1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Chủ Nghĩa Tư Bản Độc Quyền Và Chủ Nghĩa Tư Bản Độc Quyền Nhà Nước.pdf

15 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chủ Nghĩa Tư Bản Độc Quyền Và Chủ Nghĩa Tư Bản Độc Quyền Nhà Nước
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn P. T. S. Nguyễn Văn A
Trường học Đại học Kinh tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế chính trị
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 185,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Më ®Çu TiÓu luËn kinh tÕ chÝnh trÞ Mở đầu Hiện nay, trên thế giới, các nước phát triển nhất lại là các nước đi theo con đường tư bản chủ nghĩa Điều này đã và đang khẳng định vai trò và ý nghĩa to lớn[.]

Trang 1

Mở đầu

Hiện nay, trên thế giới, các nước phát triển nhất lại là các nước đi theo con đường tư bản chủ nghĩa Điều này đã và đang khẳng định vai trò và ý nghĩa

to lớn của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Quả thực, trong quá trình phát triển, nếu chưa xét đến hậu quả nghiêm trọng đã gây ra đối với loài người thì Chủ nghĩa tư bản vẫn có những mặt đóng góp tích cực đối với sản xuất Nó đã tạo ra

1 lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ và năng suất lao động cao chưa từng thấy trong lịch sử; nó góp phần chuyển ẩn xuất nhỏ thành sản xuất lớn, hiện đại

và thực hiện xã hội hoá sản xuất Vậy, quá trình sản xuất tư bản thực chất là gì

mà nó lại có những đóng góp to lớn như thế đối với lịch sử phát triển kinh tế xã hội Mục đích của bài tiểu luận này là chỉ ra và chứng minh quá trình sản xuất

tư bản là quá trình thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình tạo ra giá trị

và tăng thêm giá trị

Bài tiểu luận này là những bước đi đầu tiên của quá trình nghiên cứu và học tập.do đó chắc chắn còn có nhiều thiếu sót và sai lầm Rất mong sự chỉ bảo

và góp ý của cô

Trang 2

PHẦN I: CƠ SỞ LÍ LUẬN

Quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa là quá trình thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình tạo ra giá trị và tăng thêm giá trị Sự thống nhất này được thể hiện rõ nét trong quá trình sản xuất giá trị thặng dư

Muốn tìm hiểu về quá trình này trước hết ta phải trang bị cho mình kiến thức về công thức chung tư bản, mâu thuẫn của công thức ấy và hàng hoá sức lao động – nguồn gốc của giá trị thặng dư

CHƯƠNG I: CÔNG THỨC CHUNG CỦA TƯ BẢN – MÂU THUẪN CỦA CÔNG THỨC CHUNG TƯ BẢN HÀNG HOÁ SỨC LAO

ĐỘNG

1 Công thức chung của tư bản

Tiền là hình thái giá trị cuối cùng của sản xuất và lưu thông hàng hóa giản đơn và đồng thời cũng là hình thức biểu hiện đầu tiên của tư bản Điều này

đã được thể hiện rõ khi ta so sánh hai công thức của quá trình sản xuất hàng hoá giản đơn (1) với quá trình sản xuất tư bản (2)

(1) H – T – H (2) T – H – T’

Khác với công thức (1), ở công thức (2) bắt đầu bằng mua, sau đó mới bán Điểm kết thúc và điểm mở đầu đều là tiền, hàng hoá chỉ là trung gian trong trao đổi Như vậy, tiền ở đây được ứng trước để thu về số lượng lớn hơn T’ > T hay T’ = T +  T Lượng tiền trội hơn  T được Cac mác gọi là giá trị thặng

dư, ký hiệu là m

Số tiền ứng ra ban đầu với mục đích thu được m trở thành tư bản Như vậy, bản thân tiền không phải là tư bản mà nó chỉ trở thành tư bản khi được dùng để mang lại giá trị thặng dư

Công thức: T – H – T’ được gọi là công thức chung của tư bản Trong bản thân công thức này đã tồn tại mâu thuẫn

2 Mâu thuẫn của công thức chung tư bản

Trang 3

Lý luận giá trị kết luận rằng: giá trị của hàng hóa là sự hao phí sức lao động xã hội cần thiết kết tinh trong sản phẩm Nghĩa là giá trị của hàng hoá chỉ được tạo ra trong sản xuất Nhưng khi nhìn vào công thức (2) lại có cảm giác giá trị thặng dư được tạo ra trong quá trình lưu thông Nhưng trên thực tế, sự lưu thông thuần tuý đã diễn ra dưới hình thức nào (dù là mua rẻ, bán đắt, lừa lọc ) Xét trên phạm vi xã hội cũng không hề làm tăng thêm giá trị cho hàng hoá, tức là tạo ra giá trị thặng dư mà chỉ là phân phối sản phẩm mà thôi

