1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Quyền sửa bản án sơ thẩm theo hướng không có lợi cho bị cáo về phần hình sự của toà án cấp phúc thẩm" doc

6 468 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 226,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vò Gia L©m * hi xét xử phúc thẩm vụ án hình sự mà bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị, toà án cấp phúc thẩm có các quyền hạn được quy định tại khoản 2 Điề

Trang 1

TS Vò Gia L©m *

hi xét xử phúc thẩm vụ án hình sự mà

bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp

luật bị kháng cáo, kháng nghị, toà án cấp

phúc thẩm có các quyền hạn được quy định

tại khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình

sự (BLTTHS), trong đó có quyền sửa bản

án sơ thẩm.(1)

Quyền sửa bản án sơ thẩm của toà án

cấp phúc thẩm (thực chất là quyền của hội

đồng xét xử phúc thẩm) là sự can thiệp trực

tiếp vào bản án sơ thẩm, làm thay đổi nội

dung của bản án này theo hướng có lợi hoặc

không có lợi cho bị cáo Quyền sửa bản án

sơ thẩm của hội đồng xét xử (HĐXX) phúc

thẩm được cụ thể hoá tại Điều 249 BLTTHS,

bao gồm quyền sửa bản án sơ thẩm theo

hướng có lợi hoặc hướng không có lợi cho

bị cáo ở cả phần quyết định về hình sự và

phần quyết định về dân sự của bản án

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ

nêu ý kiến về quyền sửa bản án sơ thẩm

theo hướng không có lợi cho bị cáo về phần

quyết định hình sự của bản án sơ thẩm được

quy định tại khoản 3 Điều 249 BLTTHS

Trên cơ sở đó, đưa ra một số đề xuất nhằm

tiếp tục hoàn thiện quy định của BLTTHS

về vấn đề này

Khoản 3 Điều 249 BLTTHS quy định:

Trong trường hợp viện kiểm sát kháng nghị

hoặc người bị hại kháng cáo yêu cầu thì toà

án cấp phúc thẩm có thể tăng hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự (BLHS) về tội nặng hơn Theo quan điểm của chúng tôi, quy định này nếu đặt trong mối quan hệ với các quy định khác của BLTTHS cũng như với thực tiễn xét xử phúc thẩm hiện nay vẫn còn có một số điểm chưa hợp lí

Thứ nhất, quy định này chưa đảm bảo tối

đa hiệu lực của quyền kháng cáo đối với bản

án của toà án cấp sơ thẩm theo hướng không

có lợi cho bị cáo Nghiên cứu các quy định

về kháng cáo phúc thẩm, mối liên quan giữa quyền kháng cáo với quyền hạn của HĐXX phúc thẩm, có thể nhận thấy sự không thống nhất giữa các quy định về quyền kháng cáo, giới hạn quyền kháng cáo của người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại (đại diện theo pháp luật) Đoạn 1 Điều 231

BLTTHS quy định: “… người bị hại, người

đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo bản án, quyết định của toà án” Nghị

quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 8/12/2005 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Phần thứ 4 “Xét xử phúc thẩm” của BLTTHS năm 2003 đã hướng dẫn về Điều 231 BLTTHS tại tiểu mục 1.3 mục 1 phần I như sau:

K

* Giảng viên chính Khoa pháp luật hình sự Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

“1.3 Người bị hại, người đại diện hợp

pháp (đại diện theo pháp luật) của người bị

hại trong trường hợp người bị hại chết hoặc

trường hợp người bị hại là người chưa thành

niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc

thể chất có quyền kháng cáo toàn bộ bản án

hoặc quyết định sơ thẩm theo hướng có lợi

cho bị cáo hoặc theo hướng làm xấu hơn

tình trạng của bị cáo”

