1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Một số bất cập trong pháp luật điều chỉnh hành vi hạn chế cạnh tranh của Việt Nam " pot

7 917 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số bất cập trong pháp luật điều chỉnh hành vi hạn chế cạnh tranh của Việt Nam
Tác giả TS. Nguyễn Thị Vân Anh
Người hướng dẫn Giảng Viên Chính Khoa Pháp Luật Kinh Tế
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Pháp luật kinh tế
Thể loại Bài viết
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 285,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ năm, LCT quy định các trường hợp miễn trừ và thủ tục hưởng miễn trừ đối với một số thoả thuận hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh tế bị cấm nếu đáp ứng một trong các điều kiện quy

Trang 1

TS NguyÔn ThÞ V©n Anh * ành vi hạn chế cạnh tranh luôn hướng

đến việc hình thành sức mạnh thị

trường hoặc lợi dụng sức mạnh thị trường

để làm cho tình trạng cạnh tranh trên thị

trường bị biến dạng Điều này có thể dẫn đến

làm thay đổi cấu trúc thị trường, thay đổi

tương quan cạnh tranh giữa các doanh nghiệp

trên thị trường Hành vi hạn chế cạnh tranh

gây tác động tiêu cực đến môi trường cạnh

tranh và cần phải kiểm soát nó bằng luật và

chính sách cạnh tranh của nhà nước

Pháp luật cạnh tranh của Việt Nam đã có

nhiều quy định điều chỉnh hành vi hạn chế

cạnh tranh Tuy nhiên, sau hơn 5 năm thực

thi, Luật cạnh tranh năm 2004 (LCT) đã bộc

lộ một số hạn chế trong các quy định về hạn

chế cạnh tranh, gây khó khăn cho các chủ

thể thực thi Luật Bởi vậy, bài viết này tập

trung trình bày, bình luận một số bất cập

trong các quy định pháp luật hiện hành về

hành vi hạn chế cạnh tranh và bước đầu đưa

ra kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp

luật về vấn đề này

1 Nội dung chủ yếu của pháp luật

Việt Nam hiện hành điều chỉnh hành vi

hạn chế cạnh tranh

Hiện nay, ở Việt Nam, việc kiểm soát

hành vi hạn chế cạnh tranh được quy định

chủ yếu trong ba văn bản pháp luật: LCT

được Quốc hội thông qua ngày 3/12/2004,

có hiệu lực thi hành từ 1/7/2005; Nghị định của Chính phủ số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của LCT (Nghị định số 116/2005/NĐ-CP); Nghị định của Chính phủ số 120/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005 về xử lí vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh (Nghị định số 120/2005/NĐ-CP)

Các văn bản pháp luật nêu trên đã quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh ở những nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, LCT đã xác định thế nào là

hành vi hạn chế cạnh tranh và các loại hành

vi hạn chế cạnh tranh Theo đó, hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường và bao gồm 4 hành vi: Thoả thuận hạn chế cạnh tranh; Lạm dụng vị trí thống lĩnh; lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế

Thứ hai, đối với thoả thuận hạn chế cạnh

tranh, LCT và Nghị định số 116/2006/NĐ-CP

đã quy định có 8 loại thoả thuận hạn chế cạnh tranh đồng thời đưa ra các dấu hiệu đặc trưng của từng loại thoả thuận hạn chế cạnh tranh cũng như hậu quả pháp lí áp dụng đối với các chủ thể thực hiện các thoả thuận hạn chế cạnh tranh Theo đó, một số thoả thuận

H

* Giảng viên chính Khoa pháp luật kinh tế

Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

hạn chế cạnh tranh mặc nhiên bị cấm, một số

thoả thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm trong

điều kiện nhất định và có một số thoả thuận

hạn chế cạnh tranh không bị cấm thực hiện

Thứ ba, đối với hành vi lạm dụng vị trí

thống lĩnh, lạm dụng vị trí độc quyền, LCT

đưa ra dấu hiệu để xác định vị trí thống lĩnh

của doanh nghiệp, của nhóm doanh nghiệp;