Nhưng nếu xét ngoài lưu thông thì tiền tệ cũng không hề tăng thêm giá trị Như vậy, mâu thuẫn của công thức chung tư bản là: giá trị thặng dư vừa được tạo ra trong lưu thông, lại vừa không được tạo ra trong lưu thông Để giải quyết mâu thuẫn này phải tìm được trên thị trường một loại hàng hoá có khả năng tạo ra giá trị lớn hơn giá trị của nó Cac mác là người đầu tiên phân tích và giải quyết mâu thuẫn đó bằng lý luận về hàng hoá sức lao động

Vậy, hàng hoá sức lao động là hàng hoá gì, nó có điểm nào đặc biệt mà giải giải quyết được mâu thuẫn của công thức chung tư bản?

3 Hàng hoá sức lao động và hai thuộc tính của nó

3.1 Hàng hoá sức lao động

Sức lao động là toàn bộ thể lực, trí lực của con người, là khả năng lao động của con người được con người đưa vào quá trình lao động sản xuất

Sức lao động chỉ trở thành hàng hoá khi có hai điều kiện: người lao động được tự do thân thể , có thể đem bán sức lao động bằng hình thức đi làm thuê và người lao động không có tư liệu sản xuất hay của cải khác, buộc họ phải bán sức lao động của mình cho những người có tư liệu sản xuất

3.2 Hai thuộc tính của hàng hoá sức lao động.

Hàng hoá sức lao động cũng có hai thuộc tính như hàng hoá thông thường:

Thuộc tính giá trị: là toàn bộ giá trị tư liệu sản xuất cần thiết để sản xuất

và tái sản xuất sức lao động để duy trì đời sống của người lao động và gia đình của họ

Trang 4

Thuộc tính giá trị sử dụng: Nhằm thoả mãn nhu cầu nào đó của người mua sức lao động, tức là nhằm để sử dụng vào quá trình sản xuất

Tuy nhiên, hàng hoá sức lao động có những đặc điểm riêng vì nó là một loại hàng hoá đặc biệt:

Về mặt giá trị, nó không tách khỏi người bán và chỉ bán trong một thời gian nhất định nên nó bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử Được quyết định bằng giá trị của các tư liệu sinh hoạt

Về mặt giá trị sử dụng, khi được sử dụng, nó tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó

 Như vậy, hàng hoá sức lao động là nhân tố, là nguồn gốc của giá trị thặng dư, là điều kiện để chuyển tiền thành tư bản, là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn chung của công thức chung tư bản

CHƯƠNG II: QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ – MÂU THUẪN CỦA CÔNG THỨC CHUNG TƯ BẢN

1.Quá trình sản xuất giá trị thặng dư.

1.1 Quá trình sản xuất giá trị thặng dư là quá trình tạo ra giá trị

và tăng thêm giá trị.

Bởi muốn tạo ra giá trị thặng dư trước hết phải tạo ra giá trị của sản phẩm Nhưng mục đích cao nhất của chủ nghĩa tư bản là giá trị thặng dư Muốn sản xuất, nhà tư bản phải mua các yếu tố sản xuất – tư liệu sản xuất và sức lao động Giả định việc mua các tư liệu này là đúng giá trị

Ví dụ: nhà tư bản sản xuất sợi: - Mua 10 kg bông giá 10 $

- Mua sức lao động trong một ngày: 3 $

- Hao mòn máy để chuyển 10 kg bông

thành sợi 2 $

Trong 4 giờ, bằng lao động cụ thể, người công nhân chuyển hết 10 kg bông thành sợi và bằng lao động trừu tượng tạo thêm giá trị mới là 3 $ Vậy, lúc này sợi là hàng hoá có giá trị: 10 $ bông + 3 $ công lao động + 2 $ hao mòn máy = 15 $

Trang 5

Nếu ngày lao động chỉ có 4 giờ thì nhà tư bản không có lãi vì không có giá trị thặng dư Do đó, nhà tư bản kéo dài thêm thời gian lao động (vì họ mua sức lao động của công nhân trong cả ngày nên họ có quyền sử dụng nốt 4 giờ còn lại)

Trong 4 giờ sau, nhà tư bản chỉ phải mất 10 $ bông + 2 $ hao phí máy móc, còn tiền công không phải trả Và tương tự như 4 giờ đầu, họ thu được hàng hoá sợi có giá trị 15 $

Như vậy, trong 1 ngày lao động 8 giờ, nhà tư bản phải chi phí:

- Mua bông: 20 kg = 20 $

- Hao mòn máy = 4 $

- Trả tiền công nhân: = 3 $

Tổng cộng: 27 $.

Trong khi đó họ thu được sợi có giá trị: 15 $ x 2 = 30 $ Nhà tư bản được

3 $ dôi ra Đó chính là giá trị thặng dư

Vậy, giá trị thặng dư là phần giá trị dôi ra ngoài giá trị hàng hoá sức lao động do công nhân làm thêm tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không

1.2 Hai phương thức sản xuất giá trị thặng dư

Có rất nhiều biện pháp và hình thức để sản xuất giá trị thặng dư Các mác khái quát thành hai phương pháp chủ yếu là phương pháp sản xuất giá trị thặng

dư tuyệt đối và phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối

Ngày lao động gồm hai phần là thời gian lao động cần thiết và thời gian lao động thặng dư Thời gian lao động cần thiết sản xuất ra sản phẩm cần thiết

để tái sản xuất sức lao động của công nhân Thời gian lao động thặng dư là thời gian sản xuất ra sản phẩm thặng dư cho xã hội Trong điều kiện chủ nghĩa tư bản, thời gian lao động thặng dư tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản

Giá trị thặng dư tuyệt đối, là giá trị thặng dư thu được do kéo dài ngày lao động quá giới hạn thời gian lao động cần thiết Ngày lao động kéo dài khi thời gian lao động cần thiết không đổi sẽ làm tăng thời gian lao động thặng dư Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là cơ sở chung của chủ nghĩa tư bản Phương

Trang 6

pháp này được áp dụng phổ biến ở giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, khi công cụ lao động thủ công thống trị, năng suất lao động còn thấp

Giá trị thặng dư tương đối được sản xuất ra do rút ngắn thời gian lao động tất yếu trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội Theo đà phát triển của chủ nghĩa tư bản, năng suất lao động tăng lên làm cho giá trị hàng hoá và dịch

vụ, trong đó các tư liệu sinh hoạt cần thiết cho công nhân giảm xuống Độ dài ngày lao động không đổi thì thời gian lao động cần thiết giảm sẽ làm tăng thời gian lao động thặng dư - để sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối cho nhà tư bản

Do chạy theo giá trị thặng dư và cạnh tranh cũng như do sự tác động của quy luật giá trị, các nhà tư bản luôn luôn tìm cách thay đổi điều kiện sản xuất theo hướng ngày một tối ưu để hạ giá trị cá biệt của hàng hoá xuống thấp hơn giá trị xã hội Nhà tư bản nào làm được điều đó sẽ thu được phần giá trị thặng

dư trội hơn giá trị thặng dư bình thường của xã hội, gọi là giá trị thặng dư siêu ngạch

Giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối có liên hệ chặt chẽ với nhau và đều có cái chung là thời gian lao động thặng dư được kéo dài ra

Nếu gạt bỏ mục đích và tính chất tư bản chủ nghĩa thì các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư, nhất là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch, có tác dụng kích thích sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, sử dụng kỹ thuật mới, cải tiến tổ chức quản lý, là đòn bẩy kinh tế kích thích các cá nhân và tập thể người lao động, thúc đẩy tiến bộ kinh

tế – xã hội

2 Tái sản xuất xã hội

Xã hội không thể ngừng tiêu dùng, nên không thể ngừng sản xuất Do vậy, bất cứ quá trình sản xuất xã hội nào, nếu xét theo tiến trình đổi mới không ngừng của nó chứ không phải xét theo hình thái từng lúc, thì đồng thời đều là quá trình tái sản xuất

Tái sản xuất là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại thường xuyên và phục hồi không ngừng

Trang 7

Trong tái sản xuất, có thể xem xét trong từng doanh nghiệp cá biệt và có thể xem xét trên phạm vi toàn xã hội

Tái sản xuất xã hội là tổng thể của những tái sản xuất cá biệt trong mối liên hệ hữu cơ với nhau

Xét về quy mô của nó người ta chia tái sản xuất thành hai loại: tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng:

2.1 Tái sản xuất giản đơn là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại với quy

mô cũ Loại hình tái sản xuất này thường gắn với nền sản xuất nhỏ và là đặc trưng chủ yếu của nền sản xuất nhỏ

2.2 Tái sản xuất mở rộng

2.2.1 khái niệm

là một quá trình sản xuất mà quy mô sản xuất năm sau lớng hơn năm trước Loại hình tái sản xuất này thường gắn với nền sản xuất lớn và là đặc trưng chủ yếu của nền sản xuất lớn

2.2.2 Đặc điểm của tái sản xuất mở rộng

Nếu như tái sản xuất giản đơn thường gắn với năng suất lao động thấp kém, chỉ đạt mức đủ nuôi sống con người, chỉ vừa mức lao động tất yếu, chưa

có sản phẩm thặng dư hoặc có một ít sản phẩm thặng dư nhưng lại đem tiêu dùng hết cho cá nhân, thì trong nền kinh tế có tái sản xuất mở rộng, những vấn

đề đó diễn ra trong tình trạng ngược lại Loại hình này đòi hỏi xã hội phải đạt đến trình độ năng suất lao động vượt được phần sản phẩm tất yếu để có sản phẩm thặng dư – nguồn của tích luỹ tái sản xuất mở rộng Đặc biệt phần sản phẩm thặng dư này không được đem tiêu dùng hết cho cá nhân

Lý luận và thực tiễn lịch sử phát triển tái sản xuất xã hội cho thấy sự vận động của chúng có thể chia thành 3 thời kỳ: thời kỳ đầu thường gắn với loại hình tái sản xuất giản đơn là chủ yếu; thời kỳ thứ 2 đã có tái sản xuất mở rộng nhưng chưa thành đặc trưng chủ yếu; thời kỳ sau lấy loại hình tái sản xuất mở rộng làm đặc trưng chủ yếu

CHƯƠNGIII: TÍCH LUỸ TƯ BẢN – TUẦN HOÀN VÀ CHU

CHUYỂN TƯ BẢN.

Trang 8

1 Tích luỹ tư bản

1.1 Thực chất tích luỹ tư bản và các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích luỹ của nó

Phần nghiên cứu trên cho thấy tái sản xuất là tất yếu khách quan và có hai hình thức là tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng Đó là vấn đề chung của mọi nền sản xuất xã hội

Dưới chủ nghĩa tư bản muốn tái sản xuất mở rộng, nhà tư bản không thể

sử dụng hết giá trị thặng dư cho tiêu dùng cá nhân mà phải dụng một phận giá trí thặng dư đưa thêm vào sản xuất (gọi là tư bản phụ thêm) Như vậy điều kiện để tái sản xuất mở rộng tư bản chủ nghĩa là phải biến giá trị thặng dư thành tư bản, gọi là tích luỹ tư bản

Tích luỹ tư bản là tất yếu khách quan, do quy luật kinh tế tư bản, quy luật giá trị và cạnh tranh.v.v của phương thức tư bản chủ nghĩa quy định Nguồn gốc duy nhất của tư bản tích luỹ là giá trị thặng dư Thực chất của tích luỹ tư bản

là biến một phần giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm (Tư bản bất biến phụ thêm và tư bản khả biến phụ thêm) để mở rộng sản xuất

Quy mô tích luỹ phụ thuộc vào giá trị thặng dư và tỉ lệ phân chia giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm và thu nhập (bộ phận giá trị thặng dư nhà tư bản tiêu dùng cá nhân)

Nếu tỉ lệ phân chia không thay đổi thì quy mô tích luỹ phụ thuộc vào nhân

tố làm tăng khối lượng giá trị thặng dư Trong thực tế, chủ nghĩa tư bản có rất nhiều biện pháp làm tăng giá trị thặng dư như: tăng cường độ lao động, tăng năng xuât lao động ngoài ra quy mô tích luỹ còn phụ thuộc vào sự chênh lệch ngày càng lớn giữa tư bản cố định sử dụng và tư bản cố định tiêu dùng, quy mô

tư bản ứng trước

1.2 Cấu tạo hữu cơ tư bản, tích tụ và tập trung tư bản 1.2.1 Cấu tạo hữu cơ của tư bản.

Quá trình tích luỹ tư bản dần dần làm thay đổi cơ cấu tư bản, các bộ phận của tư bản có sự thay đổi không giống nhau Cấu tạo của gồm hai mặt: mặt vật chất và mặt giá trị

Trang 9

Về mặt vật chất gồm có tư liệu sản xuất là sức lao động Tỉ lệ giữa số lượng tư liệu sản xuất và số lượng sức lao động sử dụng tư liệu sản xuất đó là cấu tạo kĩ thuật của tư bản

Về mặt giá trị gồm tư bản bất biến (c) và tư bản khả biến (v) gọi là cấu tạo giá trị của tư bản

Cấu tạo kĩ thuật và cấu tạo giá trị có quan hệ chặt chẽ với nhau Các Mác dùng khái niệm cấu tạo hữu cơ của tư bản để chỉ quan hệ đó Cấu tạo hữu cơ của tư bản là cấu tạo giá trị của tư bản do cấu tạo kĩ thuật quy định và phản ánh những thay đổi của cấu tạo kĩ thuật

1.2.2 Tích tụ và tập trung tư bản

Tích tụ tư bản là sự tăng thêm quy mô tư bản cá biệt bằng cách tư bản hoá một phần giá trị thặng dư Nó là kết quả trực tiếp của tích luỹ tư bản

Tập trung tư bản là sự tăng quy mô tư bản cá biệt bằng cách kết hợp nhiều tư bản nhỏ thành một tư bản lớn hơn Tập trung tư bản diễn ra bằng hai phương pháp là cưỡng bức (các nhà tư bản bị thôn tính do phá sản) và tự nguyện (các nhà tư bản liên hiệp, tổ chức thành công ty cổ phần)

Tích tụ tư bản làm tăng quy mô tư bản xã hội, nó phản ánh mối quan hệ trực tiếp giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản Còn tập trung tư bản chỉ phân phối lại và tổ chức lại tư bản xã hội, nó phản ánh quan hệ trực tiếp giữa các nhà tư bản

Tích tụ và tập trung tư bản có quan hệ với nhau và tác động thúc đẩy nhau Nếu gạt bỏ tính chất tư bản chủ nghĩa, tích tụ và tập trung là hình thức làm tăng thu nhập quốc dân và sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn vốn của

xã hội trong quá trình sản xuất

2 Tuần hoàn và chuyển tư bản

2.1 Khái niệm:

Mọi tư bản sản xuất trong quá trình vận động đều qua 3 giai đoạn, tồn tại dưới 3 hình thức và thực hiện 3 chức năng ở giai đoạn 1, tư bản mang hình thức tiền tệ, thực hiện chức năng mua các yếu tố sản xuất ở giai đoạn 2, là hình thức tư bản sản xuất với chức năng tạo ra giá trị thặng dư; còn ở giai đoạn 3

Trang 10

tương tự là hình thức hàng hoá, chức năng thực hiện giá trị và giá trị thặng dư (tức là tăng thêm giá trị)

T – H sức lao động sản xuất H’ – T’

Tư liệu sản xuất

Sự vận động của tư bản qua 3 giai đoạn, tồn tại dưới ba hình thức thực hiện 3 chức năng rồi quay về hình thức xuất phát của nó gọi là tuần hoàn của tư bản

Sự tuần hoàn của tư bản sản xuất, nếu xét nó là một quá trình định kỳ đổi mới, diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại, gọi là chu chuyển của tư bản Chu chuyển của tư bản nói lên tốc độ vận động của tư bản nhanh hay chậm

2.2 Tư bản cố định và tư bản lưu động

Tư bản cố định: là bộ phận tư bản sản xuất (máy móc, thiết bị nhà xưởng ) tham gia toàn bộ quá trình sản xuất, nhưng giá trị của nó không chuyển hết một lần mà chuyển dần vào sản phẩm trong quá trình sản xuất

Tư bản lưu động: là bộ phận tư bản sản xuất (nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu phụ, tiền lương ) được tiêu dùng hoàn toàn trong một chu kỳ sản xuất và giá trị của nó được chuyển vào toàn bộ sản phẩm

Tư bản cố định được sử dụng lâu dài trong nhiều chu kỳ sản xuất và nó bị hao mòn dần Có hai loại hao mòn: hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình

Hao mòn hữu hình là hao mòn về vật chất về giá trị sử dụng Hao mòn hữu hình do quá trình sử dụng và sự tác động của tự nhiên làm cho các bộ phận của tư bản cố định dần dần hao mòn đi tới chỗ hỏng phải được thay thế

Hao mòn vô hình là hao mòn thuần tuý về giá trị Hao mòn vô hình xảy ra khi máy móc còn tốt nhưng bị mất giá vì xuất hiện các máy móc hiện đại hơn hoặc có giá trị tương đương, nhưng công suất cao hơn

Tóm lại, nhờ có các quá trình tái sản xuất xã hội mở rộng, tích luỹ và tuần hoàn tư bản mà quá trình sản xuất tư bản mới là sự thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình tạo ra giá trị và tăng thêm giá trị

Ngày đăng: 19/02/2023, 20:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w