PHÂN TÍCH 20 CÂU THƠ ĐẦU TRONG BÀI THƠ VIỆT BẮC Phân tích 20 câu thơ đầu trong bài thơ Việt Bắc – mẫu 1 "Việt Bắc" là bài thơ lục bát dài 150 câu thơ của Tố Hữu được sáng tác vào tháng 10 năm 1954, ng[.]
Trang 1PHÂN TÍCH 20 CÂU THƠ ĐẦU TRONG
BÀI THƠ VIỆT BẮCPhân tích 20 câu thơ đầu trong bài thơ Việt Bắc – mẫu 1
"Việt Bắc" là bài thơ lục bát dài 150 câu thơ của Tố Hữu được sáng tác vàotháng 10 năm 1954, ngày thủ đô Hà Nội được hoàn toàn giải phóng
"Việt Bắc" là bản hùng ca và tình ca của cách mạng và kháng chiến Đoạnthơ sau đây dài 20 câu thơ nằm trong phần đầu bài "Việt Bắc":
- Mình về mình có nhớ ta
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa.
Đoạn thơ ghi lại tình cảm của ta khi đưa tiễn mình: mình đi… mình về… Cóthể hiểu ta là cô gái Việt Bắc, là đồng bào của dân tộc Việt Bắc; mình là ngườicán bộ kháng chiến, là anh bộ đội Cụ Hồ Chữ ta được vây bọc, được quấn quýttrong vòng tay yêu thương của mười hai chữ mình
Bốn câu thơ mở bài cất lên nghe tha thiết bồi hồi; cảm xúc được nén lạitrong lòng bỗng ùa dậy và trào lên Ta hỏi mình, hay ta đang hỏi lòng ta trongbuổi phân li ấy:
Mình về mình có nhớ ta Mình lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?
Tình nghĩa giữa ta với mình không phải là ngày một ngày hai mà đã giaohòa gắn kết "thiết tha, mặn nồng" trong suốt mười lăm năm trời, kể từ ngày khởinghĩa Bắc Sơn (1940) đến ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng (tháng 10 – 1954).Cây, núi, sông, nguồn Việt Bắc "mình có nhớ không?" Câu hỏi tu từ mở ra mộttrời thương nhớ
Trang 2Tố Hữu đã học tập và vận dụng sáng tạo ca dao dân ca, gợi nhớ trong lòngngười đọc hai tiếng mình, ta trong những bài hát giao duyên của trai gái làng quêthuở nào: "Mình về có nhớ ta chăng – Ta về ta nhớ hàm răng mình cười" Chất trữtình đằm thắm ấy đã tạo nên một nét đẹp trong đoạn thơ, cũng như cả bài thơ.Bốn câu thơ tiếp theo gợi tả không gian, thời gian và tâm trạng nghệ thuậtcủa người ra đi, của kẻ ở lại Tiếng hát tha thiết của ai cất lên bên cồn, nơi mérừng, nơi bờ suối? Hình ảnh hoán dụ "áo chàm" làm nổi bật đối tượng đưa tiễn vàmàu sắc Việt Bắc "Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi Cầm tay nhau biếtnói gì hôm nay " gợi lên nhiều thương nhớ rưng rưng Các từ láy: "tha thiết, bângkhuâng, bồn chồn" là tâm trạng của mình, của ta:
Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay
Mười hai câu thơ tiếp theo, các cặp từ ngữ: "mình đi" và "mình về" đượcgiao hoán đến ba lần đầy ấn tượng Điệp ngữ "có nhớ" được láy lại đến năm lần,chốt lại ở các câu lục, tạo nên cảm xúc bâng khuâng, bồn chồn, tha thiết:
Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Mình về, có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Những gian khổ, thiếu thốn, khó khăn khi cách mạng còn trứng nước,những ngày Bác Hồ mới về nước "nhóm lửa" tại Pắc Bó, Cao Bằng "Mưa nguồnsuối lũ những mây cùng mù" nơi chiến khu giữa vòng vây của giặc Pháp, giặcNhật đã trở thành kỉ niệm sâu sắc trong lòng kẻ ở người về "Miếng cơm chấmmuối" thuở ấy đã làm cho tình đồng chí, tình đổng đội, tình quân dân thêm sắt sonbền chặt, đã soi sáng lí tưởng chiến đấu cứu nước, cứu nhà, đã làm cho mối thù đếquốc thêm "nặng vai" khắc sâu vào xương tủy:
Trang 3Mày sẽ chết! Thằng giặc Pháp hung tàn Băm xương thịt mày, tao mới hả.