vị trí độc quyền của doanh nghiệp đồng thời

đã quy định rõ các hành vi lạm dụng vị trí

thống lĩnh, vị trí độc quyền bị cấm

Thứ tư, đối với hành vi tập trung kinh tế,

LCT đã quy định các hình thức tập trung

kinh tế, các dấu hiệu của từng hình thức tập

trung kinh tế và hậu quả pháp lí áp dụng đối

với các doanh nghiệp thực hiện tập trung

kinh tế Theo đó, một số trường hợp tập

trung kinh tế bị cấm; một số trường hợp tập

trung kinh tế phải thông báo với cơ quan

quản lí cạnh tranh và một số trường hợp tập

trung kinh tế được thực hiện tự do

Thứ năm, LCT quy định các trường hợp

miễn trừ và thủ tục hưởng miễn trừ đối với

một số thoả thuận hạn chế cạnh tranh và tập

trung kinh tế bị cấm nếu đáp ứng một trong

các điều kiện quy định của LCT nhằm hạ giá

thành, có lợi cho người tiêu dùng

Thứ sáu, LCT và Nghị định số

120/2005/NĐ-CP quy định trình tự thủ tục xử

lí các vụ việc hạn chế cạnh tranh và xử lí vi

phạm pháp luật về hành vi hạn chế cạnh tranh

Như vậy có thể thấy, nhìn chung pháp

luật Việt Nam đã quy định tương đối đầy đủ

các nội dung cần điều chỉnh đối với hành vi

hạn chế cạnh tranh theo hướng dẫn của Luật

mẫu về cạnh tranh của Tổ chức thương mại

và phát triển Liên hợp quốc (UNCTAD)

cũng như tương đồng với pháp luật cạnh tranh của nhiều nước trên thế giới Thông qua các quy định của pháp luật điều chỉnh hành vi hạn chế cạnh tranh, nhà nước kiểm soát được các hành vi làm giảm sức ép, gây cản trở đến cạnh tranh trên thị trường đặc biệt trong bối cảnh mở cửa thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế Đồng thời, pháp luật về hạn chế cạnh tranh xác lập cơ sở pháp lí để duy trì môi trường kinh doanh bình đẳng từ

đó bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp và người tiêu dùng

Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, sau hơn 5 năm thực thi, pháp luật hiện hành về hành vi hạn chế cạnh tranh đã bộc lộ một số bất cập sau:

2 Bất cập trong các quy định áp dụng chung cho các hành vi hạn chế cạnh tranh

Thứ nhất, pháp luật hiện hành đã bỏ sót

một số chủ thể không bị xử lí vi phạm pháp

luật cạnh tranh về hành vi hạn chế cạnh tranh

Khoản 2 Điều 2 LCT quy định: Hiệp hội ngành nghề là đối tượng áp dụng của LCT Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 120/2005/NĐ-CP

về xử lí vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh cũng xác định hiệp hội ngành nghề hoạt động tại Việt Nam là đối tượng

bị xử lí nếu vi phạm pháp luật cạnh tranh Trong thực tế kinh doanh tại Việt Nam, để giúp các thành viên của hiệp hội phối hợp hoạt động tốt hơn, hiệp hội ngành nghề đã đưa ra khuyến cáo, hướng dẫn đối với các doanh nghiệp thành viên và trong một số trường hợp đã dẫn đến hình thành các thoả thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thành viên của hiệp hội Các thoả thuận này có thể là các thoả thuận hạn chế

