Bài 20 CHIẾN SỰ LAN RỘNG RA TOÀN QUỐC CUỘC KHÁNG CHIẾN CỦA NHÂN DÂN TA TỪ NĂM 1873 ĐẾN NĂM 1884 NHÀ NGUYỄN ĐẦU HÀNG I MỤC TIÊU BÀI HỌC 1 Kiến thức Sau khi học xong bài học, yêu cầu HS cần Nắm được từ[.]
Trang 1Bài 20 CHIẾN SỰ LAN RỘNG RA TOÀN QUỐC CUỘC KHÁNG CHIẾN CỦA NHÂN DÂN TA
TỪ NĂM 1873 ĐẾN NĂM 1884 NHÀ NGUYỄN ĐẦU HÀNG
I MỤC TIÊU BÀI HỌC
1 Kiến thức
Sau khi học xong bài học, yêu cầu HS cần:
- Nắm được từ năm 1873, Pháp mở rộng xâm lược cả nươc, những diễn biến chính trong qúa trình mở rộng xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp
- Thấy rõ diễn biến cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Bắc Kì, Trung
Kì, kết quả, ý nghĩa
2 Tư tưởng
- Ôn lại truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm
- Giáo dục ý thức tôn trọng bảo vệ di tích lịch sử kháng chiến chống Pháp
- Đánh giá đúng mức trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc để mất nước
3 Kỹ năng
- Rèn luyện kỹ năng phân tích, đánh giá, nhận xét, rút ra bài học lịch sử, liên
hệ với hiện tại
- Sử dụng lược đồ trình bày các sự kiện
II THIẾT BỊ, TÀI LIỆU DẠY – HỌC
- Lược đồ trận Cầu Giấy lần 1 và lần 2
- Tư liệu về các cuộc kháng chiến ở Bắc Kì
- Tranh ảnh một số nhân vật lịch sử có liên quan đến tiết học
- Văn thơ yêu nước đương thời
III TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC
1 Kiểm tra bài cũ
1 Tóm tắt diễn biến của cuộc khởi nghĩa Trương Định
2 Hoàn cảnh, nội dung của điều ước Nhâm Tuất
3 Em hãy nhận xét, so sánh tinh thần chống Pháp của triều đình và của nhân dân ta từ năm 1858 – 1873
2 Dẫn dắt vào bài mới
- GV nhận xét phần HS trả lời miệng câu hỏi số 3, từ đó dẫn dắt vào bài mới Trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp 1858 – 1873 triều đình đã tổ chức kháng chiến, nhưng thiếu kiên quyết, nặng về phòng thủ, ảo tưởng với thực dân Pháp, lúng túng trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp, không phát động nhân dân kháng chiến Trái lại nhân dân chủ động kháng chiến, tinh thần chiến đấu anh dũng, thái độ kiên quyết, sẵn sàng hy sinh Từ khi Pháp mở rộng xâm lược cuộc kháng chiến của nhân dân ta tiếp diễn ra sao, chúng ta cùng tìm hiểu bài 20
Trang 23 Tổ chức các hoạt động dạy học trên lớp
Hoạt động của GV và HS Kiến thức HS cần nắm
* Hoạt động 1: Cả lớp, cá nhân
- GV: Trước hết chúng ta tìm hiểu tình hình
Việt Nam trước khi Pháp đánh Bắc Kì lần 1
- GV thông báo: Sau khi chiến tranh 6 tỉnh
Nam Kì (1867 – 1873) tỉnh hình kinh tế, xã hội
nước ta càng lâm vào khủng hoảng nghiêm
trọng (vốn trước đây đã khủng hoảng)
- GV tiếp tục yêu cầu HS theo dõi SGK những
biểu hiện của khủng hoảng trầm trọng về kinh
tế, chính trị, xã hội
- HS theo dõi SGK
- GV bổ sung, kết luận:
+ Về chính trị, nhà Nguyễn tiếp tục chính sách
