu (mà không phải do các chủ sở hữu rút vốn) Các khoản chi phí này tương ứng phát sinh theo các khoản doanh thu mà doanh nghiệp đạt được Tương ứng với nguồn doanh thu từ các sản phẩm sữa nước, các
Tài sản ngắn hạn 57%
Tài sản
dài hạn
43%
trả 38%
Vốn chủ
sở hữu 62%
Nguồn vốn
Trang 8khoản chi phí phát sinh chủ yếu tại Công ty Cổ phần Sữa Hà Nội bao gồm các chi phí liên quan tới giá vốn của các sản phẩm sữa nước (nguyên liệu và nhân công chế biến sữa, khấu hao dây chuyền sản xuất và nhà xưởng chế biến sữa,…); các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm sữa (quảng cáo, hoa hồng bán hàng, ) và các chi phí hành chính chung của cả công ty
Doanh thu và chi phí ghi nhận trên báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
trên cơ sở kế toán dồn tích (accrual basis) Theo cơ sở này, doanh thu được ghi nhận tại thời
điểm bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ, không phụ thuộc vào thời điểm thu tiền và chi phí được ghi nhận phù hợp với doanh thu mà nó tạo ra, không phụ thuộc vào thời điểm chi tiền
Kết quả hoạt động của doanh nghiệp bao gồm lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh (chênh lệch giữa doanh thu và chi phí của hoạt động kinh doanh)và lợi nhuận khác (chênh lệch giữa thu nhập khác và chi phí khác) Các khái niệm này sẽ được thảo luận sâu hơn trong chương 3 Minh họa Báo cáo kết quả kinh doanh tóm tắt của Công ty Cổ phần Sữa
Hà Nội ở bảng 1.2 Mặc dù hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần Sữa Hà Nội còn rất kém (năm 2011 hoạt động kinh doanh lỗ 898 triệu đồng) nhưng đã có dấu hiệu “bớt u ám” hơn từ sau sự kiện sữa nhiễm độc Melamine năm 2008 Doanh thu năm 2011 của công ty giảm 37.791 triệu đồng hay 12% so với năm 2010 nhưng lỗ hoạt động kinh doanh giảm đáng
kể (giảm 18.652 triệu đồng hay 95% so với năm 2010)
BẢNG 1.2
Công ty cổ phần Sữa Hà Nội
BÁO CÁO KẾT QUẢ KINH DOANH
Cho năm tài chính kết thúc ngày 31/12/2011
Đơn vị tính: triệu đồng
1 Doanh thu thuần về bán hàng 272.080 309.871
5 Chi phí quản lí doanh nghiệp (10.539) (12.749)
6 Lỗ thuần từ hoạt động kinh doanh (898) (19.550)
8 Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế 1.610 (21.372)
Trang 91.2.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp thông tin về các khoản tiền thu, tiền chi trong một kì hoạt động của doanh nghiệp
LƯU CHUYỂN TIỀN THUẦN TRONG KÌ = THU – CHI (1.3) Các khoản tiền thu, tiền chi trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ được sắp xếp theo ba loại hoạt động: lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh, lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu
tư và lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh bao gồm các khoản tiền thu, tiền chi liên quan tới các hoạt động hàng ngày và tạo ra doanh thu chủ yếu của doanh nghiệp Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư liên quan tới các khoản tiền thu, tiền chi cho việc mua sắm và nhượng bán tài sản cố định và các khoản đầu tư dài hạn của doanh nghiệp Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính liên quan tới các khoản tiền thu, tiền chi là thay đổi qui mô và kết cấu của vốn chủ sở hữu và vốn vay của doanh nghiệp Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là cầu nối thông tin giữa các báo cáo tài chính (hình 1.3) Báo cáo lưu chuyển tiền tệ sẽ lí giải nguyên nhân khác biệt giữa lợi nhuận và biến động tiền (lưu chuyển tiền thuần) trong một kì hoạt động của doanh nghiệp Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cũng sẽ lí giải nguồn tiền đầu tư (hoặc tiền thu về) cho các tài sản dài hạn của doanh nghiệp Các khoản tiền thu, tiền chi liên quan tới biến động của phần Tài sản ngắn hạn và Nợ ngắn hạn (không bao gồm nợ vay) của Bảng cân đối kế toán cùng với doanh thu, chi phí và kết quả của hoạt động kinh doanh trên Báo cáo kết quả kinh doanh được tổng hợp trong phần Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh Các khoản tiền thu, tiền chi liên quan tới các biến động trong phần Tài sản dài hạn của Bảng cân đối kế toán được tổng hợp trong phần Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư Các khoản tiền thu, tiền chi liên quan tới các biến động trong phần Vốn chủ sở hữu và nợ vay của Bảng cân đối kế toán được tổng hợp trong phần Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính Minh họa Báo cáo lưu chuyển tiền tệ tóm tắt của Công ty Cổ phần Sữa Hà Nội ở bảng 1.3
BẢNG 1.2
Công ty cổ phần Sữa Hà Nội
BÁO CÁO KẾT QUẢ KINH DOANH
Cho năm tài chính kết thúc ngày 31/12/2011
Đơn vị tính: triệu đồng
1 Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh (18.330) (33.030)
2 Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư 446 (364)
3 Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính 3.601 35.709
Trang 10Tiền vay nhận được 104.568 108.702
HÌNH 1.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ của Công ty cổ phần Sữa Hà Nội cho thấy tiền tài trợ cho hoạt động của công ty là từ nguồn vay nợ bên ngoài, đặc biệt là năm 2010 (tổng tiền vay thêm là 35.709 triệu đồng) Bản thân hoạt động kinh doanh của công ty đã làm thâm hụt tiền, tuy nhiên cùng với việc giảm lỗ trong năm 2011, thâm hụt tiền từ hoạt động kinh doanh cũng giảm đáng kể (từ 33.030 triệu đồng xuống 18.330 triệu đồng, tức là giảm 45%)
1.2.4 Thuyết minh báo cáo tài chính
Thuyết minh báo cáo tài chính là bản giải trình giúp các đối tượng sử dụng hiểu rõ hơn về các con số trên Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh và Báo cáo lưu chuyển tiền
tệ của doanh nghiệp Thuyết minh báo cáo tài chính thường bao gồm bốn nội dung cơ bản:
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN
Tài sản
Tài sản ngắn hạn
Tài sản dài hạn
Nguồn vốn
Nợ phải trả
Nợ trong HĐ KD
Nợ vay
Vốn chủ sở hữu
BÁO CÁO LƯU CHUYỂN
TIỀN TỆ
Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh
Lưu chuyển tiề n từ hoạt động đầu tư
Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính
BÁO CÁO KẾT QUẢ KINH
DOANH Doanh thu
Chi phí
Lợi nhuận