Trang 3

cạnh tranh bị cấm theo quy định của LCT

Khuyến nghị của Hiệp hội bảo hiểm Việt

Nam đưa ra vào tháng 8 năm 2009 cho các

doanh nghiệp thành viên về việc đồng

thuận tăng phí bảo hiểm vật chất xe cơ giới

là ví dụ điển hình về vấn đề này.(1) Tuy

nhiên, LCT và Nghị định 120/2005/NĐ-CP

đã không quy định cụ thể hành vi nào của

hiệp hội sẽ bị kiểm soát cũng như không có

chế tài áp dụng đối với các hành vi của hiệp

hội gây cản trở cạnh tranh trên thị trường

LCT chỉ có một điều cấm hiệp hội không

được phân biệt đối xử và hành vi này thuộc

hành vi cạnh tranh không lành mạnh chứ

không thuộc hành vi hạn chế cạnh tranh

(Điều 47 LCT) Do đó, cơ quan cạnh tranh

không có cơ sở pháp lí để áp dụng chế tài

đối với hiệp hội khi hiệp hội là chủ thể quan

trọng dẫn đến hình thành các hành vi hạn

chế cạnh tranh Đây là điểm thiếu sót cần

bổ sung trong LCT

Pháp luật cạnh tranh của một số nước đã

quy định rõ các hoạt động bị cấm của hiệp

hội cũng như các biện pháp xử lí đối với

hành vi vi phạm của hiệp hội Ví dụ, Điều 26

Luật thương mại lành mạnh của Hàn Quốc

quy định hiệp hội không được tham gia vào

các hành vi: Hạn chế cạnh tranh một cách

đáng kể bằng cách tham gia vào các hành vi

thông đồng bị cấm; Khiến cho hoặc xúi giục

các doanh nghiệp tiến hành các hành vi kinh

doanh không lành mạnh… Khi hiệp hội

tham gia vào các hoạt động bị cấm của hiệp

hội thì có thể bị phạt tiền không quá 500

triệu won (Điều 28).(2)

Thứ hai, hình thức xử phạt đối với chủ

thể thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh

chưa phù hợp, còn quá nặng về hình thức phạt tiền mà coi nhẹ hình thức phạt cảnh cáo mang tính giáo dục đối với chủ thể vi phạm

có nhiều tình tiết giảm nhẹ

Theo khoản 1 Điều 117 LCT, tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về cạnh tranh phải chịu 1 trong 2 hình thức xử phạt chính là cảnh cáo và phạt tiền Căn cứ vào Điều 119 LCT

và các quy định về thẩm quyền xử lí vụ việc cạnh tranh cho thấy Hội đồng xử lí vụ việc cạnh tranh, Hội đồng cạnh tranh có quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền và một số hình thức

xử lí khác đối với doanh nghiệp thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh Tuy nhiên, việc phạt cảnh cáo và phạt tiền trong trường hợp nào thì phải được pháp luật quy định cụ thể Nghị định số 120/2005/NĐ-CP chỉ quy định về các trường hợp áp dụng hình thức phạt tiền và mức tiền phạt mà không có điều nào cụ thể hoá việc áp dụng phạt cảnh cáo đối với hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh Theo Nghị định này, phạt cảnh cáo chỉ áp dụng đối với một số hành vi như: vi phạm quy định về cung cấp thông tin, vi phạm quy định liên quan đến quá trình điều tra và xử lí vụ việc cạnh tranh (quy định tại Điều 39, Điều 40 Nghị định số 120/2005/NĐ-CP)

Như vậy, Nghị định số 120/2005/NĐ-CP không quy định các trường hợp áp dụng hình thức cảnh cáo đối với doanh nghiệp thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh là đã tước đi quyền được ra quyết định cảnh cáo của cơ quan cạnh tranh được quy định trong LCT Mặt khác, quy định như vậy là đã quá chú trọng đến việc phạt tiền làm giảm doanh thu

và lợi nhuận của doanh nghiệp mà chưa tạo

Trang 4

điều kiện giúp doanh nghiệp thoát khỏi khó

khăn về tài chính khi thực hiện hành vi hạn

chế cạnh tranh nhưng có nhiều tình tiết giảm

nhẹ, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp

mới thành lập vi phạm quy định của Luật do

chưa tìm hiểu kĩ các quy định của LCT (vì

sự tồn tại của Luật này tương đối mới trong

hệ thống pháp luật ở Việt Nam)

Từ những lí do nêu trên, theo tôi nên quy

định áp dụng xử phạt cảnh cáo đối với các

chủ thể thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh

khi có một trong các điều kiện sau: 1) Có

nhiều tình tiêt giảm nhẹ,(3) 2) Thuộc trường

hợp được hưởng miễn trừ nhưng doanh nghiệp

chưa thực hiện thủ tục hưởng miễn trừ(4)

Thứ ba, mức phạt tiền đối với chủ thể

thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm

chưa được quy định cụ thể, rõ ràng

Khoản 1 Điều 118 LCT quy định: Hành

vi vi phạm quy định về thoả thuận hạn chế

cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí

độc quyền hoặc tập trung kinh tế có thể bị

phạt tiền tối đa đến 10% tổng doanh thu của

tổ chức, cá nhân vi phạm trong năm tài chính

trước năm thực hiện hành vi vi phạm Nghị

định số 120/2005/NĐ-CP đã đưa ra khung

phạt xử lí đối với từng hành vi hạn chế cạnh

tranh Ví dụ, đối với hành vi thoả thuận ấn

định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp

hoặc gián tiếp sẽ phạt tiền đến 5% hoặc từ

5% đến 10% tổng doanh thu trong năm tài

chính trước năm thực hiện hành vi vi phạm

của từng doanh nghiệp là các bên tham gia

thoả thuận có thị phần kết hợp trên thị

trường liên quan từ 30% trở lên đối với một

trong các hành vi quy định tại Điều 10 Nghị

định số 120/2005/NĐ-CP

Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành, mức phạt tiền đối với chủ thể thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh là chưa

rõ ràng, chưa đưa ra các tiêu chí cụ thể để xác định mức phạt trong khi khung phạt quá rộng dẫn đến tuỳ tiện trong việc quyết định mức phạt đối với từng vụ việc cụ thể

