1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Công ước Lahay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế - so sánh với pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi " docx

8 1,2K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 237,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những nguyên tắc đó được đề cập trong phần đầu tiên của Công ước, bao gồm cả các nguyên tắc được công nhận trong các văn kiện pháp lí quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về q

Trang 1

TS NguyÔn Hång B¾c *

au thời gian xem xét, hoàn thiện pháp

luật trong nước cho phù hợp với Công

ước về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh

vực con nuôi quốc tế, ngày 7/12/2010, Việt

Nam đã kí Công ước này Việc Việt Nam kí

gia nhập Công ước này đánh dấu bước tiến

quan trọng trong việc từng bước hội nhập vào

khuôn khổ hợp tác đa phương về tư pháp

quốc tế mà trước hết là việc thực hiện Công

ước về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh

vực con nuôi quốc tế Cùng với việc Luật

nuôi con nuôi có hiệu lực từ ngày 01/01/2011,

việc kí Công ước này chắc chắn tạo ra khuôn

khổ pháp luật đồng bộ, điều chỉnh cả vấn đề

nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có

yếu tố nước ngoài vì lợi ích cao nhất của trẻ

em, trong đó có trẻ em Việt Nam.(1)

Công ước Lahay năm 1993 được thông

qua ngày 29/5/1993, có hiệu lực từ ngày

01/5/1995 Tính đến năm 2010 đã có 81 quốc

gia và vùng lãnh thổ là thành viên của Công

ước Một số nước châu Á như Trung Quốc,

Campuchia, Thái Lan, Philippines, Mông Cổ,

Ấn Độ… đã trở thành thành viên của Công

ước này Công ước gồm lời nói đầu, 7 chương,

48 điều đề cập các vấn đề cơ bản sau: Nguyên

tắc giải quyết nuôi con nuôi; điều kiện nuôi

con nuôi; cơ quan có thẩm quyền giải quyết

việc nuôi con nuôi; công nhận và hệ quả pháp

lí của việc nuôi con nuôi; trình tự, thủ tục giải

quyết nuôi con nuôi

a Nguyên tắc cơ bản giải quyết nuôi con nuôi

Những nguyên tắc cơ bản của Công ước Lahay năm 1993 được coi là những quy định bắt buộc, có giá trị ràng buộc chung đối với tất cả các quốc gia thành viên Những nguyên tắc đó được đề cập trong phần đầu tiên của Công ước, bao gồm cả các nguyên tắc được công nhận trong các văn kiện pháp

lí quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em ngày 20/11/1989 và Tuyên bố của Liên hợp quốc về các nguyên tắc xã hội và pháp lí liên quan đến việc bảo

vệ và phúc lợi trẻ em, Chỉ dẫn đặc biệt về việc bảo trợ, nuôi con nuôi trong nước và

nước ngoài (Nghị quyết của Đại hội đồng số

41/86 ngày 3/12/1986)

Các nguyên tắc cơ bản được Công ước ghi nhận bao gồm:

- Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của trẻ em; mọi chính sách pháp luật đều phải vì lợi ích tốt nhất của trẻ em và thúc đẩy việc thực hiện quyền của trẻ em;

- Tôn trọng quyền ưu tiên đối với trẻ em

là được cha mẹ đẻ chăm sóc;

- Nếu vì lí do nào đó mà trẻ em không được cha mẹ đẻ chăm sóc thì cơ quan, tổ chức

có thẩm quyền có trách nhiệm bảo vệ trẻ em

và xem xét tất cả những giải pháp khác nhau

S

* Giảng viên chính Khoa pháp luật quốc tế Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

để trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng tại

quốc gia mình; nếu các giải pháp này không

thực hiện được thì có thể tìm kiếm giải pháp

thay thế như nuôi con nuôi, giám hộ hoặc

chăm sóc ở trung tâm bảo trợ xã hội;

- Chỉ cho phép những người ngoài gia

đình ruột thịt của trẻ em nhận trẻ em làm con

nuôi, nếu không có khả năng tìm thấy một

nơi ở phù hợp cho trẻ em ngay từ gia đình

gốc của mình;