Theo hướng dẫn này thì trong vụ án có

sự tham gia của người đại diện hợp pháp của

người bị hại, cả người bị hại và người đại

diện hợp pháp của họ đều có quyền kháng

cáo bản án, quyết định sơ thẩm với phạm vi

kháng cáo độc lập, không lệ thuộc vào ý chí

của nhau Bất kì người nào kháng cáo và

kháng cáo theo hướng có lợi hoặc không có

lợi cho bị cáo thì kháng cáo của họ cũng đều

làm cho bản án, quyết định bị kháng cáo

chưa có hiệu lực pháp luật và vụ án phải

được xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm Quy

định tại đoạn 1 Điều 231 BLTTHS hiện hành

cũng thống nhất với quy định tại điểm e

khoản 2 Điều 51 BLTTHS ở chỗ cả hai điều

luật đều không hạn chế quyền kháng cáo của

người đại diện hợp pháp của người bị hại chỉ

trong phạm vi quyết định bồi thường thiệt

hại của bản án.(2)

Do đó, khi có kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị

hại, mọi yêu cầu nêu trong kháng cáo đối với

bản án, quyết định đều phải được toà án cấp

phúc thẩm xem xét, giải quyết tại phiên toà

Tuy nhiên, khoản 3 Điều 249 BLTTHS quy

định cơ sở để toà án cấp phúc thẩm sửa bản

án sơ thẩm theo hướng tăng hình phạt, áp

dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn chỉ

giới hạn trong phạm vi yêu cầu trong kháng

nghị của viện kiểm sát hoặc kháng cáo của người bị hại và khi xét xử phúc thẩm, HĐXX phúc thẩm xác định yêu cầu trong kháng nghị hoặc kháng cáo đó là có căn cứ Điều này cũng đồng nghĩa với việc nếu có kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị hại theo hướng không có lợi cho bị cáo về phần quyết định hình sự của bản án

sơ thẩm thì dù có căn cứ, toà án cấp phúc thẩm cũng không được chấp nhận để sửa bản

án theo hướng này Như vậy, các yêu cầu của kháng cáo quy định cho người đại diện hợp pháp của người bị hại tại BLTTHS chưa được đảm bảo thực hiện đầy đủ Theo chúng tôi, để đảm bảo sự thống nhất giữa Điều 51, Điều 231 và khoản 3 Điều 249 BLTTHS, đảm bảo tối đa quyền kháng cáo của người tham gia tố tụng, khoản 3 Điều 249 BLTTHS cần phải bổ sung một lí do (cơ sở) nữa để có thể xem xét sửa án sơ thẩm theo hướng tăng nặng về phần hình sự của bản án sơ thẩm, đó

là khi có kháng cáo của người đại diện hợp pháp (người đại diện theo pháp luật) của người bị hại

Ngoài ra, tại khoản này của điều luật cần quy định mở rộng hơn nữa quyền sửa bản án

sơ thẩm theo hướng không có lợi cho bị cáo

về phần hình sự theo yêu cầu của kháng cáo

có căn cứ của người bị hại, người đại diện hợp pháp của họ Bởi vì, trong thực tế phạm

vi kháng cáo của những người này về phần quyết định hình sự của bản án sơ thẩm không chỉ hạn chế ở việc yêu cầu tăng hay giảm hình phạt, áp dụng điều khoản BLHS

về tội nặng hơn hoặc nhẹ hơn mà còn có thể

vượt ra khỏi các nội dung này Ví dụ: Kháng

cáo yêu cầu không cho bị cáo hưởng án treo,

Trang 3

yêu cầu áp dụng loại hình phạt khác nghiêm

khắc hơn, áp dụng thêm hình phạt bổ sung

đối với bị cáo… và khi xét xử phúc thẩm,

HĐXX xác định kháng cáo về các vấn đề

này là có căn cứ

Thứ hai, quy định về quyền sửa bản án

sơ thẩm theo hướng không có lợi cho bị cáo

về phần hình sự tại khoản 3 Điều 249

BLTTHS có mâu thuẫn với quy định về giới

hạn xét xử sơ thẩm tại Điều 196 Bộ luật này

Theo Điều 196 BLTTHS, toà án cấp sơ thẩm

không được áp dụng điều khoản BLHS về

tội danh khác nặng hơn tội danh mà viện

kiểm sát đã truy tố để xét xử bị cáo, mà chỉ

có thể áp dụng điều khoản BLHS về tội danh

bằng hoặc tội danh nhẹ hơn tội danh mà viện

kiểm sát đã truy tố Thực tiễn xét xử cho

thấy có thể xảy ra hai trường hợp:

- Trường hợp thứ nhất, tội mà toà án

cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là tội

nhẹ hơn tội danh mà viện kiểm sát đã viện

dẫn để truy tố Ví dụ: Tội mà viện kiểm sát

truy tố là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo

khoản 1 Điều 139 BLHS nhưng toà án cấp

sơ thẩm lại kết tội lạm dụng tín nhiệm

chiếm đoạt tài sản theo khoản 2 Điều 140

BLHS với tình tiết định khung quy định tại

điểm a khoản này là phạm tội “có tổ chức”

và bản án của toà án cấp sơ thẩm bị người

bị hại kháng cáo hoặc viện kiểm sát kháng

nghị yêu cầu áp dụng khoản 1 Điều 139 Bộ

luật hình sự để xét xử bị cáo về tội lừa đảo

chiếm đoạt tài sản

- Trường hợp thứ hai, tội mà toà án cấp

sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo chính là tội

mà viện kiểm sát đã viện dẫn để truy tố

hoặc tội khác bằng hay nhẹ hơn tội mà viện

kiểm sát đã truy tố Ví dụ: Tội mà viện kiểm

sát truy tố là tội cướp giật theo Điều 136 BLHS và toà án cấp sơ thẩm đã kết tội theo Điều này hoặc kết tội cưỡng đoạt tài sản theo Điều 134 BLHS (tội cưỡng đoạt tài sản được coi là nhẹ hơn tội cướp giật vì hình phạt nghiêm khắc nhất mà điều luật quy định có thể áp dụng với người phạm tội là

tù có thời hạn đến 20 năm, còn hình phạt nghiêm khắc nhất mà điều luật quy định có thể áp dụng với người phạm tội cướp giật là

tù chung thân) và bản án sơ thẩm bị người

bị hại kháng cáo hoặc viện kiểm sát kháng nghị yêu cầu đổi tội danh thành cướp tài sản theo Điều 133 BLHS (tội cướp tài sản được coi là nặng hơn tội cướp giật và tội cưỡng đoạt tài sản vì có loại hình phạt nghiêm khắc nhất là tử hình)

Trong trường hợp thứ nhất, nếu HĐXX phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 139 BLHS

để sửa bản án sơ thẩm theo hướng không có lợi cho bị cáo thì hoàn toàn hợp lệ Bởi vì, lẽ

ra khi xét xử sơ thẩm, toà án cấp sơ thẩm đã phải áp dụng điều khoản này để xét xử đối với bị cáo mới chính xác, do tội đó viện kiểm sát đã viện dẫn để truy tố trước toà án cấp sơ thẩm nhưng vì HĐXX cấp sơ thẩm đã

có sai lầm khi áp dụng BLHS trong việc xác định các yếu tố cấu thành tội phạm nên đã định tội danh sai Việc sửa bản án sơ thẩm trong trường hợp này chính là việc toà án cấp phúc thẩm sửa chữa sai lầm đó của toà

án cấp sơ thẩm Do đó, nếu căn cứ vào mục đích của xét xử phúc thẩm thì việc này hoàn toàn phù hợp và không hề vi phạm giới hạn xét xử sơ thẩm

