1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng Xã hội chủ nghĩa.

27 518 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân Là Vấn Đề Chiến Lược Lâu Dài Trong Phát Triển Nền Kinh Tế Nhiều Thành Phần Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại bài tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 141,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo thực tập: Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng Xã hội chủ nghĩa.

Trang 1

A.ĐẶT VẤN ĐỀ

Hơn 20 năm qua, trong thời kì đổi mới, vấn đề phát triển nền kinh tếnhiều thành phần được coi là một nhu cầu tất yếu đối với Việt Nam Từ nhậnthức đúng đắn về thời kì quá độ, Đảng đã quyết định đổi mới nền kinh tế, coinền kinh tế nhiều thành phần là đặc trưng của thời kì quá độ Đại hội VI đã vậndụng đúng đắn quan điểm của Lênin về kinh tế nhiều thành phần Chính Lênincũng cho rằng tên nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa là để khẳng định hướng tiếnlên chứ điều đó chưa có nghĩa là nền kinh tế của ta đã hoàn toàn là kinh tế xã hộichủ nghĩa Vì vậy, ở nước ta cần thiết phải có nhiều thành phần kinh tế pháttriển bình đẳng trước pháp luật, đó là yêu cầu khách quan Đại hội VI khẳngđịnh nước ta có các thành phần: kinh tế xã hội chủ nghĩa bao gồm khu vực quốcdoanh và khu vực tập thể; kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa; kinh tế tư bản tư nhân;kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế tự nhiên, tự túc tự cấp Đại hội IX bổ sung thêmmột thành phần nữa là kinh tế 100% vốn nước ngoài Trong quá trình đổi mới,

20 năm qua, Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dàichính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Trong đó, kinh tế

tư nhân là một bộ phận giữ vai trò cực kì quan trọng trong cơ cấu này

Kinh tế tư nhân không chỉ có tiếng nói quyết định đến sức mạnh kinh tếcủa hầu hết các quốc gia mà còn trở thành một lực lượng kinh tế có ý nghĩachính trị toàn cầu Phát triển khu vực kinh tế tư nhân cũng có nghĩa là bảo tồntính đa dạng phong phú của đời sống kinh tế, xem nó như là nguồn gốc của mọi

sự phát triển

Ngày nay sở hữu tư nhân đã phát triển lên một trình độ mới về chất, quy mô sởhữu của nhiều công ty ngày càng đồ sộ và nhiều công ty tạo ra lượng tài sản cógiá trị lớn hơn cả GDP của một số quốc gia Cùng với quá trình phát triển kinh

tế, nhân loại càng ngày càng sáng tạo ra nhiều loại hình sở hữu mới Ngoài sởhữu tài sản hữu hình, người ta không chỉ sở hữu những tài sản vô hình như các

Trang 2

nhãn hiệu hàng hóa, bí quyết công nghệ mà còn sở hữu cả không gian ảo trênmạng Internet và tài sản ảo là những thông tin đang tràn ngập trên mạng thôngtin toàn cầu Trong nền kinh tế thị trường mở, quốc gia nào có nền kinh tế tưnhân tham gia nhiều nhất, đầy đủ nhất và sâu sắc nhất vào nền kinh tế toàn cầuthì quốc gia đó sẽ càng có ưu thế trong cạnh tranh Trên thực tế, kinh tế tư nhân

và kinh tế nhà nước cùng tồn tại trong một thế giới ngày nay, thế nhưng kinh tế

tư nhân lại tỏ ra năng động, có sức sống hơn và phát triển mạnh mẽ hơn Đó là

do kinh tế tư nhân có sự tương thích rất cao với kinh tế thị trường, đặc biệt làtính chất mở cửa thị trường ngày càng tăng, sự hợp tác và cạnh tranh quốc tế đòihỏi các thực thể kinh tế phải rất linh hoạt và tự chủ trong hoạt động kinh doanh,điều này vốn là nhược điểm của kinh tế nhà nước Thực tế cho thấy kinh tế tưnhân có vai trò đắc lực tạo ra sự phát triển của xã hội, tạo cho mỗi cá nhân vô số

cơ hội có việc làm để khẳng định mình, để mưu cầu cuộc sống và hạnh phúc, tức

là góp phần tạo ra con người với nhiều phẩm chất tốt đẹp hơn Phát triển kinh tế,suy cho cùng không phải là mục tiêu mà chỉ là phương tiện Mục tiêu tối thượngcủa nhân loại là xã hội phát triển, con người phát triển Có thể nói rằng kinh tế