(Dọn về làng - Nông Quốc Chấn)
Mình về xuôi, mình đi xa để lại bao nhớ thương cho ta, cho người ở lại, chocảnh vật cỏ cây, núi rừng chiến khu Rừng núi, trám bùi, măng mai được nhânhoá, mang theo bao nỗi nhớ, bao nổi buồn thương Cảnh vật như hoà lệ, Các chữ
"rụng", chữ "già" gợi lên nhiều bơ vơ, man mác, bâng khuâng:
Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già.
Làm sao có thể quên được nghĩa tình Việt Bắc trong những tháng ngày gianlao và anh dũng ấy:
Mình đi, có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son
Tố Hữu đã sáng tạo nên những hình ảnh tượng trưng, tương phản (lau xám /lòng son) để ca ngợi đồng bào các dân tộc Việt Bắc Tuy nghèo khó, thiếu thốnnhưng tình yêu nước, tình cách mạng vẫn thuỷ chung son sắt, vẫn đậm đà Đây lànhững vần thơ đẹp nhất, cảm động nhất nói về nồi nhớ, lòng biết ơn và lòng tựhào đối với Việt Bắc
Việt Bắc là "đầu nguồn", là "cái nôi" của cách mạng và kháng chiến, là căn
cứ địa của Việt Minh thời kháng Nhật, là Tân Trào, nơi Đội Việt Nam Tuyêntruyền Giải phóng quân làm lễ xuất kích (tháng 12-1944), là mái đình Hồng Thái,nơi họp Quốc dân đại hội (tháng 8-1945) Việt Bắc là chiến khu bất khả xâmphạm, là thủ đô gió ngàn: "Núi giăng thành luỹ sắt dày - Rừng che bộ đội, rừngvây quân", nên có bao giờ có thể quên:
Mình về, có nhớ núi non Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh
Mình đi, mình có nhớ mình
Trang 4Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa.
Những địa danh lịch sử, núi non, mái đình, cây đa đã trở thành kỉ niệm sâusắc trong lòng kẻ ở, người về đối với Việt Bắc:
Mười lăm năm ấy ai quên Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa
Một nét đặc sắc của đoạn thơ là tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật đốixứng rất tài tình Các câu bát được tạo thành hai vế đối nhau (tiểu đối) làm chongôn ngữ thơ hài hòa, mang vẻ đẹp cổ điển:
Nhìn cây nhớ núi, // nhìn sông nhớ nguồn?
Bâng khuâng trong dạ, // bồn chồn bước đi Mưa nguồn suối lũ, // những mây cùng mù Miếng cơm chấm muối, // mối thù nặng vai?
Trám bùi để rụng,// măng mai để già Hắt hiu lau xám, // đậm đà lòng son Nhớ khi kháng Nhật, // thuở còn Việt Minh Tân Trào, Hồng Thái, // mái đình, cây đa.
Đoạn thơ trên đây cũng như cả bài thơ, có trường hợp chữ mình xuất hiệnđến ba lần trong một câu thơ Thật không dễ phân biệt rạch ròi chủ thể chữ tìnhtrong ba chữ mình đó Phải chăng mình cũng là ta, ta cũng là mình, hai tâm hồn đãnương tựa vào nhau:
- Mình đi, mình có nhớ mình
- Mình đi, mình lại nhớ mình.
"Việt Bắc" là đỉnh cao của thơ Tố Hữu, cũng là thành tựu đặc sắc của thơ cakháng chiến Đoạn thơ trên đây tiêu biểu cho vẻ đẹp đặc sắc đó
Trang 5Ngôn ngữ thơ vừa thấm đẫm trữ tình ca dao, dân ca, vừa mang vẻ đẹp củathi ca cổ điển dân tộc Tình nghĩa thủy chung của ta với mình, lòng biết ơn, niềm
tự hào đối với chiến khu Việt Bắc và đồng bào các dân tộc Việt Bắc đã tạo nêntính nhân dân sâu sắc của bài thơ
Sau hơn nửa thế kỉ, đọc "Việt Bắc" của Tố Hữu, ta càng xúc động, bồi hồi
về điệp ngữ "có nhớ" "Việt Bắc" là bài ca tình nghĩa thủy chung Bài ca ấy, bàihọc ấy cho tuổi trẻ chúng ta thời đổi mới ngày nay niềm tin yêu và sức mạnh đểbước vào đời và biết sống đẹp
Sơ đồ tư duy
Dàn ý chi tiết
1 Mở bài
- Giới thiệu tác giả Tố Hữu, tác phẩm Việt Bắc
+ Tố Hữu là một nhà thơ tiêu biểu, một trong những lá cờ đầu của nền vănnghệ cách mạng Việt Nam
+ Việt Bắc là bản hùng ca và tình ca của cách mạng và kháng chiến gắn liềnvới tên tuổi của Tố Hữu
Trang 6- Giới thiệu đoạn trích: Đoạn trích là 3 khổ thơ đầu (20 câu đầu) của bài thơ là nỗilòng thương nhớ, là lời tâm tình giữa kẻ ở và người đi trong buổi phân li ở ViệtBắc.
