1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Căn cứ hoãn phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự trong tố tụng dân sự Việt Nam " potx

7 543 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Căn Cứ Hoãn Phiên Họp Sơ Thẩm Giải Quyết Việc Dân Sự Trong Tố Tụng Dân Sự Việt Nam
Tác giả TS. Nguyễn Minh Hằng, Nguyễn Văn Tiến
Người hướng dẫn Giảng Viên Học Viện Tư Pháp
Trường học Học Viện Tư Pháp
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 365,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do tính chất quan trọng về địa vị tố tụng của người có đơn yêu cầu mà pháp luật tố tụng dân sự quy định thẩm phán hoặc tập thể thẩm phán được phân công giải quyết việc dân sự phải hoãn p

Trang 1

TS NguyÔn Minh H»ng *

rong tiếng Việt, “hoãn” có nghĩa là

"chuyển thời điểm đã định để làm việc

gì đó sang thời điểm khác muộn hơn”.(1)

Theo nội hàm của từ này thì hoãn phiên họp

giải quyết việc dân sự là việc chuyển thời

điểm tiến hành phiên họp giải quyết việc dân

sự đã định sang thời điểm khác muộn hơn

Việc hoãn phiên họp chỉ được thực hiện khi

có các căn cứ do pháp luật quy định

Theo quy định tại Điều 313 BLTTDS,

thẩm phán hoặc tập thể thẩm phán được

phân công giải quyết việc dân sự phải hoãn

phiên họp giải quyết việc dân sự trong các

trường hợp sau:

- Trường hợp vắng mặt kiểm sát viên

tham gia phiên họp Khoản 2 Điều 21 BLTTDS

quy định: ″Viện kiểm sát nhân dân tham gia

phiên toà đối với những vụ án do toà án thu

thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại, các

việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của

toà án, …″ Do đó, khi vắng mặt kiểm sát viên

tham gia phiên họp thì toà án phải hoãn phiên

họp giải quyết việc dân sự

- Trường hợp người có đơn yêu cầu vắng

mặt lần thứ nhất có lí do chính đáng

Trường hợp người có liên quan, người làm

chứng, người giám định, người phiên dịch

vắng mặt thì tuỳ từng hoàn cảnh cụ thể, thẩm

phán (hoặc tập thể thẩm phán) được phân công

giải quyết việc dân sự quyết định hoãn phiên họp hoặc vẫn tiến hành phiên họp Quy định này cho phép toà án được tuỳ nghi lựa chọn hoãn hoặc không hoãn phiên họp giải quyết việc dân sự khi người có liên quan, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch vắng mặt Toà án sẽ hoãn phiên họp nếu

sự vắng mặt đó là có căn cứ, có lí do chính đáng hay sự vắng mặt đó sẽ ảnh hưởng đến việc giải quyết một cách đúng đắn việc dân sự Ngược lại, toà án sẽ tiếp tục phiên họp giải quyết việc dân sự mà không có sự tham gia của người có liên quan, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch nếu xét thấy có căn cứ

Ngoài các trường hợp phải hoãn phiên họp giải quyết việc dân sự như đã nêu trên, theo nguyên tắc quy định tại Điều 311

BLTTDS: "Toà án áp dụng những quy định của Chương này, đồng thời áp dụng những quy định khác của Bộ luật này không trái với những quy định của Chương này để giải quyết những việc dân sự" Như

vậy, toà án sẽ áp dụng tương tự các quy định về hoãn phiên toà dân sự để quyết định hoãn phiên họp giải quyết việc dân

T

* Giảng viên Học viện tư pháp

** Công ti luật TNHH Trường Hải

Trang 2

sự Cụ thể, toà án quyết định hoãn phiên

họp trong các trường hợp sau:

- Trường hợp phải thay đổi thẩm phán,

thư kí toà án mà không có thẩm phán dự

khuyết thay thế như quy định tại khoản 2

Điều 51, Điều 198 BLTTDS Đây là trường

hợp thẩm phán được phân công giải quyết

việc dân sự rơi vào trường hợp phải từ chối

tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi theo quy

định tại Điều 47 BLTTDS, thư kí toà án rơi

vào trường hợp phải từ chối tiến hành tố

tụng hoặc bị thay đổi theo quy định tại Điều

49 BLTTDS mà không có thẩm phán, thư kí

dự khuyết để thay thế

- Trường hợp phải thay đổi kiểm sát viên

hoặc kiểm sát viên không thể tiếp tục tham

gia phiên họp giải quyết việc dân sự mà

không có kiểm sát viên dự khuyết để thay

thế như quy định tại Điều 207 BLTTDS

Trường hợp này, kiểm sát viên viện kiểm sát

nhân dân cùng cấp được phân công tham dự

phiên họp giải quyết việc dân sự rơi vào

trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng

hoặc bị thay đổi theo quy định tại Điều 48

BLTTDS mà không có kiểm sát viên dự

khuyết để thay thế

- Trường hợp phải thay đổi người giám

định, người phiên dịch mà không có người

khác thay thế như quy định tại khoản 2 Điều

72 BLTTDS Người giám định, người phiên

dịch rơi vào trường hợp phải từ chối hoặc bị

thay đổi theo quy định tại khoản 3 Điều 68

và khoản 3 Điều 70 BLTTDS

- Trường hợp người bảo vệ quyền và lợi

ích hợp pháp của đương sự vắng mặt lần thứ

nhất có lí do chính đáng như quy định tại

Điều 203 BLTTDS;

- Trường hợp tại phiên họp khi cần thiết phải giám định lại, giám định bổ sung theo khoản 4 Điều 230 BLTTDS

Về thực tiễn áp dụng căn cứ hoãn phiên họp giải quyết việc dân sự đã và đang tồn tại các cách hiểu và vận dụng khác nhau:

1 Về trường hợp người có đơn yêu cầu được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt tại phiên họp

Người có đơn yêu cầu là thành phần quan trọng của việc dân sự, là người làm phát sinh việc dân sự tại toà án, do đó họ phải có mặt tại phiên họp khi toà án giải quyết việc dân sự Do tính chất quan trọng

về địa vị tố tụng của người có đơn yêu cầu

mà pháp luật tố tụng dân sự quy định thẩm phán (hoặc tập thể thẩm phán) được phân công giải quyết việc dân sự phải hoãn phiên họp giải quyết việc dân sự trong trường hợp người có đơn yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất

có lí do chính đáng Cụ thể khoản 3 Điều

313 BLTTDS quy định: "Người có đơn yêu cầu hoặc người đại diện hợp pháp của họ phải tham gia phiên họp theo giấy triệu tập của toà án Người có đơn yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất có lí do chính đáng thì toà án hoãn phiên họp"

Vấn đề đặt ra là trường hợp người có đơn yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất sau khi được triệu tập hợp lệ mà không có lí do chính đáng thì giải quyết như thế nào? Áp dụng khoản 3 Điều 313 BLTTDS thực tiễn xét xử tồn tại hai quan điểm khác nhau:

Ý kiến thứ nhất cho rằng trong trường

hợp người có đơn yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất sau khi đã được toà án triệu tập hợp lệ tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự

Trang 3

mà không có lí do chính đáng thì bị coi là từ

bỏ yêu cầu Vì vậy, toà án sẽ ra quyết định

đình chỉ giải quyết đơn yêu cầu.(2)

Ý kiến thứ hai cho rằng trường hợp

người có đơn yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất

dù có lí do chính đáng hay không có lí do

chính đáng thì toà án đều phải hoãn phiên

họp giải quyết việc dân sự.(3)

Người có đơn yêu cầu có mặt tại phiên

họp vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của họ, do

đó khoản 3 Điều 313 BLTTDS quy định:

"Người có đơn yêu cầu hoặc người đại diện

hợp pháp của họ phải tham gia phiên họp

theo giấy triệu tập của toà án Người có

đơn yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất có lí do

chính đáng thì toà án hoãn phiên họp" Nếu

khoản 3 Điều 313 BLTTDS chỉ dừng ở đây

thì việc hiểu như ý kiến thứ nhất là hoàn

toàn hợp lí, khi đó, toà án chỉ phải hoãn

phiên họp giải quyết việc dân sự khi người

có đơn yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất có lí

do chính đáng, trường hợp người có đơn

yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất không có lí

do chính đáng thì được xem là từ bỏ yêu

cầu và do đó, toà án sẽ ra quyết định đình

chỉ giải quyết việc dân sự

Tuy nhiên, khoản 3 Điều 313 BLTTDS

không dừng lại như đã trích dẫn ở trên mà

còn tiếp tục quy định: " nếu người có đơn

yêu cầu đã được triệu tập hợp lệ đến lần

thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ

yêu cầu và toà án ra quyết định đình chỉ

giải quyết việc dân sự ." Theo quy định

này thì toà án chỉ ra quyết định đình chỉ giải

quyết việc dân sự khi người yêu cầu đã

được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn

vắng mặt Chúng ta thấy ngay sự mâu thuẫn

của câu trước và câu sau của cùng một điều luật Câu sau của khoản 3 Điều 313 BLTTDS phủ định hiệu lực của câu trước của chính khoản 3 Điều 313 BLTTDS Tức

là, tại phiên họp giải quyết việc dân sự, tất

cả các trường hợp người yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất dù có lí do chính đáng hay không có lí do chính đáng thì thẩm phán (hoặc tập thể thẩm phán) được phân công giải quyết việc dân sự cũng đều phải hoãn phiên họp mà không được ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự

Mặt khác, từ quy định " nếu người có đơn yêu cầu đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ

bỏ yêu cầu và toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự " tại khoản 3 Điều

313 BLTTDS thì khi người có đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đã được triệu tập hợp

lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, toà án

sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân

sự mà không quan tâm đến việc vắng mặt của người có đơn yêu cầu có lí do chính đáng hay không chính đáng Thực tiễn xét

xử đã gặp không ít trường hợp, người có đơn yêu cầu đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai đến phiên họp giải quyết việc dân sự, khi người yêu cầu đang trên đường đến tham dự phiên họp giải quyết việc dân

sự thì gặp tai nạn Trong trường hợp này, thẩm phán (hoặc tập thể thẩm phán) được phân công giải quyết việc dân sự ra quyết định hoãn phiên họp giải quyết việc dân sự thì không có căn cứ pháp lí, ngược lại ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự thì lại không thấu tình Trong khi đó, vấn đề tương tự trong vụ án dân sự đã được Toà án

Trang 4

nhân dân tối cao hướng dẫn Cụ thể, tại

Tiểu mục 1.2 Mục 1 Phần III Nghị quyết

của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân

tối cao số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006

hướng dẫn thi hành các quy định trong

Phần thứ hai "Thủ tục giải quyết vụ án tại

toà án cấp sơ thẩm" của Bộ luật tố tụng

dân sự (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số

02/2006/NQ-HĐTP) quy định:

"Đối với những trường hợp đương sự đã

nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử

theo quy định tại khoản 2 Điều 195 của

BLTTDS, đã được toà án tống đạt hợp lệ

giấy triệu tập phiên toà theo quy định tại các

điều từ Điều 150 đến Điều 156 của BLTTDS

và đương sự đã chuẩn bị tham dự phiên toà

xét xử vụ án nhưng do sự kiện bất khả kháng

hoặc trở ngại khách quan xảy ra đối với họ

ngay vào thời điểm trước ngày toà án mở

phiên toà hoặc ngay trong thời điểm họ đang

trên đường đến toà án để tham dự phiên toà

(do thiên tai, địch hoạ, bị tai nạn, ốm nặng

phải đi bệnh viện cấp cứu, người thân bị

chết…) nên họ không thể có mặt tại phiên

toà theo giấy triệu tập của toà án thì toà án

cũng hoãn phiên toà"