bảo thủ “bế quan toả cảng”, không tính đến
việc lấy lại 6 tỉnh Nam Kì
Nội bộ quan lại bước đầu có sự phân hoá giữa
bộ phận chủ chiến và chủ hoà
+ Về kinh tế: Nền kinh tế của đất nước ngày
càng bị kệt quệ vì triều đình huy động tiền để
trả chiến phí cho Pháp
+ Xã hội: Đời sống ngày càng khó khăn, mâu
thuẫn xã hội ngày càng gay gắt, nhân dân bất
bình đứng lênh chống triều đình ngày càng
nhiều
+ Một số quan lại có tư tưởng tiến bộ đã đề
nghị cải cách, song triều đình không chấp
nhận Tiêu biểu là Nguyễn Trường Tộ đã mạnh
dạn dâng lên triều đình bản điều trần, bàu tỏ ý
kiến cải cách duy tân Nhưng do bảo thủ, cố
chấp nên triều Nguyễn đã từ chối những đề
nghị của ông Nguyễn Trường Tộ xứng đáng
được coi là nhà tư tưởng đổi mới, có hành động
thức thời ở nửa sau thế kỉ XIX đầy biến động
của Việt Nam
+ Không những cự tuyệt cải cách, nhà Nguyễn
còn tỏ ra lúng túng trước nguy cơ Pháp mở
rộng xâm lược Trong suốt những năm Pháp
xâm lược Nam Kì nhà Nguyễn lúng túng trong
I Thực dân Pháp tiến đánh Bắc Kì lân thứ nhất (1873) Kháng chiến lan rộng ra Bắc Kì
1 Tình hình Việt Nam trước khi Pháp đánh Bắc Kì lần thứ nhất
- Sau khi Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kì (1867) tình hình nước ta càng khủng hoảng nghiêm trọng
+ Về chính trị, nhà Nguyễn tiếp tục chính sách bảo thủ “bế quan toả cảng” Nội bộ quan lại phân hoá bước đầu thành 2 bộ phận chủ chiến chủ hoà
+ Kinh tế: ngày càng kiệt quệ
+ Xã hội: nhân dân bất bình đứng lên đấu tranh chống triều đình ngày càng nhiều
- Nhà Nguyễn từ chối những chủ trương cải cách
Trang 3việc phòng thủ đề phòng Pháp mở rộng xâm
lược Bắc Kì, việc tổ chức trang bị, huấn luyện
đội hầu như không có cải cách gì đáng kể
- GV tiểu kết: sau năm 1867 tình hình đất nước
không có gì đổi mới, kinh tế không được chấn
hưng, quân đội không được cải tiến, khả năng
phòng thủ đề phòng Pháp mở rộng tấn công
không được tăng cường Sự khủng hoảng trầm
trọng kinh tế, xã hội ngày càng làm tăng nguy
cơ mất nước tạo cơ hội cho Pháp mở rộng đánh
chiếm cả nước
* Hoạt động 1: Cả lớp, cá nhân
- GV hỏi: Đến năm 1867 Pháp đánh chiếm
được những vùng nào? Theo em Pháp có dừng
lại không?
- HS trả lời: Năm 1867 Pháp chiếm được 6 tỉnh
Nam Kì, và tất yếu Pháp không dừng lại vì mục
tiêu của Pháp lúc đầu là cả Việt Nam, nên Pháp
mới đánh Đà Nẵng để làm bàn đạp đánh thốc
lên Huế, buộc nhà Nguyễn đầu hàng, vì vậy
sau khi chiếm xong Nam Kì Pháp mở rộng
đánh chiếm toàn bộ Việt Nam
- GV: Vậy nơi tiếp theo chúng đánh chiếm là
đâu? Bắc Kì hay Trung Kì?
GV trực tiếp trả lời: Nơi tiếp theo Pháp đánh
không phải là Huế mà là Bắc Kì Ngay sau khi
chiếm Nam Bộ Pháp âm mưu xâm lược Bắc kì
- GV hỏi: Tại sao Pháp xâm lược Bắc Kì mà
chưa phải là kinh đô Huế?