Trang 4

Trong trường hợp thứ hai, nếu HĐXX

phúc thẩm áp dụng Điều 133 BLHS để sửa

bản án sơ thẩm thì lại vi phạm giới hạn xét

xử của toà án cấp sơ thẩm Bởi lẽ, viện kiểm

sát chỉ truy tố về tội nhẹ hơn tội bị chủ thể

kháng cáo, kháng nghị đề nghị xét xử ở cấp

phúc thẩm mà tội đề nghị áp dụng này nếu

có được cấp sơ thẩm xác định rõ ràng tại

phiên toà sơ thẩm, do giới hạn xét xử quy

định tại Điều 196 BLTTHS không cho phép

cấp sơ thẩm xử theo tội nặng hơn tội mà viện

kiểm sát đã truy tố nên HĐXX cấp sơ thẩm

cũng không được áp dụng để xét xử mà phải

ra quyết định yêu cầu điều tra bổ sung theo

quy định tại điểm b khoản 1 Điều 179

BLTTHS vì “có căn cứ để cho rằng bị cáo

phạm tội khác…” Do vậy, nếu HĐXX phúc

thẩm áp dụng Điều 133 BLHS để sửa bản án

sơ thẩm sẽ đồng nghĩa với việc HĐXX phúc

thẩm đã công nhận rằng toà án cấp sơ thẩm

cũng được áp dụng điều khoản BLHS về tội

nặng hơn tội mà viện kiểm sát đã truy tố Và

như vậy sẽ vượt quá giới hạn xét xử sơ thẩm

quy định tại Điều 196 BLTTHS là toà án sơ

thẩm chỉ được áp dụng điều khoản BLHS về

tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà viện kiểm

sát đã truy tố Theo chúng tôi, cần sửa đổi,

bổ sung khoản 3 Điều 249 BLTTHS quy

định cụ thể về quyền sửa bản án sơ thẩm

theo hướng này để hạn chế trường hợp toà

án cấp phúc thẩm có quyền áp dụng điều

khoản BLHS về tội nặng hơn tội mà toà án

cấp sơ thẩm đã áp dụng, cho thống nhất với

Điều 196 BLTTHS để không vi phạm giới

hạn xét xử sơ thẩm

Thứ ba, nếu quy định trong mọi trường

hợp có kháng cáo, kháng nghị theo hướng

chuyển khung hình phạt khác nặng hơn hoặc

áp dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn

và yêu cầu của kháng cáo, kháng nghị đó là

có căn cứ mà toà án cấp phúc thẩm đều có quyền áp dụng để sửa bản án sơ thẩm theo hướng làm xấu đi tình trạng của bị cáo thì có thể vi phạm các quyền của bị cáo như quyền

bào chữa Ví dụ: Trường hợp bào chữa bắt

buộc quy định tại điểm b khoản 2 Điều 57

BLTTHS là trường hợp “bị can, bị cáo về

tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là

tử hình” Ngoài ra, trường hợp này có thể

dẫn tới sự hợp pháp hoá việc không đảm bảo quy định về thành phần HĐXX luật định ở

cấp sơ thẩm Ví dụ: Theo quy định tại Điều

185 BLTTHS thì đối với vụ án mà bị cáo bị đưa ra xét xử về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình, hội đồng xét xử sơ thẩm phải có số lượng là 5 người (hai thẩm phán và ba hội thẩm)

Thứ tư, nếu quy định trong mọi trường

hợp có kháng cáo của người bị hại, kháng nghị của viện kiểm sát yêu cầu chuyển khung hình phạt, áp dụng điều khoản BLHS

về tội nặng hơn và kháng cáo, kháng nghị đó

là có căn cứ mà toà án cấp phúc thẩm đều có quyền sửa bản án sơ thẩm theo hướng đó thì

rõ ràng đã hợp pháp hoá sự vi phạm thẩm

quyền xét xử của toà án cấp sơ thẩm Ví dụ:

Nguyễn Văn A bị toà án sơ thẩm cấp huyện xét xử về tội trộm cắp tài sản theo khoản 3 Điều 138 BLHS có mức cao nhất của khung hình phạt là 15 năm tù (là tội phạm rất nghiêm trọng theo cách phân loại tại khoản

3 Điều 8 BLHS và theo quy định tại khoản

1 Điều 170 BLTTHS thì tội này thuộc thẩm

Trang 5

quyền xét xử của toà án cấp huyện) Người

bị hại kháng cáo hoặc viện kiểm sát kháng

nghị yêu cầu chuyển sang khoản 4 có khung

hình phạt nặng hơn (là tội phạm đặc biệt

nghiêm trọng theo cách phân loại tại khoản

3 Điều 8 BLHS và theo quy định tại khoản

1 Điều 170 BLTTHS thì tội này không

thuộc thẩm quyền xét xử của toà án cấp

huyện) và khi xét xử phúc thẩm, toà án cấp

phúc thẩm xác định yêu cầu của kháng cáo,

kháng nghị là có căn cứ Tuy nhiên, nếu

HĐXX phúc thẩm áp dụng khoản 4 Điều

138 BLHS để sửa bản án sơ thẩm thì với

việc làm này, HĐXX phúc thẩm đã mặc

nhiên thừa nhận rằng toà án cấp sơ thẩm có

quyền xét xử bị cáo về tội đặc biệt nghiêm

trọng Do toà án cấp sơ thẩm đã mắc sai

lầm trong việc áp dụng BLHS nên đã định

khung hình phạt không đúng, nay toà án cấp

phúc thẩm chỉ sửa chữa sai lầm đó mà thôi

Bằng việc sửa bản án như vậy, HĐXX phúc

thẩm đã thay Quốc hội giao thẩm quyền xét

xử mới cho toà án cấp huyện, đó là việc làm

vi hiến Vì vậy, trong trường hợp này, cách

giải quyết hợp lí nhất là HĐXX phúc thẩm

quyết định huỷ bản án sơ thẩm vì vi phạm

thẩm quyền xét xử và kiến nghị với người

có thẩm quyền kháng nghị bản án theo thủ

tục giám đốc thẩm

Từ những lí giải trên, để đảm bảo tối đa

quyền kháng cáo, kháng nghị, loại trừ mâu

thuẫn giữa quy định về giới hạn xét xử sơ

thẩm với quyền hạn của HĐXX phúc thẩm,

đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của

người bị hại, cần sửa đổi, bổ sung khoản 3

Điều 249 BLTTHS như sau:

Điều 249 Sửa bản án sơ thẩm

“…

3 Trong trường hợp viện kiểm sát kháng nghị hoặc người bị hại, người đại diện hợp pháp của họ kháng cáo yêu cầu thì toà án cấp phúc thẩm có thể áp dụng hình phạt đối với người được toà án cấp sơ thẩm miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt; chuyển sang loại hình phạt khác nặng hơn; tăng hình phạt; áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nặng hơn; giữ nguyên mức hình phạt tù mà toà án cấp sơ thẩm đã tuyên nhưng không cho bị cáo được hưởng án treo; tăng mức bồi thường thiệt hại; áp dụng thêm hình phạt bổ sung; áp dụng thêm biện pháp tư pháp Trường hợp nguyên đơn dân

sự, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự là người bị hại, nguyên đơn dân sự là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất kháng cáo yêu cầu thì toà án cấp phúc thẩm có thể tăng mức bồi thường thiệt hại Trường hợp có kháng nghị của viện kiểm sát hoặc kháng cáo của người bị hại, nguyên đơn dân sự, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền lợi của đương sự là người bị hại, nguyên đơn dân

sự theo hướng làm xấu đi tình trạng của bị cáo, nếu có căn cứ, toà án vẫn có thể giảm hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ luật hình

sự về tội nhẹ hơn, chuyển sang khung hình phạt khác nhẹ hơn hoặc chuyển sang loại hình phạt khác nhẹ hơn, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo, giảm mức bồi thường thiệt hại

