1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Hoạt động tư vấn hỗ trợ nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh trong lĩnh vực phân phối tại việt nam của công ty tnhh tư vấn đầu tư và chuyển giao công nghệ investconsult group

94 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt động tư vấn hỗ trợ nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh trong lĩnh vực phân phối tại Việt Nam của Công ty TNHH Tư Vấn Đầu Tư Và Chuyển Giao Công Nghệ Investconsult Group
Tác giả Đào Mai Hiên
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Văn Nam
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Kinh Doanh
Thể loại Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 710,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I: QUY CHẾ PHÁP LÝ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRONG LĨNH VỰC PHÂN PHỐI CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM (7)
    • 1. Đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụ và tổng quan về hoạt động phân phối hàng hóa (7)
    • 2. Tổng quan về Biểu cam kết dịch vụ trong WTO (9)
      • 2.1 Kết cấu của Biểu cam kết dịch vụ (9)
      • 2.2 Phương thức trình bày của Biểu cam kết dịch vụ (10)
      • 2.3 Các phương thức cung cấp dịch vụ (12)
      • 2.4 Mức độ cam kết (15)
    • 3. Mối quan hệ giữa cam kết về dịch vụ và vấn đề đầu tư tại Việt Nam (17)
      • 3.1 Mối quan hệ giữa cam kết về dịch vụ và vấn đề đầu tư trực tiếp nước ngoài (17)
      • 3.2 Mối quan hệ giữa Cam kết dịch vụ và vấn đề đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam (22)
    • 4. Quy chế pháp lý điều chỉnh hoạt động vực phân phối hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (23)
      • 4.1 Quyền phân phối hàng hóa (23)
      • 4.2 Các hình thức phân phối hàng hóa theo quy định pháp luật Việt Nam (25)
        • 4.2.1 Bán buôn (26)
        • 4.2.2 Bán lẻ (26)
        • 4.2.3 Nhượng quyền thương mại (27)
        • 4.2.4 Về vấn đề Đại lý hoa hồng (28)
      • 4.3 Áp dụng các phương thức cung cấp dịch vụ tới từng phân ngành phân phối cụ thể (28)
        • 4.3.1. Áp dụng các phương thức cung cấp dịch vụ với dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ (28)
        • 4.3.2 Áp dụng các phương thưc cung cấp dịch vụ đối với phân ngành dịch vụ nhượng quyền thương mại (31)
    • 5. Quá trình phát triển của các quy định về hoạt động phân phối tại Việt Nam (31)
      • 5.1 Trước khi Việt Nam là thành viên WTO (31)
      • 5.2 Sau khi Việt Nam là thành viên WTO (32)
  • CHƯƠNG II THỰC TRÀNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG PHÂN PHỐI VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN ĐẦU TƯ CỦA CÔNG TY INVESTCONSULT GROUP (37)
    • 1. Hoạt động quản lý của cơ quan nhà nước trong lĩnh vực phan phối (37)
      • 1.1 Thành tựu của cơ quan nhà nước trong việc quản lý nhà nước về lĩnh vực phân phối (37)
        • 1.1.1 Hệ thống pháp lý điều chỉnh phân phối hoàn thiện, phù hợp cam kết quốc tế (37)
        • 1.1.2. Chính sách mới thu hút đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực phân phối, coi trọng phân phối (39)
        • 1.1.3. Nâng cao chất lượng quản lý nhà nước (40)
      • 1.2. Hạn chế trong quản lý nhà nước về lĩnh vực phân phối (41)
        • 1.2.1. Sự phân biệt đối xử doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài- (41)
        • 1.2.2. Thiếu các quy định điều chỉnh lĩnh vực phân phối (42)
        • 1.2.3. Thực thi pháp luật (42)
      • 1.3 Thách thức đối với chính phủ Việt Nam (43)
    • 2. Thực trạng hoạt động cung cấp dịch vụ tư vấn đầu tư trong lĩnh vực phân phối tại công ty TNHH Tư vấn Đầu tư và Chuyển giao công nghệ (44)
      • 2.1. Tổng quan về Công ty Tư vấn Đầu tư và Chuyển giao công nghệ (44)
        • 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Tư vấn Đầu tư và Chuyển giao công nghệ Investconsult Group (45)
        • 2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Công ty Tư vấn Đầu tư và Chuyển giao công nghệ Investconsult Group và Công ty luật TNHH Investconsult (46)
        • 2.1.3 Khái quát tình hình hoạt động của Công ty (51)
      • 2.2 Hoạt động tư vấn hỗ trợ nhà đầu tư trong lĩnh vực phân phối (57)
        • 2.2.1 Các dịch vụ tư vấn trong lĩnh vực phân phối của công ty (58)
        • 2.2.2. Một số tình huống tư vấn công ty cung cấp cho nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực phân phối (60)
        • 2.2.3 Thế mạnh của Investconsult Group (63)
        • 2.2.4. Hạn chế trong hoạt động tư vấn của Công ty (66)
  • CHƯƠNG III: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG CUNG CẤP DỊCH VỤ TƯ VẤN ĐẦU TƯ TRONG LĨNH VỰC PHÂN PHỐI TẠI CÔNG TY TƯ VẤN ĐẦU TƯ VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ (70)
    • 1. Toàn cảnh thị trường phân phối Việt Nam (70)
      • 1.1 Vị thế của Việt Nam trong bản đồ bán lẻ toàn cầu (70)
      • 1.2. Đặc điểm thị trường phân phối Việt Nam (72)
        • 1.2.1. Mở cửa thị trường với nhà đầu tư nước ngoài (72)
        • 1.2.2. Sự phát triển của hệ thống phân phối nội địa (73)
        • 1.2.3. Xu hướng phát triển hệ thống phân phối tại thị trường Việt Nam (75)
    • 2. Đề xuất nâng cao hiệu quả hoạt động tư vấn đầu tư trong lĩnh vực phân phối tại công ty Tư vấn Đầu tư và Chuyển giao công nghệ (79)
      • 2.1 Chính sách nguồn nhân lực (79)
      • 2.2 Chính sách marketing hiệu quả (82)
      • 2.3 Điều chỉnh chiến lược kinh doanh, khai thác thị trường tiềm năng (82)
      • 2.4 Xây dựng hệ thống quản trị dữ liệu (83)
      • 2.5 Xây dựng văn hóa doanh nghiệp phù hợp với môi trường làm việc hiện đại (83)
      • 2.6 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng môi trường làm việc (84)
    • 3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và hoạt động của cơ quan nhà nước trong lĩnh vực phân phối (85)
      • 3.1 Mở rộng thị trường phân phối, ban hành các quy định đối xử bình đẳng (85)
      • 3.2 Về việc xây dựng chính sách (88)
    • C. KẾT LUẬN (91)

Nội dung

MỤC LỤC Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD PGS TS Trần Văn Nam MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 1 NỘI DUNG 3 CHƯƠNG I QUY CHẾ PHÁP LÝ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRONG LĨNH VỰC PHÂN PHỐI CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI[.]

QUY CHẾ PHÁP LÝ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRONG LĨNH VỰC PHÂN PHỐI CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

Đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụ và tổng quan về hoạt động phân phối hàng hóa

Khi tham gia đầu tư tại một thị trường, nhà đầu tư nước ngoài có thể chọn giữa lĩnh vực sản xuất hoặc lĩnh vực dịch vụ Tại Việt Nam, tỷ trọng đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ ngày càng tăng, phản ánh sự phát triển và thu hút đầu tư trong lĩnh vực này Việt Nam đã cam kết mở cửa thị trường dịch vụ trong quá trình gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), bao gồm các ngành như phân phối, tài chính, nghe nhìn, môi trường và vận tải, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài tham gia thị trường nội địa Các cam kết này quy định điều khoản mở cửa thị trường cho các ngành dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ phân phối, góp phần thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực dịch vụ tại Việt Nam.

Nhà đầu tư nước ngoài có thể tiến hành mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến thương mại tại Việt Nam bằng cách thành lập doanh nghiệp hoặc ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh Việc này giúp họ thực hiện các hoạt động thương mại một cách hợp pháp và hiệu quả tại thị trường Việt Nam Đầu tư thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác kinh doanh là những hình thức chính để nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào hoạt động mua bán hàng hóa tại Việt Nam.

Theo quy định tại điều 3 Nghị định 23/2007/NĐ-CP, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia hoạt động mua bán hàng hóa, bao gồm xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối và các hoạt động liên quan như xúc tiến thương mại, trung gian thương mại, đại diện, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa và đại lý thương mại Trong đó, phân phối là một hoạt động mua bán hàng hóa quan trọng của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Phân phối đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của các quốc gia, là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng, góp phần hình thành giá cả hợp lý Dịch vụ phân phối hàng hóa là một dịch vụ thiết yếu, tuy nhiên, khi doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ khác như viễn thông, phương thức cung cấp sẽ theo quy định trong Biểu cam kết dịch vụ, chẳng hạn như thành lập pháp nhân để cung cấp dịch vụ, thay vì sử dụng các hình thức bán buôn, bán lẻ, nhượng quyền thương mại hay đại lý hoa hồng.

Ngành phân phối có chức năng cung cấp dịch vụ phân phối liên kết chặt chẽ với hàng hóa Khi phân phối hàng hóa qua biên giới, nó phát sinh các quan hệ xuất nhập khẩu hàng hóa, ảnh hưởng đến hoạt động thương mại quốc tế Tuy nhiên, nếu phân phối không gắn liền với hàng hóa, thì không phát sinh các quan hệ xuất nhập khẩu, đảm bảo rõ ràng trong hoạt động phân phối hàng hóa.

Ngành phân phối đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong hầu hết các nền kinh tế hiện nay Quy mô kinh tế của ngành này rất lớn, đòi hỏi nguồn lực khổng lồ để duy trì hoạt động Trong nhóm G-7, ngành phân phối đóng góp từ 8% đến 15% vào GDP và tạo ra từ 11% đến 19% tổng việc làm, thể hiện tầm ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế Trong giai đoạn 1950–1983, các hoạt động bán buôn và bán lẻ trung bình đóng góp khoảng 13.5% vào GDP của 74 quốc gia, giữ vị trí quan trọng sau hoạt động sản xuất tại nhiều quốc gia Đặc biệt tại Hoa Kỳ, hoạt động bán lẻ chiếm từ 50% đến 60% tổng đóng góp của ngành phân phối vào GDP hàng năm, nhấn mạnh vai trò chủ đạo của lĩnh vực này trong nền kinh tế quốc gia.

Anderson và Betancourt (2002) giải thích rằng mức độ đóng góp của ngành phân phối vào GDP của mỗi quốc gia phụ thuộc vào các phương thức đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng Họ nhận thấy rằng, ở các quốc gia phát triển khác nhau, đóng góp của ngành phân phối ban đầu tăng rồi giảm theo thời gian, và tỷ lệ nhập siêu cao hơn dẫn đến sự tăng trưởng của ngành phân phối Các hoạt động phân phối thể hiện trên tài khoản thu nhập quốc gia thông qua ba phương thức chính: xây dựng mạng lưới phân phối tại nước ngoài, tận dụng vai trò của nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu để phân phối hàng hóa Chỉ khi các doanh nghiệp sử dụng phương thức thứ ba, hoạt động của ngành phân phối mới được tính chính xác cho ngành xuất khẩu của nước đó Tăng trưởng xuất khẩu kéo theo sự tăng của hoạt động phân phối qua các nhà bán buôn kiêm nhà xuất khẩu, trong khi tăng nhập khẩu dẫn đến mở rộng phân phối tại thị trường nhập khẩu qua các chính sách hoặc kênh phân phối khác, như bán hàng trực tiếp từ nhà sản xuất nước ngoài đến các nhà bán lẻ địa phương.

3 Tr6 báo cáo rà soát khuôn khổ pháp lý về dịch vụ phân phối ở Việt Nam, tài liệu do dự án hỗ trợ thương

Việc gia nhập WTO và thực hiện các cam kết của tổ chức này đã thay đổi căn bản quan hệ phân phối tại Việt Nam, mở ra cơ hội cho các nhà đầu tư nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ Hệ thống cam kết dịch vụ của Việt Nam được quy định qua ba văn bản chính: hiệp định GATS, Biểu cam kết dịch vụ của từng ngành và báo cáo của ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO Các chính sách liên quan đến thương mại dịch vụ và cam kết mở cửa thị trường dịch vụ đã được thể hiện rõ trong các đoạn từ 472 đến 508 của báo cáo Để hiểu đầy đủ về cam kết trong lĩnh vực dịch vụ của Việt Nam, cần tham khảo không chỉ các biểu cam kết mà còn cả báo cáo của ban công tác và nắm rõ các nguyên tắc trong hiệp định GATS, từ đó có cái nhìn toàn diện và chính xác.

Sau đây tôi xin được đưa ra một bức tranh tổng quan về khung pháp lý điều chỉnh hoạt động phân phối.

Tổng quan về Biểu cam kết dịch vụ trong WTO

2.1 Kết cấu của Biểu cam kết dịch vụ Đàm phán mở cửa thị trường dịch vụ trong khuôn khổ WTO được tiến hành theo các nguyên tắc và quy định của hiệp định chung về thương mại dịch vụ GATS. Kết quả đàm phán được các bên ghi lại vào một biểu theo mẫu quy định của WTO, được gọi là Biểu cam kết cụ thể về thương mại dịch vụ ( gọi tắt là Biểu cam kết dịch vụ) Biểu cam kết được lập riêng cho từng quốc gia, ghi nhận những cam kết của quốc gia đó đối với lĩnh vực cam kết Biểu cam kết cụ thể về dịch vụ của Việt Nam là kết quả đàm phán giữa cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các thành viên WTO và là phụ lục của Nghị định thư gia nhập của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Cần lưu ý rằng theo Nghị quyết số 71/2006/QH11 về việc phê chuẩn Nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam đã ghi rõ việc áp dụng trực tiếp các cam kết của Việt Nam đính kèm theo Nghị quyết Trường hợp pháp luật Việt Nam có các điều khoản không thống nhất với các cam kết với WTO thì sẽ sử dụng các cam kết với WTO Như vậy các cam kết trong lĩnh vực dịch vụ phân phối của Việt Nam sẽ được áp dụng trực tiếp Đó là lý do mà các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp,… phải tìm hiểu nội dung biểu cam kết để áp dụng cho chính hoạt động của mình Biểu cam kết dịch vụ gồm ba phần: phần cam kết chung, phần cam kết cụ thể và danh mục các biện pháp miễn trừ đối xử tối huệ quốc.

Phần cam kết chung bao gồm các cam kết áp dụng chung cho tất cả các ngành và phân ngành dịch vụ theo Biểu cam kết dịch vụ, chủ yếu đề cập đến các vấn đề kinh tế - thương mại như chế độ đầu tư, hình thức thành lập doanh nghiệp, thuê đất và các hình thức hiện diện được phép Các biện pháp bảo lưu trong phần cam kết chung thường không cần phải lặp lại trong phần cam kết cụ thể, trừ trường hợp cần nhấn mạnh nội dung quan trọng, khi đó các biện pháp này mới xuất hiện để thể hiện rõ tính trọng yếu.

Phần cam kết cụ thể thể hiện các cam kết áp dụng riêng cho từng loại dịch vụ trong Biểu cam kết dịch vụ, như viễn thông, bảo hiểm, ngân hàng hay vận tải Những cam kết này phản ánh mức độ mở cửa thị trường và chính sách đối xử quốc gia dành cho nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài trong từng lĩnh vực Nội dung cam kết giúp làm rõ mức độ mở cửa và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà cung cấp dịch vụ quốc tế hoạt động trên thị trường trong nước.

Danh mục các biện pháp miễn trừ đối xử tối huệ quốc thể hiện các biện pháp được duy trì nhằm bảo lưu việc vi phạm nguyên tắc MFN đối với những dịch vụ có biện pháp miễn trừ Theo quy định của GATS, một thành viên WTO có thể vi phạm nguyên tắc MFN nếu đưa các biện pháp vi phạm này vào danh mục các biện pháp miễn trừ đã được các thành viên khác chấp thuận, qua đó duy trì quyền được miễn trừ đối xử tối huệ quốc trong phạm vi quy định.

Hệ thống cam kết dịch vụ của Việt Nam được quy định chủ yếu qua ba văn bản: hiệp định GATS, Biểu cam kết dịch vụ và báo cáo của ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO Hiệp định GATS thiết lập các nguyên tắc cơ bản bắt buộc tất cả thành viên tuân thủ, trong khi Biểu cam kết dịch vụ thể hiện cam kết cụ thể của từng ngành dịch vụ của Việt Nam Báo cáo của ban công tác cung cấp các cam kết nền về dịch vụ và các chính sách ảnh hưởng đến thị trường dịch vụ Việt Nam (đoạn 472-508) Để có cái nhìn toàn diện về cam kết dịch vụ của Việt Nam, cần tham khảo cả các báo cáo này và hiểu rõ các nguyên tắc trong hiệp định GATS.

2.2 Phương thức trình bày của Biểu cam kết dịch vụ

Biểu cam kết dịch vụ gồm 4 cột chính: cột mô tả ngành và phân ngành giúp xác định các lĩnh vực dịch vụ, cột hạn chế về tiếp cận thị trường thể hiện các giới hạn trong việc mở rộng thị trường cho dịch vụ đó, cột hạn chế về đối xử quốc gia đề cập đến các hạn chế liên quan đến chính sách đối xử với các quốc gia khác, và cột cam kết bổ sung cung cấp các cam kết mở rộng nhằm thúc đẩy tự do hóa thương mại dịch vụ.

Cột mô tả ngành và phân ngành thể hiện tên, mã số của dịch vụ cụ thể được đưa vào cam kết

Theo danh mục phân loại ngành dịch vụ của Ban Thư ký WTO, có tổng cộng 11 ngành chính và 155 phân ngành nhỏ hơn, đều là các lĩnh vực mà các thành viên WTO đàm phán để mở rộng thị trường và đảm bảo phát triển bền vững Các ngành dịch vụ này đóng vai trò quan trọng trong thương mại quốc tế và thúc đẩy hợp tác kinh tế toàn cầu Việc phân loại rõ ràng giúp các thành viên dễ dàng xác định các lĩnh vực cần tập trung đàm phán, nâng cao hiệu quả trong hội nhập kinh tế quốc tế.

Tài liệu phân loại ngành dịch vụ của WTO (tài liệu MTN.GNS/W/120) chỉ liệt kê tên ngành và phân ngành mà không giải thích nội dung cụ thể, do đó cần tham khảo hệ thống phân loại sản phẩm trung tâm tạm thời PCPC của Liên hợp quốc để thống nhất cách hiểu Mỗi ngành hoặc phân ngành dịch vụ đều có mã số PCPC (thường gọi là CPC), tương tự như mã HS trong biểu thuế xuất nhập khẩu, giúp xác định và phân loại dịch vụ chính xác Ví dụ, dịch vụ đại lý hoa hồng thuộc phần “dịch vụ phân phối” trong danh mục của ban thư ký WTO và có mã CPC là 6121, được ghi nhận trong Biểu cam kết dịch vụ Tuy nhiên, định nghĩa trong CPC chỉ mang tính tham khảo, doanh nghiệp Việt Nam cần dựa vào các văn bản pháp luật cụ thể của Việt Nam để hiểu rõ quy định pháp luật và mức độ mở cửa thị trường đối với ngành dịch vụ của mình Các hạn chế về tiếp cận thị trường cũng được quy định rõ trong các quy định của GATS, gồm 6 loại biện pháp duy trì các giới hạn đối với nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài.

1) Hạn chế về số lượng nhà cung cấp dịch vụ;

2) Hạn chế về tổng giá trị của các giao dịch hoặc tài sản;

3) Hạn chế về tổng số hoạt động dịch vụ hoặc số lượng dịch vụ cung cấp;

4) Hạn chế về số lượng lao động;

5) Hạn chế hình thức thành lập doanh nghiệp;

6) Hạn chế góp vốn của nước ngoài

Biểu cam kết càng liệt kê nhiều biện pháp hạn chế, thì mức độ mở cửa thị trường cho các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài càng hạn chế Điều này đồng nghĩa với việc các hạn chế trong biểu cam kết sẽ ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận thị trường quốc tế của các doanh nghiệp nước ngoài Thường thì, các biện pháp hạn chế như giới hạn về số lượng, điều kiện tiếp cận hay các yêu cầu đặc thù sẽ làm cho thị trường trở nên khắt khe hơn đối với các nhà cung cấp dịch vụ quốc tế Do đó, việc xây dựng biểu cam kết cần cân nhắc để thúc đẩy mở cửa thị trường một cách cân đối, tạo điều kiện thuận lợi cho cạnh tranh và phát triển dịch vụ trong nước và quốc tế.

Cột hạn chế về đối xử quốc gia đưa ra các biện pháp nhằm giữ cho sự phân biệt đối xử giữa nhà cung cấp dịch vụ trong nước và nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được duy trì Các biểu cam kết liệt kê càng nhiều biện pháp trong cột này, thì mức độ phân biệt đối xử giữa các nhà cung cấp trong nước và nước ngoài càng tăng lên, ảnh hưởng đến môi trường thương mại quốc tế.

Cột cam kết bổ sung liệt kê các biện pháp ảnh hưởng đến hoạt động cung cấp và tiêu dùng dịch vụ nhưng không thuộc hạn chế tiếp cận thị trường hay hạn chế về đối xử quốc gia Nó mô tả các quy định liên quan đến trình độ, tiêu chuẩn kỹ thuật, yêu cầu hoặc thủ tục về việc cấp phép WTO sử dụng phương pháp chọn – cho hoặc phương pháp “chỉ được làm những gì được phép làm” để xác định phạm vi cam kết, tức là các dịch vụ trong Biểu cam kết dịch vụ Theo đó, bên cam kết chỉ cam kết mở cửa thị trường cho các dịch vụ xuất hiện trong Biểu cam kết, còn các dịch vụ không xuất hiện trong đó thì không đặt ra nghĩa vụ nào Tại Việt Nam, ví dụ, các dịch vụ như quản lý bất động sản, in ấn, xuất bản không xuất hiện trong Biểu cam kết dịch vụ, do đó Việt Nam không cam kết mở cửa cho các ngành này và không có nghĩa vụ cho các nhà đầu tư nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực này tại thị trường nội địa, ngoại trừ việc áp dụng các quy tắc chung của GATS.

Phương pháp chọn - bỏ (negative) hoặc phương pháp “được làm tất cả những gì không bị hạn chế” được sử dụng khi đưa ra cam kết về dịch vụ trong Biểu Bên cam kết sẽ liệt kê rõ các biện pháp hạn chế áp dụng và khẳng định rằng ngoài những biện pháp đó, không có biện pháp hạn chế nào khác Các cụm từ “không hạn chế, ngoại trừ” và “chưa cam kết, ngoại trừ” thường được thêm vào để nhấn mạnh phương pháp tiếp cận của từng phương thức cung cấp dịch vụ, giúp làm rõ về chọn - bỏ hoặc chọn - cho trong cam kết dịch vụ.

2.3 Các phương thức cung cấp dịch vụ

Hiệp định điều chỉnh thương mại dịch vụ GATS áp dụng cho tất cả các loại dịch vụ quốc tế như ngân hàng, viễn thông, du lịch và dịch vụ chuyên nghiệp Nó định nghĩa bốn phương thức chính để trao đổi dịch vụ, giúp thúc đẩy tự do hóa và liên kết trong thương mại dịch vụ toàn cầu.

GATS quy định 4 phương thức cung cấp dịch vụ, bao gồm:

1) Cung cấp qua biên giới;

2) Tiêu dùng ngoài lãnh thổ;

Phương thức cung cấp qua biên giới (Phương thức 1) là cách dịch vụ được cung cấp từ lãnh thổ của một nước thành viên sang lãnh thổ của nước thành viên khác, mà không cần người cung cấp hoặc người tiêu dùng dịch vụ di chuyển Ví dụ, các dịch vụ tư vấn hoặc học trực tuyến qua internet thường được cung cấp theo phương thức này Dịch vụ được cung cấp và tiêu dùng “qua biên giới”, phổ biến nhất là thông qua thương mại điện tử.

Phương thức tiêu dùng ngoài lãnh thổ (Phương thức 2) cho phép người tiêu dùng của một nước thành viên sang lãnh thổ của nước thành viên khác để tiêu dùng dịch vụ, ví dụ như khách du lịch nước ngoài thăm quan và mua sắm tại Việt Nam Phương pháp này áp dụng cho cả việc người nước ngoài tiêu dùng dịch vụ tại Việt Nam và người Việt Nam tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài Tuy nhiên, cam kết của Việt Nam trong phương thức này chỉ có hiệu lực trên lãnh thổ Việt Nam, nghĩa là chính sách này tập trung vào việc người nước ngoài sang Việt Nam tiêu dùng dịch vụ tại nước ta.

Mối quan hệ giữa cam kết về dịch vụ và vấn đề đầu tư tại Việt Nam

Nhà đầu tư tại thị trường Việt Nam có thể lựa chọn hai hình thức đầu tư chính là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp Sự liên quan giữa hai hình thức đầu tư này và cam kết về dịch vụ là yếu tố quan trọng cần xem xét Việc hiểu rõ mối liên hệ giữa các hình thức đầu tư và cam kết dịch vụ giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định phù hợp, đảm bảo lợi ích và an toàn trong quá trình đầu tư Do đó, các nhà đầu tư nên cân nhắc kỹ về các cam kết dịch vụ liên quan khi lựa chọn hình thức đầu tư phù hợp tại thị trường Việt Nam.

3.1 Mối quan hệ giữa cam kết về dịch vụ và vấn đề đầu tư trực tiếp nước ngoài

Cam kết trong lĩnh vực dịch vụ có liên quan chặt chẽ tới đầu tư nước ngoài.

Việt Nam đã cam kết mở cửa thị trường dịch vụ theo phương thức hiện diện thương mại – phương thức 3, cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài thành lập pháp nhân để hoạt động tại Việt Nam Theo biểu cam kết này, nhà đầu tư nước ngoài chỉ được phép cung cấp dịch vụ tại Việt Nam nếu là tổ chức, trong khi các quy định liên quan đến nhà đầu tư là cá nhân đầu tư thành lập doanh nghiệp trong lĩnh vực phân phối không được nhấn mạnh Do đó, việc cấp phép đầu tư cho cá nhân trong lĩnh vực phân phối phụ thuộc vào quyết định của các cơ quan có thẩm quyền.

Như trình bày ở phần trên, dịch vụ phân phối bao gồm 4 phương thức cung cấp dịch vụ hay có 4 cách để dịch vụ phân phối được diễn ra:

Phương thức 1 : Cung cấp qua biên giới

Phương thức 2 Tiêu dùng ngoài lãnh thổ

Phương thức 3 : Hiện diện thương mại, và

Phương thức 4 : Hiện diện thể nhân.

Các phương thức cung cấp dịch vụ ngoài phương thức 3 được gọi là phương thức cung cấp dịch vụ không có hiện diện thương mại tại Việt Nam Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản và thực hiện các hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Đầu tư bao gồm đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư khi nhà đầu tư bỏ vốn và tham gia quản lý hoạt động đầu tư, có thể thực hiện theo các hình thức quy định tại Điều 21 Luật Đầu tư.

- Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài

- Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.

- Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT.

- Đầu tư phát triển kinh doanh.

- Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư.

- Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp.

- Các hình thức đầu tư trực tiếp khác.

Nhà đầu tư có thể là nhà đầu tư trong nước và có thể là nhà đầu tư nước ngoài.

Trong khuôn khổ đề tài, tôi tập trung vào hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài tại thị trường Việt Nam, đặc biệt là các nhà đầu tư liên quan đến lĩnh vực phân phối hàng hóa Nhà đầu tư nước ngoài được xác định là tổ chức hoặc cá nhân bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam, nhưng trong lĩnh vực phân phối và cung cấp dịch vụ, Việt Nam chủ yếu ghi nhận nhà đầu tư là doanh nghiệp nước ngoài, không đề cập đến cá nhân hay tổ chức khác Cụ thể, theo Biểu cam kết dịch vụ, phương thức hoạt động của doanh nghiệp nước ngoài bao gồm thành lập hiện diện thương mại qua hợp đồng hợp tác kinh doanh, liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, trừ khi có quy định riêng trong từng ngành và phân ngành.

Ta có thể khái quát mối quan hệ giữa hoạt động đầu tư và Cam kết dịch vụ củaViệt Nam như sau:

Bảng 1: Mối quan hệ giữa đầu tư với các phương thức cung cấp dịch vụ

Khi nói đến nhà đầu tư trong lĩnh vực phân phối, đó là phương thức thể hiện thương mại của chủ đầu tư, bao gồm công ty nước ngoài thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam hoặc hợp tác kinh doanh với một bên Việt Nam Hợp đồng hợp tác kinh doanh, theo định nghĩa tại Biểu cam kết dịch vụ WTO, là văn bản ký kết giữa ít nhất một pháp nhân Việt Nam và một pháp nhân nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư và kinh doanh tại Việt Nam, trong đó quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh giữa các bên mà không thành lập pháp nhân mới.

Theo Điều 3 Luật Đầu tư, hợp đồng hợp tác kinh doanh (gọi tắt là hợp đồng BBC) là hình thức đầu tư được ký kết giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác phân chia lợi nhuận và sản phẩm mà không thành lập pháp nhân.

4 Báo cáo gia nhập tổ chức thương mại thế giới của Việt Nam

Phương thức 4 ĐẦU TƯ Chủ đầu tư là cá

NN nhân và tổ chức không phải doanh nghiệp

Phương thức 3 dành cho chủ đầu tư là doanh nghiệp, bao gồm việc tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc thành lập các hình thức pháp lý như công ty 100% vốn nước ngoài, liên doanh, chi nhánh hoặc văn phòng đại diện Các hình thức này giúp doanh nghiệp mở rộng hoạt động đầu tư, tận dụng cơ hội thị trường mới và tăng cường sự hiện diện thương hiệu tại địa phương Việc thành lập doanh nghiệp hoặc liên doanh còn mang lại lợi thế về quyền sử dụng đất, nguồn lực địa phương và sự phối hợp linh hoạt với các đối tác trong nước Đây là phương án tối ưu cho các doanh nghiệp muốn đầu tư dài hạn và phát triển bền vững tại thị trường mới.

Phương thức 3 dành cho nhà đầu tư là doanh nghiệp, tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc thành lập các hình thức pháp lý như công ty 100% vốn, liên doanh, chi nhánh hoặc văn phòng đại diện để mở rộng hoạt động đầu tư một cách hiệu quả và linh hoạt.

Hợp đồng hợp tác trong luật đầu tư có phạm vi rộng hơn so với biểu cam kết, khi không yêu cầu một bên phải là pháp nhân Việt Nam và bên còn lại là pháp nhân nước ngoài Chủ thể của hợp đồng BBC theo luật đầu tư có thể là cá nhân hoặc các bên đều có quốc tịch Việt Nam hoặc nước ngoài, và đều có ý định hợp tác đầu tư tại lãnh thổ Việt Nam.

Trong lĩnh vực dịch vụ nói chung và phân phối nói riêng, hợp đồng hợp tác kinh doanh (thuộc phương thức cung cấp dịch vụ qua bên thứ ba) yêu cầu các bên tham gia phải đáp ứng các tiêu chí về năng lực, uy tín và phù hợp với yêu cầu thương mại để đảm bảo hiệu quả và tính hợp pháp của thỏa thuận.

- Chủ thể nước ngoài: phải là doanh nghiệp

Hợp đồng hợp tác thường bao gồm nhiều bên tham gia, trong đó ít nhất có một doanh nghiệp (pháp nhân) nước ngoài và một pháp nhân Việt Nam Ngoài ra, hợp đồng có thể có sự góp mặt của các cá nhân Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam khác hoặc các doanh nghiệp nước ngoài tham gia hợp tác kinh doanh Điều này tạo ra một mối quan hệ hợp tác đa dạng, phù hợp với các chiến lược phân phối và mở rộng thị trường quốc tế.

Hợp đồng hợp tác kinh doanh không thành lập pháp nhân mới, chỉ thể hiện qua bản hợp đồng và sự hiện diện thương mại của doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam Các bên hợp tác có thể thống nhất thành lập ban điều phối để thực hiện hợp đồng, tuy nhiên, ban này không phải là cơ quan lãnh đạo của các bên Doanh nghiệp nước ngoài có quyền thành lập văn phòng điều hành tại Việt Nam để đại diện cho mình trong quá trình thực hiện hợp đồng, với con dấu, tài khoản, khả năng tuyển dụng và ký hợp đồng theo quy định tại Giấy chứng nhận đầu tư và hợp đồng hợp tác kinh doanh Sau hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp có thể hưởng lợi nhuận, nộp thuế và chuyển lợi nhuận ra nước ngoài Ngoài ra, văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc nhằm tìm kiếm cơ hội thương mại, du lịch, nhưng không trực tiếp tham gia vào hoạt động sinh lợi.

Theo khoản 6, điều 3 Luật Thương mại, văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam là đơn vị phụ thuộc của thương nhân đó, được thành lập phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam nhằm mục đích nghiên cứu thị trường và thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại được pháp luật cho phép.

Các định nghĩa về văn phòng đại diện và chi nhánh đều nhằm mục đích thúc đẩy hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam Văn phòng đại diện chỉ có chức năng xúc tiến và tìm kiếm đối tác, không được tạo ra lợi nhuận trực tiếp nhưng có thể ký hợp đồng ủy quyền Trong khi đó, chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của thương nhân nước ngoài, hoạt động dựa trên các quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế, nhưng Việt Nam chưa cho phép thành lập chi nhánh trong lĩnh vực dịch vụ theo cam kết WTO Các hình thức doanh nghiệp như hợp đồng hợp tác, liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn là điều kiện bắt buộc để cung cấp dịch vụ tại Việt Nam, ngoại trừ các ngành có cam kết riêng Đặc biệt, đối với dịch vụ phân phối và nhượng quyền thương mại, Việt Nam đã cam kết cho phép hoạt động sau 3 năm gia nhập WTO.

Việc thành lập, hoạt động, quyền và nghĩa vụ của Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài và chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam trong lĩnh vực phân phối và mua bán hàng hoá được quy định rõ ràng trong Nghị định 72/2006/NĐ-CP Các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá phải tuân thủ các quy định của nghị định này để đảm bảo tính hợp pháp và minh bạch trong thương mại quốc tế.

Quy chế pháp lý điều chỉnh hoạt động vực phân phối hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

4.1 Quyền phân phối hàng hóa

Phân phối là hoạt động mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cho phép doanh nghiệp bán sản phẩm do chính mình sản xuất hoặc mua từ nhà cung cấp khác cho khách hàng hoặc bên thứ ba Quyền phân phối là quyền thực hiện các hoạt động phân phối này, giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường và tăng doanh số bán hàng Đây là phần quan trọng trong chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhằm đảm bảo cung ứng sản phẩm một cách hiệu quả và cạnh tranh trên thị trường.

Phần này tập trung giới thiệu hình thức đầu tư thông qua việc thành lập doanh nghiệp trong lĩnh vực phân phối, phù hợp với các quy định pháp lý tại nghị định 23/2007/NĐ-CP Các doanh nghiệp có vốn nước ngoài khi hoạt động trong lĩnh vực phân phối phải tuân thủ quy chế pháp lý đặc thù, khác biệt so với doanh nghiệp trong nước, nhằm đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật Việt Nam.

Tài liệu của WTO chỉ liệt kê tên ngành và phân ngành mà không giải thích nội dung cụ thể, do đó để đảm bảo hiểu thống nhất về các ngành, phân ngành, chúng ta phải tham khảo hệ thống phân loại sản phẩm của Liên hợp quốc (CPC) Ngành phân phối bao gồm bốn loại hình dịch vụ chính: dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ (kể cả bán hàng đa cấp) và dịch vụ nhượng quyền thương mại, đồng thời đây cũng là bốn hình thức mà Việt Nam đã cam kết trong Biểu cam kết dịch vụ.

Quyền phân phối có hai hình thức chính: phân phối kèm với quyền nhập khẩu hàng hóa và phân phối không kèm theo quyền nhập khẩu Trong đó, phân phối kèm quyền nhập khẩu thường liên quan đến việc nhà phân phối nhập khẩu và bán hàng hóa tại thị trường trong nước, đồng thời phải tuân thủ các quy định liên quan đến nhập khẩu như không nhập hàng trong danh mục cấm, có giấy phép nhập khẩu nếu yêu cầu, và đáp ứng điều kiện của cơ quan quản lý Để thực hiện hoạt động nhập khẩu và phân phối, doanh nghiệp cần được cấp riêng biệt quyền nhập khẩu và quyền phân phối, hai quyền này là độc lập và có đặc điểm khác nhau rõ ràng.

Quyền nhập khẩu là quyền được nhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài vào Việt Nam để bán cho thương nhân có quyền phân phối hàng hoá đó tại Việt Nam, bao gồm quyền đứng tên trên tờ khai hàng hoá nhập khẩu và thực hiện các thủ tục liên quan đến nhập khẩu Tuy nhiên, quyền nhập khẩu không bao gồm việc tổ chức hoặc tham gia vào hệ thống phân phối hàng hoá tại Việt Nam, trừ khi quy định khác trong pháp luật Việt Nam hoặc các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Theo quy định về nhập khẩu, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sau khi nhập khẩu hàng hóa chỉ được phép bán cho thương nhân có quyền phân phối, gồm các tổ chức kinh tế hợp pháp hoặc cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên và đã đăng ký kinh doanh Doanh nghiệp này chỉ được cung cấp hàng hóa cho các thương nhân có đăng ký kinh doanh liên quan đến phân phối hàng hóa như bán buôn, bán lẻ, đại lý hoa hồng hoặc nhượng quyền thương mại, hoặc các công ty có vốn đầu tư nước ngoài có quyền phân phối được ghi nhận trong giấy chứng nhận đầu tư hoặc giấy phép kinh doanh Nếu chỉ đăng ký quyền nhập khẩu mà không đăng ký quyền phân phối, doanh nghiệp có vốn nước ngoài sẽ không đủ điều kiện tham gia vào các hoạt động bán buôn, bán lẻ, nhượng quyền hoặc làm đại lý trong hệ thống phân phối hàng hóa.

Doanh nghiệp có nguồn vốn nước ngoài chỉ được đăng ký quyền phân phối mà không kèm theo quyền nhập khẩu hàng hóa, đồng nghĩa với việc họ không được phép nhập khẩu sản phẩm trực tiếp từ nước ngoài Thay vào đó, doanh nghiệp chỉ có thể mua lại các sản phẩm từ các nhà cung cấp trong nước hoặc từ các nhà nhập khẩu khác để phân phối và bán tại thị trường nội địa.

Doanh nghiệp đăng ký cả quyền nhập khẩu và phân phối sẽ có khả năng nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam và tham gia hệ thống phân phối hàng hóa do chính họ nhập khẩu hoặc mua từ các nhà cung cấp khác Họ có thể bán lại sản phẩm cho các đối tượng thứ ba, bao gồm người bán buôn, người bán lẻ hoặc người tiêu dùng trực tiếp Việc này giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường và kiểm soát toàn bộ chuỗi phân phối hàng hóa trong nước.

Khi đăng ký quyền phân phối, doanh nghiệp cần đăng ký tên và mã HS của mặt hàng dự kiến phân phối Các mã hàng này sẽ được ghi nhận trên giấy chứng nhận đầu tư khi đăng ký lần đầu vào Việt Nam hoặc trên giấy phép kinh doanh khi bổ sung ngành nghề phân phối Do đó, doanh nghiệp chỉ được phép phân phối các mặt hàng đã được ghi nhận trong giấy chứng nhận đầu tư hoặc giấy phép kinh doanh.

4.2 Các hình thức phân phối hàng hóa theo quy định pháp luật Việt Nam

Theo khoản 5 điều 3 nghị định số 23/2007/NĐ – CP, phân phối gồm các hoạt động bán buôn, bán lẻ, đại lý mua bán hàng hóa và nhượng quyền thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam Quyền phân phối đề cập đến quyền thực hiện trực tiếp các hoạt động phân phối, đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành về thương mại và phân phối tại Việt Nam.

Bán buôn là hoạt động bán hàng hoá cho thương nhân, tổ chức khác; không bao gồm hoạt động bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng

Bán buôn là hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mua hàng hóa từ nhà cung cấp để sau đó phân phối lại cho các tổ chức hoặc cá nhân không trực tiếp sử dụng sản phẩm Công ty có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký quyền bán buôn được phép phân phối sản phẩm cho thương nhân hoặc tổ chức khác mà không cần phải là người tiêu dùng cuối cùng hoặc trực tiếp sử dụng hàng hóa Đối tượng mua trong hoạt động bán buôn rộng hơn so với quan hệ nhập khẩu, vì người mua chỉ cần không phải là người tiêu dùng cuối cùng hoặc không mua hàng để sử dụng trực tiếp.

Bán lẻ là hoạt động bán hàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng, đóng vai trò quan trọng trong chu trình phân phối Các cơ sở bán lẻ thuộc sở hữu của doanh nghiệp và chịu trách nhiệm thực hiện các hoạt động bán lẻ nhằm đưa sản phẩm tiếp cận trực tiếp với khách hàng Việc phát triển ngành bán lẻ góp phần thúc đẩy tiêu dùng và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Việc bán lẻ nhằm tiếp cận trực tiếp khách hàng sử dụng hàng hóa do công ty cung cấp, yêu cầu các công ty có vốn nước ngoài phải thành lập cơ sở bán lẻ để hoạt động kinh doanh diễn ra hợp pháp Mở cơ sở bán lẻ thứ nhất được tự do, trong khi các cơ sở thứ hai trở đi cần có sự cho phép của Bộ Công Thương dựa trên nhu cầu thực tế tại địa phương Theo Biểu cam kết dịch vụ, hoạt động bán lẻ còn bao gồm bán hàng đa cấp do các đại lý cá nhân người Việt Nam đã được đào tạo và cấp chứng chỉ phù hợp thực hiện Các đại lý này không hoạt động tại các địa điểm cố định và nhận phần thưởng cho cả hoạt động bán hàng lẫn dịch vụ hỗ trợ bán hàng, góp phần tăng doanh số bán hàng của các nhà phân phối khác.

Xu hướng nhập khẩu thương hiệu thông qua hình thức nhượng quyền thương mại ngày càng phổ biến tại thị trường Việt Nam, thu hút nhiều công ty nước ngoài Theo mô hình này, doanh nghiệp nhượng quyền chuyển giao quyền kinh doanh, mô hình, kỹ thuật, và dịch vụ của mình cho bên nhận quyền trên thương hiệu đã xây dựng Đổi lại, bên nhận quyền trả phí bản quyền hoặc phần trăm doanh thu theo thỏa thuận, đồng thời chịu trách nhiệm đầu tư hạ tầng và nhân lực Trong khi đó, doanh nghiệp nhượng quyền tập trung vào việc chuyển giao mô hình kinh doanh và cung cấp hỗ trợ về thương hiệu, quảng bá để thúc đẩy sự thành công của bên nhận quyền.

Việt Nam chính thức gia nhập WTO, mở ra nhiều cơ hội mới cho doanh nghiệp trong và ngoài nước Trong bối cảnh này, việc lựa chọn hình thức kinh doanh phù hợp giúp tối ưu hóa vốn, nhanh chóng mở rộng thị trường và kiểm soát hệ thống, từ đó nâng cao vị thế trên thị trường Hình thức nhượng quyền thương mại dự kiến sẽ trở thành lựa chọn phổ biến, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của mô hình này tại Việt Nam trong những năm tới.

Quá trình phát triển của các quy định về hoạt động phân phối tại Việt Nam

5.1 Trước khi Việt Nam là thành viên WTO

Trước khi gia nhập WTO, chính sách đối với thị trường phân phối của Việt Nam là đóng cửa, hạn chế các hoạt động phân phối trong nước và không khuyến khích các doanh nghiệp tham gia thị trường này Đồng thời, không có văn bản pháp lý nội địa nào điều chỉnh hoạt động phân phối của nhà đầu tư nước ngoài vào thời điểm đó.

Việt Nam đã chính thức cho phép các doanh nghiệp phân phối nước ngoài thành lập liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại nước ta Tính đến cuối năm 2006, thị trường phân phối Việt Nam đã chứng kiến sự gia tăng của nhiều doanh nghiệp nước ngoài thuộc các tập đoàn lớn toàn cầu như Metro Cash & Carry (Đức) với các siêu thị tại TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ; Big C (Pháp); Parkson (Malaysia); và tập đoàn Dairy Farm (Singapore) đã nộp đơn xin thành lập công ty 100% vốn nước ngoài, trong khi Lotte (Hàn Quốc) đang xin phép thành lập liên doanh.

Việc cấp phép này dựa trên đơn gửi tới Bộ Thương mại và được áp dụng cho từng trường hợp cụ thể Tuy nhiên, hiện chưa có bộ tiêu chí rõ ràng để quy định việc cấp phép này, dẫn đến tính linh hoạt nhưng cũng gây khó khăn trong quá trình xét duyệt Do đó, các doanh nghiệp cần gửi đơn riêng lẻ và theo dõi kỹ các yêu cầu để đảm bảo đúng quy trình.

Ngoài ra, một số trường hợp được phép nhập khẩu và phân phối dựa trên các hiệp định quốc tế song phương và đa phương mà Việt Nam đã ký kết Ví dụ, Panasonic được phân phối tại Việt Nam thông qua Hiệp định bảo hộ đầu tư Việt Nam - Nhật Bản, trong khi các thương hiệu như Louis Vuitton và Metro gia nhập thị trường phân phối Việt Nam dựa trên Hiệp định Việt Nam - EU.

5.2 Sau khi Việt Nam là thành viên WTO

Việc gia nhập WTO và thực hiện các cam kết của tổ chức này đã thay đổi cách quản lý và điều chỉnh hoạt động phân phối tại Việt Nam, ảnh hưởng đến các doanh nghiệp trong nước, nhà đầu tư nước ngoài và cơ quan quản lý nhà nước Các cam kết WTO đã góp phần thúc đẩy bộ máy pháp lý phù hợp hơn với tiêu chuẩn quốc tế, bằng cách ban hành, sửa đổi và thay thế nhiều văn bản luật như Nghị định 23/2007, Thông tư 10/TT-BTM và Thông tư 05/TT-BCT, nhằm điều chỉnh hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực phân phối Cơ chế cấp giấy phép trong lĩnh vực này cũng đã chuyển sang hình thức minh bạch, rõ ràng hơn so với trước khi Việt Nam gia nhập WTO, qua đó tạo ra môi trường cạnh tranh công bằng và nâng cao tính minh bạch trong hoạt động phân phối tại Việt Nam.

Trong góc độ quản lý nhà nước, chính phủ Việt Nam đã nâng cao hiệu quả quản lý lĩnh vực phân phối bằng cách tăng cường sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan có thẩm quyền và cải thiện chất lượng quản lý của các cơ quan chuyên môn Trước khi ban hành Nghị định 23/2007/NĐ-CP, việc cấp phép đầu tư trong lĩnh vực phân phối chủ yếu do sở kế hoạch hoặc bộ kế hoạch đầu tư thực hiện, không yêu cầu lấy ý kiến từ Bộ Công Thương Theo quy định mới, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài muốn hoạt động trong lĩnh vực này cần được Bộ Công Thương chấp thuận, trong đó, các doanh nghiệp đã có giấy chứng nhận đầu tư muốn bổ sung chức năng phân phối phải được ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy phép sau khi có ý kiến bằng văn bản của Bộ Công Thương Đối với nhà đầu tư nước ngoài mới vào Việt Nam trong lĩnh vực phân phối, hồ sơ sẽ được gửi tới cơ quan quản lý đầu tư để xin phép sau khi có ý kiến chấp thuận từ Bộ Công Thương, tăng cường vai trò của Bộ trong quy trình cấp giấy phép, phù hợp vì Bộ là cơ quan chủ quản hoạt động phân phối.

Các cam kết của WTO đặt ra áp lực buộc các nhà quản lý trong lĩnh vực phân phối phải hiểu rõ và tuân thủ quy định quốc tế, góp phần nâng cao nhận thức về tuân thủ các quy tắc toàn cầu Trong đó, Bộ Công Thương cùng các cơ quan liên quan như UBND và Sở Kế hoạch Đầu tư phải phối hợp xây dựng các quy trình cấp phép dựa trên các tiêu chí khách quan, đảm bảo minh bạch và phù hợp với cam kết của Việt Nam trong Biểu cam kết dịch vụ Việc xác định các tiêu chí như số lượng nhà cung cấp, sự ổn định của thị trường và quy mô địa lý nhằm bảo vệ nhà phân phối trong nước đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho thực thi cam kết WTO, mặc dù đây là quá trình phức tạp và đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan quản lý.

Việc cân bằng giữa các chính sách kinh tế xã hội và việc thực thi các hạn chế trong biểu cam kết của Việt Nam vẫn là thách thức lớn đối với các nhà quản lý Các cơ quan quản lý địa phương gặp khó khăn trong việc theo đuổi các mục tiêu phát triển kinh tế của riêng họ do phải tuân thủ các lộ trình và cam kết về hạn chế trong biểu cam kết dịch vụ của WTO Nhiều trường hợp, các cơ quan này phải từ chối cấp phép cho nhà đầu tư nước ngoài dù mong muốn thu hút đầu tư, như trường hợp của Metro tại An Giang, nơi dự án hỗ trợ nông dân trồng lúa gặp rắc rối do liên quan đến cam kết WTO về dịch vụ phân phối hàng hóa như gạo Sự mâu thuẫn giữa chính sách địa phương và các cam kết quốc tế đang đặt ra nhiều thách thức trong quá trình quản lý và phát triển kinh tế của Việt Nam.

Thực tế, việc loại trừ một số hàng hóa khỏi Biểu cam kết dịch vụ của WTO không đồng nghĩa với việc cấm phân phối tại Việt Nam, bởi Việt Nam không bắt buộc áp dụng hoặc không áp dụng các biện pháp hạn chế đối với các mặt hàng này Quyết định phân phối hay không phân phối các mặt hàng này hoàn toàn thuộc quyền tự quyết của Việt Nam, không phụ thuộc vào cam kết WTO hay GATS Ngoài ra, Việt Nam phải tuân thủ các nguyên tắc của WTO, trong đó nguyên tắc đối xử tối huệ quốc bắt buộc các nhà đầu tư nước ngoài được đối xử công bằng khi được phép thành lập cơ sở kinh doanh, như Metro của Đức Việt Nam có thể áp dụng hạn chế theo cam kết, nhưng không bắt buộc phải làm vậy, và WTO không cấm quốc gia mở cửa thị trường cao hơn mức cam kết Trong thực tế, gạo là mặt hàng bị cấm phân phối đối với nhà đầu tư nước ngoài theo quyết định 10/2007/QĐ-TTg, nên nếu UBND cho phép phân phối gạo trái quy định này là vi phạm pháp luật nội địa.

Sau khi gia nhập WTO, các doanh nghiệp phân phối có vốn đầu tư nước ngoài, bao gồm cả doanh nghiệp và siêu thị 100% vốn nước ngoài, tiếp tục được phép hoạt động theo các điều kiện đã quy định trong giấy phép của họ.

Kể từ ngày 11/1/2007, khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên WTO, việc thành lập mới các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực phân phối phải tuân thủ các cam kết của cam kết hội nhập quốc tế Điều này đồng nghĩa với việc các quy định về đầu tư và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nước ngoài trở nên chặt chẽ hơn, yêu cầu các doanh nghiệp phải đáp ứng các tiêu chuẩn cao hơn để hoạt động tại thị trường Việt Nam.

Sau khi gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới, hoạt động phân phối được mở cửa theo lộ trình từng bước nhằm tránh những cú sốc có thể ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế Quyết định 10/2007/QĐ-TTg đã nội luật hóa lộ trình mở cửa này, đảm bảo quá trình hội nhập thương mại diễn ra ổn định và bền vững.

Quyết định 10/2007/QĐ-TTg quy định rõ danh mục hàng hóa không được phép phân phối tại Việt Nam, như lúa gạo, đường mía, củ cải đường, thuốc lá, xì gà, sách báo, vật phẩm ghi hình, kim loại quý, đá quý, dược phẩm, thuốc nổ, dầu thô và dầu đã qua chế biến Điều này cho thấy tất cả các mặt hàng Việt Nam loại trừ khỏi Biểu cam kết dịch vụ trong ngành phân phối đều bị cấm đối với nhà đầu tư nước ngoài theo quyết định này Việt Nam không bắt buộc phải cho phép nhà đầu tư nước ngoài cung cấp các mặt hàng đã loại trừ khỏi biểu cam kết, và việc cấm hoặc cho phép phụ thuộc vào quyết định của chính phủ Trong trường hợp này, Việt Nam hoàn toàn cấm các hàng hóa đã loại trừ khỏi Biểu cam kết dịch vụ trong luật pháp nội địa Ngoài các mặt hàng cấm, Phụ lục số 04 của quyết định còn quy định danh mục hàng hóa phân phối theo lộ trình, phù hợp với các cam kết trong Biểu cam kết dịch vụ, đảm bảo tính nhất quán giữa pháp luật nội địa và cam kết quốc tế về lĩnh vực phân phối hàng hóa.

Hệ thống phân phối của Việt Nam đã mở cửa đón nhận các nhà đầu tư nước ngoài kể từ khi quốc gia gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngành phân phối Chính sách pháp luật điều chỉnh hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực này đã được ban hành đầy đủ, xây dựng khung pháp lý rõ ràng và thúc đẩy thu hút đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, các quy định pháp luật vẫn còn những hạn chế nhất định cần được rà soát và hoàn thiện để phù hợp hơn với thực tiễn thị trường Những nội dung này sẽ được phân tích kỹ hơn trong chương II của đề tài.

THỰC TRÀNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG PHÂN PHỐI VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN ĐẦU TƯ CỦA CÔNG TY INVESTCONSULT GROUP

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG CUNG CẤP DỊCH VỤ TƯ VẤN ĐẦU TƯ TRONG LĨNH VỰC PHÂN PHỐI TẠI CÔNG TY TƯ VẤN ĐẦU TƯ VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ

Ngày đăng: 19/02/2023, 21:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Cam kết về dịch vụ khi gia nhập WTO bình luận của người trong cuộc do bộ công thương phát hành, nhà xuất bản thống kê tháng 6 năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cam kết về dịch vụ khi gia nhập WTO bình luận của người trong cuộc
Nhà XB: Bộ Công Thương
Năm: 2010
3. www.unctad.org (tràng web của Tổ chức về Thương mại và Phát triển của Liên Hợp quốc): các bài nghiên cứu, đánh giá về từng ngành dịch vụ cụ thể cũng như kinh nghiệm trong tự do hoá dịch vụ của nhiều nước trên thế giới Link
4. www.itc.org (tràng web của Trung tâm Thương mại quốc tế ITC): cung cấp các thông tin về đàm phán mở cửa thị trường dịch vụ trong khuôn khổ song phương và đa phương của một số nước trên thế giới. Ngoài ra, tràng web có nhiều nguồn tài liệu hữu ích cho việc nghiên cứu lĩnh vực dịch vụ Link
5. www.ustr.gov (tràng web của Cơ quan đại diện Thương mại Hoa Kỳ): các thông tin về đàm phán mở cửa thị trường nói chung và đàm phán mở cửa thị trường dịch vụ nói riêng giữa Hoa Kỳ với các nước trên thế giới cũng như tình hình đàm phán chung trong thương mại quốc tế Link
6. www.nciec.gov.vn (tràng web của Uỷ ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế) và Link
7. www.moit.gov.vn (tràng web của Bộ Công Thương): nội dung toàn bộ cam kết gia nhập WTO của Việt Nam Link
1. www.cior.com: chuyên cung cấp thông tin về các doanh nghiệp bán lẻ châu Âu và thế giới Link
2. www.euromonitor.com: thông tin về thị trường hàng tiêu dùng toàn cầu và cung cấp các ấn bản về số liệu thống kê toàn cầu trong lĩnh vực phân phối Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w