- HS dựa vào những kiến thức đã học và suy
nghĩ trả lời:
- GV nhận xét, kết luận: Vì nước Pháp vừa ra
khỏi chiến tranh Pháp – Phổ 1870; tình hình
kinh tế chính trị chưa ổn định vì vậy Pháp chưa
thể kết thúc chiến tranh xâm lược Việt Nam
Nhưng bọn thực dân Pháp ở Nam Kì nôn nóng
muốn hành động, chúng luôn nhòm ngó Bắc
Kì nhất là từ khi Nam Kì được củng cố, vì Bắc
Kì là vùng đất giàu tài nguyên, khoáng sản, mà
nhu cầu nguyên liệu của Pháp càng lớn do
2 Thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kì lần thứ nhất (1873)
- Sau khi thiết lập bộ máy cai trị ở Nam Kì Pháp âm mưu xâm lược Bắc
Kì
Trang 4trong nước đã mất 2 tỉnh giàu nguyên liệu về
tay Đức đó là tỉnh Andát và Loren Hơn nữa
thực dân Pháp ở Nam Kì biết chắc triều đình
Huế lúc này đã suy yếu như chúng đánh Bắc
Kì
* Hoạt động 2: Cả lớp
- GV hỏi: Pháp đã làm gì để dọn đường cho đội
quân xâm lược Bắc Kì?
Yêu cầu HS theo dõi SGK để trả lời
- HS đọc SGK sau đó trả lời: Trước khi đánh
Bắc Kì Pháp đã cho người do thám, chúng tung
ra Bắc bọn gián điệp đội lốt thầy tu để điều tra
tình hình về bố phòng của ta Pháp còn lôi kéo
tín đồ công giáo lầm đường làm nội ứng
- GV bổ sung: Chúng còn bắt liên lạc với lái
buôn Đuy-puy (tên lái buôn hiếu chiến, muốn
dùng đường sông Hồng chở hàng hoá vũ khí
qua miền Bắc chuyển lên Trung Quốc) để tạo
cớ xâm lược Bắc Kì
Trong khi tư bản Pháp còn dè dặt với Bắc Kì
thì Đuy-puy đã tự mình hành động Y tự đi
Hương Cảng và Thượng Hải (Trung Quốc) để
sắm pháo, thuyền, mua vũ khí đạn dược, mộ
quân lính kéo tới Bắc Kì Tháng 11/1872, ỷ thế
nhà Thanh, Đuy-puy tự tiện cho tầu ngược
sông Hồng lên Vân Nam (Trung Quốc) mặc dù
chưa được phép của triều đình Huế Hắn còn
ngang ngược đòi đóng quân bên bờ sông Hồng,
có nhượng địa ở Hà Nội, được cấp than đá để
đưa sang Vân Nam Lính Pháp và thổ phỉ dưới
tướng Đuy-puy còn cướp gạo của triều đình,
bắt quân lính và dân đem xuống tàu, khước từ
lời mời tới thương thuyết của tổng đốc Nguyễn
Tri Phương
Quan hệ giữa triều đình và thực dân Pháp trở
nên căng thẳng, lấy cớ “giải quyết vụ
Đuy-puy” đang gây rối ở Hà Nội, bọn thực dân Pháp
hiếu chiến ở Sài Gòn đã đem quân ra Bắc Đội
quân do Đại uý Gác-ni-e đứng đầu, bề ngoài
với danh nghĩa giải quyết tại chỗ vụ Đuy-puy,
- Pháp cho gián điệp do thám tình hình miền Bắc
- Tổ chức các đạo luật nội ứng
Trang 5nhưng bên trong chính là để kiếm cớ can thiệp
sâu vào vấn đề Bắc Kì
* Hoạt động 3: Cả lớp, cá nhân
- GV yêu cầu HS theo dõi tiếp SGK để thấy
được quá trình Pháp đánh chiếm Bắc Kì lần 1
(1873)
- HS theo dõi SGK, trình bày tóm tắt quá trình
xâm lược Bắc Kì
+ Ngày 5/11/1873 đội tầu chiến của Gác-ni-e
ra đến Hà Nội ở Sài Gòn bọn thực dân hiếu
chiến ở Nam Kì đã giao cho Gác-ni-e toàn
quyền hành động nên sau khi hội quân với
Đuy-puy, quân Pháp liền giở trò khiêu khích
Ngày 16/11/1873 sau khi có viện binh
Gác-ni-e mở cửa sông Hồng, áp dụng thuế quan mới
Sáng ngày 19/11 gửi tối hậu thư cho Nguyễn
Chi Phương (tổng đốc thành Hà Nội yêu cầu
giải tán quân đội, nộp khí giới…, không đợi trả
lời, sáng ngày 20/11 quân Pháp nổ súng đánh
thành Hà Nội, với sức mạnh quân sự lớn hơn
hẳn quân triều đình, quân Pháp nhanh chóng
chiếm thành Hà Nội, sau đó mở rộng xâm lược
các tỉnh đồng bằng sông Hồng: Hưng Yên
(23/11), Phủ Lý (26/11), Hải Dương (3/12),
Ninh Bình (5/12), Nam Định (12/12/1873)
- GV dẫn dắt: Trước cuộc xâm lược trắng trợn
của thực dân Pháp, nhân dân Bắc Kì đã kháng
chiến như thế nào?