- Việc nuôi con nuôi phải làm phát sinh

đầy đủ quan hệ cha mẹ và con theo pháp luật;

- Ưu tiên thu xếp cho trẻ em làm con nuôi

trong nước; việc cho trẻ em làm con nuôi ở

nước ngoài chỉ được coi là giải pháp cuối cùng,

sau khi chắc chắn rằng không thể tìm được gia

đình thay thế cho trẻ em ngay tại nước mình;

- Nghiêm cấm mọi việc thu lợi bất minh từ việc

cho trẻ em làm con nuôi; mọi hành vi lạm dụng

và buôn bán trẻ em phải bị xử lí nghiêm minh

Như vậy, Công ước đã đề cập các nguyên

tắc bảo vệ trẻ em, bảo đảm các quyền, lợi ích

tốt nhất cho trẻ So sánh với pháp luật Việt

Nam cho thấy pháp luật Việt Nam cũng có

những nguyên tắc nhìn chung phù hợp với

các nguyên tắc của Công ước Lahay Tại Điều

4 Luật nuôi con nuôi năm 2010, việc nuôi con

nuôi được thực hiện theo nguyên tắc sau:

- Khi giải quyết việc nuôi con nuôi, cần

tôn trọng quyền của trẻ em được sống trong

môi trường gia đình gốc

- Việc nuôi con nuôi phải bảo đảm

quyền, lợi ích hợp pháp của người được

nhận làm con nuôi và người nhận con nuôi,

tự nguyện, bình đẳng, không phân biệt nam

nữ, không trái pháp luật và đạo đức xã hội

- Chỉ cho làm con nuôi người ở nước

ngoài khi không thể tìm được gia đình thay

thế ở trong nước

Đồng thời, để đảm bảo thực hiện việc nuôi con nuôi vì lợi ích tốt nhất của đứa trẻ, pháp luật Việt Nam còn đưa ra nguyên tắc trong việc xác định thứ tự ưu tiên lựa chọn gia đình thay thế cho trẻ Theo Điều 5 Luật nuôi con nuôi, thứ tự ưu tiên lựa chọn gia đình thay thế cho trẻ được thực hiện như sau: a) Cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi; b) Công dân Việt Nam thường trú ở trong nước;

c) Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam; d) Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; đ) Người nước ngoài thường trú ở nước ngoài Trường hợp có nhiều người cùng hàng ưu tiên xin nhận một người làm con nuôi thì xem xét, giải quyết cho người có điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con nuôi tốt nhất

b Điều kiện nuôi con nuôi

Khi xem xét điều kiện nuôi con nuôi cần

xem xét dưới 2 khía cạnh: Điều kiện đối với

người nhận nuôi và điều kiện đối với con nuôi

Thứ nhất, điều kiện đối với người nhận nuôi

Điều 2 Công ước quy định Công ước được áp dụng khi trẻ em và cha mẹ nuôi thường trú tại các quốc gia thành viên khác nhau mà không áp dụng khi trẻ em và cha

mẹ nuôi cùng thường trú tại một quốc gia thành viên, cũng như cha mẹ nuôi thường trú

ở một quốc gia không phải thành viên Công ước và ngược lại Công ước quy định: việc nuôi con nuôi chỉ được chấp nhận đối với người xin nhận con nuôi là một cặp vợ chồng hoặc một người đã hoặc chưa thành hôn; mọi trường hợp nuôi con nuôi phải làm phát sinh quan hệ cha mẹ và con, không phụ thuộc vào việc quan hệ của trẻ em đã cho làm con nuôi với cha mẹ đẻ đã chấm dứt hay chưa

