Bình luận về thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính quy định tại Điều 30 Luật Tố tụng hành chính năm 2015? Qua đó, nêu ý kiến cá nhân của anhchị về nhận định: “Luật tố tụng hành chính Việt Nam cần quy định mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan tổ chức”MỤC LỤC A MỞ ĐẦU 1 B NỘI DUNG 1 I Khái quát về thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án nhân dân 1 1 Khái niệm thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của Tòa án nhân dân 1 2 Phân loại thẩm quyền giải quyết.
Trang 1MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 1
I Khái quát về thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án nhân dân 1
1 Khái niệm thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của Tòa án nhân dân 1
2 Phân loại thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính của tòa án 2
3 Ý nghĩa của việc xác định thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính của Tòa án 2
II Các quy định của pháp luật về thẩm quyền xét xử vụ án hành chính theo loại việc quy định tại Điều 30 Luật tố tụng hành chính năm 2015 3
III Ý kiến cá nhân về nhận định 7
IV Đánh giá quy định của pháp luật về thẩm quyền xét xử vụ án hành chính theo loại việc của Tòa án nhân dân 10
1 Một số điểm mới trong quy định của Luật tố tụng hành chính 2015 về thẩm quyền xét xử vụ án hành chính theo loại việc của Tòa án 10
2 Một số vướng mắc trong các quy định về thẩm quyền xét xử vụ án hành chính theo vụ việc 11
3 Một số giải pháp khắc phục những tồn tại trong quy định của pháp luật về thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của tòa án theo loại việc 13
C KẾT LUẬN 14
Danh mục tài liệu tham khảo 15
2
Trang 2A MỞ ĐẦU
Thẩm quyền xét xử hành chính là một nội dung quan trọng trong tài phán hành chính, liên quan đến quản lý hành chính nhà nước, đến tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước Xây dựng một nhà nước đảm bảo rằng các chủ thể trong xã hội tuân thủ pháp luật nghiêm chỉnh là một tiêu chí quan trọng của nhà nước pháp quyền Việc xét xử của Tòa án là trọng tâm của sự đảm bảo đó
“Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” (Điều 102 Hiến pháp 2013) Với chức năng
xét xử của mình, Tòa án có thẩm quyền trong việc xét xử các vụ án hình sự, các
vụ việc dân sự và các vụ án hành chính Trong mỗi lĩnh vực khác nhau thì thẩm quyền xét xử của Tòa án lại được quy định khác nhau Vậy pháp luật có các quy định như thế nào về thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của Tòa án nhân dân,
cụ thể là về thẩm quyền xét xử theo loại việc? Để làm rõ vấn để trên em xin
chọn đề tài là “Anh/chị hãy bình luận về thẩm quyền giải quyết vụ án hành
chính quy định tại Điều 30 Luật Tố tụng hành chính năm 2015? Qua đó, hãy nêu ý kiến cá nhân của anh/chị về nhận định: “Luật tố tụng hành chính Việt Nam cần quy định mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan tổ chức”” làm đề tài cho bài tập của mình.
B NỘI DUNG
I Khái quát về thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án nhân dân
1 Khái niệm thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của Tòa án nhân dân
Thẩm quyền của một cơ quan quyền lực nhà nước đó là phương tiện để các chủ thể đại diện cho quyền lực nhà nước thực hiện và duy trì nhiệm vụ, công vụ của mình Đối với Tòa án, thẩm quyền chính là khả năng Nhà nước quy định cho cơ quan này trong việc xem xét và ra phán quyết về tranh chấp pháp lý Khi được nhà nước trao quyền, Tòa án sau khi thụ lý vụ án, sẽ xem xét và ra phán quyết có tính bắt buộc phải thi hành với các đối tượng có liên quan
Như vậy thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án “là khả năng của Tòa
án theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính, thực hiện việc xem xét, đánh
1
Trang 3giá và ra phán quyết về yêu cầu khởi kiện đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước”.1
Thẩm quyền của Tòa án khi giải quyết tranh chấp hành chính chỉ giới hạn ở việc xem xét, đánh giá về tính hợp pháp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính Phạm vi xác định này nhằm bảo đảm rằng tư pháp không can thiệp vào công việc của hành pháp
2 Phân loại thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính của tòa án
Hiểu theo nghĩa rộng, khi xét về thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính của tòa án là việc xác định trường hợp nào thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết
vụ án hành chính đó và Tòa án có quyền làm những gì để giải quyết vụ án hành chính
Theo nghĩa hẹp, thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính được chia thành
ba loại thẩm quyền, cụ thể đó là:
Thứ nhất, thẩm quyền theo vụ việc (loại việc), quy định tại Điều 30 Luật
Tố tụng hành chính 2015
Thứ hai, thẩm quyền theo cấp xét xử, quy định tại Điều 31, 32 Luật tố tụng
hành chính 2015
Thứ ba, thẩm quyền theo lãnh thổ, quy định tại Điều 34 Luật tồ tụng hành
chính 2015
3 Ý nghĩa của việc xác định thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính của Tòa án
Luật Tố tụng hành chính năm 2015 được Quốc hội thông qua ngày 25/11/2015 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016, đã thể chế hóa chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp “mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với các khiếu kiện hành chính Đổi mới mạnh mẽ thủ tục giải quyết các khiếu kiện hành chính tại Tòa án; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng giữa công dân và cơ quan công quyền trước Tòa án”
1 Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội “Giáo trình Luật tố tụng hành chính” 2016.
2
Trang 4Việc xác định thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính của tòa án nhằm giải quyết đúng đắn, kịp thời những khiếu kiện, yêu cầu của công dân, cơ quan, tổ chức trong hoạt động kinh tế - xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tránh tình trạng trốn tránh trách nhiệm của cơ quan quản lí nhà nước trong những trường hợp sai phạm, đây được coi như là một cơ chế kiểm soát quyền lực được Hiến định trong Hiến pháp Ngoài ra, đảm bảo tránh sự chồng chéo, giải quyết nhanh chóng vụ án
II Các quy định của pháp luật về thẩm quyền xét xử vụ án hành chính theo loại việc quy định tại Điều 30 Luật tố tụng hành chính năm 2015
Khi nói đến thẩm quyền xét xử vụ án hành chính theo loại việc của Tòa án
là nói đến những đối tượng khởi kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Theo quy định tại Điều 30 Luật tố tụng hành chính 2015, thì những
vụ việc hành chính thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân gồm:
“1 Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết định, hành vi sau đây:
a) Quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo quy định của pháp luật; b) Quyết định, hành vi của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính, xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng;
c) Quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức.
2 Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống.
3 Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.
4 Khiếu kiện danh sách cử tri.”
Như vậy, đối tượng khởi kiện hành chính gồm có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, việc lập danh sách cử tri
Quyết định hành chính
3
Trang 5Theo khoản 1 Điều 3 Luật tố tụng hành chính 2015 thì: “Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành quyết định về vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.”
Ví dụ: chủ tịch ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh N ra quyết định thu hồi 500m2 đất của ông C Ông C nhận thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm nên đã khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định thu hồi đất của chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện M Đối tượng khởi kiện ở đây chính là quyết định hành chính, cụ thể là quyết định thu hồi đất
Quyết định hành chính bị kiện là quyết định làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.2
Quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện cần có các dấu hiệu đó là:
Thứ nhất, xét về hình thức, quyết định phải được thể hiện bằng văn bản.
Quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết
vụ án hành chính là văn bản được thể hiện dưới hình thức quyết định hoặc dưới hình thức khác như thông báo, kết luận, công văn do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành có chứa đựng nội dung của quyết định hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính mà người khởi kiện cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.3
Thứ hai, chủ thể ban hành quyết định hành chính là cơ quan hành chính
nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó Cơ quan hành chính nhà nước ở đây được hiểu là cơ quan có chức năng
2 Khoản 2 Điều 3 Luật tố tụng hành chính 2015.
3 Xem Điều 1 Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/2/2011 của hội đồng thẩm phán TAND
4
Trang 6quản lý hành chính nhà nước và các cơ quan khác được giao một số nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước
Thứ ba, quyết định hành chính được cơ quan hành chính nhà nước, cơ
quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành trong khi giải quyết, xử lý những việc cụ thể trong quản lý hành chính nhà nước
Thứ tư, quyết định hành chính là quyết định áp dụng pháp luật hay còn
được gọi là quyết định cá biệt
Thứ năm, quyết định hành chính bị khiếu kiện chủ yếu là quyết định lần
đầu Tuy nhiên, cũng có thể là quyết định lần 2 hoặc quyết định giải quyết khiếu nại.4
Hành vi hành chính
Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật tố tụng hành chính 2015 thì “Hành
vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.”
Những hành vi hành chính bị khởi kiện đó là những hành vi làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Quyết định kỉ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ Tổng cục trưởng trở và tương đương trở xuống
“Quyết định kỷ luật buộc thôi việc là quyết định bằng văn bản của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức thuộc quyền quản lý của mình” (khoản 5 Điều 3 Luật tố tụng hành
chính 2015) Quyết định kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức là một dạng quyết định hành chính đặc thù thể hiện mối quan hệ giữa người đứng đầu cơ quan, tổ chức đối với công chức thuộc quyền khi họ vi phạm pháp luật hoặc vi phạm kỷ luật
4 Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội “Giáo trình Luật tố tụng hành chính” 2016 Tr52-53.
5
Trang 7Quyết định kỷ luật buộc thôi việc trong vụ án hành chính theo quy định của pháp luật hiện hành cần thiết phải có hai điều kiện: thứ nhất là quyết định đó phải áp dụng cho công chức; thứ hai là công chức đó phải giữ chức từ tổng cục trưởng trở xuống
Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh
Vụ việc cạnh tranh được quy định cụ thể trong Luật cạnh tranh 2012 Theo
đó, thẩm quyền xử lí vụ việc cạnh tranh thuộc về Hội đồng xử lí việc cạnh tranh hoặc thủ trưởng cơ quan quản lí cạnh tranh Trong trường hợp, đương sự không đồng ý với quyết định xử lí vụ việc cạnh tranh sẽ yêu cầu giải quyết khiếu nại lên Hội đồng cạnh tranh hoặc Bộ trưởng bộ công thương Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại thì có quyền khởi kiện quyết định giải quyết khiếu nại đó lên Tòa án Ở đây, luật tách đối tượng giải quyết khiếu nại này ra thành đối tượng khởi kiện đặc biệt vì chỉ có quyết định giải quyết khiếu nại mới
là đối tượng khởi kiện Sỡ dĩ, Luật không quy định về việc khởi kiện trực tiếp quyết định giải quyết vụ việc cạnh tranh lên tòa án vì đây là vụ việc mang tính chất thương mại, tòa án không đủ chuyên môn để giải quyết Tòa án chỉ có khả năng xem xét quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan quản lí hành chính trong trường hợp này
Danh sách cử tri bầu cử Đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sách cử tri trưng cầu ý dân
Danh sách cử tri bầu cử Đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sách cử tri trưng cầu ý dân là danh sách những người đạt độ tuổi nhất định, đủ năng lực hành vi, không bị hạn chế quyền công dân trên một địa bàn, một khu vực bầu cử sẽ tham gia bỏ phiếu bầu cử đại biểu quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân trong một giai đoạn nhất định hoặc bỏ phiếu để quyết định một vấn đề khi nhà nước trưng cầu ý dân Nếu như danh sách cử tri này có ảnh sai sót ảnh hưởng đến quyền bầu cử của công dân thì nó có thể trở thành đối tượng khởi kiện của một vụ án hành chính
6
Trang 8III Ý kiến cá nhân về nhận định
Đối với nhận định: “Luật tố tụng hành chính Việt Nam cần quy định mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan tổ chức”, theo ý kiến cá nhân của em
về nhận định này thì em có quan điểm là không cần quy định mở rộng hơn nữa
vì các lý do:
Thứ nhất, việc mở rộng thẩm quyền của Tòa án đối với khiếu kiện hành
chính về quyết định hành chính và hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức sẽ dẫn tới sự can thiệp quá sâu vào hoạt động quản lý, điều hành
và không bảo đảm tính ổn định, tính có trật tự trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của cơ quan, tổ chức
Thứ hai, phần là vì những quyết định hành chính, hành vi hành chính của
nội bộ chỉ mang tính chỉ đạo, điều hành việc triển khai thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch công tác; quản lý, tổ chức cán bộ, kinh phí, tài sản được giao; kiểm tra, thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ, chính sách, pháp luật đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và các đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức, không phải là quyết định làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Tuy nhiên việc giải thích quyết định hành chính, hành vi hành chính mang
tính nội bộ tại Khoản 6 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính thì “quyết định hành chính và hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức được hiểu là những quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc quản lý, chỉ đạo, điều hành việc triển khai thực hiện kế hoạch công tác theo chức năng, nhiệm vụ được giao; các quyết định trong công tác tổ chức cán bộ; công tác quản lý kinh phí, tài sản được nhà nước giao; hoặc trong công tác kiểm tra, thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ, công tác đối với cán bộ, công chức và chỉ đạo, điều hành đối với các đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức (trừ Quyết định kỷ luật buộc thôi việc)” là cách giải thích còn chung chung, chưa rõ ràng,
7
Trang 9minh bạch, dẫn đến nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhau trên thực tế, cần được
cụ thể hóa hơn nữa trong các văn bản hướng dẫn để người dân có thể hiểu rõ và
dễ dàng thực hiện
Có thể vì những lý do chính đáng khác nhau, người khởi kiện không thể thực hiện được quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Trong đó, chủ yếu là quyết định về “quản lý, tổ chức cán bộ” gây nhiều tranh cãi Có thể lấy 01 vụ việc xảy ra năm 2019 tại một tỉnh làm ví dụ: Ngày 30/5/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh X tổ chức công bố quyết định về công tác cán
bộ Trong đó, có quyết định điều động ông B khi đó là Phó Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh sang công tác ở Hội Chữ thập đỏ tỉnh Tuy nhiên, ông B đã từ chối nhận quyết định điều động Lý do không chấp nhận về Hội Chữ thập đỏ vì khi
về Hội Chữ thập đỏ công tác sẽ không còn là công chức Ông khiếu nại lên Ủy ban nhân dân tỉnh nhưng khiếu nại của ông về quyết định điều động không được thụ lý giải quyết Căn cứ vào quy định pháp luật hiện hành, ông có quyền khiếu nại hay khởi kiện vụ án hành chính hay không?
Điều 11 Luật Khiếu nại năm 2011 có quy định các khiếu nại không được
thụ lý giải quyết, trong đó trường hợp đầu tiên là “Quyết định hành chính, hành
vi hành chính trong nội bộ cơ quan nhà nước để chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ; quyết định hành chính, hành vi hành chính trong chỉ đạo điều hành của cơ quan hành chính cấp trên với cơ quan hành chính cấp dưới; quyết định hành chính có chứa đựng các quy phạm pháp luật do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật; quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định;”
Tương tự như vậy, tại điểm C, khoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính
năm 2015 cũng quy định “Quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức” không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
8
Trang 10Như vậy, trường hợp này, nếu ông khởi kiện vụ án hành chính thì Tòa án
cũng không thụ lý giải quyết, vì đây là quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức trong quản lý, tổ chức cán bộ.
Vấn đề sẽ không bàn cãi nếu ông B được điều động sang một cơ quan khác
mà ông vẫn còn là công chức Ở đây, ông B là công chức trong cơ quan hành chính nhà nước lại được điều động sang Hội Chữ thập đỏ, một Hội đặc thù, không chuyên môn về pháp luật Ông khiếu nại không được thụ lý giải quyết, nếu ông khởi kiện cũng sẽ không được thụ lý, bởi vì quy định quá chung chung
về quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức ở hai văn bản luật nêu trên dẫn đến bất cập này.
Rõ ràng quyền và lợi ích của người dân trong trường hợp này đã bị ảnh hưởng, nhưng không thể khởi kiện Do đó cần kiến nghị Quốc hội quy định hoặc giao quyền cho Chính phủ quy định chi tiết, cụ thể những trường hợp nào được gọi là “mang tính nội bộ” của cơ quan, tổ chức Đặc biệt, trong điều động cán bộ, công chức, có cho phép “làm mất” biên chế cán bộ, công chức của người được điều động hay không, có tính đến sự phù hợp về chuyên môn, nghiệp vụ hay không Theo quan điểm cá nhân của em, nên quy định theo hướng việc điều động không làm mất biên chế cán bộ, công chức và công việc mới phải phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ của người được điều động Nếu
cơ quan nào điều động không đúng quy định thì cho phép cán bộ, công chức được thực hiện quyền khởi kiện vụ án hành chính Có như vậy mới bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Như vậy, để đảm bảo việc xác định thẩm quyền của tòa án một cách thống nhất và chính xác, cần quy định và giải thích một cách rõ ràng, minh bạch các
thuật ngữ “quyết định hành chính, hành vi hành chính; quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính chất nội bộ” Các khái niệm này một phần đã
được giải thích trong luật nhưng các địa phương khác nhau trên thực tế vẫn có trường hợp áp dụng sai, vì vậy tòa án nhân dân tối cao với tư cách là cơ quan hướng dẫn các tòa án áp dụng thống nhất pháp luật cần giải thích và hướng dẫn
cụ thể, rõ ràng tạo thuận lợi cho quá trình thụ lí và xét xử hành chính
9