Trường hợp chỉ có kháng cáo, kháng nghị theo hướng giảm nhẹ, toà án cấp phúc

Trang 6

thẩm không được sửa án sơ thẩm theo

hướng tăng hình phạt, nếu có căn cứ xác

định bản án sơ thẩm là quá nhẹ thì ra quyết

định giữ nguyên bản án sơ thẩm và đề nghị

người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ

tục giám đốc thẩm

Nếu có kháng cáo của người bị hại,

người đại diện hợp pháp của họ, kháng nghị

của viện kiểm sát yêu cầu chuyển khung

hình phạt khác nặng hơn khung hình phạt mà

toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng trong cùng

điều luật thì toà án cấp phúc thẩm được áp

dụng để sửa bản án sơ thẩm Trường hợp

khung hình phạt nặng hơn đó không thuộc

thẩm quyền xét xử của toà án cấp sơ thẩm

hoặc cần đảm bảo quyền bào chữa của bị

cáo, đảm bảo quy định về thành phần hội

đồng xét xử ở cấp sơ thẩm, toà án cấp phúc

thẩm ra quyết định hủy bản án sơ thẩm để

điều tra lại hoặc xét xử lại sơ thẩm tại toà án

có thẩm quyền

Trường hợp có kháng cáo của người bị

hại, người đại diện hợp pháp của họ, kháng

nghị của viện kiểm sát yêu cầu áp dụng điều

khoản Bộ luật hình sự về tội nặng hơn mà tội

nặng hơn đó đã được viện kiểm sát viện dẫn

để truy tố và kháng cáo, kháng nghị là có

căn cứ, nếu đảm bảo đầy đủ các quy định về

thẩm quyền xét xử, quyền bào chữa của bị

cáo, về thành phần hội đồng xét xử ở cấp sơ

thẩm thì toà án cấp phúc thẩm có quyền áp

dụng để xét xử Trường hợp tội nặng hơn đó

chưa được viện kiểm sát viện dẫn để truy tố

thì dù kháng cáo, kháng nghị là có căn cứ,

cũng như đảm bảo đầy đủ các quy định khác

về thẩm quyền xét xử, quyền bào chữa của

bị cáo, thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm,

toà án cấp phúc thẩm vẫn phải ra quyết định hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét

xử lại sơ thẩm từ đầu”

Nếu sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 249 BLTTHS như trên thì cũng cần sửa đổi, bổ sung quy định tại đoạn 1 Điều 231 Bộ luật này theo hướng cụ thể hơn nữa giới hạn quyền được kháng cáo bản án sơ thẩm của người bị hại, người đại diện hợp pháp của họ

để đảm bảo sự thống nhất trong quy định pháp luật cũng như làm cơ sở cho việc sửa bản án sơ thẩm Cụ thể, đoạn 1 Điều 231 BLTTHS sửa đổi sẽ có nội dung sau:

Điều 231 Những người có quyền kháng cáo

“Bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ

có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định

sơ thẩm Người bị hại, người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo toàn bộ bản

án hoặc quyết định sơ thẩm theo hướng có lợi hoặc không có lợi cho bị cáo;

(1) Điều 248 Bản án phúc thẩm và thẩm quyền của

toà án cấp phúc thẩm

“1 …

2 Toà án cấp phúc thẩm có quyền quyết định: a) Không chấp nhận k háng cáo, k háng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm;

b) Sửa bản án sơ thẩm;

c) Huỷ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử lại;

d) Huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án

3 …”

(2) Điểm e khoản 2 Điều 51 BLTTHS quy định: “Người

bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền

… e) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; kháng cáo bản án, quyết định của toà án về phần bồi thường cũng như về hình phạt đối với bị cáo”

Ngày đăng: 29/03/2014, 12:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm