PHÂN TÍCH VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc mẫu 1 Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc như một "bức tượng đài nghệ thuật sừng sững hiên ngang" mà lạ thay gót thời gian không hề tà[.]
Trang 1PHÂN TÍCH VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - mẫu 1
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc như một "bức tượng đài nghệ thuật sừng sữnghiên ngang" mà lạ thay gót thời gian không hề tàn phá nổi Nguyễn Đình Chiểu -con người ấy đã đi xa chúng ta từ lâu lắm rồi nhưng những áng văn thơ của ngườicòn trẻ mãi, đỏ mãi
Hỡi ơi Súng giặc đến rền Lòng dân trời tỏ.
Câu thơ tứ tự mở đầu tách đôi ra làm hai vế gãy gọn nhưng sức khái quátcủa nó thật lớn Chỉ ngần ấy câu chữ đã vẽ lên một cách, toàn diện về những điều
mà người viết muôn gửi gắm: tội ác và nghĩa cả, cái đau thương tang tóc và cáicao lớn đẹp đẽ, một bên là súng giặc mâu thuẫn với lòng dân
Mười năm công vỡ ruộng, chưa chắc còn mà danh nổi tợ pha
Một trận nghĩa đánh Tây tuy là mất mà tiếng vang như mỏ.
Đã rõ hơn rồi, tác giả muốn nói điều gì Câu thơ phản ánh sự tương phản,giữa "mười năm công vỡ ruộng" và "một trận nghĩa đánh Tây" - sức vùng lênmạnh mẽ, quyết liệt, mau lẹ của những người nông dân Mười năm vỡ ruộng ít aibiết đến, thế mà một trận nghĩa đánh Tây, những con người nghĩa sĩ đã gây được
"tiếng vang như mỏ" Tứ thơ như báo trước cái anh hùng của họ, sức mạnh của họ
và cả cái bi thương tất yếu nữa
Nhớ linh xưa Cui cút làm ăn Riêng lo nghèo khó.
Hình ảnh những con người bình thường hiện lên, những con người sẽ làmnên lịch sử ấy, họ chẳng phải là ai cả, chỉ là những con người sống sau lũy trelàng, sau rặng dừa, bụi chuối vì nghĩa lớn mà hi sinh Họ hi sinh khi "Tổ quốccần" Và hình ảnh của họ trở nên cao đẹp từ đó Họ chỉ là những người quen lấmláp với công việc cấy cày
Trang 2Chưa quen cung ngựa đâu tới trường nhưng, chỉ biết:
Ruộng trâu ở trong làng bộ.
Việc cuốc việc cày, việc bừa, việc cấy tay vốn quen làm.
Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ mắt chưa từng ngó.
Cuộc sống của họ lặng thầm, ngày ngày chỉ biết lăn lộn cùng miếng cơmmanh áo nhưng cuộc sống nghèo đói vẫn ghì sát đất Họ chưa bao giờ hình dungnổi việc binh đao Lần đầu nghe tin giặc Pháp giày xéo họ cũng có tâm lí chungcủa những người "dân đen" "con đỏ", lo sợ, trông đợi rồi thất vọng
Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng Trông tin quan như trời hạntrông mưa Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm Ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.Chờ mong "tin nhạn" nhưng rồi nhạn vắng bóng Họ đi từ thắc thỏm hi vọng đến
vô vọng, từ lo sợ, hoảng loạn đến căm ghét - cái căm ghét trong mơ hồ
Bữa thấy bòng bong che trắng lốp muốn tới ăn gan Ngày xem ống khói chạy đen sì muốn ra cắn cổ.
Cho dù sự căm ghét chỉ được phôi thai qua ý niệm mơ hồ nhưng sự phẫn nộ
đã dâng lên ngùn ngụt Họ muốn lao ra bằng tay không để "ăn tươi nuốt sống kẻ
đã gây bao tội ác" Đọc tới đây, ta chợt nhớ lại lời hịch sang sảng, vang vọng mộtthời của Trần Quốc Tuấn "Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đaunhư cắt, nước mắt đầm đìa" (Hịch tướng sĩ) Sự day dứt, đau đớn vò xé tâm canthôi thúc con người hành động, thôi thúc con người muốn "nuốt gan uống máuquân thù" cho hả dạ ở Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc cũng vậy Họ bắt đầu nghĩ tớinon sông đất nước và cảm thấy nhục nhã nếu như cứ để cho lũ "chó má" ấy giàyxéo lên những giá trị tinh thần của dân tộc ngàn thu văn hiến
Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu Hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê bán chó.
