1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Phan tich bai viet bac mon ngu van lop 12 tg2jj

47 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phan tich bai viet bac mon ngu van lop 12 tg2jj
Tác giả Tố Hữu
Trường học Học Văn Chị Hiên
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Bài viết phân tích
Năm xuất bản 2021
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 638,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÀI LIỆU KHÓA KIẾN THỨC NỀN Học Văn Chị Hiên 2021 1 Văn bản VIỆT BẮC Tố Hữu “ Lịch trình tiến triển về thơ của Tố Hữu đi song song với lịch trình tiến triển về tư tưởng và trình độ giác ngộ, về sức ho[.]

Trang 1

(Lời giới thiệu tập Thơ của Tố Hữu,Văn hóa Cứu quốc Việt Nam xuất bản, 1946)

I THÔNG TIN TÁC GIẢ

Từ khóa

Tố Hữu

- Lá cờ đầu của thơ ca Cách mạng => Nhà thơ, chiến sĩ

- Chặng đường thơ song hành cùng chặng đường Cách mạng

- Phong cách thơ: trữ tình chính trị

- Quan niệm thơ: " Viết thơ phải xứng đáng là người chiến sĩ xung kích trên mặt trận văn hóa tư tưởng."

- Ngoài vai trò nhà thơ, ông còn là một nhà chính trị tài ba

Chặng đường thơ của Tố Hữu luôn gắn bó và phản ánh chân thật những chặng đường cách mạng đầy gian khổ, hy sinh nhưng cũng nhiều thắng lợi vinh quang của dân tộc, đồng thời cũng là những chặng đường vận động trong quan điểm tư tưởng và bản lĩnh nghệ thuật của chính nhà thơ Xuân Diệu từng nhận xét rằng: “ Tố Hữu đã đưa thơ chính trị lên đến trình rất đỗi trữ tình ” Nhà thơ quan niệm : "Muốn có thơ hay, trước hết, phải tạo lấy tình Nhà thơ chân chính phải không ngừng phấn đấu, tu dưỡng về lập

Trang 2

trường tư tưởng; xác định thật rõ ràng tầm nhìn, cách nhìn Tự nguyện gắn bó chân thành là yêu cầu cao nhất đối với người nghệ sĩ trong quan hệ với đất nước, với nhân dân Ngoài ra, các nhà thơ Cách mạng còn phải kiên quyết đấu tranh, không khoan nhượng trước những biểu hiện lệch lạc, với cái xấu cái ác Tóm lại, viết thơ phải xứng đáng là người chiến sĩ xung kích trên mặt trận văn hóa tư tưởng." Vì thế nhà thơ vừa mang trong mình chất thi sĩ, vừa mang trong mình chất chiến sĩ lý tưởng, nhiệt huyết, kiên trung

II THÔNG TIN TÁC PHẨM

Để hiểu hơn về tác phẩm cũng như những dụng ý nghệ thuật của tác giả, các em có thể tham khảo bài viết dưới đây:

TỐ HỮU TÂM SỰ VỀ BÀI THƠ “VIỆT BẮC”

Bài thơ của một người sống trong thực tiễn cách mạng, không phải khách du lịch ngắm cảnh Đó là tâm tình của người cách mạng, không phải tâm tình của cá nhân, là cái tôi cá nhân mà cái tôi cá nhân của tôi hòa vào cái tôi chung của cách mạng, nhân dân Đất nước thành máu thịt của tôi và ngược lại Tôi rất thích hai câu thơ của Chế Lan Viên:

“Khi ta ở chỉ là nơi ta ở Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”

Tôi hoạt động ở Việt Bắc mười mấy năm, sống cùng đồng bào các dân tộc ít người, chia sẻ nhau từng cơn sốt rừng, từng sự thiếu thốn, hiểm nguy Khi về Hà Nội, tôi cảm thấy đã để lại một phần đời ở Việt Bắc Đó là lí do tôi viết “Việt Bắc” “Mình và ta”, thông thường cũng như trong ca dao, được dùng để chỉ hai người gắn bó với nhau bằng tình cảm tha thiết

Một số bài phê bình, phân tích bài thơ như một chuyến chia li giữa một chàng trai dưới xuôi và một cô gái dân tộc, hay khá hơn, là cái tôi thi sĩ chia tay với cảnh vật núi rừng, con người Việt Bắc Đó là cách phân tích dựa vào ca dao, tục ngữ hay của đời sống bình thường Nhưng bài thơ này có cuộc sống độc lập riêng

Trang 3

“Mình, ta” không phải dùng cho ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai, không phải một từ chỉ chủ thể, một từ chỉ khách thể mà cả hai đều chỉ chủ thể Tôi nhắc lại “Mình và ta” ở đây đều chỉ chủ thể

“Nghĩa là mình ấy, ta ấy đều là một phần của đời sống thi sĩ đã trải qua ở Việt Bắc Cái phần đời này trò chuyện, quyến luyến với phần đời kia Cho nên cuộc chia tay không phải diễn ra bình thường trong thời gian, không gian cụ thể mà diễn ra trong máu thịt, trong tâm hồn nhà thơ Sự chia ly bản thân mình là cuộc chia ly khó khăn nhất, đắm đuối nhất, tha thiết nhất Phải hiểu đúng cách dùng hai từ “mình”, “ta” này của tác giả mới hiểu đúng bài thơ

vẽ lên cảnh chia li da diết như phải dứt đi khối tình đau đáu Nhưng “áo chàm” có phải là hình ảnh hoán dụ để nói đến đồng bào Việt Bắc? Hiểu như thế quá đơn giản

và lệ thuộc Cách đó không phải là cách để hiểu thơ ca Tuy đồng bào Việt Bắc mặc

áo chàm nhiều và có thể mặc khi đưa tiễn cán bộ nhưng áo chàm ở đây mang ý nghĩa hoàn toàn khác Màu chàm nâu trong tâm thức người Việt là màu đơn sơ, chân thực, không kiểu cách, lòe loẹt Nó biểu hiện sự chân thành, giản dị Hơn nữa, ở đây cả chủ thể và khách thể đều hòa chung làm một nên:

“Áo chàm là biểu tượng cho tấc lòng chung thủy của mọi người.”