Mặc dù Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP

không hướng dẫn rõ hướng dẫn trên áp

dụng đối với trường hợp đương sự được

triệu tập hợp lệ đến lần thứ mấy Rõ ràng

đối với trường hợp đương sự được triệu tập

hợp lệ lần thứ nhất dù có lí do chính đáng

hay không có lí do chính đáng thì toà án

đều phải hoãn phiên toà theo hướng dẫn tại

Tiểu mục 1.1 Mục 1 Phần III Nghị quyết số

02/2006/NQ-HĐTP Do đó, cần phải hiểu

hướng dẫn tại Tiểu mục 1.2 Mục 1 Phần III

Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP là trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ từ lần thứ hai trở đi mà vẫn vắng mặt tại phiên toà khi có lí do chính đáng Chúng tôi cho rằng

có thể áp dụng tương tự hướng dẫn trên để hoãn phiên họp giải quyết việc dân sự khi người có đơn yêu cầu được triệu tập hợp lệ

từ lần thứ hai trở đi mà vẫn vắng mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự khi có lí

do chính đáng Bởi lẽ, theo nguyên tắc áp dụng pháp luật quy định tại Điều 311 BLTTDS thì ngoài những quy định tại Chương XX BLTTDS, toà án có thể áp dụng các quy định khác của BLTTDS để

giải quyết việc dân sự nếu những quy định

đó không trái với quy định tại Chương XX BLTTDS Do đó, toà án có thể áp dụng những quy định về hoãn phiên toà của BLTTDS cho hoãn phiên họp giải quyết việc dân sự nếu những quy định đó không trái với quy định tại Chương XX BLTTDS

về hoãn phiên họp giải quyết việc dân sự Đối với hướng dẫn tại Mục 1 Phần III Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP là nhằm làm

rõ hơn quy định về hoãn phiên toà dân sự sơ thẩm của BLTTDS Vì vậy, việc toà án áp dụng hướng dẫn tại Mục 1 Phần III Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP về hoãn phiên toà cho hoãn phiên họp dân sự là hoàn toàn hợp lí và có căn cứ

2 Trường hợp người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt lần thứ nhất có lí do chính đáng

Mặc dù Điều 313 BLTTDS không quy định về sự tham gia của người bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của đương sự trong việc

dân sự, tuy nhiên theo nguyên tắc: "Toà án

Trang 5

áp dụng những quy định của Chương này,

đồng thời áp dụng những quy định khác của

Bộ luật này không trái với những quy định

của Chương này để giải quyết những việc

dân sự" được quy định tại Điều 311

BLTTDS và phạm vi hành nghề luật sư

được quy định tại Điều 22 Luật luật sư thì

sự có mặt của người bảo vệ quyền và lợi ích

hợp pháp của đương sự trong quá trình giải

quyết việc dân sự nói chung và tại phiên

họp giải quyết việc dân sự nói riêng là hợp

lí Khoản 2 Điều 22 Luật luật sư quy định

luật sư ″tham gia tố tụng với tư cách là

người đại diện hoặc là người bảo vệ

quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị

đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan trong các việc về yêu cầu dân sự,

hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương

mại, lao động và các vụ, việc khác theo

quy định của pháp luật″ Mặt khác, người

bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

đương sự thường là những người am hiểu

pháp luật, do đó sự có mặt của họ tại phiên

họp giải quyết việc dân sự sẽ góp phần

giúp đương sự bảo vệ tốt hơn quyền và lợi

ích hợp pháp của mình Vì thế, việc tham

gia phiên họp giải quyết việc dân sự của

người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

đương sự là cần thiết

Thông thường, giữa người bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của đương sự và đương

sự trong việc dân sự có thiết lập với nhau

một hợp đồng cung cấp dịch vụ pháp lí,

theo đó người bảo vệ quyền và lợi ích của

đương sự tham gia vào quá trình giải quyết

việc dân sự nói chung và phiên họp giải

quyết việc dân sự nói riêng để bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp cho đương sự mà mình bảo vệ Vì vậy, việc tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự của người bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của đương sự là nghĩa

vụ phát sinh từ hợp đồng đã kí giữa họ và đương sự mà họ bảo vệ Do đó, họ phải có mặt tại phiên họp theo giấy triệu tập của toà

