1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đường lối lãnh đạo của đảng đưa miền bắc lên chủ nghĩa xã hội làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà (1954 – 1975)

22 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đường lối lãnh đạo của đảng đưa miền bắc lên chủ nghĩa xã hội làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà (1954 – 1975)
Trường học Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội
Chuyên ngành Lý luận Chính trị
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 1975
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 37,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A Mở đầu Lựa chọn con đường cách mạng Việt Nam “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” là sự vận dụng sáng tạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh về các yếu tố dân tộc với quốc tế, quốc gia v[.]

Trang 1

A - Mở đầu

Lựa chọn con đường cách mạng Việt Nam “Độc lập dân tộc gắn liền với chủnghĩa xã hội” là sự vận dụng sáng tạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh về cácyếu tố dân tộc với quốc tế, quốc gia với thời đại đối với cách mạng nước ta Dovậy, ngay sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, miền Bắc đã tiến hành ngaycông cuộc cải tạo và xây dựng Chủ nghĩa xã hội Nhưng nhiệm vụ cải tạo và xâydựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1954 – 1975) là giai đoạn mang tính chất đặcbiệt; là giai đoạn Đảng và nhân dân ta đồng thời phải thực hiện hai nhiệm vụ cáchmạng to lớn

Để nhân thức đúng đắn đường lối cách mạng trong cải tạo xã hội chủ nghĩa ởmiền Bắc (1954 –1975) của Đảng ta và những bài học kinh nghiệm, tôi chọn đề tài

“Đường lối lãnh đạo của Đảng đưa miền Bắc lên chủ nghĩa xã hội làm cơ sở vữngchắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà (1954 – 1975)” làm đề tài tiểu luậnmôn đường lối chương trình đào tạo cao cấp lý luận

Thứ nhất, đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền Miền Nam, đế quốc

Mỹ và tay sai mở cuộc chiến tranh thực dân mới qua 20 năm, với phạm vi ngàycàng mở rộng, quy mô ngày càng leo thang Miền Bắc phải đương đầu với hai cuộcchiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ Như vậy, côngcuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc phải tiến hành khôi phục kinh tế đảmbảo đời sống nhân dân và chiến đấu chống chiến tranh phá hoại; vừa phải làm tròn

Trang 2

nghĩa vụ của hậu phương lớn hơn đối với tiền tuyến lớn miền Nam Đây là đặcđiểm chi phối trực tiếp đến đường lối và chính sách trong quá trình xây dựng Chủnghĩa xã hội ở miền Bắc.

Thứ hai, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và cuộc khángchiến chống Mỹ cứu nước đã nhận được sự giúp đỡ, viện trợ hết sức to lớn về mọimặt của các nước xã hội chủ nghĩa đang ở thời kỳ phát triển mạnh mẽ Điều đó đặt

ra, Đảng ta phải có đường lối sáng suốt, bảo đảm vừa tranh thủ được sự giúp đỡ củacác nước xã hội chủ nghĩa, góp phần đấu tranh vì sự thống nhất của phong tràocộng sản và công nhân quốc tế, vừa giữ vững được bản lĩnh cách mạng độc lập, tựchủ trong tiến trình cách mạng trước những mâu thuẩn thực tế từ trong phe XHCN

Thứ ba, xây dựng Chủ nghĩa xã hội của nước ta xuất phát điểm rất thấp - mộtnước nông nghiệp, sản xuất nhỏ là phổ biến, cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu, hậuquả chiến tranh nặng nề Hơn thế, mô hình Chủ nghĩa xã hội mà Liên Xô và cácnước Đông Âu áp dụng có điều kiện, hoàn cảnh, xuất phát điểm không giống nước

ta và chứa đựng không ít sai lầm, khuyết tật Vì vậy việc xác định mô hình, bước

đi, tốc độ, phương pháp cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ởViệt Nam tất yếu phải có thời gian để tìm tòi, khảo nghiệm, đó là những khó khănnhất định