* Hoạt động 1: Cả lớp, cá nhân
- GV đặt câu hỏi: Khi Pháp đánh Bắc Kì, triều
đình nhà Nguyễn đối phó ra sao?
- HS theo dõi SGK trả lời câu hỏi
- GV nhận xét, bổ sung:
+ Khi Pháp nổ súng đánh thành Hà Nội: 100
nghĩa binh triều đình dưới sự chỉ huy của viên
chưởng cơ ở Ô Quan Chưởng đã chiến đấu anh
dũng và hy sinh đến người cuối cùng
GV cung cấp thêm tư liệu về Ô Quan Chưởng:
Đây là một trong những cửa Ô còn sót lại của
toà thành Thăng Long cũ, được xây dựng năm
- Lấy cớ giải quyết vu Đuy-puy đang gây rối ở Hà Nội, thực dân Pháp đem quân ra Bắc
- Ngày 5/11/1873 đội tầu chiến của Pháp do Gác-ni-e chỉ huy ra đến Hà Nội, giở trò khiêu khích quân ta
- Ngày 19/11/1873 Pháp gửi tối hậu thư cho Tổng đốc thành Hà Nội
- Không đợi trả lời, ngày 12/11/1873 Pháp tấn công thành Hà Nội –> chiếm được thành sau đó mở rộng đánh chiếm các tỉnh đồng bằng sông Hồng
3 Phong trào kháng chiến ở Bắc Kì trong những năm 1873 – 1874
Trang 6Cảnh Hưng thứ 10 (1749), đến năm Gia Long
thứ 3 được xây dựng lại và giữ nguyên kiểu
cách đến ngày nay (cho HS xem ảnh của Ô
Quan Chưởng hoặc trình chiếu powerpoint)
Hiện ở cửa ô còn nguyên cửa chính và hai cửa
phụ 2 bên Bên trên cửa lớn có ghi ba chữ Hán
“Đông Hà Môn” tức là cửa ô Đông Hà Sở dĩ
cửa ô còn có tên gọi là Ô Quan Chưởng vì ngày
20/11/1873 Pháp đánh Hà Nội, khi đến cửa ô
Đông Hà chúng đã vấp phải sức kháng cự
quyết liệt của 100 binh sĩ triều đình do một
viên quan Chưởng cơ chỉ huy anh dũng chặn
giặc, kết cục viên chưởng cơ cùng toàn thể 100
binh sĩ đều anh dũng hy sinh Để tỏ lòng
ngưỡng mộ người chưởng cơ anh dũng, nhân
dân đổi gọi cửa ô là ô Quan Trưởng Từ bấy
đến nay người ta vẫn chưa xác minh được tên
gọi của vị chưởng cơ anh hùng Vì vậy tên Ô
Quan Chưởng vẫn còn đó như một tồn nghi
của lịch sử
+ Trong thành Tổng đốc Nguyễn Tri Phương
đã đốc thúc quân sĩ chiến đấu dũng cảm
- GV dừng lại cung cấp cho HS tư liệu về
Nguyễn Tri Phương: Nguyễn Tri Phương đã
được nhắc đến nhiều lần ở bài trước Ông từng
được triều đình cử chỉ huy chống Pháp tại Mặt
trận Đà Nẵng, kế sách vườn không nhà trống,
xây thành, đắp luỹ của ông lúc đó đã khiến
thực dân Pháp sa lầy tại Đà Nẵng
Lần thứ hai, ông được triều đình cử vào Gia
Định Ông đã cho xây dựng lại đồn Chí Hoà để
chặn giặc Nhưng lần này đại đồn của ông
không chịu nổi sức công phá bởi vũ khí đại bác
của Pháp Vì vậy đại đồn thất thủ
Lần thứ 3 vào năm 1872, ông được triều đình
đi giữ Tuyến sát tổng sứ đại thần, thay mặt
triều đình đi xem xét việc quân sự ở Bắc Kì,
làm tổng đốc thành Hà Nội, lúc này ông đã 73
tuổi Khi Pháp tới Hà Nội khiêu chiến, quan
quân triều đình tỏ ra lúng túng, bị động, vũ khí
- Khi Pháp đánh thành Hà Nội, 100 binh lính đã chiến đấu và hy sinh anh dũng tại ô Quan Trưởng
Trong thành, Tổng đốc Nguyễn Tri Phương chỉ huy quân sĩ chiến đấu dũng cảm