2 Thân bài
* Khái quát chung
- Hoàn cảnh sáng tác: Tháng 10 năm 1954, sau khi cuộc kháng chiến chống thựcdân Pháp kết thúc thắng lợi, các cơ quan trung ương của Đảng và chính phủ từViệt Bắc về lại thủ đô Hà Nội Tố Hữu cùng những cán bộ kháng chiến từng sống
và gắn bó nhiều năm với Việt Bắc, nay từ biệt chiến khu Việt Bắc để về xuôi Bàithơ được viết trong buổi chia tay lưu luyến đó
- Vị trí đoạn trích: Đoạn trích gồm 3 khổ thơ đầu của bài thơ Việt Bắc
* Phân tích:
- Tám câu thơ đầu là tâm trạng lưu luyến bịn rịn trong buổi chia tay:
+ Bốn câu trên, sử dụng điệp cấu trúc “mình về mình co nhớ” là lời ướm hỏi,khơi gợi lại những kỉ niệm về “mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”, về thiênnhiên Việt Bắc nghĩa tình
+ Cách xưng hô “mình - ta” như lời tâm tình của đôi lứa yêu nhau khiến cuộcchia tay trở nên thân mật, giản dị Cách xưng hô còn gợi nhớ đến những câu đốiđáp trong điệu hát giao duyên khiến những câu thơ nói về cách mạng không khôkhan mà trở nên đằm thắm, sâu lắng
+ Bốn câu thơ tiếp là nỗi lòng lưu luyến của cả người ở lại và ra đi thể hiện quanhững từ ngữ diễn tả tâm trạng trực tiếp: “da diết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn”;không khí buổi chia tay thân tình, gần gũi: “áo chàm”, “cầm tay nhau”
- Mười hai câu tiếp theo, với việc sử dụng điệp từ “nhớ”, là lời nhắn nhủ dướihình thức câu hỏi:
+ Nhớ đến thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc trong những ngày kháng chiến: mưanguồn, suối lũ, mây mù, trám bùi, măng mai
Trang 7+ Nhớ đến những ân tình trong khó khăn gian khổ: “miếng cơm chấm muối”nhưng vẫn “đậm đà lòng son”.
+ Nhớ đến quãng thời gian hoạt động cách mạng: kháng Nhật, Việt Minh, TânTrào, Hồng Thái,
+ Đại từ xưng hô “mình” thể hiện sự gắn bó, thân thiết giữa kẻ ở, người đi Nógiống như cách xưng hô tâm tình, thủ thỉ chân thành
3 Kết bài
- Khái quát lại nội dung đoạn trích
- Nêu cảm nhận của em
Các mẫu khác:
Phân tích 20 câu thơ đầu trong bài thơ Việt Bắc – mẫu 2
Nhắc đến thơ ca Cách mạng, ta không thể không nhắc đến cái tên Tố Hữu.Ông như một ngọn đuốc rực rỡ, sáng chói trong bầu trời thơ ca cách mạng ViệtNam Việt Bắc chính là một trong những bài thơ gắn với tên tuổi của Tố Hữu Cảbài thơ như một khúc nhạc tâm tình, nhẹ nhàng, mộc mạc mà sâu lắng về tình cảmnhân dân - chiến sĩ Trong đó, hai mươi câu thơ đầu như một khúc dạo tình tứ, đưacon người trở về với những kỉ niệm không thể nào quên
Bốn câu đầu là lời Việt Bắc tỏ bày với người cán bộ chiến sĩ khi chia tay:
“ Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”
Các từ xưng hô “mình - ta” mộc mạc, gần gũi gợi liên tưởng ca dao: “Mình
về ta chẳng cho về - Ta nắm dải áo, ta đề bài thơ” “Mười lăm năm” là chi tiếtthực chỉ độ dài thời gian từ năm 1940 thời kháng Nhật và tiếp theo là phong trào
Trang 8Việt Minh, đồng thời cũng là chi tiết gợi cảm - nói lên chiều dài gắn bó thươngnhớ vô vàn Câu thơ mang dáng dấp một câu Kiều - Mười lăm năm bằng thời gianKim — Kiều xa cách thương nhớ mong đợi hướng về nhau (Những là rày ước mai
ao - Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình) Cảm xúc đậm đà chất dân gian, đậm
đà chất Kiều Âm điệu ngọt ngào, giọng thơ nồng ấm, tình cảm do vậy dạt dàothiết tha Việt Bắc hỏi người về: “Mình về mình có nhớ không - Nhìn cây nhớ núi,nhìn sông nhớ nguồn?” Câu hỏi chất chứa tình cảm lưu luyến, bao hàm lời dặn dòkín đáo: đừng quên cội nguồn Việt Bắc - cội nguồn cách mạng
Bốn câu tiếp theo là nỗi lòng của người về:
“ Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biểt nói gì hôm nay.”