Cái tình tha thiết, bâng khuâng bồn chồn thì lời thơ nào tả cho hết được? Tình cảm càng thắm đượm, càng nồng nàn thì ngôn từ càng bất lực Những người thân yêu ruột thịt gặp nhau hay xa nhau lâu ngày còn có hành động nào hơn lời nói là nắm tay, là

ôm chầm lấy nhau? Cái ngôn ngữ của bàn tay nóng ấm gắn liền với trái tim đầy xúc động, run rẩy hơn mọi lời nói khác, nhất là cuộc chia lí với chính mình này Cho nên biết nói gì cho thỏa chứ không phải không biết nói gì, không có gì để nói

Trang 4

Chú ý đến hai câu:

“Mình về rừng núi nhớ ai”

“Mình về có nhớ núi non”

Nỗi nhớ như tiếng gọi trong thung lũng Có một lời vang lên là có tiếng vọng lại ấm

áp hơn, tha thiết hơn Không cảm thấy cuộc phân li nữa mà chỉ thấy nỗi nhớ lớn lên, bền bỉ và thắt chặt mọi người trong kí ức chung đẹp đẽ “Hắt hiu lau xám” đối với

“đậm đà lòng son” và làm nổi bật nhau hơn Tấm lòng dân Việt Bắc bền vững như núi rừng Việt Bắc

Câu thơ:

“Mình đi mình có nhớ mình Tân Trào Hồng Thái, mái đình cây đa”

điệp lại ở đoạn sau khẳng định sự không thể chia cắt của chủ thể

“Ta mình”, “mình ta” phân đôi này chỉ là phân đôi nỗi nhớ, một về Hà Nội, một ở Việt Bắc Còn sự chung thủy sắt son thì không gì có thể lay chuyển Có khi là sự tạo điểm nhấn, chẳng hạn câu:

“Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu”

Đó là so sánh giữa cái vô tận và cái vô cùng, như tấm lòng người mẹ, tình cha

Đó không phải là lời khẳng định hay chứng tỏ tình cảm vì lòng người này đã sống trong lòng người kia rồi cần gì phải phô bày nữa Đó là lời buộc thốt tự đáy lòng Có sống cùng đồng bào dân tộc trong những ngày kháng chiến gian lao mới hiểu hết hai câu:

“Ta đi ta nhớ những ngày Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi.”

Có những ngày lũ rừng về xối xả, cuồn cuộn, mưa rừng ào ào, gạo trôi, sắn bị cuốn, địch phục kích sau lưng, những đêm bị cơn sốt rét rừng hành hạ, được các mế, các chị cưu mang, đổ nước lá khế vào miệng cho uống mới thấm thía tình người, tình keo sơn gắn bó Khi anh sống ở đó rồi anh ra đi anh có cảm giác nhớ từng rừng nứa bờ tre, nhớ cả những vật vô tri bình thường Nỗi nhớ bắt nguồn từ tình người và lan tỏa vào cảnh vật “Đây” và “đó” cũng chỉ là một địa điểm mà thôi

Trang 5

Hình ảnh “bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng” cũng chưa phải là mộc mạc nhất Hình ảnh “người mẹ nắng cháy lưng địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô” chẳng hạn Cuộc sống hiện lên như nó vốn có Nếu ta thờ ơ, bàng quan thì chẳng thấy có gì nên thơ nhưng nếu có một chút lưu luyến gắn bó, lặp tức thấy có ngọn lửa lung linh bền bỉ của sự sống

“Phách” là một loại cây ở rừng Việt Bắc Khi mùa thu đến thì lá ngả vàng làm cả rừng vàng rực lên Câu thơ chỉ tả hình ảnh giản dị như thế chứ không có ý tả tiếng rừng, nhạc rừng gì cả! Còn “ngọn hoa chuối”, nhìn ở đồng bằng thì không có cảm giác gì, nhưng nhìn ở vùng núi, giữa đám lau lách, cỏ hoa thì lại có giá trị đặc biệt Nó cho cảm giác bông hoa thật chứ không mong manh, chóng tàn như những loài hoa khác Không phải là cảnh đẹp, cảnh vật nở bừng hoa mà tác giả muốn tả cảnh đẹp để làm nổi bật con người trong đó Con người lao động bình dị và tiếng hát ân tình thủy chung Cảnh vật và con người hòa quyện, tôn nhau lên Con người Việt Bắc hiện lên như thế: đâu cũng có cảnh đẹp, đâu cũng có con người ân tình Trong chiến tranh du kích, Việt Bắc là căn cứ địa vững vàng Rừng che giấu

bộ đội, cán bộ, khiến giặc có mắt như mù: mặt khác rừng núi là thiên la địa võng mà

hễ quân giặc lạc vào là lạc lối, là mắc cạm bẫy, là uổng mạng

sự hối hả, luân chuyển không ngừng của những đoàn quân ra trận Nhịp 2/2 như nhịp bước hành quân mạnh mẽ, oai hùng Anh hùng, kiêu hãnh, đạp bằng mọi gian nguy tiến lên phía trước

Khí phách ấy dồn nén và bật ra thành câu thơ:

Trang 6

“Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”

Sự xuất hiện điệp từ “vui” trong đoạn thơ thể hiện sự cộng hưởng của niềm vui dạt dào, mạnh mẽ và lâu bền trong giai đoạn 1953 - 1954 lịch sử

Việt Bắc là trái tim cách mạng của cả nước, gắn liền với hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh Những năm Bác sống và làm việc ở Việt BẮc, từ khắp mọi nơi trong cả nước, nhân dân một lòng một dạ hướng về Người Người là linh hồn của Việt BẮc Khổ thơ cuối tổng kết tình cảm người ra đi với Việt Bắc và nhấn mạnh giá trị của quê hương cách mạng trong đời sống tinh thần của người Việt Nam

