Công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Để có thể tạo ra được những tài sản vật chất cụ thể cho nền kinh tếquốc gia, nhất thiết phải cần tới việc sử dụng vốn đầu tư thông qua hoạt độngđầu tư Vốn đó có thể xuất phát từ nội lực nền kinh tế trong nước, cũng cóthể thu hút từ nước ngoài và đi vào phục vụ nền kinh tế chủ yếu thông quacác dự án đầu tư
Một dự án đầu tư có thể được xác định theo nhiều cách Các dự án cóthể do các Bộ, Ngành hữu quan đề xuất, chúng có thể bắt nguồn từ quá trìnhxây dựng các kế hoạch kinh tế quốc gia, hoặc cũng có thể được đề xướng bởicác động lực chính trị Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nhà nước, tư nhân vànước ngoài khi đầu tư cũng đòi hỏi chính phủ phải trợ giúp hoặc phê chuẩntrước khi thực hiện
Trong bất kể một dự án đầu tư nào, bao giờ cũng có sự mâu thuẫntiềm ẩn về lợi ích giữa những người đề xuất dự án hay chương trình vàtoàn xã hội Sự mâu thuẫn này không phải là một chuyện gì mới lạ: lợiích của các dự án thường được tập trung cho một bộ phận tương đối hạnhẹp (thường là các chủ đầu tư) trong khi những chi phí về môi trường,chi phí cơ hội cho nguồn lực thì lại phân bổ cho toàn bộ xã hội Do vậy
mà không một cá nhân nào thấy mình phải chịu gánh nặng chi phí mà các
dự án đem lại Kết quả có thể đoán trước được là những người đượchưởng lợi từ dự án có xu hướng tận dụng triệt để các ưu đãi về nguồn lực
và cố gắng giảm tối thiểu các chi phí bằng cách chuyển các gánh nặngchi phí Trong khi đó nhóm người có khả năng bị thiệt hại (là nhữngngười phải gánh chịu chi phí ) lại quá phân tán và những mất mát củatừng cá nhân trong số họ lại quá nhỏ, bởi vậy họ không thể trở thành một
Trang 2đối trọng hiệu quả chống lại nhóm hưởng lợi có tính tập trung cao Theocách này, cán cân chính trị thường nghiêng về phía chấp thuận các dự án,ngay cả các dự án có thể gây thiệt hại cho sự phát triển chung của cảquốc gia Để ngăn chặn điều này xảy ra cần phải có sự can thiệp củachính phủ thông qua các quy định về đầu tư, ban hành các tiêu chuẩnđịnh mức, và chỉ cấp phép cho các dự án đầu tư đủ tiêu chuẩn Muốn làmđược như vậy cần thông qua công tác thẩm định, giám sát đầu tư để làmcăn cứ quyết định.
Trên thực tế, công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài cònkhá sơ sài, các khía cạnh nghiên cứu, đánh giá phần lớn chỉ mang tính phântích định tính, thiếu tính định lượng nên mang tính phiến diện trong đánh giá.Thêm vào đó, cơ sở lý luận về vấn đề này lại rất thiếu thốn bởi những vấn đề
lý luận chỉ dừng lại ở việc đưa ra các khái niệm, vấn đề liên quan đến tínhhiệu quả xã hội của dự án chứ chưa phân tích sâu hơn trong khía cạnh thẩmđịnh…Điều này đặt ra một vấn đề bức thiết đó là phải nâng cao chất lượngcông tác thẩm định các dự án đầu tư Cũng bởi vậy mà tôi đã chọn đề tài:
“Công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” để nghiên cứu và làm chuyên đề thực tập tốt
- Đánh giá thực trạng công tác thẩm định trong thời gian qua, các mặtđược cũng như hạn chế, làm cơ sở đề ra các giải pháp hoàn thiện hơn nữacông tác thẩm định dư án
Trang 33 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quản lý nhà nước với công tácThẩm định dự án đầu tư nước ngoài Tức là đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu côngtác thẩm định tính kinh tế đối với các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
Phạm vi về không gian nghiên cứu của đề tài là các dự án đầu tư nướcngoài đầu tư tại Việt Nam, với phạm vi thời gian từ năm 1988 ( năm bắt đầuthực hiện luật đầu tư nước ngoài) đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài chủ yếu sừ dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương phápphân tích định tính (gồm các chỉ tiêu định tính, thể hiện các chủng loại hiệuquả đạt được: hiệu quả kinh tế, hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả xã hội, hiệu quảquốc gia và cộng đồng); phương pháp phân tích định lượng (gồm các chỉ tiêuđịnh lượng, thể hiện quan hệ giữa chi phí và kết quả đạt được của dự án) vàphương pháp phân tích dòng tiền, phân tích chi phí – lợi ích
5 Kết cấu đề tài
Từ vai trò của các dự án đầu tư, từ đó là vai trò của công tác thẩmđịnh, giám sát đầu tư đối với nền kinh tế Việt Nam, cùng với yêu cầu cấpthiết đặt ra cho hoàn thiện hệ thống thẩm định trong tình hình hiện nay, tôi
chọn đề tài “Công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
Trang 4Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” để nghiên cứu làm chuyên đề thực
tập tốt nghiệp Tôi mong muốn đề tài có thể đóng góp một chút công sức vàoviệc nghiên cứu, hệ thống vấn đề, đề xuất các giải pháp và cải thiện đượccông tác thẩm định dự án về dự án đầu tư ở Việt Nam
Ngoài Lời mở đầu và Kết luận, kết cấu của đề tài bao gồm ba chương: Chương 1: Lý luận chung về công tác thẩm định dự án đầu tư
trực tiếp nước ngoài.
Chuơng 2 : Thực trạng công tác thẩm định các dự án đầu tư FDI vào Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư nước ngoài.
Trang 5Chương I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
I Dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài.
1 Khái niệm và đặc điểm dự án đầu tư
1.1 Khái niệm dự án đầu tư :
Từ khi thuật ngữ dự án ra đời, người ta thường dùng nó để chỉ những hoạt động, những quá trình rất khác nhau trong từng lĩnh vực cụ thể Chúng
ta đã được biết đến các dự án như dự án “đường dây cao thế 500kw xuyên Bắc Nam”, dự án “Xây dựng đường cao tốc Thăng Long-Nội Bài”, dự án đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, dự án cải cách hệ thống hành chính, dự
án cải tạo và nâng cấp môi trường đô thị, dự án tăng cường tiềm lực và phát triển công nghệ quốc phòng tới năm 2010…Các dự án được tiến hành trong các lĩnh vực rất khác nhau, với các nội dung và các hoạt động cụ thể cũng rấtkhác nhau, nhưng chúng đều được gọi là dự án Mỗi một dự án đều được xácđịnh rõ thời gian bắt đầu và kết thúc, cũng như thoả mãn các yêu cầu cụ thể của nền kinh tế hoặc của một tổ chức nhất định
Từ trước tới nay có rất nhiều các nhà khoa học kinh tế cũng như các nhà quản lý đã đưa ra khái niệm rất khác nhau về dự án Mỗi một quan niệm nhấn mạnh về một số các khía cạnh của một dự án cùng các đặc điểm quan trọng của nó trong từng hoàn cảnh cụ thể
Nếu xét về hình thức, dự án là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống một dự kiến đầu tư trong tương lai
Nếu xét về góc độ nội dung, dự án được hiểu là một ý đồ tiến hành mộtcông việc cụ thể nào đó nhằm đạt mục tiêu xác định trong khuôn khổ nguồn
Trang 6lực nhất định và khoảng thời gian nhất định.
Nếu xét ở góc độ kế hoạch, dự án được hiểu là một chi tiết đầu tư về pháttriển, là đơn vị kế hoạch độc lập nhỏ nhất trong hệ thống kế hoạch hoá, làm
cơ sở cho việc ra quyết định về đầu tư phát triển
Nếu từ giác độ quan sát các hoạt động cần thiết cho một dự án thì dự ánđược hiểu là hàng loạt các hoạt động cần thiết nhằm xác định mục tiêu, tiếnhành các nghiên cứu khả thi, dự đoán chi phí, hoàn thiện các thủ tục và thiết
kế cuối cùng, cũng như việc lắp đặt và hoàn thiện các điều kiện làm việc.Một dự án nhất định sẽ bị giới hạn về thời gian, con người cùng các nguồnlực khác để hoàn thành mục tiêu đã được xác định
Như vậy, một dự án có thể được xem xét như là một chuỗi các công việc
và các nhiệm vụ:
Có mục tiêu cụ thể được hoàn thành trong những điều kiện nhất địnhĐược xác định rõ thời gian bắt đầu và kết thúc
Có giới hạn nhất định về tài chính
Sử dụng các nguồn lực nhất định về phương tiện, thiết bị, con người…
Từ các định nghĩa khái quát về dự án như trên, đến nay dự án đã được dùng rất rộng rãi và phổ biến cho tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Vỡimỗi lĩnh vực, dự án sẽ được cụ thể hoá một cách chi tiết hơn cho phù hợp với đặc điểm riêng có của lĩnh vực đó Tuy nhiên, những tính chất chung vốn
có của dự án thì vẫn tồn tại và được thể hiện rõ nét ở tất cả các lĩnh vực
1.2 Dự án đầu tư có các đặc điểm sau:
Dự án có tính thống nhất: dự án là một thực thể độc lập trong một môi trường xác định với các giới hạn nhất định về quyền hạn và trách nhiệm
Trang 7 Dự án có tính xác định: dự án được xác định rõ ràng về các mục tiêu phải đạt được, thời hạn bắt đầu và thời hạn kết thúc cũng như nguồn lực cần có với một số lượng, cơ cấu, chất lượng và thời điểm giao nhận.
Dự án có tính logic: Tính logic của dự án được thể hiện ở mối quan hệbiện chứng giữa các bộ phận cấu thành dự án Một dự án thường có 4
bộ phận sau:
Mục tiêu của dự án: một dự án thường có hai cấp mục tiêu: mục tiêu phát
triển và mục tiêu trực tiếp
- Mục tiêu phát triển: là mục tiêu mà dự án góp phần thực hiện Mục tiêu phát triển được xác định trong kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của vùng
- Mục tiêu trực tiếp: là mục tiêu cụ thể mà dự án phải đạt được trong khuôn khổ nguồn lực nhất định và trong khoảng thời gian nhất định
Kết quả của dự án: là những đầu ra cụ thể của dự án được tạo ra từ các
hoạt động của dự án Kết quả là điều kiện cần thiết để đạt được mục tiêu trựctiếp của dự án
Các hoạt động của dự án: là các đầu vào về vật chất, tài chính, sức lao
động cần thiết để tiến hành các hoạt động của dự án
Nguồn lực cho dự án: là các đầu vào về vật chất, tài chín, sức lao động
cần thiết để tiến hành các hoạt động của dự án Nguồn lực là tiền đề tạo nên các hoạt động của dự án
Bốn bộ phận trên của dự án có quan hệ logic chặt chẽ với nhau:
Nguồn lực của dự án được sử dụng để tạo ra các hoạt động của dự án Các
Trang 8hoạt động tạo nên các kết quả (đầu ra) Các kết quả là điều kiện cần thiết để đạt được mục tiêu trực tiếp của dự án Đạt được mục tiêu trực tiếp là tiền đề
để góp phần đạt được mục tiêu phát triển
2 Dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
2.1 Khái niệm dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI = Foreign Direct Investment) là
hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khácbằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh Cá nhân hay công ty nướcngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này
Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF, FDI được định nghĩa là “một khoản đầu
tư với những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chứ trong một nền kinh thế (nhàđầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nềnkinh tế khác Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởngtrong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó
Các nhà kinh tế quốc tế định nghĩa : “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là
người sở hữu tại nước này mua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế của nướckhác Đó là một khoản tiền mà nhà đầu tư trả cho một thực thể kinh tế củanước ngoài để có ảnh hưởng quyết định đổi với thực thể kinh tế ấy hoặc tăngthêm quyền kiểm soát trong thực thể kinh tế ấy”
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đưa ra khái niệm: “Đầu tư trực
tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốnbằng tiền nước ngoái hoặc bất kì tài sản nào được chính phủ Việt Nam chấpthuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệpliên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luậtnày”
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra khái niệm: “ một
Trang 9doanh nghiệp đầu tư trực tiếp là một doanh nghiệp có tư cách pháp nhânhoặc không có tư cách pháp nhân trong đó nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất10% cổ phiếu thường hoặc có quyền biểu quyết Điểm mấu chốt của đầu tưtrực tiếp là chủ định thực hiện quyền kiểm soát công ty” Tuy nhiên khôngphải tất cả các quốc gia nào cũng đều sử dụng mức 10% làm mốc xác địnhFDI Trong thực tế có những trường hợp tỷ lệ sở hữu tài sản trong doanhnghiệp của chủ đầu tư nhỏ hơn 10% nhưng họ vẫn được quyền điều hànhquản lý doanh nghiệp, trong khi nhiều lúc lớn hơn nhưng vẫn chỉ là ngườiđầu tư gián tiếp.
Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trựctiếp nước ngoài như sau: “đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại một quốc gia
là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nàovào quốc gia đó để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soátmột thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiên tối đa hoá lợi ích củamình”
Tài sản trong khái niệm này, theo thông lệ quốc tế, có thể là tài sảnhữu hình (máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, bát động sản, các loại hợpđòng và giáy phép có giá trị …), tài sản vô hình (quyền sở hữu tí tuệ, bíquyết và kinh nghiệm quản lý…) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu,trái phiếu, giấy ghi nợ…) Như vậy FDI bao giờ cũng là một dạng quan hệkinh tế có nhân tố nước ngoài Hai đặc điểm cơ bản của FDI là: có sự dịchchuyển tư bản trong phạm vi quốc tế và chủ đầu tư (pháp nhân, thể nhân)trực tiếp tham gia vào hoạt động sử dụng vốn và quản lí đối tượng đầu tư
2.2 Vai trò của các dự án FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng có vai trò to lớn đối với việcthúc đẩy quá trình phát triển kinh tế ở các nước đầu tư và các nước nhận đầu
tư Cụ thể là:
Trang 10- Giúp đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế thông qua việc tạo ra nhữngdoanh nghiệp mới, thu hút thêm lao động, giải quyết một phần nạn thấtnghiệp Theo thống kê của Liên hợp quốc, số người thất nghiệp và bán thấtnghiệp của các nước đang phát triển chiếm khoảng 35- 38% tổng số laođộng
- Giúp các nước đang phát triển khắc phục tình trạng thiếu vốn kéodài Nhờ vậy, mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển to lớn với nguồn tài chínhkhan hiếm được giải quyết, đặc biệt là thời kỳ đầu của quá trình công nghiệphoá - thời kỳ mà thông thường đòi hỏi đầu tư một tỷ lệ vốn lớn hơn các giaiđoạn về sau và càng lớn hơn nhiều lần khả năng tự cung ứng từ bên trong.FDI là phương thức đầu tư phù hợp với các nước đang phát triển, tránh tìnhtrạng tích luỹ quá căng thẳng dẫn đến những méo mó về kinh tế không đángxảy ra
- Sự xuất hiện của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tạonên sự cạnh tranh mạnh mẽ, làm cho không khí hoạt động của các doanhnghiệp trong nước ''nóng lên'', buộc họ phải hoàn thiện và nâng cao sức cạnhtranh để tồn tại và phát triển
- Theo sau FDI là máy móc, thiết bị và công nghệ mới giúp các nướcđang phát triển tiếp cận với khoa học kỹ thuật mới Quá trình đưa công nghệvào sản xuất giúp tiết kiệm chi phí và nâng cao khả năng cạnh tranh của cácnước đang phát triển trên thị trường quốc tế
- Cùng với FDI, những kiến thức quản lý kinh tế xã hội hiện đại được
du nhập vào các nước đang phát triển, các tổ chức sản xuất trong nước bắtkịp phương thức quản lý công nghiệp hiện đại, lực lượng lao động quen dầnvới phong cách làm việc công nghiệp cũng như hình thành dần đội ngũnhững nhà doanh nghiệp giỏi
- FDI giúp các nước đang phát triển mở cửa thị trường hàng hoá nước
Trang 11ngoài và đi kèm với nó là những hoạt động marketing được mở rộng khôngngừng Do các công ty tư bản độc quyền quốc gia đầu tư trực tiếp vào cácnước đang phát triển mà các nước này có thể bước vào thị trường xa lạ, thậmchí có thể xem như “ lãnh địa cấm kỵ ” đối với họ trước kia
- FDI giúp tăng thu ngân sách nhà nước thông qua thu thuế các công
ty nước ngoài Từ đó các nước đang phát triển có nhiều khả năng hơn trongviệc huy động nguồn tài chính cho các dự án phát triển
II Công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài.
1 Tổng quan về thẩm định dự án đầu tư
1.1 Khái niệm:
Thẩm định kinh tế dự án đầu tư (sau đây gọi tắt là thẩm định dự án) làviệc tổ chức xem xét một cách khách quan, có khoa học và toàn diện các nộidung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp tới tính khả thi của một dự án xét trên khíacạnh kinh tế - xã hội, tức là xem xét dự án dưới góc độ chi phí – lợi ích màtoàn xã hội thu được khi thực hiện dự án Thẩm định dự án tạo ra cơ sở vữngchắc cho hoạt động đầu tư có hiệu quả về mặt xã hội Các kết luận rút ra từquá trình thẩm định sẽ là cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước
ra quyết định đầu tư và cho phép đầu tư
1.2 Tính thiết yếu phải thẩm định dự án đầu tư:
Thẩm định dự án đầu tư là cần thiết, nó bắt nguồn từ vai trò quản lý vĩ
mô của nhà nước đối với các hoạt động đầu tư Nhà nước với chức năngquản lý của mình sẽ can thiệp vào quá trình lựa chọn các dự án được đầu tư.Bởi một dự án đầu tư dù được tiến hành soạn thảo kỹ lưỡng đến đâu cũngvẫn mang tính chủ quan của người soạn thảo, để đảm bảo tính khách quancần thiết phải thẩm định khía cạnh kinh tế của dự án
Thẩm định kinh tế dự án là cần thiết, có tính quyết định trong việc trảlời dự án có được chấp nhận và cấp phép đầu tư hay không Nó là một bộ
Trang 12phận của công tác quản lý Nhà nước nhằm đảm bảo cho hoạt động đầu tưthực sự có hiệu quả
Đánh giá tính hiệu quả của dự án: hiệu quả của dự án được xem xéttrên hai phương diện đó là hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế - xã hội của
dự án
1.4 Ý nghĩa của việc thẩm định dự án đầu tư
Thẩm định dự án có ý nghĩa rất lớn, giúp bảo vệ các dự án lớn tốt khỏi
bị bác bỏ, ngăn chặn những dự án phi hiệu quả, góp phần đảm bảo cho việc
sử dụng có hiệu quả các nguồn lực Cụ thể là, thẩm định dự án giúp cho các
cơ quan quản lý vĩ mô của nhà nước đánh giá được tính phù hợp của dự ánvới quy hoạch phát triển chung của ngành, vùng, lãnh thổ và của cả nướctrên các mặt, mục tiêu, quy mô, quy hoạch Xác định được hiệu quả của việc
sử dụng các nguồn lực xã hội của dự án; những cái lợi, cái hại của dự án trêncác mặt khi đi vào hoạt động, từ đó có biện pháp khai thác các khía cạnh cólợi và hạn chế các mặt có hại…
2 Quy trình thẩm định các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
Khâu có ý nghĩa quan trọng trong quá trình thẩm định dự án là thựchiện các công việc thẩm định Thực hiện tốt khâu này sẽ đảm bảo đượcnhững yêu cầu đặt ra trong công tác thẩm định Để thực hiện tốt khâu nàycần phải có một quy trình thẩm định hợp lý, khoa học
Vì nhiệm vụ tổng quát của công tác thẩm định dự án là: Phân tích,
Trang 13đánh giá tính khả thi của dự án về công nghệ, kinh tế, xã hội, môi trường và
đề xuất kiến nghị với nhà nước chấp nhận hay không chấp nhận dự án nên về
cơ bản, quy trình thẩm định phải bao gồm các bước sau:
Cán bộ thẩm định phải xem xét tính hợp lệ của hồ sơ, tính phápnhân của chủ đầu tư, đánh giá tính phù hợp của lĩnh vực đầu tư đối với sự tácđộng đến phát triển kinh tế- xã hội
Cán bộ thẩm định phải xác minh tính hợp lý, chính xác của cácthông tin do chủ đầu tư đưa ra Từ đó làm cơ sở cho việc thẩm định có hiệuquả dự án đàu tư
Thành lập các tổ, nhóm chuyên gia, hoặc hội đồng thẩm định (vớicác dự án lớn) nhằm xem xét đóng góp của dự án đến việc thực hiện các mụctiêu tăng trưởng, phát triển; đánh giá hiệu quả kinh tế- xã hội mà dự án đemlại, đồng thời đánh giá tính hợp lý của dự án theo các quy chuẩn, chỉ tiêu vềcông nghệ kĩ thuật, môi trường
Cơ quan thẩm định tổng hợp, đánh giá ý kiến thẩm tra, trình báocáo, kiến nghị cho các cơ quan quản lý, đồng thời đề nghị cơ quan quản lýcấp hoặc không cấp giấy phép đầu tư cho dự án
3 Cơ sở phân tích và nội dung thẩm định các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài.
3.1 Cơ sở phân tích:
Trong phạm vi giới hạn, đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu thẩm định dự án
dưới giác độ nhà quản lý, tức là thẩm định kinh tế đối với dự án đầu tư
Thẩm định khía cạnh kinh tế nhằm đánh giá dự án từ quan điểm củatoàn bộ nền kinh tế để xác định xem việc thực hiện dự án có cải thiện đượcphúc lợi kinh tế quốc gia hay không
Sự khác biệt chủ yếu giữa phân tích kinh tế và phân tích tài chính là ở
Trang 14chỗ: Phân tích kinh tế gộp chung lợi ích và chi phí trên tất cả dân cư quốc gia
để xác định xem dự án có cải thiện được mức phúc lợi kinh tế quốc gia như
là một tổng thể hay không, trong khi phân tích tài chính xem xét dự án từquan điểm phúc lợi của một nhóm nhỏ dân cư Chính vì điểm khác nhau cănbản của phân tích kinh tế so với phân tích tài chính nêu trên, nên đối tượng
quan tâm tới phân tích kinh tế thường là: Chính phủ, chính quyền địa
phương nơi đặt dự án, các cơ quan quản lý nhà nước; đôi khi các tổ chức tín
dụng và chủ đầu tư cũng quan tâm tới kết quả phân tích kinh tế của dự án
Một số nội dung chính, các qui ước, nguyên tắc cần quan tâm trongphân tích kinh tế là:
Qui ước về giá kinh tế: Mọi lượng nhập, xuất đều được tính toánbằng giá kinh tế Giá kinh tế được xác định trên cơ sở giá tài chính, thôngqua hệ số điều chỉnh để xét đến những biến dạng của thị trường do sự canthiệp của chính sách: Thuế, mậu dịch, giá trần, giá sàn, quota, trợ giá, trợcấp;…
Ngoại ứng: Trong phân tích kinh tế, cần bổ sung thêm ngoại ứng vềlợi ích hoặc chi phí mà dự án tạo ra cho con người, môi trường xung quanhvùng dự án Theo quan điểm toàn quốc gia, các hoạt động phải hy sinh đểthực hiện dự án phải được xem và tính như là một khoản chi phí
Nguyên tắc tính toán: Thay vì dựa hoàn toàn vào các nguyên lý kếtoán để phân tích lợi ích - chi phí như trong phân tích tài chính, phân tíchkinh tế còn đòi hỏi sử dụng kỹ thuật tính toán kinh tế (chủ yếu là kiến thức
cơ bản về kinh tế vĩ mô), phương pháp phân tích dòng tiền, chiết khấu để bổsung vào khung kế toán Thay vào đó, các hạng mục đầu tư sau khi đượcđiều chỉnh sang giá bóng ( thay cho giá thị trường)
Những vấn đề căn bản được nêu ra trong thẩm định kinh tế của một dự
Trang 15án đầu tư có thể được trình bày như sau:
Mức độ khác biệt như thế nào giữa các giá trị kinh tế và giá trị tàichính của các biến số
Nguyên nhân của những khác biệt này
Giá trị của các khác biệt này với mức độ chắc chắn như thế nào
Nhằm đảm bảo tính khả thi của dự án về mặt kinh tế, cần phải tínhđến các loại tác động ngoại ứng nào
Chính những nội dung, phương pháp và nguyên tắc phân tích nêu trên,dẫn tới hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế của dự án về cơ bản là khôngnhư nhau, thậm chí đôi khi còn trái chiều nhau
3.2 Nội dung thẩm định kinh tế dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Vì thẩm định dự án là việc cơ quan thẩm định kiểm tra mức độ phùhợp của thiết kế dự án với các mục tiêu kinh tế - xã hội nên về cơ bản, ngườilàm công tác thẩm định sẽ phải rà soát lại tất cả các khía cạnh mà chủ đầu tư
đã đề cập trong thiết kế dự án Tuy nhiên, với tư cách là người đề xuất quyếtđịnh có cấp giấy phép đầu tư cho các dự án hay không, cơ quan thẩm định sẽphải đánh giá giá trị thực sự mà dự án mang lại cho xã hội, chứ không phảitrên quan điểm chủ đầu tư Điều này nghĩa là, cơ quan thẩm định sẽ phảiđánh giá giá trị thực sự mà dự án đem lại cho xã hội, xét xem nó có tuân thủtheo các yêu cầu về kĩ thuật, thể chế, tổ chức như quy định hay không, hoạtđộng của dự án có làm nguy hại tới lợi ích xã hội, môi trường hay không vànếu có thì biện pháp khắc phục là gì, lợi ích mà dự án tạo ra được phân phốinhư thế nào giữa các dối tượng thụ hưởng…Do vậy, công tác thẩm định dự
án sẽ bao gồm một số nội dung cơ bản:
Trang 163.2.1 Thẩm định khía cạnh thể chế, tổ chức, quản lý của dự án
a Mục tiêu thẩm định:
Thẩm định từ khía cạnh thể chế, tổ chức, quản lý của dự án nhằm ràsoát lại một cách chính thức tính hợp lệ của hồ sơ thiết kế dự án, cũng nhưcác vấn đề chung nhất về tổ chức và quản lý của dự án Căn cứ pháp lý của
dự án là điều kiện tiên quyết để xem xét dự án có được chấp nhận haykhông Dự án sẽ chỉ tiếp tục được xem xét nếu thoả mãn các yêu cầu pháp lý,các thủ tục quy định cần thiết
b Qui trình thẩm tra:
Bước 1: Kiểm tra hồ sơ trình duyệt:
Đây là bước đầu tiên, cần phải kiểm tra xem hồ sơ trình duyệt đã đủchưa, các hồ sơ chứng nhận có phù hợp hay không
Nhìn chung, bộ hồ sơ xin cấp giấy phếp đầu tư bao gồm:
Đơn xin cấp giấy phép đầu tư
Hợp đồng liên doanh (nếu có)
Giấy phép thành lập doanh nghiệp
Giấy phép kinh doanh
Điều lệ doanh nghiệp
Văn bản xác nhận tư cách pháp lý, tình hình tài chính của cácchủ đầu tư
Giải trình kinh tế - kỹ thuật
Các hồ sơ về công nghệ: hồ sơ xin thuê đất, báo cáo đánh giátác động môi trường, chứng chỉ quy hoạch và thiết kế sơ bộcủa dự án
Bước 2: Đánh giá tư cách pháp nhân của chủ đầu tư:
Việc thẩm định này là khó khăn và phức tạp nhất và cán bộ thẩm địnhcần phải có các thông tin sau:
Trang 17- Công ty đầu tư là độc lập hay là đại diên cho 1 công ty khác, là công
ty tài chính hay đầu tư
- Mục tiêu, thế mạnh của họ là gì? Mục đích đầu tư có phù hợp mụcđích kinh doanh và khả năng hay không?