–> Nguyễn Tri Phương hi sinh, thành
Hà Nội thất thủ, quân triều đình nhanh chóng tan rã
Trang 7thô sơ Mặc dù chiến đấu anh dũng, song thành
Hà Nội vẫn thất thủ, Nguyễn Tri Phương bị
trúng đạn ở bụng, ông mất, thọ 73 tuổi Con
trai ông Nguyễn Lâm cũng hi sinh tại trận địa,
quân triều đình nhanh chóng tan rã
- Quân triều đình không thiếu lòng dũng cảm
song do vũ khí thô sơ, cách tổ chức đánh giặc
nặng nề phòng thủ, kém linh hoạt cho nên
nhanh chóng thất bại Vậy phong trào kháng
chiến của nhân dân diễn ra như thế nào?
* Hoạt động 2: Cả lớp, cá nhân
- GV yêu cầu HS theo dõi SGK phong trào đấu
tranh của nhân dân Bắc Kì
- HS theo dõi SGK, trả lời câu hỏi
- GV nhận xét, bổ sung: Trong suốt cuộc kháng
chiến chống Pháp, nhà Nguyễn không một lần
hiệu triệu nhân dân mà nhân dân tự động kháng
chiến (liên hệ sau này Bác Hồ kêu gọi toàn
quốc kháng chiến)
+ Ngay từ khi Pháp chưa đanh thành Hà Nội
nhân dân Hà Nội đã bất hợp tác với giặc, bỏ
thuốc độc xuống giếng nước ăn, đốt kho đạn
của địch ở ven sông Hồng, không bán được
lương thực, thực phẩm cho giặc
+ Khi thành Hà Nội thất thủ, nhân dân Hà Nội
tiếp tục kháng chiến Các sĩ phu văn thân yêu
nước đã lập nghĩa hội, bí mật tổ chức chống
Pháp, nhân dân các tỉnh anh dũng chiến đấu
(phần chữ nhỏ SGK trang 120) –> buộc Pháp
phải rút về cố thủ tại các tỉnh lỵ Cùng lúc đó
quân Pháp tại Hà Nội bị quân ta bao vây uy
hiếp, Pháp phải bỏ Nam Định về ứng cứu cho
Hà Nội và bị ta phục kích tại Cầu Giấy, giết
chết Gác-ni-e làm nên chiến thắng Cầu Giấy
vang dội 21/12/1873
- GV dùng lược đồ trận Cầu Giấy để tường
thuật diễn biến trận phục kích (phần chữ nhỏ
SGK trang 121) Chiến thắng Cầu Giấy có ý
nghĩa to lớn, khiến cho nhân dân ta vô cùng
phấn kích, ngược lại làm cho thực dân Pháp
- Phong trào kháng chiến của nhân dân:
+ Khi Pháp đến Hà Nội, nhân dân chủ động kháng chiến không hợp tác với giặc
+ Khi thành Hà Nội thất thủ nhân dân
Hà Nội và nhân dân các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ vẫn tiếp tục chiến đấu –> buộc Pháp phải rút về các tỉnh lỵ
cố thủ
+ Ngày 21/12/1873 quân ta phục kích địch ở Cầu Giấy, Gác-ni-e tử trận –> Thực dân Pháp hoang mang
Trang 8hoang mang lo sợ, chúng tìm cách thương
lượng với triều đình Huế Tình hình đó mở ra
một cơ hội để quân ta tấn công tiêu diệt địch
buộc chúng rút khỏi Bắc Kì bằng tấn công
quân sự Song triều đình lại một lần nữa ký
Hiệp ước với Pháp chịu nhiều thiệt thòi
* Hoạt động 3: Cả lớp, cá nhân
- GV yêu cầu HS đọc nội dung cơ bản của Hiệp
ước trong SGK, và đánh giá về Hiệp ước GV
cung cấp thêm thông tin sau Hiệp ước 1874:
Triều đình còn ký với Pháp một bản thương
lượng gồm 29 khoản cho phép thực dân Pháp
xác lập những đặc quyền kinh tế của chúng
trên khắp đất nước Việt Nam
- HS đánh giá về Hiệp ước Giáp Tuất 1874