Trang 3

Theo Điều 4 của Công ước, cơ quan có

thẩm quyền để xác nhận điều kiện đối với cha

mẹ nuôi tương lai để được nhận nuôi trẻ em

là cơ quan có thẩm quyền của nước nhận

Nước nhận có trách nhiệm xác nhận cha mẹ

nuôi tương lai có đủ tư cách và thích hợp để

nuôi con nuôi, đảm bảo rằng cha mẹ nuôi tương

lai đã được tham vấn ở mức độ cần thiết và

xác nhận trẻ em được hoặc sẽ được phép

nhập cảnh và thường trú tại quốc gia đó

Phù hợp với quy định của Công ước, pháp

luật Việt Nam quy định: người nhận nuôi có

thể là một người hoặc hai vợ, chồng Nếu là

hai vợ chồng thì phải có hôn nhân hợp pháp

và khác giới tính (Điều 36 Nghị định số

68/2002/NĐ-CP) Ngoài ra, pháp luật Việt

Nam còn quy định điều kiện đối với người

nhận nuôi Theo đó, Người Việt Nam định cư

ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở

nước ngoài nhận người Việt Nam làm con

nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định

của pháp luật nước nơi người đó thường trú

và quy định tại Điều 14 của Luật nuôi con

nuôi năm 2010 Cụ thể: Người nhận con nuôi

phải có đủ các điều kiện sau đây:

- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

- Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;

- Có điều kiện về sức khoẻ, kinh tế, chỗ

ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo

dục con nuôi;

- Có tư cách đạo đức tốt

Công dân Việt Nam nhận người nước

ngoài làm con nuôi phải có đủ các điều kiện

trên và pháp luật của nước nơi người được

nhận làm con nuôi thường trú (Điều 29 Luật

nuôi con nuôi năm 2010)

Như vậy, pháp luật Việt Nam đã kết hợp

giữa nguyên tắc luật nơi thường trú và luật

Việt Nam đề điều chỉnh điều kiện của người

nhận nuôi Theo Điều 28 khoản 1 Luật nuôi con nuôi năm 2010, người nước ngoài phải thường trú ở nước cùng là thành viên của điều ước quốc tế về nuôi con nuôi với Việt Nam mới được nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi

Thứ hai, điều kiện đối với con nuôi

Công ước quy định việc nuôi con nuôi được áp dụng đối với trẻ em dưới 18 tuổi (Điều 3) Theo hướng dẫn của Uỷ ban thường trực Công ước Lahay thì quy định của Công ước chỉ nhằm mục đích xác định phạm vi áp dụng của Công ước, không có ý tạo lập độ tuổi của trẻ em được nhận làm con nuôi Khả năng trẻ em được cho làm con nuôi cũng như các điều kiện cụ thể là do pháp luật của nước gốc quy định Nếu pháp luật nước gốc cho trẻ em làm con nuôi ở độ tuổi thấp hơn,

ví dụ từ 15 tuổi trở xuống thì pháp luật của nước gốc sẽ được áp dụng mà không tính đến Điều 3 của Công ước

Ngoài ra, Điều 3 cũng xác định nếu sự đồng ý của các cơ quan trung ương của các nước liên quan được đưa ra trước khi trẻ em

đã 18 tuổi thì quá trình giải quyết việc nuôi con nuôi đó sẽ được thực hiện theo Công ước (mặc dù đến thời điểm hoàn tất việc nuôi con nuôi, trẻ em có thể trên 18 tuổi) Theo Điều 5 của Công ước thì điều kiện

để trẻ em được cho làm con nuôi do cơ quan

có thẩm quyền của nước gốc quy định và xác nhận Cụ thể, trách nhiệm của nước gốc là đảm bảo trẻ em có đủ điều kiện và thích hợp làm con nuôi nước ngoài, xác nhận việc nuôi con nuôi quốc tế là vì lợi ích tốt nhất của trẻ

em sau khi đã xem xét kĩ lưỡng các khả năng chăm sóc các em tại nước gốc; có sự đồng ý của những cá nhân, tổ chức và các nhà chức trách mà việc nuôi con nuôi cần phải có sự đồng ý của họ sau khi đã được tham khảo ý

Trang 4

kiến ở mức độ cần thiết và được thông báo

kĩ lưỡng về những hệ quả mà sự đồng ý của

họ có thể đem lại (như sự đồng ý của người

mẹ, của trẻ được nhận làm con nuôi…)