2- Nội dung Đường lối lãnh đạo của Đảng ta để đưa miền Bắc lên chủ nghĩa xã hội làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà (1954 – 1975)

Lãnh đạo đưa miền Bắc lên chủ nghĩa xã hội làm cơ sở vững chắc cho cuộcđấu tranh thống nhất nước nhà (1954 – 1975) của Đảng ta, nhìn một cách tổng thể,được thể hiện cụ thể qua từng giai đoạn, gồm:

2.1 - Đường lối khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh hoàn thành về

cơ bản những nhiệm vụ còn lại của cách mạng dân tộc dân chủ (1954-1957)

Sau chín năm kháng chiến trường kỳ gian khổ, miền Nam bị chiến tranh tànphá nặng nề: 14 vạn héc ta ruộng đất hoang hoá, các công trình thuỷ lợi lớn và vừa

Trang 3

đều bị phá hỏng, đê điều không được củng cố, trâu bò, công cụ sản xuất bị cướpphá; thiên tai liên tiếp làm mất mùa, gây đói kém kéo dài từ vụ mùa năm 1954 đếngiữa năm 1955, công nghiệp đình đốn, giao thông hư hại nặng, buôn bán sút kém…

Vì vậy, Hội nghị bộ Chính Trị (tháng 9-1954) đã chỉ rõ: Công việc trước mắt là ổnđịnh đời sống nhân dân, chống chính sách cưỡng ép di cư vào Nam của địch, hàngắn vết thương chiến tranh, phục hồi nền kinh tế quốc dân Trong đó phục hồi vàphát triển sản xuất nông nghiệp là vấn đề trọng tâm Đây là chủ trương đúng đắncủa Đảng, có ý nghĩa lớn đối với việc cải thiện đời sống nhân dân, tạo tiền đề chocông cuộc cải tạo nông nghiệp và xây dựng mô hình quản lý nông nghiệp phù hợpvới tình hình đất nước

Nhằm khôi phục kinh tế nông nghiệp và thực hiện khẩu hiệu “ Người cày córuộng” đã được nêu lên trong Cương lĩnh đầu tiên, Đảng ta đã tiến hành cải cáchruộng đất gắn với công cuộc khôi phục kinh tế Do vậy, Nghị quyết Hội nghị lầnthứ VII Ban chấp hành Trung Ương khoá II( tháng 5-1955) nêu rõ, chủ trương: Đểcủng cố miền Bắc, trước hết cần phải hoàn thành cải cách ruộng đất Đây là chínhsách bất di bất dịch Mặt khác, Đảng ta còn xác định rõ phương pháp tiến hành là:dựa hẳn vào bần cố nông, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, liên hiệp với phú nông,đánh đổ giai cấp địa chủ tiêu diệt chế độ phong kiến từng bước Tiếp đến, Hội nghịlần thứ VIII Ban chấp hành Trung ương Đảng khẳng định: cải cách ruộng đất quan

hệ đến củng cố miền Bắc, chẳng những đưa lại quyền làm chủ ruộng đất cho nôngdân mà còn tạo điều kiện cho công cuộc khôi phục và phát triển sản xuất, củng cốquốc phòng, củng cố cơ sở của Đảng và chính quyền ở nông thôn, củng cố và mởrộng Mặt trận dân tộc thống nhất

Thực tế cho thấy, đợt cải cách ruộng đất và giảm tô (9-1954 đến 7-1956) đãđạt được kết quả như sau:

+ Tiến hành 8 đợt giảm tô ở 1.777 xã với 1.106.995 ha ruộng đất; 5 đợt cảicách ruộng đất ở 3653 xã trên toàn vùng đồng bằng, trung du và 280 xã miền núivới 2425.518 nhân khâu, can thiệp vào 1,5 triệu ha, đã tịch thu, trưng thu, trưng

Trang 4

mua 810.000ha ruộng đất chia cho 2,2 triệu nông dân gồm 9,5 triệu người( 72,8%

số hộ ở nông thôn được chia ruộng đất)

+ Hoàn thành việc xoá bỏ giai cấp địa chủ và quan hệ sản xuất phong kiếntrên đất nước ta, nâng cao quyền làm chủ cho nông dân ở nông thôn, giải phóngmột bước sức sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn

Song, trong khi tiến hành cải cách ruộngđất và chỉnh Đảng, chúng ta đãphạm một số sai lầm nghiêm trọng trong chỉ đạo thực hiện Năm 1956 những sailầm của cải cách ruộng đất đã được Đảng ta phát hiện và chỉ thị tiến hành sửa chữa.Nhưng do chưa có sự tổng kết phân tích về nguyên nhân của những sai lầm vàphuơng hướng, biện pháp khắc phục, nên hiệu quả sửa sai trong thời gian đầu cònhết sức hạn chế

Hội nghị lần thứ X Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá II(9-1956), Đảng

ta đã nhận định: Cải cách ruộng đất đã phạm những sai lầm nghiêm trọng trên một

số vấn đề có tính nguyên tắc và đề ra chủ trương kiên quyết sửa chữa những sai lầmkhuyết điểm đó Trên cơ sở các chủ trương đó và kết quả của quá trình tổng kếtmột cách toàn diện công cuộc cải cách ruộng đất, tại Hội nghị Trung ương lần thứXIV(11-1958), Đảng ta đã phân tích rõ hơn nữa những sai lầm của cải cách ruộngđất, như:

- Vi phạm đường lối giai cấp ở nông thôn: xây phạm lợi ích trung nông,không liên hiệp phú nông, không phân biệt đối đãi các loại địa chủ, không chiếu cốđịa chủ kháng chiến

- Cường điệu việc trấn áp phản cách mạng

- Không dựa vào tổ chức cũ, không giao cho tổ chức Đảng địa phương lãnhđạo cải cách ruộng đất, mắc chủ nghĩa thành phần và phương hướng trừng phạt

- Lạm dụng các biện pháp phát động quần chúng, nặng đấu tố, nhẹ giáo dục,phổ biến hoá cách làm bắt rế xâu chuổi, không kết hợp biện pháp hành chính vớiphát động quần chúng và sai lầm nghiêm trọng nhất là trong việc chỉnh đốn tổchức

Trang 5

Có thể nói rằng, nguồn gốc của những sai lầm là do: Không nắm vững nhữngbiến đổi của nông thôn miền Bắc từ sau cách mạng tháng 8 và trong kháng chiếnchống thực dân Pháp, rập khuôn một cách máy móc kinh nghiệm của nước ngoài.

Với tinh thần tự phê bình và phê bình và ý thức trách nhiệm cao trước toànthể nhân dân, Đảng ta một mặt nhanh chóng sửa chữa sai lầm, mặt khác có nhữngbiện pháp cũng cố và phát huy thắng lợi Cuối 1957, công tác sửa sai đã dưa lại kếtquả tốt: Nông thôn dần đần ổn định, nội bộ Đảng đoàn kết, nhất trí, lòng tin củaquần chúng đối với Đảng được khôi phục, sản xuất nông nghiệp được đẩy mạnh,khối liên minh công –nông được cũng cố

Cùng với việc hoàn thành cải cách ruộng đất, Nhà nước đã ban hành cácchính sách kinh tế quan trọng, như: khuyến khích phát triển kinh tế hộ nông dân,bảo đảm quyền sử dụng đất của nông dân, bảo vệ tài sản của các tầng lớp nhân dân,cho tự do vay mượn và thuê mướn nhân công, khuyến khích cac hình thức đổicông, sửa đổi chính sách thuế, nhằm giảm bớt sự đóng góp của nông dân Nhữngbiện pháp đó đã tạo ra sự chuyển biến mạnh kinh tế ở miền Bắc, góp phần hoànthành công cuộc khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh Nên cuối năm

1957, 85% diện tích ruộng hoang hoá đã đựơc khôi phục, nhiều công trình thuỷ lợiđựoc sửa chữa, diện tích tưới nước tăng thêm, sản lượng lương thực trung bìnhhàng năm đạt 4 triệu tấn, vượt mức trước chiến tranh(1939 chỉ đạt 2,4 triệu tấn).Trong công nghiệp, hầu hết các xí nghiệp quan trọng được phục hồi, nâng cấp vàxây dựng thêm một số nhà máy mới, chú trọng phát triển tiểu thủ công nghiệp Hệthống giao thông được cải tạo và nâng cấp, nhất là tuyến đường thuỷ, đường bộ và

4 tuyến đường sắt nối thủ đô Hà Nội với 4 tỉnh phía bắc bảo đảm giao lưu giữacác vùng, phục vụ công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế xã hội Các lĩnh vựcgiáo dục,văn hoá, y tế phát triển nhanh Sau ba năm đã có hơn một triệu ngườithoát nạn mù chữ Tổng số học sinh phổ thông lên tới 1 triệu ngưòi Số học sinhtrung học chuyên nghiệp là 7.783 người Số sinh viên đại học lên tới 3.664 người,gấp hơn 6lần số sinh viên thời chiến tranh, gần 2000 học sinh được gửi đi học tại

Trang 6

các nước xã hội chủ nghĩa Hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở được cũng

cố, bảo đảm phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong công cuộc khôi phục kinh

tế, hàn gắn vết thưong chiến tranh Chính quyền cách mạng đạp tan mọi hành độngchống phá của bọn phản động đội lốt tôn giáo( Quỳnh Lưu- Nghệ An), các vụ xúigiục đồng bào dân tộc thiểu số ở một số tỉnh miền núi phía Bắc, đặc biệt là nhóm “Nhân văn giai phẩm”( 1956)

2.2 - Đường lối cải tạo xã hội chủ nghĩa, bước đầu phát triển kinh tế và văn hoá (1958-1960 ).

Hội nghị lần thứ XIV Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá II ( tháng 1958), Đảng ta đã xác định: Nhiệm vụ chung của toàn Đảng toàn dân ta ra sức cũng

11-cố miền Bắc Đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời kiên quyết đấutranh chống Mỹ- Diệm nhằm thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập vàdân chủ

Trong định hướng cải tạo Xã hội chủ nghĩa ở miền Băc, nhiệm vụ trước mắt

là đẩy mạnh cải tạo Xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế cá thể của nôngdân, thợ thủ công và thành phần kinh tế Tư bản, Tư doanh, đồng thời ra sức pháttriển thành phần kinh tế Quốc doanh- lực lượng lãnh đạo toàn bộ nền kinh tế Quốcdân

Tháng 4 – 1959, Hội nghị lần thứ XVI Ban chấp hành Trung ương Đảng đãxác định những vấn đề cơ bản của đường lối, chính sách hợp tác hoá nông nghiệp,khẳng định con đường hợp tác hoá, làm ăn tập thể là biện pháp khắc phục nhữngkhó khăn trong sản xuất, cải thiện đời sống Phương châm tiến hành hợp tác hoá là

“ Tích cực lãnh đạo vững bước tiến lên, quy hoạch về mọi mặt với từng vùng, làmtốt, vững và gọn” Hình thức, bước đi, tốc độ của quá trình cải tạo Xã hội chủ nghĩaphải phù hợp từ thấp lên cao, tập dượt cho nông dân và thợ thủ công quen dần vớicung cách làm ăn tập thể, từ tổ đổi công, hợp tác xã bậc thấp, tiến lên hợp tác xãbậc cao, quy mô cũng phải từ nhỏ lên lớn Việc đẩy mạnh quan hệ sản xuất cũ và

Trang 7

xây dựng quan hệ sản xuất mới, phải tuân thủ nguyên tắc “Tự nguyện, cùng có lợi

và văn hoá của nhân dân miền Bắc được cải thiện một bước Hợp tác hoá nôngnghiệp đã đưa nông dân vào con đường làm ăn tập thể, xây dựng khối liên minhCông- Nông trong điều kiện mới Với chủ trương thuỷ lợi hoá, nhiều công trìnhthuỷ lợi vừa và nhỏ được xây dựng, bảo đảm nước tưới và tiêu úng cho đồng ruộnghợp tác xã và các hộ nộng dân cá thể, tiêu biểu là công trình thuỷ lợi Bắc- Hưng-Hải

Tuy nhiên, quá trình tiến hành hợp tác hoá Nông nghiệp bộc lộ một số thiếusót Nhiều địa phương chạy theo thành tích, gò ép, áp đặt theo kiểu hành chínhmệnh lệnh, cưỡng bước tập thể hoá tư liệu sản xuất, vi phạm nguyên tắc tự nguyện,dân chủ, cùng có lợi mà Lênin đã nêu trong Chính sách hợp tác hoá Nên, ngay từban đầu, các hợp tác xã mới thiết lập gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong tổ chứclao động, sản xuất, quản lý và phân phối Tham ô, lãng phí dần xuất hiện Bởi vậy,năm 1959 đã có hàng ngàn hộ xin ra khỏi hợp tác xã, hàng chục hợp tác xã tan rã

Nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên là do bệnh chủ quan nóng vội trongquá trình hợp tác hoá, đồng nhất hợp tác hoá và tập thể hoá, chưa chuẩn bị đượcnhững điều kiện cần thiết cho hợp tác xã tồn tại và phát triển Đặc biệt là cơ sở vậtchất- kỹ thuật còn nghèo nàn, lạc hậu, sản xuất hàng hoá còn yếu kém, cán bộ quản

lý vừa yếu lại vừa thiếu Chưa được đào tạo, quần chúng chưa được chuẩn bị tốt về

tư tưởng

Trang 8

Về cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thợ thủ công và những người buôn bánnhỏ, đến cuối 1960 đã có 88% thợ thủ công miền Bắc gia nhập các hợp tác xã thủcông nghiệp bậc thấp và bậc cao, 45% người buôn bán nhỏ được tổ chức vào hợp tác

xã mua bán, gần 5 vạn người được chuyển sang sản xuất Sau hợp tác hoá, thủ côngnghiệp dần dần kết hợp với công nghiệp quốc doanh, địa phương, phát huy tác dụng

hổ trợ cho công nghiệp quốc doanh trung ương phục vụ sản xuất, đời sống nhân dân

và xuất khẩu Nhưng, công tác cải tạo thợ thủ công và người buôn bán nhỏ có tưtưởng nóng vội, mệnh lệnh, gò ép, không tính đến yêu cầu xã hội và hiệu quả thực tế

Việc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh được tiến hành bằngphương pháp hoà bình với phương châm: tốt, vững, gọn Đảng chủ trương thựchiện tư tưởng sản xuất của giai cấp tư sản theo phương thức “ trả dần”, đồng thờisắp xếp công ăn việc làm cho các nhà Tư sản và gia đình họ Mặt khác, rất cọitrọng việc Chủ nghĩa tư bản nhà nước đặc biệt là hình thức công tư hợp doanh Đây

là thắng lợi quan trọng, cải tạo một bước quan hệ sản xuất Tư bản chủ nghĩa, giảiphóng được hơn một vạn công nhân khỏi ách bóc lột của giai cấp tư sản, tạo ra khảnăng tổ chức lại sản xuất và nâng cao năng suất lao động trong công nghiệp Song,việc sớm xoá bỏ nền kinh tế nhiều thành phần và “ trong sản xuất kinh doanhkhông áp dụng những quy luật của sản xuất hàng hoá đã tác động tiêu cực không ítđến đời sống kinh tế, hạn chế việc phát triển lực lượng sản xuất” Đáp ứng nhiệm

vụ cải tạo Xã hội chủ nghĩa, Nhà nước tăng cường đầu tư xây dựng một bước cơ sởvật chất- kỹ thuật của Chủ nghĩa xã hội Từ 1958 đến 1960, đã xây dựng 130 côngtrình công nghiệp trên hạn ngạch như: khu gang thép Thái Nguyên, nhà máy SuppePhốt Phát Lâm Thao với tổng số vốn là 3481 triệu đồng và đã đưa được 86 nhàmáy, xí nghiệp vào sản xuất Nếu như 1957, miền Bắc mới có 97 xí nghiệp thì đếnnăm 1960 đã có 172 xí nghiệp do trung ương quản lý và trên 500 xí nghiệp do địaphương quản lý Công nghiệp quốc doanh tăng từ 10,8% năm 1955 lên 52,4% năm

1960 trong tổng sản lượng công nghiệp

Trang 9

Những thành quả kinh tế tạo thêm điều kiện cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục,

ý tế phát triển Hệ thống giáo dục phổ thông phát triển mạnh, số học sinh năm 1960tăng 80 lần so với năm 1957 Cơ sở y tế năm 1960 tăng hơn 11 lần so với năm

1955 Đời sống văn hoá, trình độ hiểu biết của các tầng lớp nhân dân được nâng lên

rõ rệt

2.3 - Đường lối thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965).

Thực hiện nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, Đại hội Đại biểutoàn quốc lần thứ III của Đảng đã thảo luận và thông qua đường lối cách mạng xãhội chủ nghĩa Đại hội đã xác định đặc điểm chi phối toàn bộ cuộc cách mạng xãhội chủ nghĩa ở miền Bắc là đất nước ta còn tạm thời bị chia làm hai miền Vì vậy,

sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa trước hết phải nhằm mục tiêu biến miền Bắcthành căn cứ địa vững chắc cho cách mạng và làm hậu thuẫn cho sự nghiệp giảiphóng miền Nam, thống nhất nước nhà

Nhận thức rõ đặc điểm đất nước trong cách mạng XHCN và xuất phát điểmthấp của miền Bắc, Đại hội xác định cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là một quátrình cải biến về mọi mặt Đó là quá trình đấu tranh gay go giữa con đường Xã hôichủ nghĩa và Tư bản chủ nghĩa trên tất cả các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, tư tưởng,văn hoá Trong đó, trọng tâm là đưa miền Bắc từ nền kinh tế chủ yếu dựa trên chế

độ sở hữu cá thể về tư liệu sản xuất tiến lên nền kinh tế xã hội chủ nghĩa trên chế

độ sở hữu toàn dân và tập thể Cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng cơ sở kinh tếcho chủ nghĩa xã hội được xem là 2 mặt của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, cóquan hệ tác động qua lại và thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển Trong đó cải tạo xãhội chủ nghĩa cần đi trước một bước để mở đường

Từ Đại hội III, Đảng ta xác định, muốn cải biến tình trạng kinh tế lạc hậu củanước ta thì không có con đường nào khác ngoài con đường công nghiệp hoá xã hộichủ nghĩa Đây là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hôị,nhằm xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội Cùng cuộc cáchmạng xã hội chủ nghĩa về kinh tế, phải tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa

Trang 10

trên lĩnh vực tư tưởng và văn hoá, nhằm thay đổi căn bản đời sống tư tưởng, tinhthần và văn hoá của xã hội, phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trong giai đoạn này, trong đường lối cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc,phương châm cơ bản là đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lênchủ nghĩa xã hội, nhằm xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc ở miền Bắc, cũng cốmiền Bắc thành cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà

Trên cơ sở đường lối chung, Đại hội lần thứ III Đảng ta chỉ rõ nhiệm vụ cơbản của kế hoạc 5 năm là:

- Ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp, thực hiện ưu tiên phát triểncông nghiệp nặng, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp một cách toàn diện; pháttriển công nghiệp thực phẩm và công nghiệp nhẹ; phát triển giao thông vận tải, tăngcường thương nghiệp quốc danh và thương nghiệp hợp tác xã, chuẩn bị cơ sở đểđưa nước ta thành một nước công nghiệp và nông nghiệp xã hội chủ nghĩa

- Hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủcông nghiệp, thương nghiệp nhỏ và công thương nghiệp tư bản, tư doanh; tăngcường mối quan hệ giữa sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, mở rộng quan hệ sảnxuất xã hội chủ nghĩa trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân

- Nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồidưỡng cán bộ, nâng cao năng lực quản lý kinh tế của cán bộ, công nhân và nhândân lao động; tăng cường dào tạo đội ngũ công nhân lành nghề, xúc tiến công táckhoa học kỹ thuật, thăm dò tài nguyên thiên nhiên và tiến hành điều tra cơ bản,nhằm phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế, văn hoá xã hội chủ nghĩa

- Cải thiện thêm một bước đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân laođộng, làm cho nhân dân ta được ấm no, tăng thêm sức khoẻ, có thêm nhà ở và đượchọc tập, mở mang thêm phúc lợi công cộng, xây dựng đời sống mới ở nông thôn và

đô thị

- Đi đôi và kết hợp với phát triển kinh tế cần ra sức cũng cố quốc phòng, tăngcường an ninh trật tự, bảo vệ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc

Trang 11

Để thực hiện nhiệm vụ đã đề ra, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã tiếnhành nhiều hội nghị, đưa ra các nghị quyết giải quyết các vấn đề cụ thể đặt ra trênthực tế Như: Công tác xây dựng Đảng trong quá trình lãnh đạo thục hiện đường lốicách mạng xã hội chủ nghĩa; phát triển Nông nghiệp; phát triển Công nghiệp; vềcông tác Thương nghiệp và giá cả Các hội nghị này đều phân tích rõ mối quan hệgiữa ba mặt của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta: Cách mạng về quan hệsản xuất, cách mạng khoa học- kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá và nhiềuvấn đề quan trọng khác.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, mọi tầng lớp nhân dân miền Bắc đã hoà chungvào không khí thi đua sôi nổi, lao động sáng tạo Do đó, mặc dù kế hoạch 5 nămmới thực hiện được 4 năm và phải chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đếquốc Mỹ, nhưng miền Bắc đã căn bản hoàn thành các mục tiêu chủ yếu của kếhoạch đề ra Về Nông nghiệp, tiếp tục hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa, đưa88,8% số hộ nông dân và hợp tác xã nông nghiệp, trong đó 71,7% số hộ vào hợptác xã bặc cao Tổng thu bình quân trên 1ha canh tác tăng 43,7% Cuối năm 1965,

có 162 xã, gần 700 hợp tác xã đạt và vượt trên 5 tấn thóc/ha gieo trồng hai vụ,lương thực bình quân đầu người đạt 15kg/tháng, đời sống xã viên được cải thiện,thu nhập của người lao động từ kinh tế tập thể tăng khá Phong trào thâm canh ởnhững vùng trọng điểm lúa được đẩy mạnh và xuất hiện nhiều điển hình tốt Từ đó,

cơ sở vật chất- kỹ thuật trong nông nghệp tăng đáng kể Nhiều công trình thuỷ lợilớn đã được xây dựng tưới tiêu cho hơn nữa triệu ha ruộng đất Vốn đầu tư cho xâydựng cơ bản trong nông nghiệp tăng 4,9 lần, điện cấp cho nông nghiệp tăng 9 lần,

số máy kéo tiêu chuẩn tăng 11 lần so với thời kỳ 1958-1960, vốn bình quân chomột ha canh tác tăng 2,1 lần, hệ thống các công trình thuỷ lợi, sửa chữa cơ khí, sânphơi, sức kéo, chuồng trại… của hợp tác xã tiếp tục tăng Đến năm 1965, bình quân

cứ 6 hợp tác xã có một máy bơm nước, 3 hợp tác xã có một máy tuốt lúa, 10 hợptác xa có 1 máy xay xát Bình quân mỗi hợp tác xã có 9 nhà kho ( của đội sản xuất)

và 436m2 sân phơi…

Ngày đăng: 19/02/2023, 18:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w