- GV nhận xét, bổ sung: Đây là hiệp ước bất
bình đẳng thứ hai mà nhà Nguyễn phải ký với
thực dân Pháp, nhà Nguyễn đã đánh mất một
phần quan trọng chủ quyền độc lập của Việt
Nam Nam Kì trở thành thuộc địa của Pháp,
Việt Nam trở thành thị trường riêng của Pháp
Hiệp ước một lần nữa chứng tỏ thái độ nhu
nhược của triều Nguyễn trước cuộc xâm lược
của thực dân Pháp Đi ngược lại quyền lợi của
nhân dân, vì vậy vấp phải những phản ứng
quyết liệt từ nhân dân va các sĩ phu đương thời
Từ đây nội dung chống phong kiến ngày càng
rõ nét trong phong trào đấu tranh của nhân dân
ra nhất là trong cuộc khởi nghĩa của Trần Tấn,
Đặng Như Mai ở Nghệ – Tĩnh
“Dập dìu trống đánh cờ xiêu
Phen này quyết đánh cả triều lẫn Tây”
Hiệp ước đánh dấu quá trình đi từ “thủ để hoà”
sang chủ hoà vô điều kiện của nhà Nguyễn
- GV dẫn dắt: Sau Hiệp ước 1874 Pháp rút khỏi
Bắc Kì, gần 10 năm sau chúng mới mở cuộc
xâm lược Bắc Kì lần 2 và cuộc kháng chién
của nhân dân ta Chúng ta cùng tìm hiểu phần
II
Hoạt động 1: Cả lớp
chủ động thương lượng với triều đình
- Năm 1874 triều đình ký với thực dân Pháp điều ước Giáp Tuất, dâng toàn bộ 6 tỉnh Nam Kì cho Pháp
–> Hiệp ước gây nên làn sóng bất bình trong nhân dân –> Phong trào kháng chiến kết hợp giữa chống thực dân với chống phong kiến đầu hàng
Trang 9- GV cung cấp kiến thức: cuộc xâm lược lần
này của Pháp tương đối giống lần một Từ thập
kỉ 70 của thế kỉ XIX, nước Pháp đã bước vào
giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, nhu cầu thuộc địa
trở nên cấp thiết –> thực dân Pháp ráo riết xúc
tiến âm mưu xâm lược toàn bộ Việt Nam
- GV yêu cầu HS đọc SGK để thấy được quá
trình Pháp xâm lược Bắc Kì lần thứ hai
- HS trình bày GV bổ sung kết luận:
+ Trước khi xâm lược, Pháp phái người ra điều
tra tình hình Bắc Kì Năm 1882 Pháp vu cáo
triều đình Huế vi phạm Hiệp ước 1874 để lấy
cớ kéo quân ra Bắc
+ Ngày 3/4/1882 quân Pháp do Đại tá hải quân
Rivie chỉ huy bất ngờ đổ bộ lên Hà Nội Ngày
25/4 sau khi được tăng viện bih, chúng gửi tối
hậu thư cho Tổng đốc Hoàng Diệu, yêu cầu
triều đình hạ vũ khí, giao thành trong ba tiếng
đồng hồ Chưa hết thời hạn, địch đã nổ súng
chiếm thành GV dừng lại cho HS xem hình
trong SGK: Quân Pháp chiến thành Hà Nội,
xây dựng lô cốt trên nền điện Kính Thiên để
HS thấy được kinh đô xưa ngàn năm văn hiến
đã bị thực dân Pháp dày xéo
- Nhân lúc triều đình Huế còn đang hoang
mang, lơ là mất cảnh giác, Rivie đã cho quân
chiếm mỏ than Hồng Gai, Quảng Yên, Nam
Định (3/1883)
- GV phân tích: khác với lần một sau khi chiếm
thành Hà Nội, Pháp đánh chiếm các tỉnh Đồng
Bằng Bắc Bộ, lần này sau khi chiếm được
thành Hà Nội, Pháp chiếm mỏ tham Quảng
Ninh là vì nhu cầu nguyên liệu của nước Pháp
lúc này cấp thiết
- GV dẫn dắt: Khi Pháp đánh chiếm Bắc Kì lần
hai nhân dân ta đã kháng chiến như thế nào?