Ý thức được như thế, họ đã đi đến quyết tâm làm một cuộc nổi dậy Họvùng lên tinh thần sẵn sàng tự nguyện
Trang 3Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.
Họ đã hình dung ra một cuộc chiến tranh chính nghĩa Họ chẳng cần phảitrốn tránh khi tiếng gọi của quê hương tha thiết đến thế Họ biết phải chiến đấu, xảthân để giữ lấy bờ ao bụi chuối, giữ lấy mảnh đất biết mấy thân yêu gắn bó, giữlấy những điều thiêng liêng mà họ cho là không liên quan gì đến "cha ông nó" cả.Hình ảnh của họ thật đẹp, những tấm lòng của họ thật cao cả Hình ảnh ấy thậtkhác xa với người lính trước kia khi phải đối mặt với tiếng trống giục quân bắt bớ
"bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa"
Người nghĩa sĩ của Nguyễn Đình Chiểu bước vào cuộc chiến đấu vẫn mangmột màu bình dị sáng trong Họ là những người "dân ấp dân lân" với những vũkhí thô sơ, chỉ là một ngọn tầm vông, một nùi rơm, con cúi, thế nhưng họ đã dệtnên những trang sử hào hùng, vẻ vang Họ thật cao đẹp, thật anh hùng và tràn đầydũng khí Bên trong "manh áo chật" đáng thương, nhỏ bé lại chứa đựng bao điềulớn lao, cao cả
Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi cũng đốt xong nhà dạy đạo kia Gươm đeodùng hằng lưỡi dao phay cũng chém rớt đầu quan hai họ
Họ là những con người bình dị nhưng anh hùng Khi cầm cuốc làm ruộng
họ là những con người hiền như đất, như khoai song khi đối mặt với kẻ thù, họkhông kém phần dữ tợn Họ hòa hợp bằng tinh thần đoàn kết của người dân áo vảiđất Việt Cái tinh thần đoàn kết mà trước đây Nguyễn Trãi từng ngợi ca trong Cáobình Ngô
Nhân dân bốn cõi một nhà dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới.
Nguyễn Đình Chiểu đã vẽ lên hình ảnh của họ - của những con người cụ thểtrong công cuộc đánh Tây bằng một tâm trạng nô nức, phấn chấn
Chi nhọc quan quản gióng, trống kỳ, trống giục đạp rào lướt tới coi giặc cũng
như không Nào đợi thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào liều mình như chẳng có
Trang 4Kẻ đâm ngang, người chém ngược làm cho mã tà ma ní hồn kinh
Bọn hè trước lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ.
Ngòi bút của Nguyễn Đình Chiểu sung sướng vung lên như một thanhgươm trên chiến trường trước sức mạnh ồ ạt, tấn công dồn dập như vũ bão củanhững người nghĩa sĩ Cách ngắt nhịp ngắn gọn đã tạo nên một khí thế xông trậnbừng bừng, mang hơi thở gấp gáp của cuộc hỗn chiến Trong khung cảnh ấy, tunghoành giữa chiến địa chỉ còn có người nông dân mộ nghĩa anh dũng, oai phonglẫm liệt Giọng thơ có khác nào hồn cáo của Nguyễn Trãi mấy trăm năm về trước
Ngày mười tám trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế Ngày hai mươi trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh bại trận tử vong Ngày hăm tám, thượng thư Lí Khánh cùng kế tự vẫn
Nguyễn Đình Chiểu có lẽ cũng muốn lắm, để viết được những sự thất bạichồng chất của kẻ thù Nhưng ở đây ta thấy trận đánh dù có rầm rộ đến đâu đi nữa
nó cũng mang tính chất của người dân cầm cuốc, cầm cày đã quen Họ thất bại làphải, bởi lẽ:
Mười ban võnghệ nào đợi tập rèn Chín chục trận binh thư không chờ bày bố.
Đấy là những cơn người anh hùng nhưng rất đáng thương Nhìn hoàn cảnhđánh giặc của họ, ai mà không xót xa cho những con người cụ thể và xót xa cho
cả toàn đất nước Bởi thế âm điệu thơ như mặt hồ đang nổi sóng bỗng dưng lắngxuống, đang hừng hực lửa chiến trận bỗng chốc trở nên hoang vắng lạnh lùng,mang màu sắc bi thương não nuột
Những lăm lòng nghĩa lâu dùng, đâu biết xác phàm vội bỏ
Đoái sông Cần Giuộc cỏ cây mấy dặm sầu giăng.
Nhìn chợ Trường Bình già trẻ hai hàng lụy nhỏ.
Trang 5Những câu thơ như câm lặng trôi trong niềm kí ức của tác giả Nhà thơ gửimột nỗi tiếc thương vô hạn cho những người đã khuất Cái chết của họ làm cho cảtrời đất, cây cỏ tang thương, nhỏ lệ, cái chết nhuốm màu sầu ải lên vạn vật Cảmột bầu trời âm u, tối tăm trước sự hi sinh mất mát của những người nghĩa sĩ.
Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm Đồng lang sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ. Đau đớn bấy mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều.
Não nùng thay vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.
Những hình ảnh thương tâm ấy gặm nhấm tâm can ta, linh hồn ta đau nhức.Nguyễn Đình Chiểu đã nhân danh lịch sử mà cất tiếng khóc cho những người anhhùng hi sinh vì Tổ quốc Từ những âm thanh sầu thảm vang vọng lên qua đoạnvăn, chúng ta không phân biệt được đâu là tiếng khóc của tác giả, của nhân dân,gia đình mà như nghe thấy một tiếng khóc chung của đất nước Ngòi bút củaNguyễn Đình Chiểu đã hội tụ lại mọi nỗi đau để cất lên tiếng khóc cao cả
Sau phút giây đau thương, nức nở, lời ván đang đắm chìm trong thảm đạmbỗng tỉnh táo hẳn lên, nêu bật một quan niệm tuyệt vời về nhân sinh, về lẽ sống vàcái chết
Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.
Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ củng vinh.
Hơn còn mà chịu chữ đầu tây, ở với man di rất khổ.
Nguyễn Đình Chiểu đã đưa ra một quan điểm mang tính nhân văn sâu sắc:Thà chết chứ nhất định không chịu làm nô lệ, làm những điều nhơ bẩn, ô danh.Câu thơ "sống đánh giặc thác cũng đánh giặc" dược nêu cao như một chân lí sốngrực rỡ, chói ngời Chân lí ấy đã xua tan bao cảm giác bi thương, mất mát củangười nghĩa sĩ đã dâng trọn tấm thân mình cho đất nước, quê hương
Thác mà trả nước non rồi nợ, sánh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen.
Trang 6Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng hay trải muôn đời ai cũng mộ.
Họ là những tấm gương sáng cho muôn đời con cháu mai sau Linh hồnngười nghĩa sĩ trong tưởng niệm thành kính của tác giả vẫn níu lấy cuộc sống đểtheo đuổi đến cùng sự nghiệp giết giặc cứu nước, Với Nguyễn Đình Chiểu, họ vẫnsống và được ngưỡng mộ
Ôi chết thế không thể nào chết được Không thể chết những người dân yêu nước Những con người không chịu ô danh.
(Tố Hữu)
Họ đã vui vẻ hoàn thành nghĩa cả cao đẹp như một người nông dân "càyxong thửa ruộng" Cái chết của họ như một giấc ngủ trưa yên lành, bình thản.Nhưng cái yên lành, bình thản ấy lại gợi nỗi đau nhức nhối trong tâm tưởng củabao kiếp người
Với lối văn bình dân, giản dị, dùng nhiều thành ngữ, lời ăn tiếng nói đờithường, Nguyễn Đình Chiểu đã xây dựng lên hình tượng người nghĩa sĩ vừa bithương vừa hùng tráng Qua "Bức tượng đài nghệ thuật" ấy tác giả gửi gắm mộtquan niệm sống tốt đẹp Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là tiếng khóc cao cả của mộttấm lòng giàu tình dân, nghĩa nước
Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc đã khép lại nhưng lịch sử dân tộc vẫn được mở
ra Và chúng ta - những người con của đất nước phải nhớ giữ lấy giá trị ngàn đời
mà bao thế hệ, bao lớp người từng xây dựng nên giang sơn, gấm vóc của ngàyhôm nay Điều mà Nguyễn Khoa Điềm đã xúc động viết lên những lời thơ xiếtbao ân nghĩa
Có biết bao người con gái con trai Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm
Trang 7Nhưng họ đã làm nên Đất Nước.