Viết theo thể thơ lục bát uyển chuyển có khả năng lột tả được những tình cảm dịu dàng tha thiết Nó hoàn toàn tương ứng với nội dung tình cảm của người ra đi Bài thơ có hai nhân vật trữ tình: “Mình và ta”, nhưng cả “mình và ta” đều là biểu hiện của chủ thể tác giả

Khi ấy, 1954, tác giả chia tay Việt BẮc như chia tay một phần đời sống của mình: một đời sống gian khổ nhưng vui tươi, ân nghĩa, sâu sắc, da diết, tràn đầy ấn tượng và hạnh phúc

Chính vì thế mà lưu luyến, hồi nhớ lại tất cả Việt Bắc đã trở thành quê hương tinh thần của chính tôi (Tố Hữu), của tôi và của mọi người Cho nên nỗi niềm riêng của tôi trong bài thơ đã thành nỗi niềm, tình cảm chung của cán bộ, chiến sĩ, của nhân dân

(Nguyễn Quang Thiều (chủ biên): “Tác giả nói về tác phẩm Hỏi chuyện các tác giả có tác phẩm giảng dạy trong nhà trường.”)

1 Hoàn cảnh sáng tác

- Việt Bắc là căn cứ điểm Cách mạng vững chắc của Cách mạng Việt Nam Nơi đây

người dân Việt Bắc đã đùm bọc, che chở và sát cánh cùng cán bộ, bộ đội để bảo vệ nền

độc lập dân tộc

- 7/5/1954, ta giành thắng lợi trên chiến trường Điện Biên Phủ

- 10/1954, các cơ quan trung ương Đảng và chính phủ rời chiến khu Việt Bắc tiếp quản

Trang 7

thủ đô Hà Nội Đây là sự kiện trọng đại và nhân sự kiện chính trị, thời sự quan trọng này , Tố Hữu viết bài thơ để nói về cuộc chia tay giữa cán bộ miền xuôi và nhân dân Việt Bắc

- Bài thơ in trong tập “Việt Bắc” là bản hùng ca của kháng chiến

- “Việt Bắc” là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và là thành công xuất sắc của thơ ca Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp

- Bài thơ là khúc hùng ca, bản tình ca về Cách mạng, về kháng chiến, về con người kháng chiến, thể hiện rõ phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu

(Chế Lan Viên – “Lời nói đầu tuyển tập thơ Tố Hữu”)

3 Việt Bắc là đỉnh thơ cao nhất mà Tố Hữu đã bước lên (Xuân Diệu – “Tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu”)

4 Sức mạnh của thơ Tố Hữu trong những ngày đen tối ấy chính là vì nó nói với trái tim, chính là bởi người cách mạng ấy là một thi sĩ chính cống, thật sự

(Xuân Diệu -“Tố Hữu với chúng tôi”)

5 Lịch trình tiến triển về thơ của Tố Hữu đi song song với lịch trình tiến triển về tư tưởng và trình độ giác ngộ, về sức hoạt động của Tố Hữu

Thơ Tố Hữu không phải là một trò tiêu khiển mà là một khí cụ đấu tranh, một công tác vận động của người cách mạng

Trang 8

Người Tố Hữu là một thi sĩ, một chiến sĩ nhưng chúng ta đừng quên cốt cách của nó là thi sĩ (Lời giới thiệu tập Thơ của Tố Hữu,Văn hóa Cứu quốc Việt Nam xuất bản, 1946)

6 Tố Hữu không tô vẽ lên nhân vật quần chúng những nét sơn hào nhoáng, giả tạo Tình cảm của nhân vật thơ anh biểu hiện lên từ bản chất giai cấp, từ đời sống thực Người bộ đội chiếm một địa vị quan trọng trong tập thơ Việt Bắc, chính là người nông dân nghèo khổ (Chặng đường mới của chúng ta, 1961, Hoàng Trung Thông)

7 Với Tố Hữu, thơ là vũ khí đấu tranh cách mạng Ðó chính là đặc sắc và cũng là bí quyết độc đáo của Tố Hữu trong thơ (Lời giới thiệu tập thơ Từ ấy, Văn học, 1959, Đặng Thai Mai)

8 Thơ Tố Hữu là thơ một con người biết trân trọng lấy đời mình, muốn làm cho đời mình trở nên hữu ích Vậy thì ai kia còn phung phí đời mình, làm gì cũng được, sống sao cũng xong, trong khi đọc thơ này hãy bắt đầu thử dừng lại mà biết quý lấy đời mình,

mà đem xây dựng nó

Phong cách dân tộc ở Tố Hữu thể hiện ở chỗ thơ anh giàu chất nhạc, anh nắm rất vững cái âm điệu, vần điệu của dân tộc

… Thơ anh là lối thơ lấy cái đường đi toàn đời, lấy cái hơi toàn tập, lấy cái tứ toàn bài

là chính… Anh là một con chim vụ ở đường bay hơn là bộ lông, bộ cánh, tuy vẫn là lông cánh đẹp

(Lời nói đầu cho tuyển tập 1938 – 1963 của Tố Hữu, Văn học, 1964, Chế Lan Viên)

9 Nhà thi sĩ ấy tự muốn mình là tiếng nói của dân tộc mình Vậy thì dân tộc ấy có năng khiếu thơ thông qua nhà thi sĩ Các dân tộc hiện đại, đã công nghiệp hóa rồi, đã bị san phẳng bởi những phương tiện tuyên truyền, không còn có một năng khiếu về hình tượng như thế nữa; không còn suối nguồn ở bản thân mình nữa Nhưng Tố Hữu đắm mình trong dân tộc của mình, đồng thời là một thi sĩ độc đáo, một nhà sáng tạo ra các hình thể Người ta càng cảm thấy điều đó rõ hơn khi anh nói một cách rất hay về thơ

