Vò Gia L©m * hi xét xử phúc thẩm vụ án hình sự mà bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị, toà án cấp phúc thẩm có các quyền hạn được quy định tại khoản 2 Điề
Trang 1
TS Vò Gia L©m *
hi xét xử phúc thẩm vụ án hình sự mà
bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp
luật bị kháng cáo, kháng nghị, toà án cấp
phúc thẩm có các quyền hạn được quy định
tại khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình
sự (BLTTHS), trong đó có quyền sửa bản
án sơ thẩm.(1)
Quyền sửa bản án sơ thẩm của toà án
cấp phúc thẩm (thực chất là quyền của hội
đồng xét xử phúc thẩm) là sự can thiệp trực
tiếp vào bản án sơ thẩm, làm thay đổi nội
dung của bản án này theo hướng có lợi hoặc
không có lợi cho bị cáo Quyền sửa bản án
sơ thẩm của hội đồng xét xử (HĐXX) phúc
thẩm được cụ thể hoá tại Điều 249 BLTTHS,
bao gồm quyền sửa bản án sơ thẩm theo
hướng có lợi hoặc hướng không có lợi cho
bị cáo ở cả phần quyết định về hình sự và
phần quyết định về dân sự của bản án
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ
nêu ý kiến về quyền sửa bản án sơ thẩm
theo hướng không có lợi cho bị cáo về phần
quyết định hình sự của bản án sơ thẩm được
quy định tại khoản 3 Điều 249 BLTTHS
Trên cơ sở đó, đưa ra một số đề xuất nhằm
tiếp tục hoàn thiện quy định của BLTTHS
về vấn đề này
Khoản 3 Điều 249 BLTTHS quy định:
Trong trường hợp viện kiểm sát kháng nghị
hoặc người bị hại kháng cáo yêu cầu thì toà
án cấp phúc thẩm có thể tăng hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự (BLHS) về tội nặng hơn Theo quan điểm của chúng tôi, quy định này nếu đặt trong mối quan hệ với các quy định khác của BLTTHS cũng như với thực tiễn xét xử phúc thẩm hiện nay vẫn còn có một số điểm chưa hợp lí
Thứ nhất, quy định này chưa đảm bảo tối
đa hiệu lực của quyền kháng cáo đối với bản
án của toà án cấp sơ thẩm theo hướng không
có lợi cho bị cáo Nghiên cứu các quy định
về kháng cáo phúc thẩm, mối liên quan giữa quyền kháng cáo với quyền hạn của HĐXX phúc thẩm, có thể nhận thấy sự không thống nhất giữa các quy định về quyền kháng cáo, giới hạn quyền kháng cáo của người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại (đại diện theo pháp luật) Đoạn 1 Điều 231
BLTTHS quy định: “… người bị hại, người
đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo bản án, quyết định của toà án” Nghị
quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 8/12/2005 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Phần thứ 4 “Xét xử phúc thẩm” của BLTTHS năm 2003 đã hướng dẫn về Điều 231 BLTTHS tại tiểu mục 1.3 mục 1 phần I như sau:
K
* Giảng viên chính Khoa pháp luật hình sự Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2“1.3 Người bị hại, người đại diện hợp
pháp (đại diện theo pháp luật) của người bị
hại trong trường hợp người bị hại chết hoặc
trường hợp người bị hại là người chưa thành
niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc
thể chất có quyền kháng cáo toàn bộ bản án
hoặc quyết định sơ thẩm theo hướng có lợi
cho bị cáo hoặc theo hướng làm xấu hơn
tình trạng của bị cáo”
Theo hướng dẫn này thì trong vụ án có
sự tham gia của người đại diện hợp pháp của
người bị hại, cả người bị hại và người đại
diện hợp pháp của họ đều có quyền kháng
cáo bản án, quyết định sơ thẩm với phạm vi
kháng cáo độc lập, không lệ thuộc vào ý chí
của nhau Bất kì người nào kháng cáo và
kháng cáo theo hướng có lợi hoặc không có
lợi cho bị cáo thì kháng cáo của họ cũng đều
làm cho bản án, quyết định bị kháng cáo
chưa có hiệu lực pháp luật và vụ án phải
được xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm Quy
định tại đoạn 1 Điều 231 BLTTHS hiện hành
cũng thống nhất với quy định tại điểm e
khoản 2 Điều 51 BLTTHS ở chỗ cả hai điều
luật đều không hạn chế quyền kháng cáo của
người đại diện hợp pháp của người bị hại chỉ
trong phạm vi quyết định bồi thường thiệt
hại của bản án.(2)
Do đó, khi có kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị
hại, mọi yêu cầu nêu trong kháng cáo đối với
bản án, quyết định đều phải được toà án cấp
phúc thẩm xem xét, giải quyết tại phiên toà
Tuy nhiên, khoản 3 Điều 249 BLTTHS quy
định cơ sở để toà án cấp phúc thẩm sửa bản
án sơ thẩm theo hướng tăng hình phạt, áp
dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn chỉ
giới hạn trong phạm vi yêu cầu trong kháng
nghị của viện kiểm sát hoặc kháng cáo của người bị hại và khi xét xử phúc thẩm, HĐXX phúc thẩm xác định yêu cầu trong kháng nghị hoặc kháng cáo đó là có căn cứ Điều này cũng đồng nghĩa với việc nếu có kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị hại theo hướng không có lợi cho bị cáo về phần quyết định hình sự của bản án
sơ thẩm thì dù có căn cứ, toà án cấp phúc thẩm cũng không được chấp nhận để sửa bản
án theo hướng này Như vậy, các yêu cầu của kháng cáo quy định cho người đại diện hợp pháp của người bị hại tại BLTTHS chưa được đảm bảo thực hiện đầy đủ Theo chúng tôi, để đảm bảo sự thống nhất giữa Điều 51, Điều 231 và khoản 3 Điều 249 BLTTHS, đảm bảo tối đa quyền kháng cáo của người tham gia tố tụng, khoản 3 Điều 249 BLTTHS cần phải bổ sung một lí do (cơ sở) nữa để có thể xem xét sửa án sơ thẩm theo hướng tăng nặng về phần hình sự của bản án sơ thẩm, đó
là khi có kháng cáo của người đại diện hợp pháp (người đại diện theo pháp luật) của người bị hại
Ngoài ra, tại khoản này của điều luật cần quy định mở rộng hơn nữa quyền sửa bản án
sơ thẩm theo hướng không có lợi cho bị cáo
về phần hình sự theo yêu cầu của kháng cáo
có căn cứ của người bị hại, người đại diện hợp pháp của họ Bởi vì, trong thực tế phạm
vi kháng cáo của những người này về phần quyết định hình sự của bản án sơ thẩm không chỉ hạn chế ở việc yêu cầu tăng hay giảm hình phạt, áp dụng điều khoản BLHS
về tội nặng hơn hoặc nhẹ hơn mà còn có thể
vượt ra khỏi các nội dung này Ví dụ: Kháng
cáo yêu cầu không cho bị cáo hưởng án treo,
Trang 3yêu cầu áp dụng loại hình phạt khác nghiêm
khắc hơn, áp dụng thêm hình phạt bổ sung
đối với bị cáo… và khi xét xử phúc thẩm,
HĐXX xác định kháng cáo về các vấn đề
này là có căn cứ
Thứ hai, quy định về quyền sửa bản án
sơ thẩm theo hướng không có lợi cho bị cáo
về phần hình sự tại khoản 3 Điều 249
BLTTHS có mâu thuẫn với quy định về giới
hạn xét xử sơ thẩm tại Điều 196 Bộ luật này
Theo Điều 196 BLTTHS, toà án cấp sơ thẩm
không được áp dụng điều khoản BLHS về
tội danh khác nặng hơn tội danh mà viện
kiểm sát đã truy tố để xét xử bị cáo, mà chỉ
có thể áp dụng điều khoản BLHS về tội danh
bằng hoặc tội danh nhẹ hơn tội danh mà viện
kiểm sát đã truy tố Thực tiễn xét xử cho
thấy có thể xảy ra hai trường hợp:
- Trường hợp thứ nhất, tội mà toà án
cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là tội
nhẹ hơn tội danh mà viện kiểm sát đã viện
dẫn để truy tố Ví dụ: Tội mà viện kiểm sát
truy tố là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo
khoản 1 Điều 139 BLHS nhưng toà án cấp
sơ thẩm lại kết tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản theo khoản 2 Điều 140
BLHS với tình tiết định khung quy định tại
điểm a khoản này là phạm tội “có tổ chức”
và bản án của toà án cấp sơ thẩm bị người
bị hại kháng cáo hoặc viện kiểm sát kháng
nghị yêu cầu áp dụng khoản 1 Điều 139 Bộ
luật hình sự để xét xử bị cáo về tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản
- Trường hợp thứ hai, tội mà toà án cấp
sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo chính là tội
mà viện kiểm sát đã viện dẫn để truy tố
hoặc tội khác bằng hay nhẹ hơn tội mà viện
kiểm sát đã truy tố Ví dụ: Tội mà viện kiểm
sát truy tố là tội cướp giật theo Điều 136 BLHS và toà án cấp sơ thẩm đã kết tội theo Điều này hoặc kết tội cưỡng đoạt tài sản theo Điều 134 BLHS (tội cưỡng đoạt tài sản được coi là nhẹ hơn tội cướp giật vì hình phạt nghiêm khắc nhất mà điều luật quy định có thể áp dụng với người phạm tội là
tù có thời hạn đến 20 năm, còn hình phạt nghiêm khắc nhất mà điều luật quy định có thể áp dụng với người phạm tội cướp giật là
tù chung thân) và bản án sơ thẩm bị người
bị hại kháng cáo hoặc viện kiểm sát kháng nghị yêu cầu đổi tội danh thành cướp tài sản theo Điều 133 BLHS (tội cướp tài sản được coi là nặng hơn tội cướp giật và tội cưỡng đoạt tài sản vì có loại hình phạt nghiêm khắc nhất là tử hình)
Trong trường hợp thứ nhất, nếu HĐXX phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 139 BLHS
để sửa bản án sơ thẩm theo hướng không có lợi cho bị cáo thì hoàn toàn hợp lệ Bởi vì, lẽ
ra khi xét xử sơ thẩm, toà án cấp sơ thẩm đã phải áp dụng điều khoản này để xét xử đối với bị cáo mới chính xác, do tội đó viện kiểm sát đã viện dẫn để truy tố trước toà án cấp sơ thẩm nhưng vì HĐXX cấp sơ thẩm đã
có sai lầm khi áp dụng BLHS trong việc xác định các yếu tố cấu thành tội phạm nên đã định tội danh sai Việc sửa bản án sơ thẩm trong trường hợp này chính là việc toà án cấp phúc thẩm sửa chữa sai lầm đó của toà
án cấp sơ thẩm Do đó, nếu căn cứ vào mục đích của xét xử phúc thẩm thì việc này hoàn toàn phù hợp và không hề vi phạm giới hạn xét xử sơ thẩm
Trang 4Trong trường hợp thứ hai, nếu HĐXX
phúc thẩm áp dụng Điều 133 BLHS để sửa
bản án sơ thẩm thì lại vi phạm giới hạn xét
xử của toà án cấp sơ thẩm Bởi lẽ, viện kiểm
sát chỉ truy tố về tội nhẹ hơn tội bị chủ thể
kháng cáo, kháng nghị đề nghị xét xử ở cấp
phúc thẩm mà tội đề nghị áp dụng này nếu
có được cấp sơ thẩm xác định rõ ràng tại
phiên toà sơ thẩm, do giới hạn xét xử quy
định tại Điều 196 BLTTHS không cho phép
cấp sơ thẩm xử theo tội nặng hơn tội mà viện
kiểm sát đã truy tố nên HĐXX cấp sơ thẩm
cũng không được áp dụng để xét xử mà phải
ra quyết định yêu cầu điều tra bổ sung theo
quy định tại điểm b khoản 1 Điều 179
BLTTHS vì “có căn cứ để cho rằng bị cáo
phạm tội khác…” Do vậy, nếu HĐXX phúc
thẩm áp dụng Điều 133 BLHS để sửa bản án
sơ thẩm sẽ đồng nghĩa với việc HĐXX phúc
thẩm đã công nhận rằng toà án cấp sơ thẩm
cũng được áp dụng điều khoản BLHS về tội
nặng hơn tội mà viện kiểm sát đã truy tố Và
như vậy sẽ vượt quá giới hạn xét xử sơ thẩm
quy định tại Điều 196 BLTTHS là toà án sơ
thẩm chỉ được áp dụng điều khoản BLHS về
tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà viện kiểm
sát đã truy tố Theo chúng tôi, cần sửa đổi,
bổ sung khoản 3 Điều 249 BLTTHS quy
định cụ thể về quyền sửa bản án sơ thẩm
theo hướng này để hạn chế trường hợp toà
án cấp phúc thẩm có quyền áp dụng điều
khoản BLHS về tội nặng hơn tội mà toà án
cấp sơ thẩm đã áp dụng, cho thống nhất với
Điều 196 BLTTHS để không vi phạm giới
hạn xét xử sơ thẩm
Thứ ba, nếu quy định trong mọi trường
hợp có kháng cáo, kháng nghị theo hướng
chuyển khung hình phạt khác nặng hơn hoặc
áp dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn
và yêu cầu của kháng cáo, kháng nghị đó là
có căn cứ mà toà án cấp phúc thẩm đều có quyền áp dụng để sửa bản án sơ thẩm theo hướng làm xấu đi tình trạng của bị cáo thì có thể vi phạm các quyền của bị cáo như quyền
bào chữa Ví dụ: Trường hợp bào chữa bắt
buộc quy định tại điểm b khoản 2 Điều 57
BLTTHS là trường hợp “bị can, bị cáo về
tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là
tử hình” Ngoài ra, trường hợp này có thể
dẫn tới sự hợp pháp hoá việc không đảm bảo quy định về thành phần HĐXX luật định ở
cấp sơ thẩm Ví dụ: Theo quy định tại Điều
185 BLTTHS thì đối với vụ án mà bị cáo bị đưa ra xét xử về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình, hội đồng xét xử sơ thẩm phải có số lượng là 5 người (hai thẩm phán và ba hội thẩm)
Thứ tư, nếu quy định trong mọi trường
hợp có kháng cáo của người bị hại, kháng nghị của viện kiểm sát yêu cầu chuyển khung hình phạt, áp dụng điều khoản BLHS
về tội nặng hơn và kháng cáo, kháng nghị đó
là có căn cứ mà toà án cấp phúc thẩm đều có quyền sửa bản án sơ thẩm theo hướng đó thì
rõ ràng đã hợp pháp hoá sự vi phạm thẩm
quyền xét xử của toà án cấp sơ thẩm Ví dụ:
Nguyễn Văn A bị toà án sơ thẩm cấp huyện xét xử về tội trộm cắp tài sản theo khoản 3 Điều 138 BLHS có mức cao nhất của khung hình phạt là 15 năm tù (là tội phạm rất nghiêm trọng theo cách phân loại tại khoản
3 Điều 8 BLHS và theo quy định tại khoản
1 Điều 170 BLTTHS thì tội này thuộc thẩm
Trang 5quyền xét xử của toà án cấp huyện) Người
bị hại kháng cáo hoặc viện kiểm sát kháng
nghị yêu cầu chuyển sang khoản 4 có khung
hình phạt nặng hơn (là tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng theo cách phân loại tại khoản
3 Điều 8 BLHS và theo quy định tại khoản
1 Điều 170 BLTTHS thì tội này không
thuộc thẩm quyền xét xử của toà án cấp
huyện) và khi xét xử phúc thẩm, toà án cấp
phúc thẩm xác định yêu cầu của kháng cáo,
kháng nghị là có căn cứ Tuy nhiên, nếu
HĐXX phúc thẩm áp dụng khoản 4 Điều
138 BLHS để sửa bản án sơ thẩm thì với
việc làm này, HĐXX phúc thẩm đã mặc
nhiên thừa nhận rằng toà án cấp sơ thẩm có
quyền xét xử bị cáo về tội đặc biệt nghiêm
trọng Do toà án cấp sơ thẩm đã mắc sai
lầm trong việc áp dụng BLHS nên đã định
khung hình phạt không đúng, nay toà án cấp
phúc thẩm chỉ sửa chữa sai lầm đó mà thôi
Bằng việc sửa bản án như vậy, HĐXX phúc
thẩm đã thay Quốc hội giao thẩm quyền xét
xử mới cho toà án cấp huyện, đó là việc làm
vi hiến Vì vậy, trong trường hợp này, cách
giải quyết hợp lí nhất là HĐXX phúc thẩm
quyết định huỷ bản án sơ thẩm vì vi phạm
thẩm quyền xét xử và kiến nghị với người
có thẩm quyền kháng nghị bản án theo thủ
tục giám đốc thẩm
Từ những lí giải trên, để đảm bảo tối đa
quyền kháng cáo, kháng nghị, loại trừ mâu
thuẫn giữa quy định về giới hạn xét xử sơ
thẩm với quyền hạn của HĐXX phúc thẩm,
đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của
người bị hại, cần sửa đổi, bổ sung khoản 3
Điều 249 BLTTHS như sau:
Điều 249 Sửa bản án sơ thẩm
“…
3 Trong trường hợp viện kiểm sát kháng nghị hoặc người bị hại, người đại diện hợp pháp của họ kháng cáo yêu cầu thì toà án cấp phúc thẩm có thể áp dụng hình phạt đối với người được toà án cấp sơ thẩm miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt; chuyển sang loại hình phạt khác nặng hơn; tăng hình phạt; áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nặng hơn; giữ nguyên mức hình phạt tù mà toà án cấp sơ thẩm đã tuyên nhưng không cho bị cáo được hưởng án treo; tăng mức bồi thường thiệt hại; áp dụng thêm hình phạt bổ sung; áp dụng thêm biện pháp tư pháp Trường hợp nguyên đơn dân
sự, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự là người bị hại, nguyên đơn dân sự là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất kháng cáo yêu cầu thì toà án cấp phúc thẩm có thể tăng mức bồi thường thiệt hại Trường hợp có kháng nghị của viện kiểm sát hoặc kháng cáo của người bị hại, nguyên đơn dân sự, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền lợi của đương sự là người bị hại, nguyên đơn dân
sự theo hướng làm xấu đi tình trạng của bị cáo, nếu có căn cứ, toà án vẫn có thể giảm hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ luật hình
sự về tội nhẹ hơn, chuyển sang khung hình phạt khác nhẹ hơn hoặc chuyển sang loại hình phạt khác nhẹ hơn, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo, giảm mức bồi thường thiệt hại
Trường hợp chỉ có kháng cáo, kháng nghị theo hướng giảm nhẹ, toà án cấp phúc
Trang 6thẩm không được sửa án sơ thẩm theo
hướng tăng hình phạt, nếu có căn cứ xác
định bản án sơ thẩm là quá nhẹ thì ra quyết
định giữ nguyên bản án sơ thẩm và đề nghị
người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ
tục giám đốc thẩm
Nếu có kháng cáo của người bị hại,
người đại diện hợp pháp của họ, kháng nghị
của viện kiểm sát yêu cầu chuyển khung
hình phạt khác nặng hơn khung hình phạt mà
toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng trong cùng
điều luật thì toà án cấp phúc thẩm được áp
dụng để sửa bản án sơ thẩm Trường hợp
khung hình phạt nặng hơn đó không thuộc
thẩm quyền xét xử của toà án cấp sơ thẩm
hoặc cần đảm bảo quyền bào chữa của bị
cáo, đảm bảo quy định về thành phần hội
đồng xét xử ở cấp sơ thẩm, toà án cấp phúc
thẩm ra quyết định hủy bản án sơ thẩm để
điều tra lại hoặc xét xử lại sơ thẩm tại toà án
có thẩm quyền
Trường hợp có kháng cáo của người bị
hại, người đại diện hợp pháp của họ, kháng
nghị của viện kiểm sát yêu cầu áp dụng điều
khoản Bộ luật hình sự về tội nặng hơn mà tội
nặng hơn đó đã được viện kiểm sát viện dẫn
để truy tố và kháng cáo, kháng nghị là có
căn cứ, nếu đảm bảo đầy đủ các quy định về
thẩm quyền xét xử, quyền bào chữa của bị
cáo, về thành phần hội đồng xét xử ở cấp sơ
thẩm thì toà án cấp phúc thẩm có quyền áp
dụng để xét xử Trường hợp tội nặng hơn đó
chưa được viện kiểm sát viện dẫn để truy tố
thì dù kháng cáo, kháng nghị là có căn cứ,
cũng như đảm bảo đầy đủ các quy định khác
về thẩm quyền xét xử, quyền bào chữa của
bị cáo, thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm,
toà án cấp phúc thẩm vẫn phải ra quyết định hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét
xử lại sơ thẩm từ đầu”
Nếu sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 249 BLTTHS như trên thì cũng cần sửa đổi, bổ sung quy định tại đoạn 1 Điều 231 Bộ luật này theo hướng cụ thể hơn nữa giới hạn quyền được kháng cáo bản án sơ thẩm của người bị hại, người đại diện hợp pháp của họ
để đảm bảo sự thống nhất trong quy định pháp luật cũng như làm cơ sở cho việc sửa bản án sơ thẩm Cụ thể, đoạn 1 Điều 231 BLTTHS sửa đổi sẽ có nội dung sau:
Điều 231 Những người có quyền kháng cáo
“Bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ
có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định
sơ thẩm Người bị hại, người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo toàn bộ bản
án hoặc quyết định sơ thẩm theo hướng có lợi hoặc không có lợi cho bị cáo;
”
(1) Điều 248 Bản án phúc thẩm và thẩm quyền của
toà án cấp phúc thẩm
“1 …
2 Toà án cấp phúc thẩm có quyền quyết định: a) Không chấp nhận k háng cáo, k háng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm;
b) Sửa bản án sơ thẩm;
c) Huỷ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử lại;
d) Huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án
3 …”
(2) Điểm e khoản 2 Điều 51 BLTTHS quy định: “Người
bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền
… e) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; kháng cáo bản án, quyết định của toà án về phần bồi thường cũng như về hình phạt đối với bị cáo”