Tư cách pháp nhân thể hiện ở giấy phép đăng kí do cơ quan có thẩmquyền cấp và ngoài ra còn được xem xét trong tính phù hợp với chươngtrình, kế hoạch phát triển kinh tế chung của cả vùng, cả nước
3.2.2 Thẩm định hiệu quả kinh tế-xã hội của dự án:
Đây là nội dung quan trọng nhất trong thẩm định dự án đầu tư
a Mục tiêu:
Đứng trên giác độ chủ đầu tư, mục đích quy tụ luôn là lợi nhuận Khảnăng sinh lợi của dự án chính là thước đo chủ yếu quyết định sự chấp nhậnmọi việc làm mạo hiểm của nhà đầu tư Khả năng sinh lợi càng cao thì cànghấp dẫn các nhà đầu tư
Tuy nhiên, không phải mọi dự án có khả năng sinh lợi cao đều tạo ranhững ảnh hưởng tốt đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội mà đôi khi
nó cũng tạo ra những trở ngại cho quá trình phát triển Do đó, trên giác độquản lý vĩ mô cơ quan thẩm định phải xem xét, đánh giá việc thực hiện dự ánđầu tư có những tác động gì đối với việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh
tế, xã hội; có nghĩa là phải xem xét những lợi ích kinh tế - xã hội do thựchiện dự án đem lại Điều này giữ vai trò quyết định để các cấp có thẩmquyền chấp nhận cho phép đầu tư
Lợi ích kinh tế - xã hội của dự án đầu tư là chênh lệch giữa các lợi ích
mà nền kinh tế và xã hội thu được so với các đóng góp mà nền kinh tế và xãhội phải bỏ ra khi thực hiện dự án
b Các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội:
Đối với mọi quốc gia, mục tiêu chủ yếu của nền sản xuất xã hội là tối
Trang 18đa hoá phúc lợi xã hội Mục tiêu này thường thể hiện trong các chủ trươngchính sách và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước Với cácnước đang phát triển, lợi ích kinh tế - xã hội thường được đề cập đó là :
Nâng cao mức sống dân cư: thể hiện gián tiếp qua các số liệu cụthể về mức gia tăng sản phẩm quốc dân, mức gia tăng tích luỹ vốn, mức giatăng vốn đầu tư, tốc độ phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế…
Phân phối lại thu nhập: thể hiện qua sự đóng góp của dự án vàoviệc phát triển các vùng kinh tế kém phát triển, nâng cao đời sống của tầnglớp dân cư nghèo
Gia tăng số lao động có việc làm Đây là một trong những mụctiêu chủ yếu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các nước thừa laođộng, thiếu việc làm
Tăng thu và tiết kiệm ngoại tệ Những nước đang phát triểnkhông chỉ nghèo mà còn là các nước nhập siêu Do đó, đẩy mạnh xuất khẩu,hạn chế nhập khẩu là những mục tiêu quan trọng trong kế hoạch phát triểnkinh tế quốc dân
Các mục tiêu khác:
Mức độ khai thác và tận dụng tài nguyên
Nâng cao năng suất lao động, nâng cao trình độ, tay nghề lao động,tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật để hoàn thiện cơ cấu sản xuất của nền kinh tế
Phát triển các ngành công nghiệp chủ đạo có tác dụng gây phản ứngdây chuyền thúc đẩy phát triển các ngành nghề khác
Phát triển các địa phương nghèo, các vùng xa xôi dân cư thưa thớtnhưng có nhiều triển vọng về tài nguyên, có vị trí chiến lược quan trọng
c Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội do thực hiện dự
án đầu tư :
Đối với các cấp quản lý về vĩ mô của nhà nước, khi xem xét lợi ích
Trang 19kinh tế - xã hội của dự án phải tính đến mọi chi phí, lợi ích; cả trực tiếp vàgián tiếp có liên quan đến việc thực hiện dự án đem lại Để xác định các chiphí, lợi ích đầy đủ của các dự án đầu tư, cần phải sử dụng các báo cáo tàichính, thêm bớt các hạng mục chi phí và lợi ích kinh tế, tính lại các giá đầuvào và đầu ra theo giá xã hội ( giá bóng) Không thể sử dụng giá thị trường
để tính thu chi và lợi ích kinh tế - xã hội vì giá thị trường không phản ánhđúng chi phí xã hội thực tế, nó chịu sự chi phối của các chính sách tài chính,kinh tế, hành chính của nhà nước, các ảnh hưởng ngoại ứng và thất bại củathị trường Khi tính toán hiệu quả kinh tế - xã hội của những dự án có tầm cỡlớn phải điều chỉnh lại các giá này theo giá xã hội, cần phải lưu ý đến cácyếu tố bên ngoài có ảnh hưởng đến dự án và ngược lại
Các nguyên tắc cần quán triệt trong điều chỉnh là :
Đối với đầu ra:
Để xuất khẩu dùng giá FOB để điều chỉnh Đây là giá xã hộithực tế sử dụng trong nước
Để tiêu thụ nội địa thay thế nhập khẩu dùng giá CIF để điềuchỉnh Đây là giá xã hội thực tế sử dụng trong nước
Để tiêu thụ nội địa:
Nếu là hàng thiết yếu thì dùng giá thị trường trong nước điều chỉnh.Giá này bằng giá thị trường trong nước cộng với trợ giá (nếu có)
Nếu là hàng thông thường thì dùng giá thị trường trong nước điềuchỉnh Giá này bằng giá thị trường trong nước cộng với thuế gián thu (nếucó)
Đối với dịch vụ hạ tầng tiêu thụ nội địa (nếu không thể xuất khẩu nhưđiện, nước, khí đốt, vận tải…) thì dùng giá thị trường trong nước điều chỉnhhoặc chi phí sản xuất tuỳ thuộc loại nào cao hơn
Trang 20Đối với đầu vào:
Nhập khẩu (vật tư, thiết bị) dùng giá CIF để điều chỉnh Giá nàybằng giá CIF cộng với cước phí vận tải, phí bảo hiểm… trong nước Đây làgiá xã hội thực tế thanh toán ở trong nước
Sản xuất nội địa:
Loại đầu vào sản xuất nội địa có thể xuất khẩu dùng giá thị trườngtrong nước điều chỉnh hoặc giá FOB điều chỉnh tuỳ thuộc giá nào cao hơn
Loại đầu vào sản xuất nội địa có thể nhập khẩu dùng giá thị trườngtrong nước điều chỉnh hoặc giá CIF điều chỉnh tuỳ thuộc giá nào thấp hơn
Các loại đầu vào khác dùng giá thị trường trong nước điều chỉnh (giáthị trường cộng với trợ giá)
Dich vụ hạ tầng tạo ra trong nước nếu không thể xuất hoặc nhập khẩu
được dùng giá thị trường trong nước điều chỉnh hoặc chi phí sản xuất tuỳthuộc mức nào cao hơn
Đất đai: dùng giá thị trường trong nước điều chỉnh đối với đất để xây
dựng nhà máy
Lao động: gồm tiền lương, tiền thưởng và phụ cấp…
Để điều chỉnh giá FOB và CIF về tiền nội địa cần sử dụng tỷ giá hối
đoái có điều chỉnh Tỷ giá hối đoái có điều chỉnh là thước đo giá trị xã hội
thực tế của ngoại tệ khi tỷ giá chính thức bị sai lệch không phản ánh đúnggiá trị thực tế của ngoại tệ
d Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế:
Giá trị hiện tại ròng kinh tế (ENPV – Economic Net Present Value)
Giá trị hiện tại ròng kinh tế là tổng lãi ròng kinh tế của cả đời dự án
được qui đổi về năm đầu tiên theo tỷ lệ chiết khấu kinh tế cho trước Chỉ tiêu
này được tính như sau:
Trang 21t (1 r )t
ECt EBt
ENPV
e
Trong đó: EBt là lợi ích kinh tế của dự án năm t
ECt là chi phí kinh tế của dự án năm t
n : Thời đoạn phân tích dự án
re – Tỷ lệ triết khấu kinh tế
Chỉ tiêu này nói lên lãi ròng kinh tế của dự án, phản ánh đóng góp của
dự án vào phúc lợi xã hội nói chung
Đánh giá chỉ tiêu ENPV:
Nếu dự án có ENPV > 0 thì dự án được chấp nhận
Nếu có nhiều phương án loại bỏ lẫn nhau, phương án nào có ENPVlớn hơn thì được đánh giá cao hơn
Tỷ số Lợi ích/ Chi phí kinh tế (EBCR):
Tỷ số lợi ích/ Chi phí kinh tế (EBCR – Economic Benefit Cost Rate)
là tỷ lệ giữa giá trị hiện tại của lợi ích kinh tế thu được với giá trị hiện tại của chi phí kinh tế bỏ ra theo tỷ lệ chiết khấu kinh tế nhất định.
Chỉ tiêu này được tính như sau:
t t
n 0
= t
t t
r1EC
r1
EBEBCR
e e
Đánh giá chỉ tiêu EBCR:
Nếu dự án có EBCR 1 thì dự án có hiệu quả về mặt kinh tế
Tỷ suất nội hoàn kinh tế ( Economic Internal Rate of Return- EIRR)
Tỷ suất nội hoàn kinh tế là tỷ lệ chiết khấu kinh tế làm giá trị hiện
tại ròng kinh tế của dự án bằng 0 Chỉ tiêu này được tính như sau:
Trang 22IRR) (1
ECt EBt
Tiêu chuẩn đánh giá: Bản chất của EIRR thể hiện mức sinh lời mà dự
án đem lại cho toàn xã hội, bởi vậy nhà quản lý luôn luôn mong muốn dự án
có EIRR càng cao càng tốt Có một mốc chuẩn để nhà quản lý quyết định cónên cấp phép thực hiện dự án hay không, đó là so sánh EIRR của dự án vớisuất sinh lợi tối thiểu chấp nhận được IRR r e là điều kiện để kết luận dự ánđáng giá
Việc làm do dự án tạo ra: số lao động có việc làm nếu dự án đượctriển khai
Đóng góp của dự án cho ngân sách nhà nước: được thể hiện ở sốtiền thuế mà ngân sách thu trực tiếp từ dự án và thể hiện ở số tiền thuế thuthêm được từ các dự án khác nhờ có sự tác động của dự án đang xét
Đóng góp của dự án vào việc cải thiện cán cân thanh toán:
Đóng góp của dự án vào cải thiện cán cân thanh toán thể hiện qua chỉtiêu thu nhập ngoại hối thuần do dự án tạo ra
Thu nhập ngoại hối thuần bao gồm 2 bộ phận:
Số thu nhập ngoại hối tăng thêm do dự án tạo ra
Thu nhập ngoại hối do sản xuất những hàng hoá thay thế nhập khẩu
3.2.3 Phân tích độ nhạy và rủi do dự án về khía cạnh kinh tế
Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của dự án nêu trên thường tính toán dựatrên các giá trị có nhiều khả năng xảy ra nhất của các biến số dự án Các biến
số này thường khó dự đoán trước và kết quả dự án tạo ra cũng không hoàn toàn
Trang 23chắc chắn Vì thế trong thẩm định kinh tế, người ta cũng phải tiến hành phântích độ nhạy và rủi do của dự án nhằm đưa ra các biện pháp quản trị rủi do.
Việc tính toán các chỉ tiêu ENPV, EIRR thì phải căn cứ vào các dònglợi ích-chi phí dự tính và các giả định để tính toán được coi là tình huống cơ
sở Việc tính toán độ nhạy của dự án đựơc thực hiện bằng cách đưa ra cáckịch bản: dự báo các rủi ro có thể xảy ra trong khi thực hiện dự án, thay đổimột hoặc một số thông số đầu vào tăng hay giảm và tính toán các chỉ tiêuphản ánh hiệu quả của dự án, hậu quả thông tin không chính xác… Nếu hầuhết các tình huống đưa ra đều cho kết quả ENPV > 0 thì có thể tiến hành cấpphép thực hiện dự án Trường hợp ENPV 0 thì tạm kết luận mức rủi ro dựtính cao và cần xem xét lại trước khi ra quyết định và do đó có thể điều chỉnhlại tỷ lệ chiết khấu kinh tế của dự án cho phù hợp
Việc thẩm dịnh mức độ tin cậy của dự án giúp cho nhà quản lý có cáinhìn toàn diện về dự án đầu tư để từ đó bảo đảm tính hiệu quả kinh tế - xãhội của dự án
3.2.4 Thẩm định về công nghệ, tác động môi trường
Đây là một công việc khá phức tạp, tốn kém vì phải kiểm tra các phéptính toán, xem xét toàn bộ các kết quả giải trình kinh tế- kỹ thuật Phải xemxét đến công nghệ và phương pháp sản xuất, chuyển giao công nghệ đặc biệt
là công nghệ cao Công nghệ chuyển giao phải đạt được các yêu cầu sau:
Công nghệ tạo ra sản phẩm mới và cần thiết hoặc sản xuất hàngxuất khẩu
Nâng cao tính năng kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, nâng caonăng lực sản xuất
Tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu, khai thác và sử dụng có hiệuquả tài nguyên thiên nhiên
Đồng thời nghiêm cấm việc chuyển giao công nghệ có ảnh hưởng xấuđến môi trường sinh thái và an toàn lao động Với công nghệ từ các nước G7
Trang 24thì không quá 10 năm, từ các nước khác không quá 8 năm, chất lượng còn lạiphải lớn hơn hoặc bằng 80% máy mới, không được tiêu hao nguyên liệu quá10% Phải xem xét về công suất máy móc thiết bị, công suất khả thi, mức sảnxuất dự kiến Đặc biệt cần quan tâm là giá cả thiết bị công nghệ (kể cả phầncứng và phần mềm) Những yếu tố nhập khẩu do lượng thông tin không đầy
đủ hoặc thiếu kinh nghiệm, các nhà quản lý thường dễ bị sơ hở nên cần đượckiểm tra kỹ lưỡng
Khi thẩm định phải rất quan tâm xem xét đến:
Ảnh hưởng của dự án đến môi trường và cách xử lý các chất cókhả năng gây ô nhiễm qua nước thải, chất thải rắn, khí thải
Các giải pháp mà dự án sử dụng để chống ô nhiễm, các thiết bị
Ảnh hưởng đến mặt bằng ( khi khai thác đá, khoáng sản…)
Ảnh hưởng đến môi trường sinh thái ( khi khai thác sử dụng tàinguyên rừng, biển…)
Ảnh hưởng của bụi, tiếng ồn,…
Giải pháp khắc phục
Ngoài vấn đề công nghệ và ảnh hưởng đến môi trường của dự án,thẩm định kỹ thuật, công nghệ đồng thời cũng xem xét đến các mặt:
- Các nguyên liệu đầu vào:
Cơ sở pháp lý, kỹ thuật để xác định quy mô, trữ lượng và khả năng
Trang 25tiềm tàng của các yếu tố đầu vào, xem xét nguyên liệu đầu vào thuộc loại gì,lấy ở đâu, giá cả như thế nào, tỷ lệ nhập nguyên liệu ra sao Nhìn chung,nguyên liệu trong nước có tỷ lệ cao thì tốt, tuy nhiên cũng tránh khia thácquá mức các nguồn tài nguyên.
Chất lượng của các yếu tố đầu vào, các căn cứ đánh giá
Hình thức khai thác, cung cấp, khả năng bảo đảm ổn định củanguyên vật liệu đầu vào
Về cơ sở hạ tầng cung cấp: dự án sẽ sử dụng năng lượng gì, có liêntục không
Nguồn nước cung cấp và nguồn nước thải có phù hợp với môitrường xung quanh không
Cơ sở hạ tầng khác như thông tin, chất thải, an toàn, phòng cháychữa cháy…
Thẩm tra về địa điểm: bao gồm cả văn bản pháp lý và địa điểm cụ thể
Tìm hiểu kỹ về chính sách kinh tế- xã hội của Chính phủ, địaphương về khu vực đó
Dự án không được mâu thuẫn với quy hoạch tổng thể
Tuân thủ luật xây dựng, các quy định về quy hoạch xây dựng vàkiến trúc của địa phương, các quy định của các cơ quan quản lý nhà nước cóthẩm quyền về phòng cháy, chữa cháy, quản lý di tích lịch sử, an ninh quốcphòng…
Các chất phế thải, nước thải độc hại đều phải qua khâu xử lý và gầntuyến thải cho phép
Về nguồn nhân lực: khi thẩm định cần xem xét về:
Dân số trong khu vực và trình độ văn hoá
Số lao động có thể thu hút và sử dụng cho dự án
Chi phí cho sử dụng lao động
Thẩm định kỹ thuật xây dựng công trình của dự án
Trang 26Xem xét việc xây dựng có phù hợp với tổng thể không, có phù hợp vớicông nghệ, thiết bị và yêu cầu về môi trường không Về mặt thiết bị cầnkiểm tra tính đồng bộ với công suất của các thiết bị, các công đoạn sảnxuất với nhau, mức độ tiêu hao nguyên liệu, năng lượng, tuổi thọ, yêu cầusửa chữa bảo dưỡng, khả năng cung ứng phụ tùng Đối với các loại thiết bịnhập khẩu, ngoài việc kiểm tra theo các nội dung trên cần phải kiểm trathêm về các mặt như: các điều khoản của hợp đồng nhập khẩu có đúng vớiluật và thông lệ ngoại thương hay không, tính pháp lý về trách nhiệm củacác bên ra sao.
Xem xét các hạng mục phải xây dựng mới và các hạng mục công trìnhcải tạo nâng cấp Kiểm tra các giải pháp xây dựng căn cứ vào yêu cầu côngnghệ, các định mức, tiêu chuẩn xây dựng của loại dự án, nhu cầu xây dựngcác hạng mục công trình chính, phụ trợ, hạ tầng kỹ thuật
Xem xét về tổ chức xây dựng, trình tự và tiến độ thi công Điều nàyliên quan tới thời gian đưa dự án vào sử dụng, thời gian góp vốn, công nghệ
4 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
4.1 Những nhân tố khách quan:
4.1.1 Quản lý Nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài
Các chủ trương chính sách của nhà nước đối với hoạt động đầu tưnước ngoài cũng có ảnh hưởng rất lớn đến công tác thẩm định Đó là: Phâncấp thẩm định và ra quyết định đầu tư; các ưu đãi đầu tư, khuyến khích đầu
tư ; các định hướng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội theo lãnhthổ; các quy định trong việc nhập thiết bị, chuyển giao công nghệ Các quyđịnh này không chỉ tạo ra một hành lang pháp lý cho hoạt động thẩm định
mà còn tác động trực tiếp đến việc thực thi các dự án sau này
4.1.2 Môi trường pháp luật
Các văn bản pháp luật là yếu tố trực tiếp định hướng và ảnh hưởng
Trang 27đến công tác thẩm định Các văn bản pháp luật liên quan đến công tác thẩmđịnh các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã được quy định cụ thể và gầnđây đã được bổ sung sửa đổi để ngày càng phù hợp và cập nhật hơn với thực
tế hiện nay Những tiến bộ hay những mặt còn hạn chế của các văn bản phápluật chính là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp nhất đến chất lượng của công tácthẩm định cũng như việc ra quyết định đầu tư Một số văn bản pháp luật liênquan đến công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đang áp dụnghiện nay là:
Luật đầu tư số 59/2005/QH của Quốc Hội thông qua ngày 29/11/2005quy định về hoạt động đầu tư có hiệu lực từ ngày 01/7/2006 và thay thế LuậtĐầu tư nước ngoài và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước.
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 12/11/1996 và Luậtsửa đổi bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày09/6/2000
Nghị định 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 của Chính phủ quyđịnh chi tiết thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Nghị định 62/1998/NĐ-CP ngày 15//8/1998 của Chính phủ vềBan hành quy chế đầu tư theo Hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao,Hợp đồng xây dựng- chuyển giao- kinh doanh, Hợp đồng xây dựng- chuyểngiao áp dụng cho đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và Nghị định số02/1998/NĐ-CP ngày 27/01/1999 về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghịđịnh 62/1998/NĐ-CP
Thông tư số 12/2000/TT-BKH ngày 13/9/2000 của Bộ Kế hoạch vàĐầu tư về hướng dẫn hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
4.1.3 Tác động của lạm phát
Lạm phát là yếu tố bất định có ảnh hưởng tới việc thẩm định kinh tế
dự án Lạm phát gây nên sự thay đổi về giá cả theo thời gian Do vậy, nó làmbiến đổi mức chiết khấu khi đánh giá hiệu quả dự án đầu tư Mức lạm phát
Trang 28không thể dự đoán một cách chính xác vì nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tốnhư quy luật cung cầu, thu nhập và tâm lý người tiêu dùng, tốc độ tăngtrưởng của nền kinh tế Các biến số kinh tế trong dự án, các yếu tố đầu vàocủa các chỉ tiêu như ENPV, EIRR…đều chịu tác động của lạm phát Do vậy,đánh giá tính hiệu quả của một dự án nào đó, cần phải xác định chính xác,hợp lý giá cả của các yếu tố cấu thành Việc tính toán đến yếu tố lạm phát sẽlàm cho quá trình phân tích dự án được chính xác hơn, hiệu quả thẩm định
là một yếu tố quan trọng nâng cao chất lượng thẩm định Các phương phápthường được sử dụng đó là phương pháp so sánh, phương pháp thẩm địnhtheo trình tự, phương pháp phân tích độ nhạy của dự án Tuy nhiên phươngpháp chung để thẩm định là so sánh, đối chiếu nội dung dự án với các chuẩnmực đã được quy định bởi pháp luật và các tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật thíchhợp hoặc thông lệ (quốc tế, trong nước) cũng như các kinh nghiệm thực tế,phần lớn mang tính chất định tính
4.2.2 Thông tin
Thông tin là một yếu tố cực kỳ quan trọng và không thể thiếu đượctrong công tác thẩm định Thông tin đầy đủ và chính xác là cơ sở cho việcthẩm định đạt kết quả cao Ngược lại thông tin không đầy đủ và phiến diện
sẽ dẫn đến những quyết định sai lầm về tính khả thi của dự án, từ đó có thểđưa đến những quyết định đầu tư sai lầm Đặc biệt đối với dự án đầu tư trực
Trang 29tiếp nước ngoài, đối tác là người nước ngoài ở nhiều khu vực khác nhau nênviệc tìm hiểu, thu thập thông tin chính xác về họ lại càng trở nên cần thiết.Các thông tin cần thiết cho việc thẩm định một dự án đầu tư trực tiếp nướcngoài bao gồm cả các thông tin về đối tác trong nước cũng như nước ngoài.Đối với bên Việt Nam cần tìm hiều các thông tin đầy đủ về các doanh nghiệp
và cá nhân Việt Nam tham gia liên doanh như tư cách pháp lý, ngành nghềđịnh kinh doanh, khả năng tài chính trong tham gia liên doanh…Đối với bênnước ngoài, các thông tin không thể thiếu được là tư cách pháp lý, năng lựctài chính, lịch sử phát triển, uy tín, vị thế của đối tác trong kinh doanh, đạođức doanh nghiệp, công nghệ áp dụng vào Việt Nam…Ngoài ra cũng cần cónhững thông tin chính xác liên quan đến các chính sách mới, các quan điểmcủa Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế
Để có được nguồn thông tin có chất lượng thì phương pháp thu thập,
xử lý, lưu trữ thông tin cũng đóng một vai trò vô cùng quan trọng Vì vậybên cạnh việc phối hợp giữa các cơ quan, công ty để thu được những thôngtin từ nhiều nguồn và nhiều chiều; vấn đề xử lý, phân tích và lưu trữ thôngtin cũng cần được cân nhắc kỹ lưỡng và từng bước nâng cao chất lượng củahoạt động này
4.2.3 Quy trình và nội dung thực hiện thẩm định
Khâu có ý nghĩa quan trọng trong quá trình thẩm định dự án là thựchiện các công việc thẩm định Thực hiện tốt khâu này sẽ đảm bảo đượcnhững yêu cầu đặt ra trong công tác thẩm định Để thực hiện tốt khâu nàyphải có một quy trình thẩm định hợp lý, khoa học Xây dựng được một quytrình thẩm định phù hợp sẽ đảm bảo được các yêu cầu quản lý nhà nước,quản lý ngành và phối hợp các ngành, các địa phương trong việc đánh giá,thẩm định và xử lý những vấn đề tồn tại của dự án; đồng thời đảm bảo tínhkhách quan trong việc thẩm định các dự án, cho phép phân tích đánh giá sâusắc các căn cứ khoa học và thực tế các vấn đề chuyên môn; bên cạnh đó còn
Trang 30đơn giản hoá được công tác tổ chức thẩm định mà vẫn nâng cao được chấtlượng thẩm định.