án, khi người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong việc dân sự vắng mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự theo giấy triệu tập hợp lệ lần thứ nhất của toà án mà có lí do chính đáng thì thẩm phán (hoặc tập thể thẩm phán) được phân công giải quyết việc dân sự phải hoãn phiên họp theo quy định tại Điều 311 và Điều 203

BLTTDS, cụ thể: "Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải tham gia phiên họp theo giấy triệu tập của toà án; nếu vắng mặt lần thứ nhất có lí do chính đáng thì phải hoãn phiên họp" Như

vậy, nếu theo quy định này thì toà án chỉ phải hoãn phiên họp khi người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt lần thứ nhất có lí do chính đáng, trường hợp người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt lần thứ nhất mà không có lí do chính đáng thì toà

án vẫn tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự Tuy nhiên, câu tiếp theo của Điều

203 BLTTDS lại tiếp tục quy định: " Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì toà án tiến hành xét xử vụ án; trong trường hợp này, đương sự tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp

Trang 6

pháp của mình" Tức là toà án chỉ có thể

tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự

vắng mặt người bảo vệ quyền và lợi ích hợp

pháp của đương sự khi họ đã được triệu tập

hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt

Chúng ta thấy ngay sự mâu thuẫn giữa câu

trước và câu sau của Điều luật này, câu sau

phủ định hiệu lực của câu trước tương tự

như khoản 3 Điều 313 BLTTDS Tức là tại

phiên họp giải quyết việc dân sự, bất kể

người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

đương sự vắng mặt lần thứ nhất có lí do

chính đáng hay không có lí do chính đáng

thì toà án đều phải hoãn phiên họp giải

quyết việc dân sự

Tuy nhiên, tại mục 2 Phần III Nghị

quyết số 02/2006/NQ-HĐTP đã hướng dẫn

thi hành cụ thể Điều 203 BLTTDS Theo

đó, "Trong trường hợp người bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt

lần thứ nhất tại phiên toà có lí do chính

đáng thì toà án phải hoãn phiên toà Nếu

người này vắng mặt lần thứ nhất mà toà án

có căn cứ xác định được việc vắng mặt là

không có lí do chính đáng thì toà án vẫn

tiến hành xét xử vụ án Toà án phải thông

báo cho đương sự biết để họ tự bảo vệ

quyền và lợi ích hợp pháp của mình" Vì

vậy, chúng tôi kiến nghị toà án cần áp dụng

quy định tại Điều 311, Điều 203 BLTTDS

dẫn chiếu tới Mục 2 Phần III Nghị quyết số

02/2006/NQ-HĐTP để quyết định hoãn

hoặc không hoãn phiên họp giải quyết việc

dân sự khi có sự vắng mặt người bảo vệ

quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tại

phiên họp giải quyết việc dân sự

3 Trường hợp người có liên quan vắng mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự

Người có liên quan trong việc dân sự được xác định là những người có quyền và nghĩa vụ có liên quan trực tiếp đến việc giải quyết việc dân sự tham gia tố tụng theo yêu cầu của người yêu cầu Họ tham gia vào quá trình giải quyết việc dân sự để bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của mình Để người người có liên quan trong việc dân sự có thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình, pháp luật tố tụng dân sự đã quy định

họ có quyền tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự Khoản 4 Điều 313 BLTTDS quy

định: ″Người có liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ được toà án triệu tập tham gia phiên họp Trong trường hợp cần thiết, toà án có thể triệu tập người làm chứng, người giám định, người phiên dịch tham gia phiên họp; nếu có người vắng mặt thì toà án quyết định hoãn phiên họp hoặc vẫn tiến hành phiên họp″