So sánh với pháp luật Việt Nam cho thấy

quy định của pháp luật Việt Nam về độ tuổi

của con nuôi thấp hơn so với quy định của

Công ước Điều 8 Luật nuôi con nuôi năm

2010 quy định độ tuổi của người được nhận

làm con nuôi như sau:

- Trẻ em dưới 16 tuổi

- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi

nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Được cha dượng, mẹ kế nhận làm

con nuôi;

+ Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận

làm con nuôi

Tuy nhiên, theo hướng dẫn của Uỷ ban

thường trực Công ước Lahay như đã trình bày

ở trên thì pháp luật của nước gốc (Việt Nam)

sẽ được áp dụng mà không tính đến Điều 3

của Công ước Như vậy, Luật nuôi con nuôi

của nước ta quy định trẻ em từ 16 tuổi trở

xuống được cho làm con nuôi, quy định như

vậy không trái với Công ước Lahay năm 1993

c Hệ quả pháp lí của việc nuôi con nuôi

Về nguyên tắc, việc nhận nuôi con nuôi

giữa công dân của hai nước kí kết được nhà

chức trách có thẩm quyền của nước kí kết

nơi thực hiện chứng nhận là phù hợp với

Công ước thì phải được công nhận có giá trị

pháp lí ở nước kí kết kia (Điều 23) Song quốc

gia hữu quan có quyền từ chối trong trường

hợp việc nuôi con nuôi đó được xác định là

giả dối hoặc thể hiện sự trái ngược với chính

sách công của nước kí kết kia (Điều 24)

Điều 26 Công ước quy định cụ thể hệ

quả của việc nuôi con nuôi, bao gồm việc

công nhận mối quan hệ pháp lí cha mẹ - con

giữa trẻ em và cha mẹ nuôi; trách nhiệm của cha mẹ nuôi đối với trẻ em và công nhận việc cắt đứt hay không mối liên hệ tồn tại trước đó giữa trẻ và cha mẹ đẻ theo pháp luật của nước nơi thực hiện việc nuôi con nuôi Theo Công ước Lahay năm 1993, một trong những hệ quả pháp lí quan trọng nhất của việc nuôi con nuôi (theo hình thức nuôi con nuôi trọn vẹn) là làm chấm dứt quan hệ pháp

lí tồn tại trước đó giữa cha mẹ đẻ và trẻ em (theo điểm c khoản 1 Điều 26 Công ước), nếu việc nuôi con nuôi có hệ quả như vậy tại nước nơi thực hiện việc nuôi con nuôi (nước nhận)

Ở những nước có quy định việc nuôi con nuôi được quốc gia gốc cấp phép có hậu quả làm chấm dứt mối quan hệ pháp lí tồn tại trước đó giữa trẻ em và cha mẹ đẻ thì các em phải có quyền được hưởng tại quốc gia nhận hoặc bất

kì nước kí kết nào những quyền tương tự như những quyền phát sinh do việc nuôi con nuôi

có hậu quả như vậy Mục đích của quy định này là để đảm bảo rằng trẻ em được nhận làm con nuôi phù hợp với quy định của Công ước

sẽ có địa vị pháp lí và được bảo vệ như bất kì trẻ em nào khác trên lãnh thổ của nước nhận Tuy nhiên, việc chấm dứt quan hệ pháp lí giữa cha mẹ đẻ và trẻ em cũng không phải là giải pháp chắc chắn, vì pháp luật của các nước quy định rất khác nhau về vấn đề này

Vì vậy, Điều 27 Công ước cho phép chuyển đổi hình thức nuôi con nuôi (từ đơn giản sang trọn vẹn) nước nhận sẽ áp dụng pháp luật của mình để cho phép chuyển đổi hình thức nuôi con nuôi Việc chuyển đổi này, cũng như hệ quả pháp lí của nó, sẽ được công nhận tại các quốc gia thành viên khác Công ước Lahay năm 1993 cũng không bắt buộc việc nuôi con nuôi làm chấm dứt quan hệ pháp lí giữa cha

mẹ đẻ với trẻ em Việc nuôi con nuôi chỉ làm

Trang 5

chấm dứt quan hệ đó nếu việc nuôi con nuôi

đó có hệ quả như vậy tại nước kí kết nơi thực

hiện việc nuôi con nuôi (nước nhận)

Về hệ quả pháp lí của việc nuôi con

nuôi, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

không quy định là làm chấm dứt hay vẫn tồn

tại quan hệ pháp lí giữa cha mẹ đẻ và trẻ em

đã được cho làm con nuôi Tuy nhiên, theo

quy định của Bộ luật dân sự (Điều 676,

Điều 678) thì sau khi được cho làm con nuôi,

trẻ em vẫn còn giữ mối quan hệ pháp lí với

cha mẹ đẻ, cụ thể là quan hệ về thừa kế Vì

vậy, có thể nói pháp luật dân sự Việt Nam

cho phép tồn tại song song 2 mối quan hệ

pháp lí của trẻ em với cha mẹ nuôi và cha

mẹ đẻ Đến khi Luật nuôi con nuôi được ban

hành năm 2010, phù hợp với quy định của

Công ước, Điều 24 Luật nuôi con nuôi quy

định hệ quả của việc nuôi con nuôi như sau:

- Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa

cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các

quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con

nuôi và các thành viên khác của gia đình cha

mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với

nhau theo quy định của pháp luật về hôn

nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các

quy định khác của pháp luật có liên quan

- Theo yêu cầu của cha mẹ nuôi, cơ quan

nhà nước có thẩm quyền quyết định việc

thay đổi họ, tên của con nuôi

Việc thay đổi họ, tên của con nuôi từ đủ 09

tuổi trở lên phải được sự đồng ý của người đó

- Dân tộc của con nuôi là trẻ em bị bỏ rơi được

xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi

- Trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ và cha

mẹ nuôi có thoả thuận khác, kể từ ngày giao

nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không còn quyền,

nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng,

đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại,

quản lí, định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi

Như vậy, theo quy định trên của Luật nuôi con nuôi năm 2010, trẻ em khi được nhận làm con nuôi chỉ có mối quan hệ giữa đứa trẻ và cha mẹ nuôi cũng như các thành viên khác của cha mẹ nuôi Nó có thể bị thay đổi họ, tên, dân tộc theo yêu cầu của cha mẹ nuôi Cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lí, định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi (trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ

và cha mẹ nuôi có thoả thuận khác) Tức là, trẻ em Việt Nam không còn có quan hệ pháp

lí với cha mẹ đẻ

Quy định trên là cần thiết bởi thực tế khi cho con làm con nuôi ở nước ngoài thì cha

mẹ đẻ ở Việt Nam không thể có cơ hội và điều kiện thực tế để thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lí của mình đối với con Mặt khác, điều đó sẽ bảo đảm cho con nuôi Việt Nam được hưởng đầy đủ các quyền và lợi ích như mọi trẻ em sinh sống tại nước nhận đồng thời cũng tránh được việc cha mẹ đẻ có thể lợi dụng quyền làm cha mẹ để đòi hỏi cha mẹ nuôi hoặc con đã cho làm con nuôi giúp đỡ về vật chất.(2)

Tuy nhiên, về vấn đề quốc tịch của trẻ

em Việt Nam được cho làm con nuôi người nước ngoài, khoản 1 Điều 37 Luật quốc tịch

Việt Nam năm 2008 quy định: "Trẻ em là

công dân Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi thì vẫn giữ quốc tịch Việt Nam" Đồng thời, Luật quốc tịch còn quy

định: "Sự thay đổi quốc tịch của con nuôi từ

đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phải được sự đồng ý bằng văn bản của người đó" (khoản 4