(Lời tựa tập thơ Máu và hoa, xuất bản ở Pháp, năm 1975, Pierre Emmanuel)

Trang 9

10 Thơ của chàng thanh niên Tố Hữu khi ấy từ trái tim vọt ra cũng như thơ của chúng tôi, cũng lãng mạn như thể chúng tôi, nhưng là thứ lãng mạn khác, có nhiều máu huyết hơn; thơ chúng tôi chỉ đập cho mở cửa trời, nhưng thơ Tố Hữu thì mới có chìa khóa: Cách mạng, giải phóng dân tộc, giải phóng cho người lao khổ

(Tố Hữu với chúng tôi, 1975, Xuân Diệu)

III NỘI DUNG TÁC PHẨM

Bố cục phân tích

đồng bào Việt Bắc với cán bộ Cách mạng

4 - 4 - 4

và tái hiện lại vẻ đẹp của thiên nhiên Việt Bắc

4 - 6 - 6 - 6

với thiên nhiên VB

6 - 4

nhớ nơi ghi dấu bao hoạt động của Trung ương Đảng và

Trang 10

“Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

* Hình thức đối đáp quen thuộc trong ca dao:

- Có người ra đi và người ở lại ( mình - ta ), tuy nhiên đối đáp chỉ là hình thức bên

ngoài còn thực chất bên trong là lời độc thoại , tự biểu hiện cái Tôi trữ tình của tác giả Cho nên dù là lời của người ra đi hay lời của người ở lại đó vẫn là tiếng lòng chung của con người kháng chiến => Nghệ thuật phân thân của chủ thể trữ tình khiến cảm xúc trong cuộc chia tay càng thêm sâu sắc, mãnh liệt, lưu luyến

4 câu đầu:

Lời của người ở

lại

đi: khi về với Hà Nội rồi liệu còn nhớ nơi đây nữa hay không?

thời gian đong đầy kỷ niệm của đồng bào Việt Bắc và cán bộ

CM Đại từ “ấy” khiến những danh từ chỉ thời gian trước nó bị đẩy về quá khứ xa xăm, thành thời gian của nỗi nhớ thương, ngậm ngùi, tiếc nuối

- “Thiết tha, mặn nồng" => để diễn tả tình cảm gắn bó, bền chặt của cán bộ CM và đồng bào VB trong 15 năm qua Đây vốn

dĩ là những từ ngữ chỉ dùng khi nói về tình cảm của đôi lứa, uyên ương nhưng lại được Tố Hữu đưa vào đây thật phù hợp, thật đẹp, thật tình Tình cảm giữa cán bộ CM và đồng bào Việt Bắc keo sơn, bền chặt

Câu hỏi này khiến cho con người trăn trở suy ngẫm vì sự tha thiết nghiêm nghị trong giọng thơ Câu hỏi hướng về không gian chia thành hai miền: xuôi - ngược, gợi sự quấn quýt gắn bó ta - mình, thể hiện nỗi nhớ người ở lại nhưng đồng thời cũng là lời chất vấn của người trở về thủ đô phồn hoa đô thị Liệu người ra

Trang 11

đi có nhớ về Việt Bắc, về cội nguồn và quá khứ Câu thơ gợi ra suy ngẫm về nghĩa tình, đạo lý, về cội nguồn thủy chung Liệu người ra đi còn nhớ về Việt Bắc, cội nguồn, nhớ quá khứ hay không ?

=> Hai câu hỏi tu từ với hình thức điệp từ ngữ cấu trúc, vận dụng tinh tế và sáng tạo văn học dân tộc, 4 câu thơ thể hiện ân tình sâu nặng của đồng bào Việt Bắc với người kháng chiến

4 câu thơ tiếp:

Lời đáp lại của

người ra đi -

Tiếng lòng của

người ra đi

mang tính chất phiếm chỉ, không rõ ràng, không phải những người cụ thể Đó là tiếng ai đó, hay tiếng núi rừng, tiếng suối sông Việt Bắc hay tiếng lòng chưa cất thành lời Tình tri kỷ khiến người đi thấu hiểu nỗi lòng tha thiết của người ở lại Hay nỗi lòng tha thiết của người đi gặp được sự đồng vọng của người

ở thể hiện một tấm lòng thủy chung

tôi đã nghe thấy những điều gửi gắm của người của ở lại - đồng bào VB

+ “Bâng khuâng”: sự đan xen của nhiều cảm xúc, có vui, có buồn, có lưu luyến nhớ nhung

+ “Bồn chồn”: cảm giác nôn nao, phấp phòng không yên, không chỉ biểu hiện ở nội tâm mà còn hiện ra trong bước chân, gương mặt, ánh mắt

=> Nhấn mạnh vào mặt cảm xúc của người ra đi: Lòng đầy lưu luyến, bâng khuâng Bước đi ngập ngừng cứ đi rồi lại dừng, ngoái nhìn cảnh vật và con người nơi đây => Vừa vui, vừa buồn; vừa tiếc nuối, vừa hào hứng,

Trang 12

• “Áo chàm” => Hoán dụ Trong giây phút chia ly, nếu

“tiếng ai” là âm thanh mơ hồ, là tiếng lòng người ở lại vang lên nhờ sự đồng cảm của người đi thì hình ảnh chiếc “áo chàm” lại hiện lên cụ thể đến não lòng

phục quen thuộc của đồng bào VB

bỉ, chịu thương chịu khó, màu của nghĩa tình

=> Đồng bào Việt Bắc, tô đậm những vẻ đẹp phẩm chất của người ở lại

=> Hình ảnh đồng bào VB trong buổi chia tay cán bộ cách mạng

Khái quát => Khúc hát chia ly giữa người đi kẻ ở, thể hiện tình cảm gắn

bó mặn nồng giữa đồng bào Vb và cán bộ CM Được coi là khúc nhạc dạo đầu của bài thơ Việt Bắc, gợi bao nghĩa tình yêu thương gắn bó