"Bâng khuâng”, “bồn chồn” là hai từ láv gợi cảm, diễn tả trạng thái tâm lítình cảm buồn vui, luyến tiếc, nhớ thương, chờ mong lẫn lộn cùng một lúc.Mười lăm năm Việt Bắc cưu mang người cán bộ chiến sĩ, mười lăm năm gian khổ
có nhau, mười lăm năm đầy những kỉ niệm chiến đấu, giờ phải chia tay rời xa đểlàm nhiệm vụ tiếp quản tại thủ đô Hà Nội (10/1954), biết mang theo điều gì, biếtlưu lại hình ảnh nào, tâm trạng của người về do vậy không tránh khỏi là nỗi niềmbâng khuâng khó tả
“Áo chàm đưa buổi phân li” là một ẩn dụ Màu áo chàm, màu áo xanh đen
là đặc trưng của người miền núi Việt Bắc Tác giả hướng nỗi nhớ Việt Bắc quahình ảnh cụ thể "áo chàm", chiếc áo, màu áo bình dị, đơn sơ, mộc mạc của vùngquê nghèo thượng du đồi núi nhưng sâu nặng nghĩa tình, đã góp phần không nhỏvào sự nghiệp kháng chiến cứu nước
Câu thơ “Cầm tay nhau biết nói gi hôm nay ” đầy tính chất biểu cảm không phải không có điều để giãi bày mà chính vì có quá nhiều điều muôn nóinhưng không biết phải nói điều gì Ba dấu chấm lửng đặt cuối câu là một dấu lặngtrên khuôn nhạc để tình cảm ngân dài, sâu lắng
-Mười hai câu tiếp theo kết thúc đoạn trích, là lời tâm tình của Việt Bắc:
Trang 9“Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Mình về, có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng măng mai để già Mình đi, có nhớ những nhà Hát hiu lau xám, đậm đà lòng son Mình về, có nhớ núi non Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh
Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa.”
Điệp từ “nhớ” lặp đi lặp lại mang nhiều sắc thái ý nghĩa: nhớ là nỗi nhớ, làlời nhắc nhớ Hàng loạt những câu hỏi tu từ bày tỏ tình cảm tha thiết đậm đà củaViệt Bắc Tình cảm lưu luyến cùa người đưa tiễn, gửi đi nỗi nhớ mong, gửi lạiniềm thương theo cách:
“Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.”
Việt Bắc nhắc người cán bộ chiến sĩ đừng quên những năm tháng gian laovất vả, hoạt động chiến đấu trong điều kiện trang bị tiếp tế còn thô sơ, thiếu thốn
“Mình về có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?”
Trang 10“Miếng cơm chấm muối” là chi tiết thực, phản ánh cuộc sống kháng chiếngian khổ Và cách nói “mối thù nặng vai” nhằm cụ thế hóa nhiệm vụ chống thựcdân cướp nước đè nặng vai dân tộc ta.
Cảm xúc thương nhớ xa vắng thả vào không gian rừng núi, gợi nỗi niềm dàodạt:
“Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già.”
Hình ảnh ‘Trám bùi để rụng, măng mai để già” gợi nỗi buồn thiếu vắng
-“Trám rụng, măng già” không ai thu hái Nỗi bùi ngùi như thúc vào lòng kẻ ở lại.Tiễn người về sau chiến thắng và chính trên cái nền của sự chiến thắng đó,
đã làm cho nỗi buồn nhớ trở nên trong sáng Việt Bắc vẫn “một dạ khăng khăngđợi thuyền”, đồng thời nhắc nhở khéo léo tấm “lòng son” của người cán bộ chiến
sĩ Xin đừng quên thời kì “kháng Nhật, thuở còn Việt Minh”, đừng quên cộinguồn cách mạng, đừng quên chăm lo giữ gìn sự nghiệp cách mạng
“Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái dinh cây đa.”