Điều 37) Đây là điểm khác cơ bản giữa Luật

Trang 6

quốc tịch Việt Nam với quy định của Công

ước Lahay năm 1993 về quốc tịch trẻ em khi

làm con nuôi người nước ngoài Như phần

trên đã phân tích, hệ quả pháp lí của nuôi con

nuôi theo Công ước là hình thức con nuôi

trọn vẹn, cắt đứt hoàn toàn quan hệ pháp lí

giữa cha mẹ đẻ và con nuôi Theo pháp luật

Việt Nam, về mặt dân sự, cha mẹ đẻ không

còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng,

cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường

thiệt hại, quản lí, định đoạt tài sản riêng đối

với con đã cho làm con nuôi Nhưng còn về

vấn đề quốc tịch, trẻ em vẫn mang quốc tịch

Việt Nam (quốc tịch của cha mẹ đẻ) đến

năm 18 tuổi Đủ 18 tuổi, con nuôi có quyền

lựa chọn quốc tịch hoặc quốc tịch của cha

mẹ nuôi hoặc quốc tịch quốc gia nào đó

d Cơ quan có thẩm quyền và trình tự,

thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi

* Cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc

nuôi con nuôi

Điều 6 Công ước quy định cả nước nhận

và nước gốc phải chỉ định một cơ quan ở

trung ương có đủ thẩm quyền, làm đầu mối

trong việc bảo đảm thực thi Công ước, tạo

điều kiện trao đổi thông tin với các nước

Việc chỉ định cơ quan trung ương về con

nuôi quốc tế là bắt buộc

Những quốc gia có nhiều bang hoặc

những quốc gia có không chỉ một hệ thống

pháp luật hay các quốc gia có những đơn vị

lãnh thổ tự trị phải được tự do chỉ định nhiều

cơ quan trung ương có thẩm quyền và xác

định rõ phạm vi chức năng theo lãnh thổ cũng

như theo cá nhân của các cơ quan này đồng

thời cũng phải chỉ định một cơ quan trung

ương có thẩm quyền để tiếp nhận bất kì thông

tin nào có thể được gửi đến và chuyển những

thông tin đó cho cơ quan trung ương thích hợp có thẩm quyền của quốc gia đó

Theo Điều 8 và Điều 9 Công ước, cơ quan trung ương về con nuôi quốc tế có nghĩa vụ áp dụng trực tiếp hoặc với sự giúp

đỡ của các cơ quan công quyền, tất cả các biện pháp thích hợp nhằm ngăn ngừa và xử

lí kịp thời việc thu lợi bất hợp pháp từ việc nuôi con nuôi, ngăn chặn tất cả các hành vi trái với mục đích của Công ước; thu thập, lưu giữ và trao đổi thông tin liên quan đến trẻ em và cha mẹ nuôi tương lai nhằm thực hiện việc nuôi con nuôi, tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy thủ tục cho nhận con nuôi; thúc đẩy việc phát triển ở quốc gia mình các dịch vụ tư vấn về nuôi con nuôi và sau khi nhận con nuôi; trao đổi các báo cáo đánh giá kinh nghiệm về lĩnh vực con nuôi có yếu tố nước ngoài Như vậy, về mặt quốc tế, cơ quan trung ương có chức năng hợp tác với

cơ quan trung ương của các nước kí kết khác

và thúc đẩy sự hợp tác giữa những nhà chức trách có thẩm quyền của các quốc gia đó Trong nước, các cơ quan này có trách nhiệm khuyến khích sự hợp tác giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình

Ở Việt Nam, Cục con nuôi thuộc Bộ tư pháp được coi là cơ quan trung ương về nuôi con nuôi Ở một số nước khác là: Cơ quan con nuôi quốc tế thuộc Bộ ngoại giao (Pháp); Vụ gia đình - Bộ gia đình và tiêu dùng (Đan Mạch); Uỷ ban con nuôi quốc tế đặt tại Văn phòng Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (Italia); Uỷ ban quốc gia về nuôi con nuôi quốc tế thuộc Bộ y tế và phúc lợi xã hội (Thụy Điển)… cơ quan trung ương về con nuôi quốc tế của các nước là cơ quan đầu mối trong việc thi hành Công ước