Kết quả ra sao, chúng ta cùng tìm hiểu phần 2
* Hoạt động 2: Cả lớp, cá nhân
- GV: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược lần hai của nhân dân ta tương tự như
II Thực dân Pháp tiến hành đánh Bắc Kì lần thứ hai Cuộc kháng chiến ở Bắc Kì và Trung Kì trong những năm 1882 – 1884
1 Quân Pháp đánh chiếm Hà Nội và các tỉnh Bắc Kì lần thứ hai (1882 – 1884)
- Năm 1882 Pháp vu cáo cho triều đình Huế vi phạm Hiệp ước 1874 để lấy cớ kéo quân ra Bắc
- Ngày 3/4/1882 Pháp bất ngờ đổ bộ lên Hà Nôi
- Ngày 25/4/1882 Pháp nổ súng chiếm thành Hà Nội
- Tháng 3/1883 Pháp chiếm mỏ than Hồng Gai, Quảng Yên, Nam Định
Trang 10lần đầu GV yêu cầu HS đọc SGK để thấy được
quan quân triều đình kháng chiến ra sao, nhân
dân kháng chiến như thế nào
- HS theo dõi SGK trả lời
- GV bổ sung, kết luận: Vừa đặt chân đến Hà
Nội (4/1882) Rivie đã giở trò khiêu khích, đòi
đóng quân trong thành và phá huỷ các công sự
phòng thủ trên mặt thành Mờ sáng ngày 25/4
Rivie gửi tối hậu thư cho tổng đốc Hoàng
Diệu, đòi nộp thành Hạn trả lời chưa hết,
chúng đã nổ súng đánh thành, quan quân triều
đình do Hoàng Diệu chỉ huy kiên quyết chống
lại
Cuộc chiến đấu đang diễn ra quyết liệt thì kho
thuốc đạn trong thành bốc cháy (do có nội
gián) làm cho quan quân Hoàng Diệu dao
động Thừa cơ lúc đó, quân Pháp đột nhập
chiếm thành, đại quân tan rã Hoàng Diệu chạy
vào hành cung thảo di biểu gửi triều đình, rồi
dùng khăn lụa tuẫn tiết trong vườn Võ Miếu
nêu cao tinh thần yêu nước một lòng sống chết
với thành
GV cung cấp thêm những tư liệu về Hoàng
Diệu Hoàng Diệu là người Xuân Đài, Điện
Bàn, Quảng Nam Suốt cuộc đời làm quan, ông
nổi tiếng là người thanh liêm, thẳng thắn, hết
lòng vì dân vì nước Dân thời ấy thường truyền
tụng rằng ông sống hết sức thanh bạch, trong
nhà không có tiền bạc và với ông không ai dám
đến cửa ông để kêu xin việc tư Khi được cử
làm tổng đốc thành Hà Nội, ông đã lo chỉnh
đốn lại thành trì và quân ngũ để đề phòng
Trước đó, ông đã dâng sớ lên vua Tự Đức đề
nghị việc phòng chống giặc nhưng vua Tự Đức
đã làm thinh Khi Hà Nội bị uy hiếp, ông một
mặt xin triều đình Huế viện binh, một mặt ra
lệnh giới nghiêm và thống báo các tỉnh đề
phòng, nhưng triều đình lại yêu cầu triệt binh
“để người Pháp khỏi nghi ngờ”, ông đã quyết
2 Nhân dân Hà Nội và các tỉnh Bắc
Kì kháng chiến
- Quan quân triều đình và Hoàng Diệu chỉ huy quân sỹ chiến đấu anh dũng bảo vệ thành Hà Nội –> thành mất, Hoàng Diệu hy sinh Triều đình hoang mang cầu cứu nhà Thanh