Từ quy định này, chúng ta thấy BLTTDS

đã trao quyền cho toà án hay cụ thể hơn là thẩm phán hoặc tập thể thẩm phán được phân công giải quyết việc dân sự chủ động quyết định hoãn hoặc không hoãn phiên họp giải quyết việc dân sự trong trường hợp vắng mặt người có liên quan, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng việc quy định như khoản 4 Điều 313 BLTTDS là chưa hợp lí Người có liên quan và người làm chứng, người giám định, người phiên dịch có địa vị

tố tụng hoàn toàn khác nhau Người có liên quan là một thành phần của đương sự trong

vụ việc dân sự, họ tham gia vào quá trình

Trang 7

giải quyết việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi

ích hợp pháp của mình Trong khi đó, người

làm chứng, người giám định, người phiên

dịch là những người tham gia vào quá trình

giải quyết việc dân sự nhằm cung cấp thông

tin giúp cho toà án có thể đưa ra quyết định

giải quyết việc dân sự được đúng đắn Do

đó, việc BLTTDS quy định về căn cứ hoãn

phiên họp giải quyết việc dân sự khi người

có liên quan vắng mặt cũng giống như khi

vắng mặt người làm chứng, người giám

định, người phiên dịch là không hợp lí Bởi

lẽ, người có liên quan trong việc dân sự có

địa vị tố tụng như người có đơn yêu cầu giải

quyết việc dân sự mà theo quy định tại

khoản 3 Điều 313 BLTTDS thì chỉ khi

người có đơn yêu cầu đã được triệu tập hợp

lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị

coi là từ bỏ yêu cầu và toà án ra quyết định

đình chỉ giải quyết việc dân sự, còn nếu

người có đơn yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất

dù có lí do chính đáng hay không có lí do

chính đáng thì toà án vẫn phải hoãn phiên

họp Vậy mà theo quy định trên, người có

liên quan vắng mặt tại phiên họp giải quyết

việc dân sự theo giấy triệu tập lần thứ nhất

của toà án thì có thể phiên họp giải quyết

việc dân sự vẫn được tiến hành Vì thế, theo

nguyên tắc "Các đương sự đều bình đẳng về

quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự"

quy định tại Điều 8 BLTTDS, chúng tôi cho

rằng sẽ hợp lí hơn nếu quy định nếu người

có liên quan vắng mặt tại phiên họp giải

quyết việc dân sự lần thứ nhất thì toà án

phải hoãn phiên họp Trường hợp họ đã

được toà án triệu tập tham gia phiên họp

giải quyết việc dân sự hợp lệ đến lần thứ hai

mà vẫn vắng mặt thì toà án vẫn tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự

Từ những phân tích trên, chúng tôi kiến nghị sửa đổi khoản 4 Điều 313 Bộ luật dân

sự như sau:

- Tách đoạn ″Trong trường hợp cần thiết, toà án có thể triệu tập người làm chứng, người giám định, người phiên dịch tham gia phiên họp; nếu có người vắng mặt thì toà án quyết định hoãn phiên họp hoặc vẫn tiến hành phiên họp″ thành một khoản

khác tại Điều này

- Thêm đoạn: ″Nếu người có liên quan trong việc dân sự vắng mặt lần thứ nhất thì toà án phải hoãn phiên họp Trường hợp họ

đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì toà án vẫn tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt họ″ vào sau câu: "Người có liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ được toà án triệu tập

tham gia phiên họp" Khi đó khoản 4 Điều

313 BLTTDS như sau:

″Người có liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ được toà án triệu tập tham gia phiên họp Nếu người có liên quan trong việc dân sự vắng mặt lần thứ nhất thì toà án phải hoãn phiên họp Trường hợp họ đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì toà án vẫn tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt họ″./

(1).Xem: Viện ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt phổ thông, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2002, tr 397 (2).Xem: Học viện tư pháp, Giáo trình luật tố tụng dân

sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007, tr 455 (3).Xem: Tưởng Duy Lượng, Pháp luật tố tụng dân

sự và thực tiễn xét xử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội, 2009, tr 354

Ngày đăng: 29/03/2014, 12:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w