Trang 7

Công ước Lahay cũng quy định các quốc

gia thành viên có thể thành lập hoặc cho

phép tổ chức trong nước hoạt động trong

lĩnh vực nuôi con nuôi (gọi là tổ chức được

uỷ quyền) Tổ chức này có các nghĩa vụ:

hoạt động vì mục đích phi lợi nhuận, không

vụ lợi theo những điều kiện do pháp luật các

nước hữu quan quy định; chịu sự lãnh đạo và

điều hành của những người đủ tiêu chuẩn về

đạo đức, được đào tạo hoặc có kinh nghiệm

để làm việc trong lĩnh vực con nuôi có yếu

tố nước ngoài; chịu sự kiểm tra, giám sát của

cơ quan có thẩm quyền (về cơ cấu, hoạt

động và tình trạng tài chính); chỉ được hoạt

động ở quốc gia thành viên khác nếu được

cơ quan có thẩm quyền của cả hai quốc gia

liên quan cho phép

Hiện nay, có thể coi các tổ chức con nuôi

nước ngoài (được cấp phép hoạt động tại

Việt Nam) là các tổ chức được chỉ định theo

Công ước Lahay Pháp luật Việt Nam hiện

không có quy định cấm nhưng cũng chưa có

quy định cụ thể cho phép thành lập tổ chức

trong nước hoạt động trong lĩnh vực này

* Trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi

con nuôi

Công ước đưa ra quy trình mẫu về thủ

tục giải quyết việc cho và nhận con nuôi

theo chuẩn mực quốc tế, góp phần tăng

cường bảo vệ quyền lợi của trẻ em, của cha

mẹ đẻ và cha mẹ nuôi Các quy định của

Công ước được xây dựng theo hướng đơn

giản hoá các thủ tục hành chính và hạn chế

tối đa các trường hợp trẻ em vô gia cư

Các yêu cầu về thủ tục giải quyết việc

nuôi con nuôi được quy định ở Chương IV

của Công ước liên quan đến trách nhiệm của

cơ quan trung ương và những cơ quan đại

diện của nó Các cơ quan này phải lập báo

cáo bao gồm những thông tin về cả cha mẹ nuôi và con nuôi, về trình tự thủ tục giải quyết, về việc xuất cảnh từ nước gốc và nhập cảnh vào nước nhận, về việc sắp xếp giao nhận con nuôi, trao đổi thông tin trong trường hợp việc nuôi con nuôi diễn ra không đảm bảo vì lợi ích tốt nhất cho trẻ Các quy định của Công ước thể hiện ý tưởng về sự hợp tác giữa nước nhận và nước gốc, sự phối hợp trong việc chăm sóc trẻ em cũng như thực hiện chính sách xuất nhập cảnh

Người thường trú ở quốc gia thành viên này (nước nhận) muốn nhận trẻ em thường trú ở quốc gia thành viên khác (nước gốc) làm con nuôi cần phải liên hệ với cơ quan trung ương của nước nơi họ thường trú Cơ quan trung ương nước nhận có trách nhiệm kiểm tra các điều kiện để được nhận con nuôi, nếu những người xin con nuôi đáp ứng các điều kiện và thích hợp để nuôi con nuôi thì cơ quan này phải làm một báo cáo bao gồm những thông tin về người xin nhận con nuôi

và sự phù hợp để nuôi con nuôi, về khả năng đảm nhận việc nuôi con nuôi quốc tế cũng như các đặc điểm của trẻ em mà họ thấy thích hợp để nhận nuôi Báo cáo đó phải được chuyển cho cơ quan trung ương của nước gốc Sau khi nhận được báo cáo của cơ quan trung ương nước nhận, cơ quan trung ương của nước gốc nếu nhận thấy trẻ em đủ điều kiện cho làm con nuôi thì lập báo cáo bao gồm những thông tin về trẻ em, về khả năng được cho làm con nuôi và về những nhu cầu đặc biệt của các em, xác nhận rằng việc cho trẻ em làm con nuôi là vì lợi ích tốt nhất của trẻ em và chuyển báo cáo này cho cơ quan trung ương của nước nhận cùng bằng chứng

về những sự đồng ý cần thiết đã có được và những lí do xác nhận việc giới thiệu trẻ em

Trang 8

Công ước công nhận quyền quyết định

việc cho trẻ em làm con nuôi của nước gốc

Nếu nước gốc nhận thấy rằng việc nuôi con

nuôi này không phù hợp với quy định của

pháp luật hoặc trái với chính sách công của

quốc gia mình (có xem xét đến lợi ích tốt

nhất của trẻ em) thì có quyền từ chối việc

nuôi con nuôi này Nếu việc đưa trẻ em đi

làm con nuôi không được thực hiện thì các

báo cáo nói trên sẽ phải được gửi trả cho các

cơ quan đã gửi những báo cáo đó

Trong quá trình giải quyết việc nuôi con

nuôi, cơ quan trung ương của cả hai nước có

trách nhiệm áp dụng tất cả các biện pháp cần

thiết để trẻ em được phép xuất cảnh nước

gốc, nhập cảnh và thường trú tại nước nhận

Các cơ quan này phải thông báo cho nhau về

quá trình cho nhận con nuôi và các biện

pháp cần áp dụng để hoàn tất quá trình đó,

cũng như về sự tiến triển của việc thu xếp

việc cho nhận con nuôi nếu một giai đoạn

thử thách là cần phải có

Điều 21 Công ước quy định trong trường

hợp việc nuôi con nuôi được thực hiện sau

khi trẻ em được đưa đến nước nhận và nếu cơ

quan trung ương của nước này cho rằng việc

để cho cha mẹ nuôi tương lai tiếp tục chăm

sóc các em không vì lợi ích tốt nhất của các

em thì cơ quan này phải áp dụng các biện

pháp cần thiết để bảo vệ các em, có tính đến

tuổi và mức độ trưởng thành của trẻ em và trẻ

em phải được tham khảo ý kiến, trường hợp

cần thiết thì phải có sự đồng ý của trẻ em.(3)

Ngoài cơ quan trung ương, Công ước

còn quy định các cơ quan công quyền hoặc

các tổ chức, cá nhân được uỷ nhiệm có thể

thực hiện những chức năng của cơ quan

trung ương có thẩm quyền trong quá trình

giải quyết việc nuôi con nuôi (Điều 22)

nhưng phải tuân thủ các điều kiện nhất định theo quy định của Công ước

Đối chiếu những quy định trên của Công ước với quy định của pháp luật Việt Nam cho thấy về cơ bản, các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi theo các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam không trái với các quy định của Công ước Lahay năm

1993 Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam chưa có đầy đủ các quy định cần thiết bảo đảm đúng yêu cầu về trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi theo chuẩn mực Công ước như: Chưa

có quy định đảm bảo đầy đủ quyền quyết định của Cục con nuôi với tư cách là cơ quan trung ương về nuôi con nuôi quốc tế

Tóm lại, Công ước Lahay năm 1993 đã

tạo dựng khuôn khổ pháp lí bao quát và hữu hiệu, mở ra khả năng hiệu chỉnh vấn đề nuôi con nuôi quốc tế không chỉ ở giai đoạn đầu của việc cho - nhận mà còn cả việc đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em trong quá trình được nhận nuôi Việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Công ước Lahay năm 1993 không còn bao xa Việc nghiên cứu nội dung cơ bản của Công ước Lahay năm 1993, từ đó so sánh với quy định của pháp luật Việt Nam để tìm ra điểm tương đồng và sự khác biệt của pháp luật Việt Nam so với Công ước là hết sức cần thiết./

(1).Xem: Nguyễn Khánh Ngọc, Việt Nam k í gia nhập

công ước về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi quốc tế, Cổng thông tin điện tử Bộ tư pháp,

ngày 10/12/2010

(2).Xem: Tờ trình của Chính phủ số 98/TTr-CP ngày 27/5/2009 trình (bổ sung) về việc kí Công ước Lahay ngày 29/5/1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế

(3).Xem: Nguyễn Thanh Hiếu, "Công ước Lahay năm

1993 và sự gia nhập của Việt Nam", Khoá luận tốt nghiệp, Hà Nội, 2009

Ngày đăng: 29/03/2014, 12:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w