1954, các cơ quan Trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về

Hà Nội Nhân sự kiện có tính chất lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc, khắc họa lại cuộc chia tay lịch sử với những tình cảm thủy chung son sắt Trong tám câu thơ

Trang 13

đầu tiên, tác giả đã tái hiện không khí bâng khuâng, lưu luyến trong những phút giây đầu tiên của buổi chia ly giữa kẻ ở - người đi Khúc dạo đầu được khơi gợi từ lời của những người ở lại:

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn

Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

Đoạn thơ tràn đầy một nỗi nhớ tưởng như không thể kìm nén được, cứ trào ra theo ngòi bút và tuôn chảy thành những dòng thơ Để bài thơ trở thành một khúc hát ân tình tha thiết, Tố Hữu đã sáng tạo cách kết cấu rất phù hợp với nội dung tư tưởng, cảm xúc ấy: lời đối đáp trong một cuộc chia ly của kẻ ở người về Có người ra đi và người ở lại ( mình - ta ), tuy nhiên đối đáp chỉ là hình thức bên ngoài còn thực chất bên trong là lời độc thoại , tự biểu hiện cái Tôi trữ tình của tác giả Cho nên dù là lời của người ra đi hay lời của người ở lại đó vẫn là tiếng lòng chung của con người kháng chiến Nghệ thuật phân thân của chủ thể trữ tình khiến cảm xúc trong cuộc chia tay càng thêm sâu sắc, mãnh liệt, lưu luyến

rịn, lưu luyến của kẻ ở người đi - hai người từng gắn bó sâu nặng bền lâu qua mười lăm năm “ Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng” Khung cảnh ấy gợi nhớ đến những cuộc hát đối đáp trong đêm giã bạn ở vùng quê quan họ hay trong sinh hoạt dân ca ở nhiều vùng Người ở lại lên tiếng trước, như nhạy cảm với hoàn cảnh đổi thay, gợi nhắc những

kỷ niệm gắn bó, những cội nguồn nghĩa tình:

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Trang 14

Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”

rằng khi về với Hà Nội rồi liệu còn nhớ nơi đây nữa hay không? Đại từ “Ấy" - cá nhân hóa khoảng thời gian 15 năm - khoảng thời gian đong đầy kỷ niệm của đồng bào Việt Bắc và cán bộ CM Đại từ dường như khiến những danh từ chỉ thời gian trước nó bị đẩy

về quá khứ xa xăm, thành thời gian của nỗi nhớ thương, ngậm ngùi, tiếc nuối, gợi liên tưởng đến câu thơ trong “Truyện Kiều”:

Câu thơ mang dáng dấp một câu Kiều - Mười lăm năm bằng thời gian Kim - Kiều xa cách thương nhớ mong đợi hướng về nhau (Những là rày ước mai ao - Mười lăm năm

ấy biết bao nhiêu tình) Khác với Nguyễn Du, quãng thời gian 15 năm đó là khoảng thời gian sinh hoạt, chiến đấu cùng đồng bào VB; nhắc nhớ về cội nguồn cách mạng Tính từ “thiết tha, mặn nồng" diễn tả tình cảm gắn bó, bền chặt của cán bộ CM và đồng bào VB trong 15 năm qua Đây vốn dĩ là những từ ngữ chỉ dùng khi nói về tình cảm của đôi lứa, uyên ương nhưng lại được Tố Hữu đưa vào đây thật phù hợp, thật đẹp, thật tình Tình cảm giữa cán bộ CM và đồng bào Việt Bắc keo sơn, bền chặt

cho con người trăn trở suy ngẫm vì sự tha thiết nghiêm nghị trong giọng thơ Câu hỏi hướng về không gian chia thành hai miền: xuôi - ngược, gợi sự quấn quýt gắn bó ta - mình, thể hiện nỗi nhớ người ở lại nhưng đồng thời cũng là lời chất vấn của người trở

về thủ đô phồn hoa đô thị Liệu người ra đi có nhớ về Việt Bắc, về cội nguồn và quá khứ Câu thơ gợi ra suy ngẫm về nghĩa tình, đạo lý, về cội nguồn thủy chung Liệu người ra đi còn nhớ về Việt Bắc, cội nguồn, nhớ quá khứ hay không ? Việt Bắc đã hỏi người cán bộ về xuôi có còn nhớ mình không? Có còn nhớ những tình cảm thiết tha, mặn nồng trong suốt khoảng thời gian mười lăm năm gắn bó? Nhìn cây còn có nhớ núi, nhìn sông còn có nhớ đến nguồn? Bốn câu thơ nhưng thực chất là hai câu hỏi tu từ Tố Hữu hơn một lần vận dụng rất sáng tạo và nhuần nhuyễn văn học dân gian, làm nền

Trang 15

tảng tạo nên giọng điệu tâm tình, tự nhiên, chân thành rất hiện đại, rất riêng của mình Dân gian ta vẫn từng có câu nằm lòng:

nhỏ của cuộc kháng chiến cứu quốc Vì vậy dù có đi xa nhưng người ở lại vẫn nhẹ nhàng nói với người ở lại một ân tình Cách mạng mà nơi ấy “cây” là người ra đi, “núi”

và “nguồn” là chiến khu miền núi

Nam truyền thống vốn là bản chất tốt đẹp của dân tộc ta Không chỉ nói lên mà chính là nhắc nhở mọi người, nhắc nhở chính mình bởi vì đạo lí ấy thiêng liêng lắm, quý giá lắm, phải giữ gìn và phát huy Sâu nặng biết bao trong “mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”, ân tình biết bao khi “nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn” Bốn câu thơ mà

có đến bốn chữ “mình”, bốn chữ “nhớ” hòa quyện quấn quýt cùng chữ “ta”, khiến cái

đạo lí ân tình Việt Nam đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt bài thơ Việt Bắc, trở thành

chủ đề lớn của tác phẩm Hình thức đối đáp ở đây chỉ là một thủ pháp khơi gợi, bộc lộ tâm trạng và tạo ra sự hô ứng, đồng vọng trong tình cảm của người ở và người về

chỉ, không rõ ràng, không phải những người cụ thể Đó là tiếng ai đó, hay tiếng núi

Trang 16

rừng, tiếng suối sông Việt Bắc hay tiếng lòng chưa cất thành lời Tình tri kỷ khiến người

đi thấu hiểu nỗi lòng tha thiết của người ở lại Hay nỗi lòng tha thiết của người đi gặp được sự đồng vọng của người ở thể hiện một tấm lòng thủy chung Câu thơ như một lời hồi đáp của người ra đi rằng chúng tôi đã nghe thấy những điều gửi gắm của người của ở lại - đồng bào VB Nghệ thuật đảo ngữ : “Trong dạ bâng khuâng, bước đi bồn chồn” thật độc đáo “Bâng khuâng” ở đây là sự đan xen của nhiều cảm xúc, có vui, có buồn, có lưu luyến nhớ nhung Còn “bồn chồn” lại là cảm giác nôn nao, phấp phòng không yên, không chỉ biểu hiện ở nội tâm mà còn hiện ra trong bước chân, gương mặt, ánh mắt Hai từ láy nhấn mạnh vào mặt cảm xúc của người ra đi: Tấm lòng nặng trĩu những lưu luyến, bâng khuâng bước đi ngập ngừng cứ đi rồi lại dừng, ngoái nhìn cảnh vật và con người nơi đây, tâm trạng vừa vui, vừa buồn; vừa tiếc nuối, vừa hào hứng,

lại vang lên nhờ sự đồng cảm của người đi thì hình ảnh chiếc “áo chàm” lại hiện lên cụ thể đến não lòng Hình ảnh hoán dụ “áo chàm” là biểu tượng đơn xơ xúc động, hình ảnh trang phục quen thuộc của đồng bào VB Màu chàm là màu thể hiện cho sự giản dị, mộc mạc, bền bỉ, chịu thương chịu khó, màu của nghĩa tình Lần chia tay có ý nghĩa lịch sử ấy được ghi lại với niềm xúc động sâu xa, họ cầm tay nhau, vấn vương bịn rịn, mười lăm năm ấy đã là quá dài? Vì thế cầm tay nhau không nói gì cũng chính là nói ra rất nhiều Hẳn vì thế mà khổ thơ thứ hai được xem như một lời đồng vọng đầy thương mến Cái nắm tay giữa cán bộ CM và đồng bào VB thể hiện sự ngậm ngùi không nói được tiếng nào - không cất lên thành lời hay chăng vì quá xúc động nên cổ họng nghẹn lại, không cất được thành lời hay quá nhiều điều nói, nhưng không biết phải bắt đầu từ đâu Câu thơ gợi nhắc ta nhớ đến câu thơ của Lưu Quang Vũ cũng nói về tâm trạng chia

ly đầy nghẹn ngào xúc động:

Lời chưa nói thì bàn tay đã nói

Mình đi rồi hơi ấm còn ở lại

Còn bồi hồi trong những ngón tay ta.”

Trang 17

Như vậy, 8 câu thơ đầu là khúc hát chia ly giữa người đi kẻ ở, thể hiện tình cảm gắn

bó mặn nồng giữa đồng bào Vb và cán bộ CM Đây được coi là khúc nhạc dạo đầu của bài thơ Việt Bắc, gợi bao nghĩa tình yêu thương gắn bó

2 Những năm tháng chia ngọt sẻ bùi của đồng bào Việt Bắc với cán bộ Cách mạng

Mình đi có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?

… Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?

những ngày mà ta với mình cũng trải qua tháng ngày sống chung với lũ, những ngày mưa lớn mây mù hay không => ý muốn nói tới hoàn cảnh thời tiết vô cùng khắc nghiệt => Khơi gợi trong lòng người ra đi về những ngày gian khó Trong gian khó mới thấy được chân tình Chân tình của đồng bào, của nhân dân là sẵn sàng cùng với những người cán bộ cách mạng trải qua mọi khó khăn, vất vả

bảo vệ tổ chức Cách mạng trong những tháng ngày đầu của cuộc kháng chiến, đồng bào Việt Bắc cùng cán bộ Cách mạng phải lui vào rừng sâu cùng nhau trải qua những tháng ngày:

“ăn tuyết nằm sương”, “nếm mật nằm gai” Nơi đây “mưa nguồn suối lũ” khắc nghiệt (Mưa dữ dội, suối nước chảy xiết)

vô cùng nguy hiểm

cơm chấm muối” => Những bữa ăn giản đơn, thiếu thốn nhưng vượt lên trên tất cả họ lại giữ cho mình sự kiên định, vững vàng

Trang 18

vì họ hiểu rằng trên đôi vai của mình đang mang một mối thù lớn, mối thù của quốc gia, dân tộc => Đó là quyết tâm của những người cán bộ cách mạng, nhưng cũng là quyết tâm của đồng bào Việt Bắc Họ sẵn sàng quên đi cái riêng để hòa nhập vào cái chung, quên đi cái cá nhân để hòa nhập vào cộng đồng rộng lớn

• Câu hỏi tu từ gợi tình cảm của thiên nhiên với con người: “Rừng núi nhớ ai” => Sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa

để nói lên nỗi niềm bâng khuâng da diết Rừng núi ở đây cũng chính là hình ảnh hoán dụ chỉ đồng bào Việt Bắc Từ “ai” trong

“nhớ ai” ý chỉ những người cán bộ cách mạng Là đại từ phiếm chỉ nhưng lại mang ý nghĩa chỉ cụ thể

• Câu thơ tiếp theo có 2 hình ảnh: “trám và măng” là lương thực chủ yếu của bộ đội ta trong những ngày chiến đấu đầy gian khó Nay người đi rồi, trám và măng không còn người thu hái, để lại ở đây là một khoảng hụt hẫng với nỗi nhớ mênh mang

=> Thiên nhiên mang 1 nỗi buồn trống vắng vì người đi mất, thiên nhiên nhưng cũng chính là cách để nói về tiếng lòng của những người ở lại Là tình cảm của nhân dân với cán bộ thiết tha, trìu mến

Việt Bắc:

• Hình ảnh hắt hiu lau xám muốn nói tới hình ảnh của những ngôi nhà lá đơn sơ, mộc mạc => Khung cảnh gợi ra sự hoang vắng, hiu hắt, cô liêu Thế nhưng tác giả đã sử dụng biện pháp đối lập để chứng tỏ rằng bên ngoài là hình ảnh đìu hiu nhưng bên trong khung cảnh ấy những ngôi nhà ấy là những tấm lòng son sắt đậm đà của những người ở lại Đó là nghĩa tình thiết tha trìu mến của những con người nhỏ bé đã góp một

Trang 19

phần của mình vào chiến thắng Điện Biên năm ấy - Chiến thắng lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu

Câu hỏi tu từ gợi nhắc về núi rừng Việt Bắc với hình ảnh của khu căn cứ địa kháng chiến với 2 sự kiện lịch sử: “Nhớ khi kháng Nhật thuở còn Việt Minh”

làm lên chiến thắng của Cách mạng tháng Tám và là tiền đề quan trọng cho những thắng lợi sau này

những người cán bộ Cách mạng; chữ “mình” thứ 2 chỉ đồng bào Việt Bắc Thế nhưng cũng có thể hiểu cả 2 chữ mình này

đã hòa làm 1 giống như tâm hồn của người cán bộ với đồng bào Việt Bắc đã hòa vào nhau Kẻ đi, người ở đều có 1 tâm trạng bâng khuâng tiếc nuối như nhau

của Cách mạng:

22.12.1944 đồng chí Võ Nguyên Giáp làm lễ xuất quân cho đội VN tuyên truyền Giải phóng quân (Sau này là ngày Quân đội nhân dân Việt Nam)

lược quan trọng từng bước đi tới chiến thắng Cách mạng

Khái quát => Khẳng định Việt Bắc là cái nôi của Cách mạng, là trung

tâm đầu não của cuộc kháng chiến Nơi đây không chỉ in dấu những kỷ niệm đầy nghĩa tình nồng ấm, còn là nơi bắt đầu cho dân tộc Việt Nam làm nên “thiên sử vàng” chói lọi

Để làm được điều này, nhân dân Việt Bắc đóng một vai trò

vô cùng lớn lao

Trang 20

Phân tích cụ thể:

tình của “mười lăm năm ấy” Cũng vẫn dưới dạng câu hỏi nhưng đã gợi cụ thể hơn về thời gian, không gian của những kỷ niệm:

Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?

… Mình đi, mình có nhớ mình

những câu thơ, những hình ảnh cô đúc là bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu nghĩa tình chất chứa dồn nén Câu thơ lục bát ở đây đạt đến độ tinh luyện, đúc chữ, đúc hình ảnh, nhất

là trong những câu sử dụng rất hiệu quả phép đối “ Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai”; “ Trám bùi để rụng, măng mai để già”; “ Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son” Lời hỏi của Việt Bắc - người ở lại - đã khơi dậy, làm tuôn trào cả một bầu kỷ niệm tràn đầy tình nghĩa người ra đi, với bao nhiêu hình ảnh, sự việc chất chứa của một thời không thể quên Nếu lời hỏi chỉ nhằm khơi gợi, thì lời đáp lại dào dạt, dồn dập như một dòng cảm xúc tuôn trào Bởi vậy lời hỏi chỉ có 12 câu thơ, mà lời đáp phải dùng tới 70 câu (từ 21 đến 90)

cũng trải qua tháng ngày sống chung với lũ, những ngày mưa lớn mây mù hay không ở đây ý muốn nói tới hoàn cảnh thời tiết vô cùng khắc nghiệt Câu hỏi khơi gợi trong lòng người ra đi về những ngày gian khó Trong gian khó mới thấy được chân tình Chân tình của đồng bào, của nhân dân là sẵn sàng cùng với những người cán bộ cách mạng trải qua mọi khó khăn, vất vả Đó còn là những tháng ngày “giặc đến, giặc lùng”, để có thể bảo vệ tổ chức Cách mạng trong những tháng ngày đầu của cuộc kháng chiến, đồng

Trang 21

bào Việt Bắc cùng cán bộ Cách mạng phải lui vào rừng sâu cùng nhau trải qua những tháng ngày: “ăn tuyết nằm sương”, “nếm mật nằm gai” Nơi đây “mưa nguồn suối lũ” khắc nghiệt (Mưa dữ dội, suối nước chảy xiết) vô cùng nguy hiểm Là những tháng ngày với sự thiếu thốn về vật chất: “miếng cơm chấm muối”, những bữa ăn giản đơn, thiếu thốn nhưng vượt lên trên tất cả họ lại giữ cho mình sự kiên định, vững vàng vì họ hiểu rằng trên đôi vai của mình đang mang một mối thù lớn, mối thù của quốc gia, dân tộc Đó là quyết tâm của những người cán bộ cách mạng, nhưng cũng là quyết tâm của đồng bào Việt Bắc Họ sẵn sàng quên đi cái riêng để hòa nhập vào cái chung, quên đi cái cá nhân để hòa nhập vào cộng đồng rộng lớn Câu hỏi tu từ gợi tình cảm của thiên nhiên với con người: “Rừng núi nhớ ai” Câu hỏi với biện pháp tu từ nhân hóa để nói lên nỗi niềm bâng khuâng da diết “Rừng núi” ở đây cũng chính là hình ảnh hoán dụ chỉ đồng bào Việt Bắc Từ “ai” trong “nhớ ai” ý chỉ những người cán bộ cách mạng, là đại

từ phiếm chỉ nhưng lại mang ý nghĩa chỉ cụ thể

đội ta trong những ngày chiến đấu đầy gian khó Nay người đi rồi, trám và măng không còn người thu hái, để lại ở đây là một khoảng hụt hẫng với nỗi nhớ mênh mang Thiên nhiên mang 1 nỗi buồn trống vắng vì người đi mất, thiên nhiên nhưng cũng chính là cách để nói về tiếng lòng của những người ở lại Đó là tình cảm của nhân dân với cán

bộ thiết tha, trìu mến

“hắt hiu lau xám” nhà thơ muốn nói tới hình ảnh của những ngôi nhà lá đơn sơ, mộc mạc Khung cảnh gợi ra sự hoang vắng, hiu hắt, cô liêu thế nhưng tác giả đã sử dụng biện pháp đối lập để chứng tỏ rằng bên ngoài là hình ảnh đìu hiu nhưng bên trong khung cảnh ấy những ngôi nhà ấy là những tấm lòng son sắt đậm đà của những người ở lại

Đó là nghĩa tình thiết tha trìu mến của những con người nhỏ bé đã góp một phần của mình vào chiến thắng Điện Biên năm ấy - Chiến thắng lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu

Trang 22

kháng chiến với 2 sự kiện lịch sử: “Nhớ khi kháng Nhật thuở còn Việt Minh” Đó là những năm tháng của phong trào kháng Nhật những năm 40, Phong trào Việt Minh tạo

ra mặt trận vũ trang góp phần làm lên chiến thắng của Cách mạng tháng Tám và là tiền

đề quan trọng cho những thắng lợi sau này Chính nghĩa tình của đồng bào Việt Bắc đối với bộ đội, với Cách Mạng; sự đồng cảm cùng san sẻ mọi gian khổ, niềm vui, cùng gánh vác nhiệm vụ nặng nề, khó khăn làm cho Việt Bắc - quê hương của Cách Mạng, cội nguồn nuôi dưỡng cho Cách Mạng - càng thêm ngời sáng trong tâm trí nhà thơ nói riêng và trong lòng người đọc nói chung Trong 1 câu thơ có 2 chữ mình: Chữ “mình” đầu ý nói những người cán bộ Cách mạng; chữ “mình” thứ 2 chỉ đồng bào Việt Bắc Thế nhưng cũng có thể hiểu cả 2 chữ mình này đã hòa làm 1 giống như tâm hồn của người cán bộ với đồng bào Việt Bắc đã hòa vào nhau Kẻ đi, người ở đều có 1 tâm trạng bâng khuâng tiếc nuối như nhau Những địa danh hình ảnh gắn với sự kiện quan trọng của Cách mạng được Tố Hữu gợi nhắc : Cây đa Tân Trào gợi nhắc sự kiện lịch sử ngày 22.12.1944 đồng chí Võ Nguyên Giáp làm lễ xuất quân cho đội VN tuyên truyền Giải phóng quân (Sau này là ngày Quân đội nhân dân Việt Nam) và mái đình Hồng Thái Những địa danh gợi nhắc những cuộc họp chiến lược quan trọng từng bước đi tới chiến thắng Cách mạng Tố Hữu lồng hai địa danh lịch sử vào trong câu thơ nhằm nhấn mạnh câu hỏi của người ở lại, đồng thời còn là lời nhắc nhở không biết rằng cán bộ về xuôi

có còn nhớ rằng VB chính là cái nôi của Cách mạng, là nguồn nuôi dưỡng Cách Mạng hay không? Và liệu rằng cán bộ về xuôi có còn thủy chung, gắn bó với Việt Bắc như xưa không hay là đã thay lòng đổi dạ?

vào thế giới của hoài niệm và kỷ niệm, vào một thế giới êm ái,ngọt ngào, du dương của tình nghĩa Cách Mạng Bao trùm trong tâm trạng của cả kẻ ở người đi là nỗi nhớ da diết, mênh mang với nhiều sắc thái khác nhau Niềm hoài niệm thiết tha đã làm sống dậy những kỷ niệm sâu nặng nghĩa tình với thiên nhiên, con người Việt Bắc, với cuộc sống kháng chiến gian khổ mà hào hùng Đoạn thơ đã cho ta khẳng định Việt Bắc là cái nôi của Cách mạng, là trung tâm đầu não của cuộc kháng chiến Nơi đây không chỉ in dấu những kỷ niệm đầy nghĩa tình nồng ấm, còn là nơi bắt đầu cho dân tộc Việt Nam

Trang 23

làm nên “thiên sử vàng” chói lọi Để làm được điều này, nhân dân Việt Bắc đóng một vai trò vô cùng lớn lao

3 22 câu thơ tiếp: Khẳng định lòng thuỷ chung tình nghĩa và tái hiện lại vẻ đẹp của thiên nhiên Việt Bắc

- Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

- Người ra đi đã khẳng định “mình đi, mình lại nhớ mình” là để trả lời cho câu hỏi đặt

ra của đồng bào Việt Bắc ở trên (“Mình đi mình có nhớ mình”…) Đây là lời khẳng định: người cán bộ kháng chiến về thành nhưng vẫn nhớ đến những ngày sống ở chiến khu Việt Bắc Nói cách khác, đây là lời khẳng định phẩm chất đạo đức của người cán

bộ kháng chiến

- “Ta – mình”, “mình – ta” quấn quýt, quyện hòa, ta với mình là một Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh Đinh ninh là sự khẳng định chắc chắn, mãi mãi, gắn bó, thuỷ chung với Việt Bắc Việt Bắc là cái nôi cội nguồn của cách mạng làm sao dễ dàng quên

- Sự so sánh “Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu” đã khẳng định sự chung thuỷ son sắt với Việt Bắc như tình yêu đôi lứa bền chặt, mãi mãi, không bao giờ cạn như nguồn nước kia

+ Trong tâm thức của người Việt Nam, nước nguồn được chảy ra vì công lao, tình nghĩa

vô bờ bến của người mẹ, tuôn chảy bất tận không bao giờ cạn Bao nhiêu nước thì bấy nhiêu nghĩa tình sâu nặng, như nghĩa mẹ tình cha

Ngày đăng: 20/02/2023, 08:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w