4.2.4 Đội ngũ cán bộ thẩm định
Các tố chất của cán bộ thẩm định bao gồm cả năng lực, trình độ, kinhnghiệm và tinh thần trách nhiệm Để công tác thẩm định đạt kết quả cao đòihỏi người cán bộ thẩm định phải biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa năng lựcsẵn có của bản thân, trình độ chuyên môn và những kinh nghiệm từ thực tế,đặc biệt phải thực sự có tinh thần trách nhiệm, biết đặt lợi ích của công việclên hàng đầu trong quá trình thực thi nhiệm vụ của mình để đưa ra những kếtluận khách quan về dự án, làm cơ sở đúng đắn cho việc ra quyết định đầu tư
4.2.5 Vấn đề định lượng và xác định tiêu chuẩn trong đánh giá thẩm định dự án
Để thẩm định đánh giá tính khả thi của dự án, vấn đề quan trọng vàcần thiết là việc sử dụng các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật mặc dù trong thẩmđịnh đánh giá dự án cũng có những vấn đề được phân tích lựa chọn trên cơ
sở định tính Việc sử dụng các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật cần thiết phải giảiquyết được hai vấn đề là định lượng và xây dựng tiêu chuẩn để đánh giá cácchỉ tiêu đó
Để có cơ sở đánh giá dự án thì việc nghiên cứu xây dựng các tiêuchuẩn hoặc chỉ tiêu hướng dẫn là rất cần thiết, trước hết là các chỉ tiêu vềkinh tế và tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả dự án như: tỷ lệ chiết khấu áp dụngcho từng loại dự án, lượng hoá các luồng lợi ích - chi phí, chuyển đổi giákinh tế của các hạng mục, … Đây là những điểm cần phải được đặc biệt chú
ý đối với các cơ quan thẩm định dự án
Trang 31Chương II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH CÁC DỰ ÁN FDI
VÀO VIỆT NAM
I Khái quát chung về các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian qua.
1 Tình hình thẩm định cấp phép đầu tư.
Tính đến cuối năm 2008, cả nước có hơn 10.600 dự án FDI được thẩm
định và cấp phép đầu tư với tổng vốn đăng ký khoảng 165 tỷ USD Trừ các
dự án đã hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn, hiện có 9.240 dự
án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký khoảng 150 tỷ USD
Tình hình cấp phép đầu tư theo vùng, ngành kinh tế:
Bảng 1: Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép năm 1988 - 2007
Chia ra Nước ngoài góp
Việt Nam góp
Đồng bằng sông Hồng 2261 26728.0 11663.1 9356.3 2306.8 Đông Bắc 409 3014.9 1260.2 975.7 284.5
Bắc Trung Bộ 145 2084.6 713.8 565.6 148.2 Duyên Hải Nam Trung Bộ 414 8349.3 3719.1 3039.4 679.7 Tây Nguyên 128 1183.8 292.4 226.6 65.8 Đông Nam Bộ 5931 50837.9 20969.8 18230.2 2739.6 Đồng bằng sông Cửu Long 425 4057.9 1806.1 1630.1 176.0
(*) Bao gồm cả vốn tăng thêm của các dự án đã được cấp giấy phép từ các năm trước.
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Trang 32Bảng 2: Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép từ 1988 đến 2007
phân theo ngành kinh tế
Số dự án
Vốn đăng ký (Triệu đô la Mỹ) (*)
Tổng số
Trong đó: Vốn điều lệ
Tổng số
Chia ra Nước ngoài góp
Việt Nam góp
Thương nghiệp; Sửa chữa xe
có động cơ, mô tô, xe máy,
đồ dùng cá nhân và gia đình 108 641.9 292.2 192.9 99.3Khách sạn và nhà hàng 291 7620.6 3144.9 2474.0 670.9Vận tải; kho bãi và thông tin
Các hoạt động liên quan đến
kinh doanh tài sản và dịch vụ
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Trang 332 Tình hình thực hiện các dự án FDI
Trong hơn 20 năm qua, khu vực kinh tế có vốn FDI đã góp phần đáng
kể trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội đất nước bằng việc tạo ra tổnggiá trị doanh thu đáng kể, trong đó có giá trị xuất khẩu, cũng như đóng góptích cực vào ngân sách và tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người laođộng Đồng thời, tiếp tục khẳng định vai trò trong sự nghiệp phát triển kinh
tế, đóng góp ngày càng lớn vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của đất nước
và thực sự trở thành bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế
Biểu đồ 1: Tỷ trọng đóng góp của các doanh nghiệp FDI trong GDP
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và đâu tư
Như vậy, từ mức đóng góp trung bình 6,3% của GDP trong giai đoạn1991-1995, khu vực doanh nghiệp ĐTNN đã tăng lên 10,3% GDP của 5 năm1996-2000 Trong thời kỳ 2001-2005, tỷ trọng trên đạt trung bình là 14,6%.Riêng năm 2005, khu vực ĐTNN đóng góp khoảng 15,5% GDP, cao hơnmục tiêu đề ra tại Nghị quyết 09 (15%) Trong hai năm 2006 và 2007 khuvực kinh tế có vốn FDI đóng góp trên 17% GDP
Trang 34Biểu đồ 2: Giá trị xuất khẩu của cac doanh nghiệp FDI
Giá trị xuất khẩu
0 5 10
1991- 2000
1996- 2004
2001- 2008
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Ta có thể thấy, giá trị xuất khẩu của khu vực có vốn FDI cũng gia tăngnhanh chóng Cả thời kỳ 1991-1995 tổng giá trị xuất khẩu mới đạt 1,2 tỷUSD, nhưng đã tăng lên 10,5 tỷ USD trong giai đoạn 1996-2000, gấp hơn 8lần so với 5 năm trước Trong 5 năm 2001-2005, giá trị trên đạt hơn 34,6 tỷUSD, cao gấp 3 lần so với thời kỳ 5 năm trước, trong đó năm sau tăng hơnnăm trước, năm 2002 tăng 25%, năm 2003 tăng 38%, năm 2004 tăng 39%,năm 2005 đạt 11,2 tỷ USD, tăng 26%, đóng góp 35% tổng giá trị kim ngạchxuất khẩu của cả nước;(nếu tính cả dầu thô thì tỷ lệ này lên tới 56%) Năm
2006 giá trị xuất khẩu của khu vực có vốn FDI (nếu tính cả dầu thô) đạt 12,6
tỷ USD, chiếm trên 57% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước Năm 2008, giátrị xuất khẩu của khu vực có vốn ĐTNN đạt 19,7 tỷ USD, nếu tính cả dầuthô thì giá trị xuất khẩu là 27,3 tỷ USD, chiếm tới 56,8% tổng giá trị xuấtkhẩu của cả nước
Đồng thời, khu vực kinh tế có vốn FDI cũng tạo việc làm và thu nhập
ổn định cho một bộ phận dân cư không nhỏ, tính đến năm 2008, tổng số laođộng làm việc trong các dự án FDI lên 1,467 triệu người, góp phần quan