tư nhân là một phương tiện quan trọng để con người có cơ hội hoàn thiện mìnhtrong quá trình phát triển hướng thiện của nhân loại Con người đã sáng tạo ra vàquyết định lựa chọn kinh tế tư nhân để phát triển, nhưng đồng thời kinh tế tưnhân lại là môi trường tốt để con người tự thân phát triển, con người có cơ hội tựhoàn thiện vì sự phát triển của chính nó và thông qua đó phát triển toàn xã hội.Tóm lại, kinh tế tư nhân là hình thức kinh tế tự nhiên của quá trình phát triển xãhội, tồn tại và phát triển ngoài ý muốn chủ quan của con người, chừng nào conngười còn cần đến kinh tế tư nhân như là một phương tiện hữu hiệu để xây dựng

và kiến tạo cuộc sống của mình, thì kinh tế tư nhân còn tồn tại như một hànhtrang của con người trong tiến trình đi tới tương lai

Nhận thức được điều này, nghị quyết TW5 đã chỉ rõ “phát triển kinh tế tưnhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần

Trang 3

là phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao nội lực của đấtnước trong hội nhập kinh tế quốc tế” Theo Báo cáo chính trị của ban chấp hành

TW Đảng khóa IX, Nhà nước ta chủ trương phát triển mạnh các loại hình doanhnghiệp của tư nhân, xoá bỏ mọi rào cản, tạo tâm lý xã hội và môi trường kinhdoanh thuận lợi cho các loại hình doanh nghiệp của tư nhân phát triển không hạnchế quy mô trong mọi ngành nghề, lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực sản xuất kinhdoanh quan trọng của nền kinh tế mà pháp luật không cấm Như vậy có thể thấyrằng, cho đến nay, Đảng và Nhà nước đã khẳng định: sự tồn tại của kinh tế tưnhân không những là sự tồn tại khách quan mà chúng ta phải chấp nhận, màtrong bối cảnh hiện nay, sự tồn tại đó đang đóng một vai trò quan trọng trong sựnghiệp phát triển kinh tế

Trong khuôn khổ bài tiểu luận này, em xin được đi sâu tập trung vào một

số nội dung về những vấn đề chung về kinh tế tư nhân, thực trạng của kinh tế tưnhân và đề xuất một số giải pháp thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tư nhân

Trang 4

B NỘI DUNG

I Những vấn đề lớ luận về kinh tế tư nhõn.

1 Quan niệm và đặc điểm của kinh tế tư nhõn.

Kinh tế t nhân là khái niệm chỉ khu vực kinh tế t nhân, bao gồm các hìnhthức tổ chức sản xuất kinh doanh thuộc nhóm các thành phần kinh tế t nhân.Tiêu thức cơ bản để xác định một thành phần kinh tế, một hình thức tổ chức sảnxuất nào đó có thuộc kinh tế t nhân hay không là quan hệ sản xuất, trớc hết làquan hệ sở hữu Theo đó kinh tế t nhân là một khu vực kinh tế dựa trên sở hữu tnhân về t liệu sản xuất (hoặc vốn) với các hình thức tổ chức kinh doanh nh doanhnghiêp, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp doanh, cáccơ sở kinh tế cá thể, tiểu chủ và bộ phận các doanh nghiệp của nớc ngoài đầu tvào Việt Nam

Kinh tế t nhân không phải là một thành phần kinh tế mà là phạm trù để chỉnhóm thành phần kinh tế vừa có những đặc trng chung, lại vừa có bản chất khácnhau Có thể xem xét kinh tế t nhân trên các quan hệ kinh tế cơ bản sau đây:

Quan hệ sở hữu: Kinh tế t nhân thể hiện quan hệ sở hữu t nhân về t liệu sản

xuất(hoặc vốn) cũng nh phần của cải vật chất đợc tạo ra từ t liêu sản xuất(hayvốn) đó Nó bao gồm sở hữu t nhân nhỏ, là sở hữu của những ngời lao động tự

do, sản xuất ra sản phẩm nhờ lao động của chính mình và các thành viên tronggia đình(nh thợ thủ công cá thể, tiểu thơng, các hộ nông dân…) và sở hữu t nhânlớn của các nhà sản xuất kinh doanh trong nớc và nớc ngoài đầu t ở Việt Nam

Quan hệ quản lý: Xuất phát từ quan hệ sở hữu của kinh tế t nhân, quan hệ

quản lý của khu vực kinh tế này gồm các quan hệ quản lý dựa trên sở hữu t nhânnhỏ và quan hệ quản lý dựa trên sở hữu t nhân lớn Quan hệ quản lý dựa trên sởhữu t nhân nhỏ là quan hệ dựa trên sự tự tổ chức, điều hành hay tổ chức, điềuhành, phân công việc trong nội bộ gia đình, giữa các thành viên gia đình vớinhau Quan hệ quản lý dựa trên sở hữu t nhân lớn là quan hệ quản lý giữa chủ thểquản lý với đối tợng quản lý và khách thể quản lý, giữa ngời quản lý với ngời bịquản lý

Quan hệ phân phối: Trong kinh tế t nhân, quan hệ phân phối dựa trên cơ

sở các loại hình sở hữu t nhân khác nhau Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh

mà ngời sở hữu đồng thời là ngời trực tiếp lao động, không thuê mớn nhân công,

Trang 5

thì phân phối kết quả sản xuất là tự phân phối trong nội bộ chủ thể kinh tế đó.Còn đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh lớn, chủ sở hữu t liệu sản xuất (hayvốn) sử dụng lao động của lao động làm thuê thì phân phối kết quả sản xuất căn

cứ vào sở hữu giá trị, tức là giá trị sức lao động của lao động làm thuê và sở hữu

t bản Trong các chế độ chính trị xã hội khác nhau thì quan hệ phân phối củakinh tế t nhân cũng có sự khác biệt nhất định

Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế t nhân là một trong những nhân tố có tác

động tích cực đến tăng trởng kinh tế Song, nếu để tự phát, không định hớng chokhu vực kinh tế t nhân thì tất yếu sẽ dẫn đến tác động tiêu cực, gây nên sự bất ổn

định về kinh tế xã hội Vì vậy, cần xác định rõ những xu hớng phát triển củakinh tế t nhân và có sự định hớng tích cực tới khu vực này Đảng ta đó chủ

trương đưa nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường, cú sự quản lý của Nhà

nước, theo định hướng xó hội chủ nghĩa Đú chớnh là nền kinh tế thị trường địnhhướng xó hội chủ nghĩa Trong nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa

ở nớc ta hiện nay, kinh tế t nhân vận động theo các đặc điểm, xu hớng cơ bảnsau:

Một là, kinh tế t nhân gắn liền với phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trờng Tức là, mỗi thành phần kinh tế không thể tự

tiến hành sản xuất và lu thông hàng hoá một cách bình thờng, nếu không thựchiện những mối quan hệ kinh tế trong nội bộ từng thành phần và giữa các thànhphần kinh tế với nhau, giữa khu vực kinh tế nhà nớc và khu vực kinh tế t nhân.Các thành phần kinh tế, các khu vực kinh tế chỉ có thể tồn tại và phát triển trongmối quan hệ phụ thuộc vào nhau qua các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội.Các thành phần kinh tế, khu vực kinh tế vừa cạnh tranh với nhau, vừa hợp tác, hỗtrợ, thúc đẩy nhau, là tiền đề phát triển của nhau theo cơ chế thị trờng trong nềnkinh tế thống nhất

Hai là, phát triển kinh tế t nhân phải kết hợp với các mục tiêu độc lập tự chủ, xã hội chủ nghĩa trong cơ chế thị trờng, mở cửa, hội nhập quốc tế Khụng

thể phủ nhận rằng kinh tế tư nhõn đúng gúp một phần khụng nhỏ vào nền kinh tếquốc dõn, tuy nhiờn khụng phải vỡ thế mà cú thể để cho kinh tế tư nhõn tự dophỏt triển mà thiếu sự quản lớ của Nhà nước Thiếu sự định hướng của Nhànước, các thành phần kinh tế t bản t nhân, cá thể và tiểu chủ, bộ phận doanhnghiệp của các nhà t bản t nhân nớc ngoài đầu t xây dựng(100% hoặc góp vốn

Trang 6

với các cơ sở sản xuất kinh doanh t nhân trong nớc) vốn thuộc phạm trù kinh tế

sẽ chệch hớng, tự phát sang chủ nghĩa t bản éối với chỳng ta, trong bối cảnhhội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, cuộc đấu tranh để bảo vệ độc lập tự chủ vềkinh tế, nhỡn rộng hơn là bảo vệ sự lựa chọn con đường phỏt triển của mỡnh, nhấtthiết Việt Nam khụng thể coi nhẹ, càng khụng thể thiếu vai trũ chủ đạo của kinh

tế nhà nước éú là vấn đề sinh tử, mang tớnh quy luật của sự nghiệp xõy dựngchủ nghĩa xó hội Thực tế cho thấy, nếu Việt Nam khụng cú khu vực kinh tế nhànước đủ mạnh, sẽ khụng cú những thành tựu về hội nhập kinh tế quốc tế khảquan như đó thấy; đồng thời, vẫn giữ vững sự ổn định và phỏt triển về kinh tế,chớnh trị, xó hội qua mỗi chặng đường phức tạp và đầy cam go của cụng cuộcđổi mới hơn 20 năm vừa qua

Ba là, phát triển kinh tế t nhân phải nhằm đạt tới hệ các mục tiêu: huy

động vốn, tạo việc làm, nâng cao thu nhập của dân c, tăng tổng sản phẩm xã hội

và tăng thu cho ngân sách nhà nớc Quan điểm thừa nhận sự tồn tại của khu vực

kinh tế t nhân không ngoài mục đích khai thác, phát huy tốt nhất mọi năng lựcsản xuất của họ để phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, tạo ra nhiềucủa cải cho xã hội

Bốn là, phát triển kinh tế t nhân theo hớng đa dạng hoá sở hữu, đan xen các hình thức sở hữu theo các hình thức kinh tế t bản nhà nớc Phỏt triển nền

kinh tế nhiều hỡnh thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đú kinh tế nhànước giữ vai trũ chủ đạo; kinh tế nhà nước cựng với kinh tế tập thể ngày càngtrở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dõn

Trờn đõy là những xu hướng phỏt triển chủ yếu của kinh tế tư nhõn trongthời kỡ quỏ độ lờn CNXH ở Việt Nam, gúp phần thực hiện mục tiờu liên kết cáclực lợng trong nớc thành một lực lợng kinh tế dân tộc trong quá trình mở cửa, hộinhập với khu vực và thế giới, đưa nước ta trở thành một cường quốc trờn thếgiới

2.Tớnh tất yếu khỏch quan của sự tồn tại và phỏt triển của kinh tế tư nhõn trong nền kinh tế thị trường.

Trang 7

Sự phát triển xã hội gắn liền với sự phát triển ngày càng phong phú cácquyền cá nhân Sự phát triển của các quyền cá nhân đến lượt nó sẽ thúc đẩy kinh

tế tư nhân phát triển mạnh mẽ

Không có các quyền cá nhân làm tiền đề thì không thể có các quyền củakinh tế tư nhân Trong thực tế, hiện nay, những hiện tượng can thiệp vào đờisống cá nhân diễn ra tràn lan ở khá nhiều quốc gia Khi chúng ta không xâydựng, không tôn trọng các quyền cá nhân, có nghĩa là các giá trị cá nhân khôngđược pháp chế hóa, định chế hóa, hoặc chúng ta không nhận thức các quyền cánhân như những động lực của sự phát triển cá nhân, như những không gian xãhội cần thiết cho một cá nhân phát triển thì không thể phát triển khu vực tư nhânlành mạnh được Chừng nào một xã hội chưa tôn trọng các quyền cá nhân, kèmtheo đó là sở hữu cá nhân thì xã hội đó không thể xây dựng khu vực kinh tế tưnhân một cách chuyên nghiệp được

Hơn nữa, ở Việt Nam trong thời kì quá độ lên CNXH, thì kinh tế tư nhângiữ một vai trò cực kì quan trọng, không thể thiếu được nhằm góp phần pháttriển nền kinh tế quốc dân, tạo tiền đề về vật chất cho CNXH

Tóm lại, kinh tế tư nhân là hình thức kinh tế tự nhiên của quá trình pháttriển xã hội, tồn tại và phát triển ngoài ý muốn chủ quan của những nhà chính trịcho dù họ đại diện cho bất kỳ lực lượng xã hội nào, hoặc nhân danh ai, hoặc vớimục đích nhân đạo hay cao cả đến đâu chăng nữa Chừng nào con người còn cầnđến kinh tế tư nhân như là một phương tiện hữu hiệu để xây dựng và kiến tạocuộc sống của mình và đồng loại, thì kinh tế tư nhân còn tồn tại như một hànhtrang của con người trong tiến trình đi tới tương lai

II Đánh giá thực trạng của kinh tế tư nhân trong quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

1 Tiến trình phát triển.

a Trước thời kì đổi mới.

Trang 8

Trước thời kì đổi mới, Đảng và Nhà nước ta chủ trương cải tạo XHCNvới công nghiệp và thương nghiệp tư bản tư doanh, đồng thời đầu tư xây dựngmới các xí nghiệp quốc doanh.

Sau khi thống nhất đất nước, ở miền Bắc, công cuộc cải tạo XHCN đốivới tư bản tư doanh đã cơ bản hoàn thành, gần 100% hộ tư sản thuộc diện cải tạo

đã được cải tạo, 45,6% số tiểu thương vào hợp tác xã Còn ở miền Nam, nghịquyết Đại hội Đảng khóa IV đặt ra mục tiêu đến năm 1980 phải hoàn thành cơbản công cuộc cải tạo XHCN đối với công thương nghiệp, tháng 1/1977, BộChính trị đã quyết định: hoàn thành về cơ bản nhiệm vụ cải tạo XHCN đối vớicông thương nghiệp tư bản tư doanh trong 2 năm 1977 – 1978, trước hết là xóa

bỏ thương nghiệp tư bản chủ nghĩa Thực hiện chủ trương đó, công cuộc cải tạocông nghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam đã được đẩy nhanh và thực hiện triệtđể.Về thương nghiệp, Đảng ta chủ trương “xóa bỏ ngay thương nghiệp tư bản tưdoanh” bằng nhiều biện pháp như: kiểm kê, tịch thu hàng hóa, đánh thuế siêungạch đối với tư sản thương nghiệp, tịch thu các cơ sở kinh doanh của họ Đếnnăm 1978, Nhà nước ta tuyên bố đã hoàn thành công cuộc cải tạo tư sản côngthương nghiệp ở miền Nam

Do còn nóng vội trong công cuộc xây dựng CNXH và chưa nhận thứcđược tầm quan trọng của kinh tế tư nhân, trước thời kì đổi mới Đảng ta đã tiếnhành cải tạo XHCN và xóa bỏ gần như triệt để thành phần kinh tư nhân Điềunày phần nào đã dẫn đến khủng hoảng về kinh tế - xã hội của nước ta trước thời

kì đổi mới: kinh tế tăng trưởng chậm, cơ sở vật chất, kĩ thuật lạc hậu, cũ nát,nềnkinh tế quốc dân mất cân đối nghiêm trọng về cơ cấu, sản xuất phát triển chậm,sản xuất không đủ tiêu dùng, nợ nước ngoài lớn, phân phối lưu thông bị rối ren,thị trường tài chính, tiền tệ không ổn định, đời sống nhân dân ngày càng khókhăn, trật tự xã hội giảm sút

Rõ ràng, cơ cấu kinh tế nhiều thành phần nói chung và kinh tế tư nhân tưnhân nói riêng là một nhân tố không thể thiếu trong thời kì quá độ ở nước ta Vì

Trang 9

thế từ năm 1986, Đảng đó chủ trương đổi mới nền kinh tế theo hướng khỏc hẳntrước đú.

b Thời kỡ đổi mới.

Chỉ sau mấy năm, khi t tởng của đại hội VI đợc quán triệt trong cuộcsống, khu vực kinh tế t nhân có những bớc phát triển rõ rệt Nếu quan niệm kinh

tế t nhân gồm các doanh nghiệp t nhân (DNTN), các công ty trách nhiệm hữuhạn (CTTNHH) và các công ty cổ phần (CTCP) đợc thành lập theo luật doanhnghiệp t nhân và luật công ty mà nhà nớc ban hành thì chúng ta thấy có sự pháttriển rất nhanh chóng

Năm 1991 có 414 DNTN, CTTNHH và CTCP thì năm 1992 là 5198 DN,năm 1993 là 6808, năm 1994: 10881, năm 1995: 15276, năm 1996: 18894, năm1997: 25002, năm 1998: 26021 Nh vậy số DN năm 1998 tăng 2 lần so với năm

1991, và mỗi năm kể từ năm 1991-1998, bình quân tăng 3252 DN (khoảng 32%một năm)

-Trong lĩnh vực nông nghiệp:

Cùng với sự đổi mới của kinh tế hợp tác, các luật đầu t nớc ngoài, luật

đầu t trong nớc, luật thơng mại thông qua vào những năm 90 đã tác động rấtmạnh tới khu vực nông nghiệp, tới hàng triệu nông dân Việt Nam Kinh tế hộ gia

đình nông dân, kinh tế trang trại, các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động có tínhchất công nghiệp ở nông thôn phát triển mạnh, tạo nên sự thay đổi to lớn bộ mặtcủa nhiều vùng nông thôn Nếu nh năm 1990, số lợng các hộ cá thể có khoảngtrên 9,4 triệu hộ thì đén năm 1995 đã lên tới 11974595 hộ hoạt động trên gần

9000 xã trong khắp 7 vùng sinh thái Trong đó, số hộ nông nghiệp là 9528896 hộ(chiếm 79,58%); hộ lâm nghiệp là 18456 hộ (chiếm 0,15%); hộ thuỷ sản là

229909 hộ (chiếm 1,92%); hộ công nghiệp là 160370 hộ(chiếm 1,34%); hộ xâydựng là 31914 hộ(chiếm 0,27%); hộ thơng nghiệp là 384272 hộ (chiếm 3,21%),

hộ dịch vụ là 14165 hộ(chiếm 1,18%); hộ khác là 1479341(chiếm 12,35%).Trong số các hộ đó, nhóm hộ nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất(79,58%), nh-

ng nếu hiểu nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm cả nông, lâm, ng nghiệp thì

hộ nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng lớn hơn nữa: 81,65% Đây thực sự là lực lợngkinh tế mạnh thể hiện trên các mặt sau đây:

Chỉ trong thời gian ngắn, các hộ nông dân đã mua sắm rất nhiều trangthiết bị hiện đại, tăng cờng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông nghiệp lên một bớc.Nông dân đã bỏ vốn lập trên 110000 trang trại trong đó riêng các tỉnh phía Bắc

Trang 10

67000 trang trại Các trang trại đã tạo ra một lợng hàng hoá lớn với tỷ trọng hànghoá là 86,74% tạo việc làm cho 60 vạn lao động.

Có thể nói khu vực kinh tế t nhân trong nông nghiệp thời gian qua đã gópphần xứng đáng vào thành tích của ngành nông nghiệp nói chung: tạo ra gần 1/4tổng sản lợng của Việt Nam, và 30% kim ngạch hàng xuất khẩu(Bao gồm cảthuỷ sản) Theo tổng cục thống kê, nếu nh năm 1990 nông nghiệp chiếm 32%GDP của Việt Nam thì năm 1999 nông nghiệp chiếm tỷ trọng là 24% GDP

- Trong lĩnh vực công nghiệp:

Với cơ chế mới, khu vực kinh tế t nhân cũng thâm nhập mạnh mẽ vào lĩnhvực công nghiệp Toàn bộ khu vực kinh tế t nhân trong công nghiệp (bao gồmcác doanh nghiệp hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nớc, các doanhnghiệp có vốn đầu t nớc ngoài) đã đa phần đóng góp vào sản lợng công nghiệpcả nớc từ 37% năm 1990 lên 58% năm 2000, trong đó đóng góp quan trọng nhất

là các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài trong lĩnh vực dầu khí và lĩnh vựccông nghiệp chế tạo(khu vực kinh tế t nhân trong năm 2000 chiếm 22,7%, khuvực đầu t nớc ngoài chiếm 35,2%) Khu vực kinh tế t nhân trong nớc mà đặc biệt

là các doanh nghiệp hộ gia đình có vai trò rất quan trọng trong lĩnh vực côngnghiệp chế tạo năm 1999 có 600000 doanh nghiệp hộ gia đình nhỏ hoạt độngtrong lĩnh vực công nghiệp chế tạo, chiếm 1/4 số doanh nghiệp rất nhỏ, đóng góp28% giá trị gia tăng trong công nghiệp chế tạo Ngoài ra còn 5600 doanh nghiệpvừa và nhỏ cũng hoạt động trong ngành công nghiệp chế tạo và tạo ra 10% GDPcủa ngành công nghiệp

Vai trò của khu vực kinh tế t nhân trong công nghiệp sẽ còn tăng hơn nữavì những đổi mới trong thể chế rất mạnh với những bộ luật mới ra đời từ năm

1998 đến nay, nhất là luật doanh nghiệp và luật đầu t nớc ngoài

- Trong lĩnh vực thơng mại và dịch vụ

Đây là lĩnh vực kinh tế t nhân hoạt động sôi nổi lấn át khu vực quốcdoanh Số lợng tăng lên nhanh chóng: năm 1986 là 56,8 vạn hộ, đến năm 1995

đã lên đến 94 vạn hộ Với tổng mức bán lẻ năm 1987 là 59% đến năm 1991 là74,9%

Về mặt số lợng và cơ cấu: Tính đến 1-1-1995 số hộ cá thể trong cả nớc là

1882798 hộ Tuy nhiên số lợng hộ phân bố không đều, tập trung nhiều ở cácthành phố lớn: Thành phố Hồ Chí Minh có 12 vạn hộ, thủ đo Hà Nội có 7,6 vạn

hộ, An Giang có 7,5 vạn hộ…

Trang 11

Về mặt lao động: Lĩnh vực thơng mại và dịch vụ t nhân là nơi thu hút lao

động và giải quyết công ăn việc làm Tỷ trọng lao động thơng nhân cá thể từ chỗchỉ chiếm 68,7% lao động thơng nghiệp xã hội năm 1990 đã lên đến 84,7% năm

1995 Ngành giao thông vận tải t nhân đã huy động 267700 lao động

Về doanh số hoạt động: Tổng mức bán lẻ của thơng nghiệp t nhân đã tăng66,9% lên 75,1% và thơng nghiệp quốc doanh giảm từ 30,4% xuống còn 23,7%.Giao thông vận tải t nhân đã đảm nhận 63,5% khối lợng hàng hoá vận tải và74,5% khối lợng hành khách, tạo ra 989,8 tỷ đồng Về đóng góp vào nguồn thungân sách: Tổng số thuế nộp vào ngân sách nhà nớc đã tăng từ 908 tỷ đồng(năm1991) lên 5180 tỷ đồng(năm 1995), gấp 5 đến 6 lần

Trong lĩnh vực thơng mại dịch vụ, còn phải kể đến vai trò của khu vựckinh tế t nhân trong xuất nhập khẩu Tỷ trọng của khu vực doanh nghiệp t nhântrong nớc, trong giá trị xuất khẩu không kể dầu lửa đã tăng từ 12% trong năm

1997 lên 22% vào giữa năm 2000 và tỷ trọng trong giá trị nhập khẩu đã tăng từ4% lên tới 16% Nếu tính cả doanh nghiệp đầu t nớc ngoài thì khu vực doanhnghiệp t nhân đã đóng góp trong xuất khẩu là 35% năm 1997 và 54% giữa năm2000

- Trong xây dựng kết cấu hạ tầng:

Với chiến lợc phát triển kinh tế xã hội 10 năm, chính phủ đã đề ra chơngtrình với rất nhiều kỳ vọng về xây dựng kết cấu hạ tầng, bao gồm những chơngtrình lớn về phát triển đờng, sắt, đờng bộ với hệ thống cầu qua sông, đờng hàngkhông với hệ thống các sân bay quốc tế và nội địa Kết cấu hạ tầng có vị trí quantrọng trong việc thúc đẩy tăng trởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hộinhng để có hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển nh kế hoạch của chính phủ thì cần

có nguồn vốn rất lớn mà nếu chỉ nhà nớc thì không đủ sức thực hiện Những chỉ

số sau đây cho thấy rõ điều đó: số vốn đầu t cho ngành năng lợng hàng năm xấp

xỉ 2-2,5 tỷ USD, trong đó ngành điện dự kiến cần số vốn đầu t trung bình hàngnăm là 1,5-2 tỷ USD mà 52-58% dành cho sản xuất điện và 42-48% dành chotruyền tải và phân phối điện Vì kết cấu hạ tầng ngành năng lợng của Việt Namrất lạc hậu nên phải dành 5,3-5,5% GDP đầu t cho lĩnh vực này Nh vậy việc thuhút sự tham gia của khu vực kinh tế t nhân là hết sức quan trọng

- Trong các ngành nghề và các vùng kinh tế đất nớc:

Với các ngành: những năm 1991-1996 trong tổng số 17442 cơ sở thì lĩnhvực thơng mại dịch vụ có khoảng 6802 cơ sở chiếm tỷ trọng 39%, lĩnh vực côngnghiệp chế biến có 6105 cơ sở chiếm ỷ trong 35%, các lĩnh vực khác có 4534 cơ

sở chiếm 26% Trong những năm 1997-1998 có sự chuyển biến theo hớng các

Trang 12

doanh nghiệp thơng mại dịch vụ tăng(trong tổng số 26021 doanh nghiệp thì cácdoanh nghiệp thơng mại dịch vụ có 12753 cơ sở chiếm 49%).

Với các vùng: Loại hình doanh nghiệp t nhân phát triển mạnh và tập trungnhiều nhất ở vùng đồng bằng sông Cửu Long 40%, ở đồng bằng sông Hồng là33% và ở Đông Nam Bộ là 25% Các công ty cổ phần phát triển mạnh ở ĐôngNam Bộ 54% đồng bằng sông Hồng 23%

2 Đỏnh giỏ chung về thực trạng kinh tế tư nhõn Việt Nam.

a Thành tựu.

Tỷ trọng đầu tư của doanh nghiệp tư nhõn trong nước liờn tục tăng lờn và

đó vượt lờn hơn hẳn tỷ trọng đầu tư của doanh nghiệp nhà nước, gần bằng tổngvốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước và tớn dụng nhà nước Vốn đầu tư củacỏc doanh nghiệp tư nhõn đó đúng vai trũ quan trọng đối với phỏt triển kinh tếcỏc địa phương

Đội ngũ doanh nghiệp tư nhõn đó phỏt triển chưa từng cú cả về số lượng,quy mụ trong hầu hết cỏc ngành, lĩnh vực của nền kinh tế Nhờ đú, đó huy độngđược ngày càng nhiều hơn vốn đầu tư phỏt triển kinh doanh; tạo việc làm chongười lao động; tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng nguồn thucho ngõn sỏch; thỳc đẩy chuyển dịch cơ cấu và nõng cao hiệu quả nền kinh tếtrong quỏ trỡnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới

Cú được kết quả trờn là nhờ trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đóban hành kịp thời nhiều cơ chế, chớnh sỏch khuyến khớch cỏc thành phần kinh tếphỏt triển Nghị quyết Trung ương 3, Nghị quyết Trung ương 5, Luật Doanhnghiệp và cỏc cơ chế chớnh sỏch về thỳc đẩy phỏt triển kinh tế, chuyển dịch cơcấu kinh tế đó tạo mọi điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp và cụng dõn đầu tưphỏt triển sản xuất kinh doanh

Luật Doanh nghiệp ra đời và đi vào thực tiễn đó tạo mụi trường thụngthoỏng cho hoạt động kinh doanh, tạo bước đột phỏ về cải cỏch hành chớnh, nõngcao đỏng kể tớnh nhất quỏn, tớnh thống nhất, minh bạch và bỡnh đẳng của khuụnkhổ phỏp luật về kinh doanh ở nước ta Vai trũ của doanh nghiệp và doanh nhõn

Trang 13

được tôn vinh ở vị trí xứng đáng Sau khi Luật Doanh nghiệp ra đời, hàng loạtbiện pháp chính sách và văn bản hướng dẫn thực hiện Luật đã được ban hànhvới nội dung phù hợp đã thúc đẩy, tạo điều kiện để Luật phát huy tốt hiệu lựctrên thực tế Hệ thống pháp luật về kinh doanh và doanh nghiệp bước đầu đãđược hoàn thiện: Chính phủ, các bộ, ngành đã ban hành kịp thời và tương đốiđầy đủ các văn bản pháp quy tạo điều kiện thi hành Luật Doanh nghiệp Nộidung các văn bản hướng dẫn đã bổ sung, cụ thể hóa nội dung có liên quan củaLuật Việc ban hành và áp dụng các văn bản này đã tạo một bước chuyển biếnlớn trong đơn giản hóa trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh và rút ngắn thời giangia nhập thị trường của các loại hình doanh nghiệp tư nhân

Về việc triển khai công tác phát triển doanh nghiệp ở các địa phương, thực

tế thời gian qua cho thấy đã có sự chuyển biến đáng kể về nhận thức ở các cấp

về tầm quan trọng và ý nghĩa của phát triển doanh nghiệp tư nhân đối với pháttriển kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân địa phương UBND các tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương đã quan tâm chỉ đạo triển khai thực hiện Luật Doanhnghiệp và cải tiến phương thức quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trên địabàn ý thức và phương pháp làm việc của cơ quan quản lý nhà nước đối vớidoanh nghiệp đã có nhiều thay đổi, chuyển từ cơ chế "xin - cho" sang hỗ trợ,hướng dẫn và tạo điều kiện là chủ yếu Thủ tục đăng ký kinh doanh đã đượcthực hiện đúng quy định của Luật theo hướng đơn giản hoá cả về hồ sơ, trình tự,thời hạn, điều kiện và thẩm quyền cấp đăng ký kinh doanh Theo phản ánh củahầu hết các địa phương trong cả nước và đối với phần lớn các ngành nghề kinhdoanh, không có sự đòi hỏi thêm các hồ sơ, thủ tục và đòi hỏi khác ngoài quyđịnh của Luật Doanh nghiệp ở hầu hết các địa phương và đối với đa số ngànhnghề, thời hạn đăng ký kinh doanh trên thực tế đã rút ngắn so với thời hạn quyđịnh; tại thành phố Hồ Chí Minh đã thí điểm đăng ký kinh doanh qua mạng, do

đó đã giảm đáng kể chi phí về thời gian cho doanh nghiệp

Nhận thức của đông đảo tầng lớp xã hội về doanh nghiệp và doanh nhân đã

có bước tiến đáng kể Đặc biệt, vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định

Ngày đăng: 17/12/2012, 14:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w