Trang 8- Đôi nét về Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc: Bài văn tế là tiếng khóc bi tráng cho mộtthời kì lịch sử đau thương nhưng vĩ đại của dân tộc
II Thân bài
1 Phần lung khởi: khái quát bối cảnh thời đại và lời khẳng định sự bất tử của
người nông dân nghĩa sĩ
+ “Hỡi ôi!”: Câu cảm thán thể hiện niềm tiếc thương chân thành, thiết tha,thương tiếc
+ “ Súng giặc đất rền”: sự tàn phá nặng nề, giặc xâm lược bằng vũ khí tối tân+ “ Lòng dân trời tỏ” : đánh giặc bằng tấm lòng yêu quê hương đấtnước ⇒ Trời chứng giám
- NT đối lập nhằm thể hiện khung cảnh bão táp của thời đại, những biến cố chínhtrị lớn lao
⇒ Lời khẳng định tuy thất bại những người nghĩa sĩ hi sinh nhưng tiếng thơm cònlưu truyền mãi
2 Phần thích thực: Hình ảnh người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc
a Nguồn gốc xuất thân
- Từ nông dân nghèo khổ, những dân ấp, dân lân (những người bỏ quê đến khaikhẩn đất mới để kiếm sống)
+ “ cui cút làm ăn ”: hoàn cảnh sống cô đơn, thiếu người nương tựa
- NT tương phản “chưa quen >< chỉ biết, vốn quen >< chưa biết
⇒ tác giả nhấn mạnh việc quen và chưa quen của người nông dân để tạo ra sự đốilập về tầm vóc của người anh hùng
b Lòng yêu nước nồng nàn
- Khi TD Pháp xâm lược người nông dân cảm thấy: Ban đầu lo sợ ⇒ trông chờ tinquan ⇒ ghét ⇒ căm thù ⇒ đứng lên chống lại
Trang 9⇒ Diễn biến tâm trạng người nông dân, sự chuyển hóa phi thường trong thái độ
- Thái độ đối với giặc: căm ghét, căm thù đến tột độ
- Nhận thức về tổ quốc: Họ không dung tha những kẻ thù lừa dối, bịp bợm ⇒ họchiến đấu một cách tự nguyện: “nào đợi đòi ai bắt…”
c Tinh thần chiến đấu hi sinh của người nông dân
- Tinh thần chiến đấu tuyệt với: Vốn không phải lính diễn binh, chỉ là dân ấp dânlân mà “mến nghĩa làm quân chiêu mộ”
- Quân trang rất thô sơ: một manh áo vải, ngọn tầm vông, lưỡi dao phay, rơm concúi đã đi vào lịch sử
- Lập được những chiến công đáng tự hào: “ đốt xong nhà dạy đạo”, “ chém rớtđầu quan hai nọ”
- “đạp rào”, “xô cửa”, “liều mình”, “đâm ngang”, “chém ngược”…: động từ mạnhchỉ hành động mạnh mẽ với mật độ cao nhịp độ khẩn trương sôi nổi
⇒ Tượng đài nghệ thuật sừng sững về người nông dân nghĩa sĩ đánh giặc cứunước
3 Phần Ai vãn: Sự tiếc thương và cảm phục của tác giả trước sự hi sinh của
Trang 10⇒ Bút pháp trữ tình, nhịp câu trầm lắng, gợi không khí lạnh lẽo, hiu hắt sau cáichết của nghĩa quân.
4 Phần kết: ca ngợi linh hồn bất tử của người nghĩa sĩ
- Tác giả khẳng định: “Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ: Danh tiếng nghìn nămcòn lưu mãi
- Ông cũng nêu cao tinh thần chiến đấu, xả thân vì nghĩa lớn của nghĩa quân
- Đây là cái tang chung của mọi người, của cả thời đại, là khúc bi tráng về ngườianh hùng thất thế
⇒ khẳng định sự bất tử của những người nghĩa sĩ
Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - mẫu 2
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) một nhà nho yêu nước nồng nàn, căm thùgiặc sâu sắc Cuộc đời ông phải trải qua nhiều bi kịch đau khổ và bất hạnh Có lẽ
vì vậy mà hơn ai hết ông càng cảm nhận được nỗi đau mất nước khi thực dânPháp sang xâm lược nước ta Năm 1859 giặc Pháp tràn vào sông Bến Nghé chiếmthành Gia Định, ông phải vào quê vợ ở Thanh Ba, Cần Giuộc lánh tạm Về phíathực dân Pháp sau khi chiếm được thành Gia Định chúng bắt đầu thực hiện quátrình mở rộng cuộc tấn công ra các vùng lân cận Cần Giuộc chẳng mấy chốc đã bịgiặc Pháp tràn đến Những người nông dân áo vải, chân lấm, tay bùn đã đứng dậyđấu tranh Họ gia nhập nghĩa binh, sẵn sàng hi sinh vì nghĩa lớn Trong số họnhiều nghĩa sĩ đã hi sinh oanh liệt Những tấm gương hi sinh đó đã gây nên niềmcảm kích lớn trong nhân dân Đỗ Quang, tuần phủ Gia Định giao cho NguyễnĐình Chiểu làm bài văn tế đọc tại buổi truy điệu hơn hai mươi nghĩa sĩ đã hi sinhtrong trận đêm ngày 16-12-1861 Với lòng cảm phục và tình cảm xót thương vô
Trang 11hạn, Nguyễn Đình Chiểu đã viết bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Bài văn tế không
những thể hiện được tình cảm xót thương vô hạn của tác giả và của nhân dân đốivới các nghĩa sĩ cần Giuộc mà còn khắc họa lên vẻ đẹp chân thực, bi tráng mà rấtđỗi hào hùng của những người nông dân yêu nước đánh Tây
Hỡi ôi!
Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ
Khi Tổ quốc lâm nguy, khắp đất nước đều rền vang tiếng súng Chính từ sựgian nguy, đau thương đó, tình yêu đất nước của những người nông dân bìnhthường mới được thể hiện, vẻ đẹp thực sự của tâm hồn trong họ mới được bày tỏcùng trời đất
Tấm lòng, tình yêu giang sơn, tổ quốc của những người nông dân bình dịcàng được thể hiện một cách rõ rệt và sâu sắc hơn khi tác giả đã liên tục dùng biệnpháp so sánh đối lập trong các câu văn tiếp sau
Nhớ lính xưa:
Cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó, Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;
Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.
Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;
vì lòng yêu chính ghét tà mà đứng lên đánh giặc
Trang 12Khi mà “tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng”, họ ngóng trôngmệnh lệnh của triều đình: "trông tin quan như trời hạn trông mưa”.
Thì ra cái bi kịch xót xa là ở chỗ này: triều đình nhu nhược, không hiểuđược lòng dân yêu nước Lòng căm thù giặc của những người nông dân thì khôngthể kiềm chế:
Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.
Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống khói chạy
Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình:
Chẳng thèm trốn ngược, trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.
Trong những tác phẩm phản đối chiến tranh phong kiến phi nghĩa trướcđây, người nông dân khi phải đi làm lính biên thú phương xa để bảo vệ cương thổcủa nhà vua, họ ra đi với tâm trạng và thái độ “bước chân xuống thuyền, nước mắtnhư mưa” thì ở đây, người nông dân của Nguyễn Đình Chiểu lại hoàn toàn khác
Họ tự giác, tự nguyện đứng lên chiến đấu để bảo vệ giang sơn, tổ quốc, ấy là nétđẹp bản chất nhất trong hành động của người nông dân - nghĩa sĩ Cần Giuộc Đếnđây không chỉ vẻ đẹp trong tâm hồn mà ngay cả vẻ đẹp trong hành động củanhững người nghĩa sĩ nông dân yêu nước cũng đã được Nguyễn Đình Chiểu khắchọa lên một cách rõ rệt Từ cái động lực tinh thần tự nguyện gánh vác trách nhiệmlịch sử mà đã tạo ra cho họ sức mạnh vô cùng lớn Họ đã hành động, đứng lênchống giặc ngoại xâm Không chờ bày bố mà chỉ “ngoài cật có một manh áo vảinào dại mang bao tấu, bầu ngòi, trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắmdao tu, nón gõ” Hình ảnh người nông dân được hiện lên trong tác phẩm khiến chochúng ta vừa cảm thấy tự hào và xen lẫn niềm xót xa Những người nghĩa sĩdường như đóng vai trò là hiện thân của cả một sức mạnh dân tộc Đối mặt với kẻ