Mặt khác, việc phạt tiền đối với mỗi doanh nghiệp có hành vi hạn chế cạnh tranh tính trên tỉ lệ phần trăm doanh thu trong năm tài chính trước năm thực hiện hành vi vi phạm dẫn đến mức phạt sẽ là không đồng nếu doanh nghiệp không có doanh thu Điều này làm cho mục đích của việc áp dụng chế tài phạt tiền để ngăn ngừa, răn đe chủ thể có hành vi vi phạm không đạt được Bởi vậy, ngoài việc quy định mức phạt tiền tối đa tính theo tỉ lệ phần trăm trên doanh thu của doanh nghiệp vi phạm LCT thì cần quy định mức phạt tiền tối thiểu (tính theo giá trị nhất định) đối với các doanh nghiệp tham gia thoả thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm hoặc doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền mà trong năm tài chính trước năm thực hiện hành vi vi phạm chưa có doanh thu Vấn đề này, Luật thương mại lành mạnh của Hàn Quốc đã quy định: Trong trường hợp doanh nghiệp tham gia vào thoả thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm sẽ bị phạt tiền 5% mức doanh thu quy định trong nghị định của Tổng thống, trong trường hợp doanh thu không tồn tại có thể bị phạt không quá 500 triệu won (Điều 28)(5) hoặc nếu doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường

có hành vi lạm dụng vị trí của mình thì có thể bị phạt tiền không quá 3% doanh thu,

Trang 5

trong trường hợp không có doanh thu hoặc

có khó khăn trong việc tính toán doanh thu

của doanh nghiệp thì có thể bị phạt tiền

không quá 1 tỉ won (Điều 6).(6)

3 Bất cập trong các quy định điều

chỉnh hành vi thoả thuận hạn chế cạnh

tranh và tập trung kinh tế

Thứ nhất, quy định tại Điều 8 của LCT

đã tỏ ra cứng nhắc trong việc giới hạn các

loại thoả thuận hạn chế cạnh tranh

Theo lí thuyết về cạnh tranh, thoả thuận

hạn chế cạnh tranh được chia làm 2 loại:

Thoả thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều

ngang (thoả thuận giữa các doanh nghiệp ở

cùng một khâu, một giai đoạn của chu trình

kinh doanh và tính được thị phần kết hợp của

các bên tham gia thoả thuận trên thị trường

liên quan) và thoả thuận hạn chế cạnh tranh

theo chiều dọc (thoả thuận giữa các doanh

nghiệp ở các khâu, các giai đoạn khác nhau

của chu trình kinh doanh và mỗi bên hoạt

động trên thị trường liên quan khác nhau)

Vì vậy, để đảm bảo sự linh hoạt trong việc

xác định thoả thuận hạn chế cạnh tranh sẽ bị

xem xét theo quy định của LCT, pháp luật

cạnh tranh của nhiều nước trên thế giới như

Pháp, Đức, Thụy Sĩ, Nhật Bản, Hàn Quốc…

không liệt kê các loại thoả thuận hạn chế

cạnh tranh mà thường chỉ đưa ra các tiêu chí

để xác định các thoả thuận giữa các đối thủ

cạnh tranh dẫn tới hạn chế cạnh tranh và bao

gồm cả các thoả thuận hạn chế cạnh tranh

theo chiều ngang và các thoả thuận hạn chế

cạnh tranh theo chiều dọc

Khác với pháp luật của nhiều nước, Điều

8 LCT Việt Nam đã giới hạn các loại thoả

thuận hạn chế cạnh tranh thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật và chỉ bao gồm 8 loại thoả thuận: Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ; thoả thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất mua bán hàng hoá, dịch vụ ; thoả thuận hạn chế phát triển

kĩ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; thoả thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện kí kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng Trong 8 loại thoả thuận hạn chế cạnh tranh đó thì có 5 loại thoả thuận: thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ; thoả thuận hạn chế hoặc kiểm soát

số lượng, khối lượng sản xuất mua bán hàng hoá, dịch vụ; thoả thuận hạn chế phát triển

kĩ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; thoả thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện kí kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng thuộc các thoả thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều ngang

vì bị cấm khi thị phần kết hợp trên thị trường liên quan của các bên tham gia thoả thuận từ 30% trở lên Ba loại thoả thuận: Thoả thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh; thoả thuận loại bỏ