Đoạn thơ trên là nỗi lòng thương nhớ, là lời tâm tình của Việt Bắc Đoạn thơtrên tiêu biểu sắc thái phong cách Tố Hữu, giọng điệu thơ ngọt ngào truyền cảm,mang đậm phong vị ca dao dân gian, đề cập đến con người và cuộc sống khángchiến Thông qua hình tượng Việt Bắc, tác giả ca ngợi phẩm chất cách mạng caođẹp của quân dân ta, khẳng định nghĩa thủy chung son sắt của người cán bộ, chiến
sĩ đối với Việt Bắc
Phân tích 20 câu thơ đầu trong bài thơ Việt Bắc – mẫu 3
Tố Hữu là một trong những nhà thơ lớn nhất, tiêu biểu nhất của nền thi ca hiệnđại, là “ngọn cờ đầu của thơ ca cách mạng, nhà thơ của lý tưởng cộng sản” Tậpthơ “Việt Bắc” là đỉnh cao của thơ Tố Hữu đồng thời cũng là thành tựu hàng đầucủa thơ ca kháng chiến chống Pháp, trong đó bài thơ “Việt Bắc” được coi là kếttinh sở trường nghệ thuật của ngòi bút Tố Hữu Đó là khúc hát ân tình của ngườikháng chiến đối với quê hương, đất nước với nhân dân cách mạng được thể hiện
Trang 11bằng một nghệ thuật vừa cổ điển vừa hiện đại mà cốt lõi là truyền thống ân nghĩa
đạo lý thủy chung của dân tộc
Được coi là người sinh ra để thơ hoá những vấn đề chính trị, thơ Tố Hữu luônbám sát các sự kiện cách mạng Men theo năm tháng những bài thơ của Tố Hữu,
ta có thể tái hiện lại những chặng đường hào hùng của cách mạng Việt Nam Thơông quả là “cuốn biên niên sử bằng thơ” như có nhà nghiên cứu đã đánh giá “Việt
Bắc” không phải là ngoại lệ
Tháng 7/1954 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi hoà bình được lậplại, miền Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng, một trang sử mới mở ra cho đất nước.Tháng 10/1954, cơ quan Trung ương của Đảng và Nhà nước chuyển từ căn cứ địa
về thủ đô Trong thời điểm lịch sử ấy, bài thơ “Việt Bắc” đã ra đời “Việt Bắc”không còn là tình cảm riêng của Tố Hữu mà còn tiêu biểu cho tình cảm của ngườikháng chiến miền xuôi đối với chiến khu cách mạng, với đất nước, với nhân dân.Một sự kiện chính trị đã chuyển hoá thành thơ ca theo cách “Tâm tình hoá, là mộtđặc trưng của lối thơ trữ tình chính trị Tố Hữu 20 câu thơ đầu tiên của “Việt Bắc”
thể hiện rất rõ đặc trưng nghệ thuật này
Đoạn thơ mở đầu bằng những câu thơ ngọt ngào:
“Mình về mình có nhớ ta Mười năm năm ấy thiết tha mặn nồng.”
Câu thơ mở ra cảnh giã biệt, một hoàn cảnh đặc biệt để bộc lộ cảm xúc trữtình dạt dào Cảnh giã biệt vẫn quen thuộc trong thơ ca dân gian và cổ điển truyềnthống đã được Tố Hữu khéo vận dụng để diễn tả tâm trạng mang tính thời đại.Cuộc chia tay lớn của cán bộ Đảng, Chính phủ với Việt Bắc được thu vào cuộcchia tay của một đôi trai gái: người ở lại rừng núi chiến khu là cô gái Việt Bắc,người về xuôi là anh cán bộ cách mạng Chuyện chung đã hoá thành chuyện riêng,chuyện cách mạng của dân nước trở thành chuyện tình yêu của lứa đôi, cuộc chiatay đầy bịn rịn lưu luyến giữa những người đã từng gắn bó sâu nặng dài lâu
“Mười lăm năm” “thiết tha mặn nồng” được Tố Hữu thể hiện bằng một thểthơ giàu tính dân tộc Thể lục bát, cách kết cấu đối đáp, sử dụng đại từ nhân xưng
“Mình”, “Ta” quen thuộc trong thơ ca dân gian, có khả năng “biểu hiện một cáchthuận tiện, phù hợp với điệu hồn chung của cộng đồng người Việt” “Rung lên cái