Đối với trường hợp Việt Nam chưa kí kết bất cứ điều ước quốc tế đa phương hoặc song phương nào với quốc gia có yêu cầu tiếp nhận hoặc chuyển giao người đang chấp hành án thì việc hợp tác
Trang 1
Ts NguyÔn ThÞ Ph-¬ng Hoa *
uật tương trợ tư pháp là văn bản đầu
tiên của Việt Nam chính thức ghi nhận
vấn đề hợp tác quốc tế của Việt Nam trong
tiếp nhận, chuyển giao tù nhân để thi hành
án.(1) Điều này thể hiện sự tiến bộ rõ nét,
một bước phát triển tích cực của pháp luật
tố tụng hình sự Việt Nam ở góc độ bảo đảm
quyền con người Trong phạm vi bài viết
này, chúng tôi phân tích tóm tắt những vấn
đề cơ bản về chuyển giao người đang chấp
hành hình phạt tù quy định tại Chương V
Luật tương trợ tư pháp Qua đó, chúng tôi
nêu lên một số vấn đề cần được tiếp tục
nghiên cứu để hoàn thiện các quy định pháp
luật liên quan
1 Những vấn đề cơ bản về chuyển
giao người đang chấp hành hình phạt tù
theo Luật tương trợ tư pháp
1.1 Các căn cứ pháp lí để Việt Nam
thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế trong
việc tiếp nhận, chuyển giao người đang
chấp hành án
Khoản 2 Điều 49 Luật tương trợ tư pháp
xác định các căn cứ pháp lí để Việt Nam
thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế trong
việc tiếp nhận, chuyển giao người đang
chấp hành án gồm: Quy định của các điều
ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên,
Quy định của Luật tương trợ tư pháp và
pháp luật quốc gia, quốc tế liên quan Cụ thể, đối với trường hợp Việt Nam đã kí kết điều ước quốc tế đa phương hoặc song phương với quốc gia có yêu cầu tiếp nhận hoặc chuyển giao người đang chấp hành án thì căn cứ pháp lí để thực hiện hoạt động hợp tác là quy định của điều ước quốc tế liên quan Đối với trường hợp Việt Nam chưa kí kết bất cứ điều ước quốc tế đa phương hoặc song phương nào với quốc gia
có yêu cầu tiếp nhận hoặc chuyển giao người đang chấp hành án thì việc hợp tác phải căn cứ vào các quy định của Luật tương trợ tư pháp và thoả thuận giữa hai quốc gia trong từng vụ việc cụ thể
1.2 Giới hạn về đối tượng tiếp nhận hoặc chuyển giao
Luật tương trợ tư pháp xác định rõ giới hạn các đối tượng mà Việt Nam sẽ tham gia tiếp nhận hoặc chuyển giao để chấp hành
án Trước hết, họ là những người bị kết án
tù và đã chấp hành được một phần hình phạt Lưu ý rằng những người bị kết án tù nhưng chưa chấp hành án thì được tiếp nhận hoặc chuyển giao theo chế định dẫn độ chứ không theo chế định chuyển giao phạm nhân để thi hành án Ngoài ra, những người
L
* Giảng viên Khoa luật hình sự Trường đại học luật thành phố Hồ Chí Minh
Trang 2bị kết án với những loại hình phạt khác
(không phải là hình phạt tù) cũng không
thuộc đối tượng tiếp nhận hoặc chuyển giao
để thi hành án Việc quy định giới hạn về
đối tượng như vậy xuất phát từ lí do chỉ
việc chấp hành hình phạt tù mới có những
điểm đặc thù cần đến sự hỗ trợ ở quốc gia
nơi mà người phải thi hành án là công dân,
ví dụ: cuộc sống trong trại giam, vấn đề tái
hoà nhập cộng đồng.(2)
Bên cạnh các điều kiện chung đã nêu,
Luật tương trợ tư pháp còn phân hoá điều
kiện cụ thể đối với các đối tượng Việt Nam
có thể tiếp nhận hoặc chuyển giao Thứ
nhất, các đối tượng có thể được tiếp nhận
để chấp hành án tại Việt Nam chỉ bao gồm
công dân Việt Nam có nơi thường trú cuối
cùng ở Việt Nam.(3)
Theo quy định này, người không có quốc tịch, người nước
ngoài (kể cả người nước ngoài cư trú
thường xuyên tại Việt Nam) và kể cả công
dân Việt Nam nhưng không có nơi thường
trú cuối cùng tại Việt Nam không thuộc
phạm vi đối tượng được tiếp nhận.(4)
Thứ
hai, các đối tượng Việt Nam có thể chuyển
giao cho nước ngoài để tiếp tục chấp hành
án bao gồm: “Người nước ngoài, người có
quyền cư trú không thời hạn ở nước ngoài
hoặc người có người thân thích ở nước
ngoài”.(5)
Như vậy, công dân Việt Nam
đang chấp hành hình phạt tù tại Việt Nam
vẫn có thể được chuyển giao cho nước
ngoài để tiếp tục chấp hành án ở nước
ngoài Liên quan đến vấn đề này, cần nhắc
lại rằng theo quy định về dẫn độ, công dân
Việt Nam không bị dẫn độ để thi hành án ở
nước ngoài.(6)
Vậy, hai quy định vừa nêu có mâu thuẫn với nhau không? Theo chúng tôi, hai quy định này không mâu thuẫn với nhau, bởi lẽ trong việc dẫn độ người phạm tội, người bị dẫn độ không có quyền lựa chọn việc có bị dẫn độ hay không (họ chỉ có quyền đề đạt các yêu cầu) Nói cách khác, trong hoạt động dẫn độ, ý chí của người bị dẫn độ không có vai trò quyết định (tuy không mong muốn, họ vẫn có thể bị dẫn độ) Đối với hoạt động chuyển giao phạm nhân để tiếp tục thi hành án, ý chí của người đang chấp hành án có vai trò quyết định Sự đồng ý của họ là một trong những điều kiện bắt buộc để thực hiện việc chuyển giao, vì vậy nếu công dân Việt Nam cho rằng việc họ chấp hành án ở nước ngoài thuận lợi hơn thì Nhà nước vẫn có thể xem xét việc thực hiện chuyển giao
1.3 Các điều kiện tiếp nhận hoặc chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù
Các điều kiện để Việt Nam tiếp nhận hoặc chuyển giao người đang chấp hành hình phạt
tù được quy định tại Điều 50 Luật tương trợ
tư pháp Các điều kiện đó bao gồm:
a Tính tội phạm kép: Hành vi của người đang chấp hành án vừa cấu thành tội phạm theo pháp luật của nước kết án vừa cấu thành tội phạm theo pháp luật của nước tiếp nhận hoặc chuyển giao
b Thời hạn còn lại chưa chấp hành hình phạt tù: Vào thời điểm nhận được yêu cầu tiếp nhận hoặc chuyển giao, thời hạn chưa chấp hành hình phạt tù phải còn lại ít nhất
là một năm Trong trường hợp đặc biệt, thời
Trang 3hạn này còn ít nhất là sáu tháng
c Thủ tục tố tụng: Bản án đối với
người được chuyển giao đã có hiệu lực
pháp luật và không còn thủ tục tố tụng nào
đối với người đó tại nước tiếp nhận hoặc
chuyển giao
d Ý chí của quốc gia tiếp nhận hoặc
chuyển giao: Có sự đồng ý của nước tiếp
nhận hoặc chuyển giao
e Ý chí của người được tiếp nhận hoặc
chuyển giao: Có sự đồng ý của người được
tiếp nhận hoặc chuyển giao
Riêng đối với trường hợp Việt Nam
chuyển giao người đang chấp hành án cho
nước ngoài, ngoài các điều kiện đã nêu trên,
người đang chấp hành án còn phải thoả mãn
thêm điều kiện: “thực hiện xong phần trách
nhiệm dân sự, hình phạt bổ sung là phạt
tiền, tịch thu tài sản và các trách nhiệm
pháp lí khác trong bản án”.(7)
1.4 Các căn cứ từ chối chuyển giao
người đang chấp hành hình phạt tù
Trong những trường hợp đặc biệt nếu có
căn cứ cho rằng việc chuyển giao người
đang chấp hành hình phạt tù có thể phương
hại đến chủ quyền, an ninh của quốc gia
hoặc người được chuyển giao có thể bị tra
tấn, trả thù hoặc truy bức tại nước tiếp nhận
thì Việt Nam có thể từ chối chuyển giao
mặc dù các điều kiện trên thoả mãn.(8)
Đây
là những quy định nhằm bảo vệ chủ quyền,
an ninh quốc gia; bảo đảm quyền con người
của người đang chấp hành hình phạt
Khác với việc chuyển giao, Luật tương
trợ tư pháp không quy định căn cứ từ chối
tiếp nhận phạm nhân từ nước ngoài về Việt
Nam để chấp hành án Vấn đề đặt ra là tại sao Luật tương trợ tư pháp không quy định căn cứ từ chối tiếp nhận phạm nhân từ nước ngoài về Việt Nam? Để lí giải điều này cần so sánh sự khác nhau giữa việc chuyển giao phạm nhân cho nước ngoài với việc tiếp nhận phạm nhân về nước để thi hành án Khi tiếp nhận phạm nhân về nước để thi hành án, Nhà nước sẽ có quyền kiểm soát đối với phạm nhân vì vậy các nguy cơ đe dọa gây phương hại đến chủ quyền, an ninh quốc gia có thể bị loại bỏ hoặc đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ Ngược lại, khi chuyển giao phạm nhân cho nước ngoài để thi hành án, quyền kiểm soát của Nhà nước đối với phạm nhân sẽ bị mất, điều này có thể dẫn đến những nguy hiểm nhất định Vì lẽ này, quy định việc từ chối chuyển giao là cần thiết
1.5 Các vấn đề về thủ tục và chi phí
Bên cạnh các vấn đề về nội dung của hoạt động chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù, Luật tương trợ tư pháp
đã quy định các thủ tục cũng như cơ chế về chi phí liên quan đến hoạt động chuyển giao người đang chấp hành án, trong đó có
những vấn đề đáng lưu ý sau: Thứ nhất, toà
án nhân dân cấp tỉnh nơi người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù là cơ quan có thẩm quyền quyết định việc tiếp nhận hoặc
chuyển giao Thứ hai, việc xem xét, quyết
định được tiến hành theo mô hình hai cấp xét xử, có nghĩa là các quyết định của toà
án nhân dân cấp tỉnh có thể bị kháng cáo hoặc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
Trang 4Thứ ba, người đang chấp hành hình phạt có
quyền mời luật sư để trình bày các ý kiến
liên quan tại phiên họp của hội đồng xem
xét việc tiếp nhận hoặc chuyển giao
2 Một số kiến nghị hoàn thiện các
quy định của Luật tương trợ tư pháp về
chuyển giao người đang chấp hành hình
phạt tù
Như phân tích ở trên, Chương V của
Luật tương trợ tư pháp năm 2007 đã quy
định khá toàn diện các vấn đề cơ bản liên
quan đến hoạt động chuyển giao người phải
chấp hành hình phạt tù Tuy nhiên, theo
chúng tôi, các quy định về điều kiện để Việt
Nam tiếp nhận hoặc chuyển giao phạm
nhân để thi hành án vẫn còn một số điểm
cần được bàn luận và nghiên cứu
Thứ nhất, về trật tự sắp xếp các điều
kiện tiếp nhận hoặc chuyển giao người đang
chấp hành hình phạt tù
Trật tự sắp xếp các điều kiện cho thấy ý
chí của nhà làm luật trong việc đánh giá
mức độ quan trọng của mỗi điều kiện Khảo
sát pháp luật của một số nước và một số
công ước quốc tế về chuyển giao phạm
nhân để thi hành án có thể nhận thấy vấn đề
ý chí của người bị chuyển giao được đánh
giá rất cao và có ý nghĩa quan trọng.(9)
Sự đồng ý của phạm nhân được coi là điều kiện
tiên quyết bởi lẽ hoạt động chuyển giao
phạm nhân để thi hành án xuất phát sâu xa
từ mục đích nhân đạo Nếu không có sự
đồng ý của phạm nhân thì việc chuyển giao
có thể bị phản tác dụng xét từ góc độ mục
đích và ý nghĩa của hoạt động này Trong
pháp luật hiện hành của chúng ta, điều kiện
về ý chí của phạm nhân được xếp cuối cùng trong số các điều kiện Tuy về mặt nội dung
dù được xếp ở vị trí nào thì việc chuyển giao cũng phải đáp ứng điều kiện này nhưng về mặt hình thức, trật tự sắp xếp đó phản ánh sự đánh giá của nhà làm luật về mức độ quan trọng của mỗi điều kiện Theo chúng tôi, điều kiện này rất quan trọng nên cần được xếp ở những vị trí ưu tiên cao Điều này không chỉ là sự khẳng định về vai trò của nó mà còn là định hướng để những
cơ quan áp dụng pháp luật ưu tiên kiểm tra đối với những hồ sơ cụ thể
Thứ hai, về điều kiện thời hạn còn lại
của phần hình phạt chưa chấp hành Điều kiện về thời hạn còn lại của phần hình phạt chưa chấp hành được quy định dựa trên sự cân nhắc tính hiệu quả của việc chuyển giao Trước hết, việc xác định thời hạn còn lại phải chấp hành là nhằm bảo đảm ý nghĩa của việc chuyển giao phạm nhân để thi hành án Nếu thời hạn còn lại của phần hình phạt chưa chấp hành quá ngắn thì việc chuyển giao không đạt được mục đích đề ra Ngoài ra, ở khía cạnh kinh tế, nếu thời hạn còn lại của phần hình phạt chưa chấp hành quá ngắn thì các chi phí về thời gian và tài chính đã đầu tư cho hoạt động chuyển giao cũng được xem là không hiệu quả
Các công ước quốc tế về chuyển giao phạm nhân để thi hành án và pháp luật của một số nước trên thế giới quy định thời hạn này là 6 tháng và trong những trường hợp đặc biệt cho phép áp dụng thời hạn dưới 6 tháng.(10)
Các trường hợp được coi
Trang 5là đặc biệt như: Nước chuyển giao và
nước tiếp nhận ở gần nhau, người đang
chấp hành án có khiếm khuyết về thể chất
hoặc tâm thần mà việc tái hoà nhập là tốt
nhất ở quê hương của họ Theo chúng tôi,
quy định thời hạn tối thiểu 1 năm theo
pháp luật của Việt Nam là khá dài Chúng
tôi thiết nghĩ Việt Nam nên áp dụng theo
chuẩn chung của các công ước quốc tế, đó
đồng thời có quy định mở về những
trường hợp đặc biệt cho phép tiếp nhận
hoặc chuyển giao phạm nhân để thi hành
án với thời hạn của phần hình phạt chưa
chấp hành ít hơn 6 tháng
Thứ ba, điều kiện về tính tội phạm kép
“Tính tội phạm kép” là điều kiện cần
thiết trong các hoạt động tương trợ tư pháp
về hình sự, bởi lẽ tính hợp pháp của những
biện pháp cưỡng chế áp dụng đối với
người liên quan đến hoạt động tương trợ tư
pháp trước hết phải được đánh giá theo
pháp luật của nước thực hiện các hoạt động
cưỡng chế Trong việc chuyển giao phạm
nhân để thi hành án có cần thiết quy định
điều kiện này không? Xuất phát từ ý nghĩa
và mục đích nhân đạo của việc chuyển giao
phạm nhân để thi hành án, trên thế giới
đang có quan điểm và một số thực tiễn áp
dụng “tính tội phạm kép” theo nghĩa rộng
(in abstracto), có nghĩa là chỉ đòi hỏi hành
vi nguy hiểm cấu thành tội phạm ở nước
kết án và cấu thành hành vi vi phạm pháp
luật hành chính của nước tiếp nhận, chuyển
giao.(12) Hiểu “tính tội phạm kép” theo
nghĩa này thực chất là đã mở rộng và làm
thay đổi bản chất của tính tội phạm kép
theo nghĩa truyền thống (in concreto) Đây
là sự vận dụng linh hoạt nhằm bảo đảm tối
đa quyền con người của người chấp hành
án ở góc độ nhân đạo, bởi lẽ việc phạm nhân không thể thoát khỏi việc phải chấp hành bản án là điều rõ ràng và hiển nhiên Việc chấp hành đó là bắt buộc hoặc ở nước
mà họ đã bị kết án hoặc ở nước mà họ là công dân Chính vì vậy, để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho phạm nhân trong quá trình chấp hành án và xây dựng tiền đề tốt nhất cho họ tái hoà nhập cộng đồng sau khi được trả tự do không nên đòi hỏi điều kiện
“cứng” về tính tội phạm kép Khi không quy định điều kiện hành vi của người đang chấp hành án phải cấu thành tội phạm ở nước tiếp nhận, có thể có ý kiến lo ngại rằng phạm nhân sẽ khiếu nại về tính hợp pháp của việc phải chấp hành hình phạt ở nơi mà hành vi của họ không cấu thành tội phạm Vấn đề này được giải quyết khi chúng ta khẳng định, một trong những điều kiện để người đang chấp hành án được tiếp nhận hoặc chuyển giao là sự đồng ý của họ
về việc tiếp tục chấp hành án ở nước tiếp nhận Sự đồng ý này là cơ sở pháp lí để quốc gia tiếp nhận bác bỏ khiếu nại của
họ.(13)
Do vậy, chúng tôi cho rằng những vấn đề mới đặt ra đối với cách hiểu điều kiện “tính tội phạm kép” trong hoạt động chuyển giao phạm nhân có những hạt nhân hợp lí nhất định và cần nghiên cứu toàn diện các quy định liên quan của pháp luật nước ta để xem xét khả năng vận dụng điều kiện này theo nghĩa rộng như đã nêu
Trang 6Tóm lại, chúng tôi cho rằng việc Luật
tương trợ tư pháp của Việt Nam chính thức
cho phép tiếp nhận, chuyển giao người
đang chấp hành án phạt tù là tiến bộ rõ nét
nhìn từ góc độ bảo đảm quyền con người
của người chấp hành án Các quy định về
vấn đề này của Việt Nam có sự tương đồng
với quy định của nhiều nước trên thế giới
và các công ước quốc tế liên quan Sự
tương đồng đó tạo thuận lợi cho hoạt động
hợp tác quốc tế Những giá trị tiến bộ này
cần được đánh giá cao Tuy nhiên, bên
cạnh những thành công đã nêu, quy định
hiện hành của Việt Nam về điều kiện để
tiếp nhận và chuyển giao người đang chấp
hành án cần được nghiên cứu điều chỉnh để
bảo vệ tốt hơn quyền của người đang chấp
hành án Cụ thể: 1) Điều kiện về ý chí của
người đang chấp hành án đối với hoạt động
tiếp nhận hoặc chuyển giao cần được coi là
điều kiện tiên quyết và sắp xếp ở những vị
trí thể hiện vai trò quan trọng của nó; 2)
Điều kiện về thời hạn còn lại của phần
hình phạt chưa chấp hành nên giảm xuống
6 tháng và cho phép được rút ngắn hơn
trong những trường hợp đặc biệt; 3)
Nghiên cứu hoàn thiện điều kiện về tính tội
phạm kép trong hoạt động tiếp nhận,
chuyển giao người đang chấp hành án./
(1) Hoạt động tiếp nhận, chuyển giao người đang
chấp hành hình phạt tù còn được gọi chung là chuyển
giao người đang chấp hành hình phạt tù
(2) Quy định này của nước ta tương đồng với quy
định phổ biến của nhiều quốc gia trên thế giới, ví dụ:
Australia, Mỹ, Pháp
(3).Xem: Điểm a, b khoản 1 Điều 50 Luật tương trợ
tư pháp năm 2007
(4) Theo quy định của pháp luật xuất nhập cảnh, những người được coi là cư trú dài hạn tại Việt Nam
là những người cư trú trên 185 ngày/năm
(5).Xem: Điểm a khoản 2 Điều 50 Luật tương trợ tư pháp năm 2007
(6).Xem: Điểm a khoản 1 Điều 35 Luật tương trợ tư pháp năm 2007
(7).Xem: Điểm b khoản 2 Điều 50 Luật tương trợ tư pháp năm 2007
(8).Xem: Điều 51 Luật tương trợ tư pháp năm 2007
(9) Ví dụ: Công ước về chuyển giao phạm nhân để
thi hành án năm 1983 (được sửa đổi, bổ sung năm 1997), Quy định về chuyển giao phạm nhân năm
2002 của Australia (International Transfer of Prisoners Regulations 2002, Australia)
(10) Công ước về chuyển giao phạm nhân để thi hành án năm 1983 (được sửa đổi, bổ sung năm 1997), Quy định về chuyển giao phạm nhân năm 2002 của Australia (International Transfer of Prisoners Regulations 2002, Australia), Công ước của các bang trong nước Mỹ về thi hành án hình sự ở nước ngoài (Inter-American Convention on Serving Criminal Sentence Abroad)
(11) Việc quy định thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại ít nhất là 6 tháng không những tương đồng với các công ước quốc tế mà còn phù hợp với một số hiệp
định song phương mà Việt Nam đã kí kết Ví dụ:
Khoản 3 Điều 62 Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự và hình sự giữa Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam và Liên bang Nga quy định: “Việc dẫn độ để thi hành bản án được tiến hành đối với những hành vi mà theo pháp luật của cả hai bên kí kết là tội phạm, người bị yêu cầu dẫn độ đã bị kết án phạt tù với thời hạn không dưới 6 tháng hoặc hình phạt nặng hơn”
(12) Ví dụ, Xem: Candido Cunha, Tlđd Candido
Cunha cho rằng “tính tội phạm kép” có thể được hiểu theo nghĩa rộng, có nghĩa là bao gồm trường hợp một hành vi được coi là vi phạm pháp luật hình sự ở nước này và vi phạm pháp luật hành chính ở nước khác; Xem: Discussion Paper, Tlđd
(13).Xem: Candido Cunha, Tlđd