PHÂN TÍCH BÀI THƠ THƯƠNG VỢ Phân tích bài thơ Thương Vợ mẫu 1 Trần Tế Xương (bút danh là Tú Xương) là nhà thơ trào phúng nổi tiếng, có lẽ là nhà thơ trào phúng đặc sắc nhất trong nền văn học của nước[.]
Trang 1PHÂN TÍCH BÀI THƠ THƯƠNG VỢPhân tích bài thơ Thương Vợ - mẫu 1
Trần Tế Xương (bút danh là Tú Xương) là nhà thơ trào phúng nổi tiếng, có
lẽ là nhà thơ trào phúng đặc sắc nhất trong nền văn học của nước nhà Thơ tràolộng, châm biếm, đả kích của Tú Xương sở dĩ được nhiều người yêu thích vì cótính chất trữ tình (trong tiếng cười có nước mắt) Dòng trữ tình trong thơ TúXương đôi khi được tách ra thành những bài thơ trữ tình thuần khiết, thấm thía.Hai kiệt tác “Sông Lấp” và “Thương vợ” tiêu biểu cho dòng thơ trữ tình của TúXương
Bài thơ sau đây là bài “Thương vợ” của Tú Xương:
“Quanh năm buôn bán ở mom sông, Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông
Một duyên hai nợ âu đành phận, Năm nắng mười mưa dám quản công
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không!”
Trần Tế Xương lận đận trong thi cử, đi thi đến lần thứ tám mới đậu đượccái tú tài Ông học giỏi nhưng phải cái ngông quá, thật ra thái độ ngông của ông làmột cách ông phản kháng lại chế độ thi cử lạc lậu, quan trường “ậm ọc” lúc bấygiờ Mà đậu được cái tú tài thì rồi cũng làm “quan tại gia” thôi Hồi đó phải đậu
cử nhân mới được bổ tri huyện Thế là bà Tú gần như phải nuôi chồng suốt đời.Ông Tú chỉ còn biết đem tài hoa của mình mà ghi công cho bà Tú:
“Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Trang 2Nuôi đủ năm con với một chồng"
Từ “mom” thật là hay, vừa thấy được nỗi gian truân của bà Tú buôn bánquanh năm bên bờ sông Vị, vừa thấy được tấm lòng của nhà thơ đối với việc buônbán khó nhọc của vợ Từ “mom” là tổng hợp nghĩa của các từ ven, bờ, vực, thềm,thành một từ sáng tạo của nhà thơ làm giầu thêm cho tiếng Việt Bà Tú buônthúng bán bưng quanh năm ở “mom sông” mà nuôi chồng, nuôi con:
“Nuôi đủ năm con với một chồng”
Câu thơ chỉ mấy con số khô khốc thế vậy mà tế toái lắm đó! “Nuôi đủ nămcon” là vì con, phải nuôi, nên đếm ra để mà nuôi Nhưng còn chồng thì một chồngchứ mấy chồng, cớ sao lại cũng phải đếm ra “một chồng”? Là vì chồng cũng phảinuôi, mà bà Tú với cái gánh trên vai nuôi năm đứa con đã là vất vả, lại thêm mộtông Tú trong nhà nữa thì gánh nặng gấp đôi Thời đó mà nuôi một ông Tú, lại là
Tú Xương nữa thì nhiêu khê lắm
Nhưng bà Tú được an ủi là vì ông Tú, cái con người tưởng như chỉ biếtbông đùa, cười cợt đó lại để tâm đến từng bước chân của bà trên đường lặn lộibuôn bán:
“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông”
Có thể nói lòng thương vợ của nhà thơ dào dạt lên trong hai câu thơ này.Hình ảnh lặn lội thân cò được tác giả mô phỏng theo một biểu tượng trong thi cadân gian để nói về người phụ nữ lao động:
“Con cò lặn lội bờ sông Gánh tạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non”
Nếu như từ “lặn lội” được đảo ra phía trước chủ ngữ để nhấn mạnh sự vất
vả của bà Tú, thì từ “eo sèo” gợi lên âm thanh hỗn tạp (tiếng kì kèo mặc cả, tiếngcãi cọ tranh giành) của “buổi đò đông” Hai tình huống đối lập thật hay: “vắng” và
“đông” Người phụ nữ gánh hàng lặn lội trên quãng đường vắng thật là khổ Màđến chỗ “đò đông” thì thật là đáng sợ!
Trang 3Nghĩa là nhìn từ phía nào, nhà thơ cũng thương vợ, tình thương thấm thía,cảm động.
Sang hai câu luận, tác giả chuyển sang diễn tả nội tâm của bà Tú, lời thơnhư lời độc thoại của người vợ:
“Một duyên hai nợ âu đành phận, Năm nắng mười mưa dám quản công”
Nhân dân ta thường nói “vợ chồng là duyên nợ” Nhà thơ Tú Xương đã chỉ
từ ghép “duyên nợ” thành hai từ đơn: “duyên – nợ” “Duyên” thì thiêng liêng rồi
vì đã có sự tham gia của đấng vô hình (ông Tơ bà Nguyệt), còn “nợ” thì đã thànhtrách nhiệm nặng nề “Một duyên hai nợ” đã diễn tả được sự vận động trong tâmtrí của bà Tú “Một duyên hai nợ âu đành phận” là bà Tú đã thuận theo lòng trời
và thuận theo lòng người (tấm lòng của chính bà!) Nói gọn lại là bà Tú đã chấpnhận! Và chấp nhận cuộc hôn nhân duyên nợ này, bà chấp nhận một ông đồ nhongông “tám khoa chưa khỏi phạm trường quy”, bà chấp nhận vị quan “ăn lươngvợ” nên bà đâu “dám quản công”:
“Năm nắng mười mưa dám quản công”
Thành ngữ “dầm mưa dãi nắng” được tác giả vận dụng sáng tạo thành “nămnắng mười mưa” Phải nói những con số trong thơ Tú Xương rất có thần Ta đãthấm thía với hai số năm – một trong câu thừa đề (Nuôi đủ năm con với mộtchồng) Giờ đây là sự linh diệu của những con số một – hai và năm – mười trongcâu luận “Một duyên hai nợ” đối với “Năm nắng mười mưa”, cho thấy gian khổ
cứ tăng lên, bà Tú chịu đựng hết
Trước người vợ giỏi giang, tần tảo, chịu đựng mọi gian lao vất vả để “nuôi
đủ năm con với một chồng” thì nhà thơ chỉ còn biết tự trách mình
“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không!”
Vì quá thương vợ mà nhà thơ tự trách mình, trách một cách nặng nề “Cha
mẹ thói đời…” thì đã thành lời xỉ vả mình Thật ra là một cách ông Tú nhún mình
Trang 4để cho công trạng của bà Tú nổi lên, chứ Tú Xương đâu phải là người “ăn ở bạc”.
Ăn chơi sa đà thì có, “hờ hững” nữa, thì nhà thơ đã thành thật nói rồi, chứ bạctình, bạc nghĩa thì không Gang thép với cường quyền mà nhũn với vợ như thế thìthật là con người đáng kính
Bằng tình cảm chân thành, bằng nghệ thuật sống động, Tú Xương đã thểhiện được hình ảnh người phụ nữ giỏi giang, lam lũ, tần tảo nuôi chồng nuôi con
Bà Tú có những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam xưa
Bao nhiêu công trạng trong gia đình, ông Tú dành cho bà Tú, ông chỉ nhận
về cho mình một chữ “không” Nhưng bình tâm mà xét thì ông Tú cũng xứng với
bà Tú vì trên đất nước gian lao và vất vả này có hàng triệu người như bà Tú,nhưng chỉ có một bà Tú là được vào cõi thơ, cõi bất tử!
Sơ đồ tư duy
Dàn ý chi tiết
I Mở bài
- Đôi nét về tác giả Trần Tế Xương: một tác giả mang tư tưởng li tâm Nho giáo,tuy cuộc đời nhiều ngắn ngủi
Trang 5- Thương vợ là một trong số những bài thơ hay và cảm động nhất của Tú Xươngviết về bà Tú.
II Thân bài
1 Hai câu đề
- Hoàn cảnh bà Tú: mang gánh nặng gia đình, quanh năm lặn lội “mom sông”.+ Thời gian “quanh năm”: làm việc liên tục, không trừ ngày nào, hết năm nàyqua năm khác
+ Địa điểm “mom sông”: phần đất nhô ra phía lòng sông không ổn định
⇒ Công việc và hoàn cảnh làm ăn vất vả, ngược xuôi, không vững vàng, ổn định
- Lí do:
+ “nuôi”: chăm sóc hoàn toàn
+ “đủ năm con với một chồng”: một mình bà Tú phải nuôi cả gia đình, khôngthiếu cũng không dư
⇒ Bản thân việc nuôi con là người bình thường, nhưng ngoài ra người phụ nữ cònnuôi chồng ⇒ hoàn cảnh éo le trái ngang
+ Cách dùng số đếm độc đáo “một chồng” bằng cả “năm con”, ông Tú nhậnmình cũng là đứa con đặc biệt Kết hợp với cách ngắt nhịp 4/3 thể hiện nỗi cựcnhọc của vợ
⇒ Bà Tú là người đảm đang, chu đáo với chồng con
2 Hai câu thực
- Lặn lội thân cò khi quãng vắng: có ý từ ca dao “Con cò lặn lội bờ sông” nhưngsáng tạo hơn nhiều (cách đảo từ lặn lội lên đầu hay thay thế con cò bằng thân cò):+ “Lặn lội”: Sự lam lũ, cực nhọc, nỗi gian truân, lo lắng
Trang 6+ Hình ảnh “thân cò”: gợi nỗi vất vả, đơn chiếc khi làm ăn ⇒ gợi tả nỗi đauthân phận và mang tính khái quát.
+ “khi quãng vắng”: thời gian, không gian heo hút rợn ngợp, chứa đầy nhữngnguy hiểm lo âu
⇒ Sự vất vả gian truân của bà Tú càng được nhấn mạnh thông qua nghệ thuật ẩndụ
- “Eo sèo… buổi đò đông”: gợi cảnh chen lấn, xô đẩy, giành giật ẩn chứa sự bấttrắc
+ Buổi đò đông: Sự chen lấn, xô đẩy trong hoàn cảnh đông đúc cũng chứa đầynhững sự nguy hiểm, lo âu
- Nghệ thuật đảo ngữ, phép đối, hoán dụ, ẩn dụ, sáng tạo từ hình ảnh dân giannhấn mạnh sự lao động khổ cực của bà Tú
⇒ Thực cảnh mưu sinh của bà Tú: Không gian, thời gian rợn ngợp, nguy hiểmđồng thời thể hiện lòng xót thương da diết của ông Tú
3 Hai câu luận
- “Một duyên hai nợ”: ý thức được việc lấy chồng là duyên nợ nên “âu đànhphận”, Tú Xương cũng tự ý thức được mình là “nợ” mà bà Tú phải gánh chịu
- “nắng mưa”: chỉ vất vả
- “năm”, “mười”: số từ phiếm chỉ số nhiều
- “dám quản công”: Đức hi sinh thầm lặng cao quý vì chồng con, ở bà hội tụ cả sựtần tảo, đảm đang, nhẫn nại
⇒ Câu thơ vận dụng sáng tạo thành ngữ, sử dụng từ phiếm chỉ vừa nói lên sự vất
vả gian lao vừa nói lên đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng vì concủa bà Tú
4 Hai câu kết
Trang 7- Bất mãn trước hiện thực, Tú Xương đã vì vợ mà lên tiếng chửi:
+ “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc”: tố cáo hiện thực, xã hội quá bất công với ngườiphụ nữ, quá bó buộc họ để những người phụ nữ phải chịu nhiều cay đắng vất vả
- Tự ý thức:
+ “Có chồng hờ hững”: Tú Xương ý thức sự hờ hững của mình cũng là mộtbiểu hiện của thói đời
- Nhận mình có khiếm khuyết, phải ăn bám vợ, để vợ phải nuôi con và chồng
→ Từ tấm lòng thương vợ đến thái độ đối với xã hội, Tú Xương cũng chửi cả thóiđời đen bạc
Phân tích bài thơ Thương Vợ - mẫu 2
Trần Tế Xương hay còn có bút danh là Tú Xương, ông là một tác giả nổitiếng với nhiều tác phẩm mang chất trào phúng và trữ tình Ông chỉ sống 37 tuổi
và học vị tú tài, nhưng sự nghiệp thơ ca của ông đã trở thành bất tử Ông để lạikhoảng 100 tác phẩm gồm: thơ, văn tế, phú, câu đối Một trong những tác phẩmtiêu biểu của ông là bài thơ “Thương vợ” Một bài thơ tô đọng trong đó là nhữngphẩm chất tốt đẹp của người vợ, người phụ nữ đảm đang, chịu thương, chịu khó vìhạnh phúc của chồng con Bài thơ được Tú Xương viết như sau:
“Quanh năm buôn bán ở mom sông, Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Trang 8Eo sèo mặt nước buổi đò đông
Một duyên hai nợ âu đành phận, Năm nắng mười mưa dám quản công
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không!”
Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú đường luật với bố cục đượcchia làm bốn phần: đề, thực, luận, kết Mỗi phần hai câu nhằm khắc họa một cáchsắc nét hình ảnh bà Tú- vợ Tú Xương, cũng như đang nói lên một phần nào đóhình ảnh người phụ nữ ở xã hội xưa
Trong hai cầu đề Tú Xương đã giới thiệu một cách khái quát về công việccủa bà Tú Đó là sự tần tảo “quanh năm” buôn bán ở mom sông, việc mua bán nàykhông hề có cửa tiệm hay vốn liếng nhiều Đây là một công việc vất vả, cực nhọc,thu nhập bất ổn sông bà Tú vẫn đang “nuôi đủ” năm con với một chồng mà khôngmột lời oán trách Trong câu này, tác giả tách mình một bên, con một bên nhằmnhấn mạnh việc, mặc dù ông đỗ tú tài nhưng không được làm quan, phải đặt gánhnặng lên đôi vai của người vợ, người mà ông yêu thương Câu thơ như là lời tráchnặng nề của tác giả đối với chính bản thân mình, Nhưng qua câu thơ ta cũng thấyđược cái tình cảm yêu thương mà Tú Xương dành tặng cho vợ mình
Để diễn tả một cách cụ thể hơn sự vất vả trong công việc của bà Tú, tronghai câu thực tác giả đã mượn hình ảnh con cò trong ca dao Việt Nam để biếnthành “thân cò” nhằm thể hiện sự lặn lội vất vả của bà Tú trong công việc mưusinh hàng ngày tại nơi “quãng vắng” Bên cạnh đó, Tú Xương còn khái quát mộtcách sinh động cảnh bán buôn ở mom sông của bà Tú qua câu “Eo sèo mặt nướcbuổi đò đông” Đó là hình ảnh nhốn nháo, tranh chấp mua bán của nhiều conngười có công việc như bà Tú Nhìn chung, cuộc đời bà Tú không ít khó khăngian khổ
Sự khó nhọc, vất vả của bà Tú không được dừng lại ở hai phần đề và thực
mà nó còn tăng lên ở phần luận Bằng việc sử dụng hai câu thuật ngữ “một duyên,hai nợ” và “năm nắng mười mưa” tác giả đã toát lên sự hi sinh cao cả của bà Tú,
Trang 9đó là việc chấp nhận số phận chăm lo cho chồng con và dù nắng hay mưa cũngkhông bỏ việc Ở đây, Tú Xương đã nêu lên đức tính tốt đẹp của bà Tú nói riêng
và người phụ nữ nói chung, đó là sự tần tảo, đảm đang, nhẫn nại, sẵn sàng hi sinh
vì gia đình Đồng thời qua đây tác giả cũng bộc lộ nỗi niềm biết ơn và quý trọngđối với bà Tú
Cùng với quý trọng và biết ơn bà Tú ở hai câu luận, thì hai câu kết là mộtcách nói ngao ngán về nỗi niềm tâm sự của tác giả- Tú Xương Một lời thở dài về
“cái thói đời” ông nhắc đến chính là cái xã hội lúc bấy giờ- một xã hội mang tínhnửa tây nửa ta, nửa phong kiến, nửa thực dân với những tư tưởng và đạo lí bị suythoái Bên cạnh ông tự trách bản thân sao mà “ăn ở bạc” thi cử hoài mà không đỗđạt, chẳng thể làm quan, không giúp được gì cho vợ con, đẩy vợ con phải chịukhổ vì mình Cuối cùng mọi thứ đúc kết trong lời than đầy xót xa của Tú Xương
Phân tích bài thơ Thương Vợ - mẫu 3
Thơ văn Trần Tế Xương gồm hai mảng lớn: trào phúng và trữ tình Có bàihoàn toàn là đả kích, châm biếm, có bài thuần là trữ tình Tuy vậy, hai mảngkhông tuyệt đối ngăn cách Thường là châm biếm sâu sắc nhưng vẫn có chất trữtình Ngược lại, trữ tình thấm thìa cũng pha chút cười cợt theo thói quen tràophúng Thương vợ là một bài thơ như vậy
Thương vợ là bài thơ phản ánh hình ảnh bà Tú vất vả, đảm đang, lặng lẽ hisinh vì chồng vì con, đồng thời thể hiện tình thương yêu, quý trọng và biết ơn của
Tú Xương đối với người vợ của mình
Quanh năm buôn bán ở mom sông, Nuôi đủ năm con với một chồng
Trang 10Chỉ bằng vài lời kể nôm na, bình dị, Tú Xương đã giúp người đọc hìnhdung ra cảnh bà Tú một mình mang trên vai gánh nặng gia đình, lặn lội nơi đầusông, bến chợ.
Mom sông là mỏm đất nhô ra dòng sông, cũng là một địa điểm ở phía Bắcthành phố Nam Định Ngày xưa, đây là nơi trên bến dưới thuyền, người từ các nơi
đổ về buôn bán Quanh năm, bà Tú làm ăn ở đó để kiếm tiền trang trải cho cuộcsống gia đình gồm hai vợ chồng và năm đứa con thơ
Quanh năm buôn bán có nghĩa là không nghỉ ngơi ngày nào Hơn nữa, chữmom sông càng tô đậm thêm cái thế chênh vênh, không vững vàng của công việclàm ăn Mom sông ba bề là nước, có thể đổ ùm xuống sông lúc nào không biết Ởcái mỏm đất chênh vênh ấy, hình ảnh bà Tú dường như càng nhỏ bé và cô đơn.Một mình bà phải xông pha nơi đầu sông ngọn nguồn, vất vả tội nghiệp biết bao!Trên đây là thời gian, không gian và cả tính chất công việc làm ăn buôn bán của
bà Tú
Tại sao bà Tú lại chấp nhận sự lam lũ, vất vả như thế? Đương nhiên là đểnuôi chồng, nuôi con Ngày xưa, xã hội phong kiến dành cho phụ nữ bổn phận làthờ chồng, nuôi con Với bà Tú, chắc chắn là có chuyện thờ chồng Thờ chồngbao hàm cả nghĩa vụ nuôi chồng Đó là sự bất công của xã hội, nhưng xét về mặtđức độ thì sức đảm đang tháo vát của những người vợ như bà Tú thật đáng nểphục
Cái không bình thường trong bài thơ là cách đếm số người Giá như tínhgộp lại là sáu miệng ăn và một mình bà Tú mà phải cáng đáng đến chừng ấy cũng
đã là nhiều Trên đời, phần lớn phụ nữ cũng gặp cảnh như thế Đằng này, tác giảđếm rõ ràng là: năm con với một chồng Đặc biệt là tách riêng ông chồng ra vàđếm là một Xuân Diệu có nhận xét rất hay khi đọc câu thơ này: "Hoá ra ôngchồng cũng phải nuôi, tựa hồ như lũ con bé bỏng nên mới đến ngang hàng vớichúng nó: một miệng ăn, hai miệng ăn "
Mà bà Tú nuôi chồng đâu có đơn giản như nuôi con Cơm ăn đã đành, đôikhi phải có tí rượu tí trà cho ông ngâm nga câu thơ câu phú Áo mặc đã đành, cònphải có bộ cánh tử tế cho ông đi đây đi đó, chứ ai lại để cho ông quanh năm "Bứcsốt nhưng mình vẫn áo bông" và "Một đoàn rách rưới con như bố" Lại phải cho
Trang 11ông xổng xểnh ít tiền trong túi để gặp bạn, gặp bè Ấy thế mà bà nuôi đủ, tức là đủ
cả về số lượng lẫn chất lượng Như vậy là bà Tú không chỉ nuôi ông Tú mà còncung phụng, còn thờ
Nhưng kể ra được những điều ấy chứng tỏ là ông chồng thấu hiểu và biếtđánh giá một cách xứng đáng công lao của bà vợ Như vậy là thương vợ
Đến câu thứ ba, hình ảnh bà Tú một mình thui thủi làm ăn càng hiện lên cụthể và rõ nét hơn:
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Tú Xương dùng một hình tượng quen thuộc trong văn chương dân gian nói
về người phụ nữ lao động ngày xưa: Con cò lặn lội bờ sông nhưng ông không sosánh mà đồng nhất thân phận bà Tú với thân cò Tấm thân mảnh dẻ, yếu đuối của
bà Tú mà phải chịu dãi nắng dầm sương thì đã là gian nan, tội nghiệp, vậy mà bàcòn phải lặn lội sớm trưa Nghĩa đen của từ này cũng gợi ra đầy đủ cái vất vả, khónhọc trong nghĩa bóng Tấm thân cò ấy lại lặn lội trên quãng vắng đường xa Nóiquãng vắng là tự nhiên nổi lên cái lẻ loi, hiu quạnh, lúc cần không biết nương tựavào đâu, chưa nói đến những hiểm nguy bất trắc đối với thân gái dặm trường Eosèo chi sự nói đi nói lại, có ý bất bình Đò đông có thể hiểu hai cách: một là đòngang đã chở đầy người, hai là đò từ các nơi tập hợp lại rất đông Hiểu cách nàocũng đúng với ý định đặc tả nỗi khó nhọc, gian nan trong cảnh kiếm ăn của bà Tú
Bên cạnh nỗi khổ vật chất còn có nỗi khổ tinh thần Vì chồng con mà phảilặn lội đường xa quãng vắng, nhưng liệu chồng con có biết cho chăng? Và bà Tú
cứ âm thầm lo toan như vậy cho đến hết đời, hết kiếp số phận bà là vậy
Câu thơ miêu tả mà đầy chất trữ tình, nghe thật xót xa, tội nghiệp! Ông Tú
tỏ ra thông cảm với nỗi khó nhọc của vợ và thương vợ đến vậy là sâu sắc
Ông Tú hiểu thấu công việc làm ăn của bà Tú Khi quãng vắng, buổi đòđông, bà đều vất vả khó nhọc, không kể gian nan, không quản thân mình, mộtlòng vì chồng, vì con Bà Tú mà nghe được những lời như thế của ông chắc cũng
Trang 12thấy gánh nặng trên vai mình nhẹ bớt và trong thâm tâm bà cũng được an ủi ítnhiều.
Nhưng không phải chỉ có thế, giọng điệu trữ tình kín đáo lồng trong hai câutường thuật miêu tả (câu 3, 4) chứng tỏ tim ông Tú không phải dửng dưng.Thương vợ nhưng cũng là tự trách mình Không phải chỉ tự coi mình là một miệng
ăn để vợ phải nuôi mà còn hổ thẹn, thấy mình có cái gì đó như nhẫn tâm Ôngchồng trụ cột gia đình là mình ở đâu rồi mà để vợ phải nhọc nhằn, gian nan đếnvậy? Tự trách mình như thế cũng là thương vợ thêm sâu
Một duyên hai nợ âu đành phận, Năm nắng mười mưa dám quản công.
Tú Xương lại vận dụng thêm một thành ngữ, một câu ca dân gian khác: Vợchồng là duyên là nợ, Một duyên hai nợ ba tình Vợ chồng gặp nhau là do ông Tơ
bà Nguyệt sắp đặt từ kiếp trước Có duyên thì tốt đẹp, hạnh phúc, là nợ thì đaukhổ một đời
Có lẽ ở đây, ông Tú mượn tâm tư bà Tú mà suy ngẫm hay đúng ra, ông hoáthân vào bà để cảm thông sâu sắc hơn: lấy chồng như thế này thì cũng là duyênhoặc nợ thôi, số phận đã thế thì cũng đành thế Cho nên có khổ cực bao nhiêu,năm nắng mười mưa cũng phải chịu, phải lo, nào dám quản công Chẳng còn làchuyện thân nữa, dù là thân cò, mà đã là chuyện phận rồi, chuyện số phận
Ôi! Lấy vợ lấy chồng, người ta bảo là duyên là nợ, nghĩ cũng đúng thật! Sốphận đã như thế thì cũng đành thôi, chứ biết làm thế nào?! Cái số kiếp người phụ
nữ như tấm lụa đào, như hạt mưa sa, như con thuyền lênh đênh mười hai bếnnước, như cơm nguội đỡ khi đói lòng Trách làm sao được! Vậy thì còn dám kể
gì gian lao, dám quản gì mưa nắng!
Lại thêm nghĩa của mấy nhóm từ âu đành, dám quản Âu đành là một sự bấtđắc dĩ, xếp lại, nén xuống những gì bất bình, tủi nhục Dám quản tức là khôngdám kể gì đến công lao, là thái độ chấp nhận gánh chịu mọi sự nhọc nhằn Thêm
âm thanh nặng nề của từ phận ở cuối câu khép lại càng làm cho câu thơ phù hợpvới cảm xúc bị dồn nén vào trong