Trang 6

khỏi thị trường những doanh nghiệp không

phải là các bên của thoả thuận; Thông đồng

để một hoặc các bên của thoả thuận thắng

thầu trong việc cung cấp hàng hoá, cung

ứng dịch vụ thuộc loại các thoả thuận hạn

chế cạnh tranh theo chiều dọc vì bị cấm

tuyệt đối không phụ thuộc vào thị phần của

các bên tham gia thoả thuận

Bởi vậy, một số thoả thuận theo chiều

dọc như: Thoả thuận duy trì giá bán lại; thoả

thuận hạn chế liên quan tới việc bán cho

người tiêu dùng cuối cùng; thoả thuận phân

chia khu vực địa lí của nhà phân phối hay

của đại lí sẽ không được LCT điều chỉnh

Theo tôi Điều 8 LCT nên đưa ra tiêu chí

chung để xác định thế nào là thoả thuận hạn

chế cạnh tranh và từ đó có thể bổ sung thêm

một số loại thoả thuận hạn chế cạnh tranh

theo chiều dọc sẽ bị Luật điều chỉnh

Thứ hai, LCT thiếu quy định miễn trách

nhiệm cho các doanh nghiệp tham gia vào

các thoả thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm

nhưng tự nguyện khai báo với cơ quan quản

lí cạnh tranh

Các doanh nghiệp tham gia thoả thuận

hạn chế cạnh tranh bị cấm sẽ gây hậu quả

làm giảm sức ép cạnh tranh trên thị trường

làm cho giá hàng hoá tiêu dùng tăng cao nên

sẽ bị xử lí nghiêm khắc, bị phạt tiền tính trên

doanh thu nên thường sẽ bị phạt tiền rất

nhiều Bởi vậy, các bên tham gia thoả thuận

thường tìm cách che giấu sự tồn tại của thoả

thuận để không bị phát hiện Ở nhiều nước

có những thoả thuận hạn chế cạnh tranh tồn

tại đến 10 năm mới bị phát hiện gây tổn hại

nghiêm trọng đến cấu trúc thị trường.(7) Vì

vậy, để khuyến khích các chủ thể tham gia thoả thuận hạn chế cạnh tranh tự nguyện khai báo với cơ quan quản lí cạnh tranh và được hưởng chế độ khoan hồng như miễn nộp tiền phạt hoặc được giảm tiền phạt, pháp luật một số nước như Đức, Nhật, Hàn Quốc, Thụy Sĩ đã quy định chương trình khoan hồng cho chủ thể tham gia thoả thuận hạn chế cạnh tranh (cartel) khi họ tự nguyện khai

chương trình khoan hồng Theo tôi, pháp luật cạnh tranh nên bổ sung quy định về điều khoản khoan hồng để khuyến khích các doanh nghiệp tham gia thoả thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm tự nguyện khai báo với cơ quan quản lí cạnh tranh để được miễn hoặc giảm tiền phạt đồng thời tránh việc cơ quan quản lí cạnh tranh phải tốn nhiều công sức điều tra để phát hiện sự tồn tại của các thoả thuận hạn chế cạnh tranh

Thứ ba, các hình thức tập trung kinh tế bị

kiểm soát và tiêu chí để kiểm soát các hành

vi tập trung kinh tế chưa được quy định đầy

đủ, hợp lí

Điều 18 LCT quy định: Các hình thức tập trung kinh tế sẽ bị cấm nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan (trừ các trường hợp được miễn trừ theo quy định tại Điều 19 LCT) Theo quy định này, LCT lấy tiêu chí thị phần kết hợp của các bên tham gia tập trung kinh tế để đặt ra ngưỡng kiểm soát tập trung kinh tế, tức là LCT chỉ quan tâm đến các trường hợp tập trung kinh tế theo chiều ngang (là hình thức tập trung kinh tế giữa các doanh

Trang 7

nghiệp trong cùng một thị trường liên quan)

mà chưa quan tâm kiểm soát các hoạt động

tập trung kinh tế theo chiều dọc (là hình

thức tập trung kinh tế giữa các doanh

nghiệp có quan hệ người mua và người bán

với nhau) và tập trung kinh tế hỗn hợp (là

hình thức tập trung kinh tế giữa các doanh

nghiệp không cùng hoạt động trên cùng một

thị trường sản phẩm đồng thời cũng không

có mối quan hệ khách hàng với nhau) Tuy

nhiên, các hiện tượng tập trung kinh tế theo

chiều dọc và tập trung kinh tế hỗn hợp đã

và sẽ diễn ra trong hoạt động kinh doanh và

cũng có khả năng gây hại không nhỏ cho

môi trường cạnh tranh nên LCT cần phải có

cơ chế thích hợp để kiểm soát.(9)

Theo Điều 18 và Điều 20 của LCT, tiêu

chí thị phần kết hợp trên thị trường liên

quan của các bên tham gia tập trung kinh tế

là tiêu chí duy nhất và là ngưỡng được đặt

ra để kiểm soát tập trung kinh tế theo chiều

ngang Theo đó, các hình thức tập trung

kinh tế sẽ bị cấm nếu thị phần kết hợp của

các bên tham gia tập trung kinh tế chiếm

trên 50% trên thị trường liên quan; các

doanh nghiệp tập trung kinh tế có thị phần

kết hợp từ 30% đến 50% trên thị trường liên

quan thì đại diện hợp pháp của các doanh

nghiệp đó phải thông báo cho cơ quan quản

lí cạnh tranh trước khi tiến hành tập trung

kinh tế; trường hợp thị phần kết hợp của các

doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế

thấp hơn 30% trên thị trường liên quan hoặc

sau khi tập trung kinh tế vẫn thuộc loại

doanh nghiệp vừa và nhỏ thì không phải

thông báo Tuy nhiên, pháp luật cạnh tranh

hiện hành chưa hướng dẫn cụ thể về cách xác định thị trường liên quan trong các trường hợp sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp, mua lại doanh nghiệp, liên doanh giữa các doanh nghiệp nên rất khó xác định trường hợp nào thì tập trung kinh tế sẽ bị cấm, trường hợp nào thì phải thông báo vì doanh nghiệp thường hoạt động kinh doanh nhiều loại hàng hoá, dịch vụ

khác nhau Ví dụ, doanh nghiệp A sản xuất

nhiều loại hàng hoá gồm: thuốc đánh răng (cũng có một số loại với giá cả khác nhau); nước hoa (cũng có nhiều loại nước hoa khác nhau); thực phẩm dinh dưỡng cho trẻ em, muốn sáp nhập với doanh nghiệp B cũng sản xuất 3 loại hàng hoá giống doanh nghiệp A

(Xem tiếp trang 29)

(1).Xem: Tuýt còi 19 công ti bảo hiểm "bắt tay" nâng mức phí, nguồn: http://atpvietnam.com/vn/thongtin nganh/60343/index

(2).Xem: Bộ thương mại, Tài liệu tham k hảo Luật về

cạnh tranh và chống độc quyền của một số nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, tr 55

(3).Xem quy định tại khoản 1 Điều 85 Nghị định của Chính phủ số 116/2005/NĐ-CP

(4).Xem quy định tại mục 4 Chương 2 LCT

(5).Xem: Bộ thương mại, Tlđd, tr 55

(6).Xem: Bộ thương mại, Tlđd, tr 35

(7).Xem: Bốn giám đốc điều hành các công ti hàng đầu châu Âu về Vitamin đồng ý nhận tội tham gia

v à o t h oả t huậ n h ạ n c hế c ạn h t ra n h v it a min q u ố c

tế, nguồn: http:www.quakwatch.com/OZ Consumer Protection/rochefine.html

(8).Xem: Điều 22-2 Luật thương mại lành mạnh và những quy định về độc quyền của Hàn Quốc, Luật sửa đổi Luật chống độc quyền của Nhật Bản năm

2005, Luật cạnh tranh của Thụy Sĩ

(9).Xem: Bộ công thương, Báo cáo tập trung k inh tế

tại Việt Nam năm 2009 – Hiện trạng và dự báo, tr 80

Ngày đăng: 29/03/2014, 12:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm